1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quy định pháp luật về hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế (luận văn thạc sỹ luật học)

62 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và cải thiện chính sách thuế cho phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, Nghị định 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

QUY ĐỊNH PHÁP LUẠT VỀ HÓA ĐƠN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH NGHĨA VỤ THUẾ

SVTH : TRẦN THỊ BÍCH MSSV : 1055010016

GVHD : CÔ NGUYỄN THỊ HOÀI THU

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

QUY ĐỊNH PHÁP LUẠT VỀ HÓA ĐƠN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH NGHĨA VỤ THUẾ

SVTH : TRẦN THỊ BÍCH MSSV : 1055010016

GVHD : CÔ NGUYỄN THỊ HOÀI THU

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Trần Thị Bích, sinh viên khóa 35 (2010-1014), khoa luật Thương

Mại, trường Đại học Luật T.p Hồ Chí Minh, là tác giả của khóa luận tốt nghiệp cử nhân

luật- chuyên ngành luật Thương mại với đề tài “Quy định pháp luật về hóa đơn trong

việc xác định nghĩa vụ thuế” được trình bày trong tài liệu này (sau đây gọi là “khóa

luận”) là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Tôi xin cam đoan tôi đã hoàn thành khóa luận này với sự nghiên cứu, tìm tòi của bản thân cũng như học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước, đặc biệt là sự giúp

đỡ tận tình của Giảng viên Nguyễn Thị Hoài Thu – giảng viên khoa luật Thương Mại trường Đại học Luật T.p Hồ Chí Minh

Mọi tài liệu, dẫn chứng tham khảo trong khóa luận này đều có trích dẫn rõ ràng,

cụ thể

Mọi sự sao chép không hợp lệ, vi phạm quy định tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên Nguyễn Thị Hoài Thu đã giúp đỡ tôi

hoàn thành khóa luận này

Tác giả khóa luận:

Trần Thị Bích

Trang 4

BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT:

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN

HÀNH VỀ HÓA ĐƠN 6

1.1 Khái quát chung về hóa đơn 6

1.1.1 Khái niệm hóa đơn 6

1.1.2 Phân loại hóa đơn 8

1.1.2.1 Hóa đơn giá trị gia tăng 8

1.1.2.2 Hóa đơn bán hàng 9

1.1.2.3 Các loại hóa đơn khác 10

1.1.3 Hình thức thể hiện của hóa đơn 10

1.1.3.1 Hóa đơn tự in 10

1.1.3.2 Hóa đơn điện tử 12

1.1.3.3 Hóa đơn đặt in 13

1.1.4 Vai trò của hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế 14

1.1.4.1 Hóa đơn là cơ sở để xác nhận giao dịch giữa các bên và nghĩa vụ về thuế thông qua các yếu tố ghi nhận trên hóa đơn 14

1.1.4.2 Hóa đơn là cơ sở để khấu trừ và hoàn thuế của doanh nghiệp 15

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế 16 1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn 16

1.2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của cơ quan thuế 16

1.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh 20

1.2.2 Điều kiện để hóa đơn đảm bảo tính hợp pháp, có giá trị trong việc xác định nghĩa vụ thuế 23

1.2.3 Quy định pháp luật về chế tài trong việc sử dụng hóa đơn 24

Kết luận chương 1 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÓA ĐƠN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 29

2.1 Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hóa đơn 29

2.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về quản lý, sử dụng hóa đơn trong khấu trừ và hoàn thuế 30

Trang 6

2.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định về hóa đơn tự in 33

2.1.3 Thực tiễn áp dụng quy định xử phạt vi phạm về hóa đơn 38

2.1.4 Thực tiễn trong đối chiếu và xác minh hóa đơn 41

2.1.5 Thực tiễn áp dụng quy định về hóa đơn trong khấu trừ và hoàn thuế 44

2.2 Phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về hóa đơn 45

2.2.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý 45

2.2.2 Hoàn thiện các quy định trong quản lý và xác minh hóa đơn 48

2.2.3 Tiếp tục nhân rộng mô hình sử dụng hóa đơn điện tử - xu hướng tất yếu 49

2.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc quản lý và sử dụng hóa đơn trong khấu trừ và hoàn thuế 50

Kết luận chương 2 51

Kết luận 52

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bfranklin- một trong những tác giả của bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng của nước

Mỹ đã từng đưa ra một lời tuyên bố bất hủ: trong cuộc sống không có gì tất yếu ngoài cái chết và thuế Lịch sử tồn tại và phát triển của các quốc gia đã chứng minh điều đó

là đúng đắn1, cùng với sự tồn tại của Thuế - là một trong những nguồn thu quan trọng nhất nuôi sống cả bộ máy nhà nước thì sự ra đời của hóa đơn được sử dụng như một công cụ hữu hiệu để thực hiện chức năng quản lý thuế, góp phần không nhỏ thực hiện thắng lợi các luật thuế Bởi lẽ hoá đơn là căn cứ để đối tượng nộp thuế thực hiện việc

kê khai thuế, khấu trừ thuế, hoàn thuế, đồng thời là căn cứ để hạch toán vào chi phí hợp

lý khi xác định thu nhập chịu thuế, cho nên nếu thiếu đi tờ hóa đơn sẽ rất khó khăn cho đối tượng nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ với nhà nước

Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và cải thiện chính sách thuế cho phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế, Nghị định 51/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch đã đáp ứng được phần nào nhu cầu sử dụng và quản lý hóa đơn thể hiện ở việc nhà nước trao quyền tự in hóa đơn về cho các doanh nghiệp, cho đối tượng nộp thuế quyền tự chủ đối với hoạt động kinh doanh của mình và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đã phát sinh vấn đề bất cập mới cần sửa đổi bổ sung Do đó ngày 17/01/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một

số điều của Nghị định 51/2010/NĐ-CP và các quy định sửa đổi liên quan trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp ngay từ những ngày đầu năm cho thấy việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cải cách hành chính đã tạo nên môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế Sự ra đời của Nghị định này đã phần nào khắc phục được những bất cập hiện hành, ngăn chặn hành vi gian lận, chiếm đoạt tiền thuế của các đối tượng nộp thuế nhưng vẫn chưa thể giải quyết hết được những vấn đề nảy sinh thường xuyên trong xã hội Sự tồn tại các vấn đề như xuất hiện các đối tượng lợi dụng sự thông thoáng để thành lập nhiều doanh nghiệp “ma” thực tế không kinh doanh, tự tạo hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng, mua bán hóa đơn bất hợp pháp để lợi dụng chiếm đoạt tiền hoàn thuế2, cũng như các quy định về hình thức hóa đơn, hóa đơn điện tử chưa có nhiều quy định pháp luật điều chỉnh cụ thể

Trang 8

Tất cả những vướng mắc trên đang là một bài toán khó chưa có lời giải thỏa đáng và tốn khá nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu

Xuất phát từ thực tế trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quy định pháp luật về

hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế” để nghiên cứu và hoàn thành khóa luận

tốt nghiệp cử nhân luật Việc sử dụng hóa đơn ngày càng trở nên rất phổ biến trong đời sống xã hội và trở nên quen thuộc với tất cả mọi người dân nhất là trong thời kỳ kinh tế thị trường mở cửa như hiện nay, nhưng không phải ai cũng có thể hiểu rõ bản chất và vai trò của hóa đơn khi họ là một bên chủ thể thực hiện các giao dịch nhằm phục vụ cho đời sống của cá nhân Chính điều đó đã gián tiếp để nhiều cá nhân và tổ chức kinh doanh lợi dụng nhằm chiếm đoạt tài sản của nhà nước dưới nhiều thủ đoạn khác nhau

và ngày càng trở nên tinh vi hơn Vì vậy, việc phân tích bản chất của hóa đơn và vai trò của nó trong pháp luật thuế hiện hành cũng như nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng hóa đơn là hết sức cần thiết Khóa luận này là một đề tài nghiên cứu khoa học nhỏ, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp quy định về hóa đơn nói riêng

2 Tình hình nghiên cứu

Mặc dù hóa đơn là một công cụ không thể thiếu trong xác định nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế nhưng hiện nay chế độ pháp lý về hóa đơn lại chưa được quan tâm đúng mực dưới góc độ là một chế định pháp lý trong các công trình nghiên cứu Qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu, hầu như tác giả chưa thấy có một đề tài nghiên cứu nào

về vấn đề hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế mà mới chỉ dừng lại ở nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hóa đơn Hiện tại, ở cấp độ cử nhân, đã có một số khóa

luận tốt nghiệp nghiên cứu về hóa đơn ở nhiều phương diện khác nhau như : Cơ sở lý

luận và thực tiễn trong quản lý, sử dụng hóa đơn chứng từ thuế GTGT của tác giả Vũ

Duy Hoàng3 ; Quản lý hóa đơn chứng từ trong quá trình thực hiện thu thuế GTGT trên

địa bàn quận 5 của tác giả Phạm Mạnh Hùng4 Tuy nhiên hai công trình nghiên cứu dưới góc độ pháp lý này mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nghiên cứu hóa đơn trong pháp luật về thuế GTGT chứ không phải là đi sâu nghiên cứu toàn diện pháp luật về hóa đơn chứng từ và vai trò của hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ về thuế của các đối tượng nộp thuế Ngoài ra hai công trình nghiên cứu trên cũng đã khá cũ so với sự thay đổi của pháp luật và xã hội Đây cũng là khó khăn rất lớn cho tác giả trong quá trình tìm kiếm tài liệu phục vụ nghiên cứu khóa luận của mình Tuy nhiên, khó khăn đó lại là điều

3 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật T.p Hồ Chí Minh, 2002

4 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Kinh tế Luật - Đại học quốc gia T.p Hồ Chí Minh, 2007

Trang 9

kiện để tác giả có thể thoải mái trình bày quan điểm của cá nhân về vấn đề này, đồng thời cũng là động lực để tác giả đóng góp vào hệ thống lý luận pháp lý đề tài mà tác giả

sẽ nghiên cứu Bên cạnh đó còn có một số đề tài nghiên cứu ở những lĩnh vực liên quan

như một số giải pháp chống thất thu thuế GTGT của tác giả Nguyễn Thị Như Hoài5

; pháp luật về thuế GTGT và hướng hoàn thiện của tác giả Lê Thị Út6 Những công trình nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến hóa đơn như một trong những hình thức để chiếm đoạt tiền thuế GTGT ở một góc độ rất nhỏ về hóa đơn mà chưa nghiên cứu sâu và toàn diện về vai trò và quy định của pháp luật hóa đơn như thế nào

Ngoài ra, các vấn đền liên quan đến hóa đơn còn được thể hiện ở một số bài phân tích, bình luận khoa học trên các trang báo mạng, tạp chí nhưng khi đề cập đến hóa đơn mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra một số bất cập hiện hành mà chưa đi sâu phân tích, đánh giá các điều luật cụ thể cũng như giải pháp để có thể khắc phục những nhược điểm còn

tồn tại trong hệ thống pháp luật Ví dụ như đề tài tăng cường quản lý hóa đơn, góp

phần đấu tranh chống gian lận thuế của PGS,TS Lê Xuân Trường 7 ; chứng từ hóa đơn

và vấn nạn gian lận trong hoàn thuế GTGT của Luật sư Nguyễn Trọng Hạnh8, hóa

đơn điện tử xu hướng tất yếu của Mai Kiên9….Vì những lý do trên tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Quy định pháp luật về hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế” là đề tài hết sức cần thiết vì nó vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính thực tiễn cao trong thời điểm hiện nay Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài này làm khóa luận cử nhân luật học

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua công trình nghiên cứu tác giả mong muốn làm rõ các vấn đề sau:

- Luận giải, phân tích, lảm rõ khái niệm, nội dung, bản chất, vai trò của hóa đơn, các loại hóa đơn theo quy định của pháp luật hiện hành và vai trò của hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế của các đối tượng nộp thuế

- Quy định về hóa đơn được cụ thể hóa như thế nào trong các quy định của pháp luật về thẩm quyền in ấn, phát hành, quản lý, sử dụng các loại hóa đơn Phân tích, đánh giá những điểm bất hợp lý, hạn chế của các quy định về hóa đơn trong pháp luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành so với thực tế cuộc sống và thực tiễn áp dụng

5

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật T.p Hồ Chí Minh, năm 2004

6 Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật T.p Hồ Chí Minh, năm 2011

7 Tạp chí tài chính số 09, tháng 09/2013, tr 18-21

8Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học “Gian lận trong khấu trừ thuế, hoàn thuế và hướng hoàn thiện thuế GTGT

trong tiến trình hội nhập AFTA (CEPT)” – Tháng 1/2003

9 Tạp chí thuế nhà nước , số 52 (462) – 2013, tr 8-9

Trang 10

- Trên cơ sở những phân tích trên, khóa luận đề xuất, kiến nghị một số cơ sở, nội dung, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định về hóa đơn trong các văn bản pháp luật nói chung, các văn bản hướng dẫn thi hành, các giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả, tính khả thi trong thực tiễn áp dụng pháp luật

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tìm hiểu về hóa đơn ở góc độ pháp lý trong các quy định về hóa đơn trong pháp luật thuế nói chung Trên cơ sở những văn bản pháp luật về hóa đơn, tác giả tập trung làm sáng tỏ các nội dung hóa đơn và những quy định của pháp luật về hóa đơn Thông qua việc nghiên cứu này, tác giả sẽ phân tích những nội dung chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật hiện hành, những hạn chế trong thực tiễn in ấn, quản

lý, sử dụng và quản lý hóa đơn của các chủ thể có thẩm quyền Trên cơ sở đó, tác giả

đề xuất một số cơ sở, nội dung, giải pháp nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định về pháp luật thuế nói chung và hóa đơn nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được nghiên cứu và thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin Khi nghiên cứu, luận giải các nội dung của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp như: phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, diễn giải, biện chứng, thực tiễn đồng thời bổ sung một số luận cứ khoa học và thực tiễn trong thực hiện mục tiêu đề tài Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số tài liệu từ các nguồn như: Thông tin từ các website, tạp chí chuyên ngành, báo cáo thuế, và ý kiến của các chuyên gia để so sánh, đối chiếu và phân tích để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Từ khi trở thành thành viên của WTO, nước ta có rất nhiều thời cơ nhưng cũng phải đối mặt với không ít những thách thức trước sự biến động của nền kinh tế toàn cầu Đứng trước xu hướng đó Đảng và nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau, trong đó công cụ về thuế được xem như phương tiện để duy trì sự sống và tồn tại của một quốc gia Việc nghiên cứu về thuế được nhà nước ta dành sự quan tâm đúng mực, nhưng vấn đề gian lận về Thuế đang trở thành vấn đề nhức nhối hiện nay mà một trong những công cụ được sử dụng phổ biến hiện nay để trốn thuế và chiếm đoạt tiền từ NSNN chủ yếu hiện nay là công cụ về hóa đơn Mặc dù đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau về hóa đơn, nhưng qua thực tiễn quản lý và

sử dụng hóa đơn hiện nay, tác giả nhận thấy nhiều người chưa nhận thức được tầm quan trọng của hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế vì vậy tác giả mong muốn

Trang 11

nêu lên được những vướng mắc, hạn chế ảnh hưởng đến hiệu quả thu thuế cho ngân sách nhà nước thông qua công cụ là hóa đơn Đồng thời, đề tài sẽ là một nguồn thông tin, giải pháp để hoàn thiện luật thuế một cách khoa học và hiệu quả Bên cạnh đó còn đưa ra những cơ sở lý luận và thực tiễn để hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này nhằm ngăn ngừa tối đa hành vi sử dụng trái phép hóa đơn để chiếm đoạt tài sản của nhà nước

7 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận có kêt cấu như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định pháp luật hiện hành về hóa đơn

Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hóa đơn và một số giải pháp hoàn thiện

Trang 12

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN

HÀNH VỀ HÓA ĐƠN 1.1 Khái quát chung về hóa đơn

1.1.1 Khái niệm hóa đơn

Hóa đơn xuất hiện ban đầu chỉ mang ý nghĩa giữa hai bên đối tác là người bán

và người mua có giá trị làm bằng chứng chứng nhận cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa hai bên và mọi tranh chấp phát sinh trong mua bán hàng hoá sẽ do hai bên tự giải quyết Trong quá trình phát triển xã hội, hoá đơn đã dần được sử dụng phổ biến trong một cộng đồng khi được cộng đồng chấp nhận một cách tự nguyện Những tranh chấp trong việc mua bán hàng hoá sẽ được các cộng đồng xử lý trên cơ sở dân sự cho đến khi nhà nước bắt đầu tham dự vào quản lý mua bán hàng hoá và xử lý những tranh chấp về hàng hoá dựa trên pháp luật dân sự và hình sự thì hoá đơn được nhà nước quy định để làm căn cứ pháp lý chứng minh cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa các bên và làm căn cứ để xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có hàng hoá10 Như vậy, khái niệm hóa đơn đã xuất hiện từ rất lâu cùng với sự ra đời và tồn tại của các quan hệ mua bán hàng hóa Dù được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng cuối cùng người ta sử dụng hóa đơn như một loại chứng từ thương mại thể hiện quan

hệ mua bán trao đổi giữa các chủ thể trong nền kinh tế và có vai trò quan trọng trong xác định nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế với nhà nước

Một định nghĩa đơn giản và thông thường nhất về hóa đơn trong từ điển từ và

ngữ Việt Nam ghi nhận rằng hóa đơn là giấy ghi số lượng và giá tiền giao cho người

mua11 Một định nghĩa khác về hóa đơn theo đại từ điển tiếng việt ghi rằng hóa đơn là

giấy ghi các chỉ số như tên người mua, người bán, loại hàng hóa bán ra, giá tiền để làm chứng từ thanh toán theo hóa đơn, đối chiếu với hóa đơn gốc12 Hay nói cách khác, hoá đơn là bảng liệt kê danh sách các hàng hoá cùng với các thông tin liên quan

về hàng hoá và việc chuyển giao hàng hoá mà bên chuyển giao sẽ giao cho bên nhận được Tuy nhiên đây mới chỉ là cách định nghĩa cơ bản nhất về khái niệm hóa đơn dựa trên cơ sở ghép nối các từ ngữ theo từ điển tiếng việt thông thường

Tại Điều 3 Nghị định 89/2002/NĐ-CP quy định hoá đơn là chứng từ được in

sẵn thành mẫu, in từ máy tính tiền, in thành vé có mệnh giá theo quy định của Nhà nước, xác nhận khối lượng, giá trị của hàng hoá, dịch vụ mua, bán, trao đổi, quyền lợi

và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch mua, bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ Định

Trang 13

nghĩa này đã được sử dụng một thời gian khá dài trong gần một thập kỷ cho đến năm

2010 khi có Nghị định mới quy định về hóa đơn của Chính phủ ra đời Định nghĩa cho biết được nguồn gốc cũng như vai trò của hóa đơn trong các giao dịch nhưng lại chưa thể phản ánh hết được bản chất của hóa đơn cũng như vai trò của nó trong quản lý thuế của nhà nước nói chung và với các chủ thể sử dụng hóa đơn trong nền kinh tế nói riêng, nhất là trong bối cảnh kinh tế thị trường có nhiều thay đổi và mở cửa như hiện nay

Dưới góc độ nghiên cứu đề tài “Quy định pháp luật về hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế” tác giả xin được sử dụng định nghĩa quy định tại Nghị định 51/2010/NĐ-CP làm cách hiểu cho khái niệm hóa đơn trong khóa luận tốt nghiệp của

mình: Hóa đơn là chứng từ do người bán lập, ghi nhận thông tin bán hàng hoá, cung

ứng dịch vụ theo quy định của pháp luật13 Cho đến thời điểm hiện tại thì đây là khái

niệm được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong các văn bản pháp lý quy định về

hóa đơn để điều chỉnh quan hệ pháp luật thuế và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế

Như vậy, có thể thấy rằng cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như nhu cầu quản lý ngân sách nhà nước thì hoá đơn được nhà nước quy định để làm căn cứ pháp lý chứng minh cho việc chuyển nhượng hàng hoá giữa các bên, làm căn cứ để xác nhận quyền sở hữu hợp pháp của người có hàng hoá, đồng thời là chứng từ gốc trong

kế toán và quan trọng hơn, hóa đơn lại chính là căn cứ dùng để xác định doanh thu hay thu nhập tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế Chính vì vậy, trong trường hợp này hoá đơn còn có vai trò của một chứng từ thuế

Trong hoạt động kinh doanh người ta sử dụng hóa đơn như một bằng chứng giao dịch mua bán và có tính chất quyết định đến nghĩa vụ nộp thuế của đối tượng nộp thuế Bên cạnh đó, thông qua hóa đơn chúng ta có thể dễ dàng xác định mối quan hệ trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ, quyết toán tài chính, kê khai thuế, khấu trừ thuế, xác định chi phí hợp lý, hợp lệ cho các đối tượng chịu thuế Quản lý hóa đơn tốt sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp quản lý tốt hoạt động sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và cũng thông qua số lượng hóa đơn đã sử dụng doanh nghiệp sẽ dễ dàng hoạch toán được nguồn vốn và lợi nhuận trong kinh doanh từ đó xác định được nghĩa vụ phải thực hiện với nhà nước cũng như xây dựng chiến lược kinh doanh hợp

lý Ngoài ra, hóa đơn còn giúp nâng cao trách nhiệm pháp lý của chủ thể kinh doanh trong việc sử dụng và kê khai các thông số trên hóa đơn nhưng trách nhiệm của doanh

13 Điều 3 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

Trang 14

nghiệp là phải tự kiểm tra nội bộ, kiểm tra tính hợp pháp của hóa đơn mua bán hàng hóa, dịch vụ, từ đó làm căn cứ để khấu trừ và hoàn thuế

Với bản chất của hóa đơn như vậy nên trên tờ hóa đơn đã lập phải thể hiện được những tiêu chí cơ bản như tên loại hóa đơn, ký hiệu mẫu số hóa đơn, tên liên hóa đơn,

số thứ tự hóa đơn Trong đó các thông tin của bên bán như tên, mã số thuế của doanh nghiệp, địa chỉ kinh doanh là những thông tin bắt buộc phải có trên hóa đơn vì người bán là người trực tiếp cung cấp hóa đơn cho người mua khi mua bán hàng hóa dịch vụ Bên bán sẽ phải chịu trách nhiệm đối với tất cả những thông tin đã được ghi nhận trên hóa đơn trước người mua hàng và trước cơ quan quản lý thuế Bên cạnh đó hóa đơn phải ghi nhận vắn tắt những thông tin cơ bản nhất về hàng hóa dịch vụ đã giao dịch như tên, chủng loại, số lượng, giá thanh toán và sự xác nhận của các bên Do đó, hóa đơn có thể được xem như một bản hợp đồng có giá trị giữa hai bên, chứng nhận cho giao dịch giữa các chủ thể và có giá trị làm chứng cứ khi xảy ra tranh chấp Đối riêng với hóa đơn GTGT, ngoài dòng đơn giá là giá chưa có thuế GTGT phải có dòng thuế suất thuế GTGT, tiền thuế GTGT, tổng số tiền thuế phải thanh toán ghi bằng số và bằng chữ14 là những yếu tố bắt buộc Chỉ những hóa đơn có đầy đủ những nội dung trên mới được sử dụng để hạch toán kinh doanh, khấu trừ và hoàn thuế

1.1.2 Phân loại hóa đơn

1.1.2.1 Hóa đơn giá trị gia tăng

Hóa đơn giá trị gia tăng là hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ nội địa dành cho các

tổ chức, cá nhân khai thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ15, là cơ sở đảm bảo tính pháp lý cho việc khấu trừ và hoàn thuế của doanh nghiệp khi tiến hành các hoạt động kinh doanh hay cung ứng dịch vụ và có vai trò giúp xác định rõ số thuế GTGT phát sinh qua mỗi lần lưu thông hàng hóa dịch vụ chịu thuế, đảm bảo cho việc xác định đúng số thuế phải nộp

Mặc dù có tên gọi là hóa đơn GTGT nhưng đây thực chất không phải là loại hóa đơn duy nhất có vai trò trong việc xác định nghĩa vụ thuế nói chung, nghĩa vụ thuế GTGT nói riêng Việc gọi tên hóa đơn GTGT có lẽ xuất phát từ một nội dung bắt buộc phải có trên hóa đơn loại này là thuế suất và tiền thuế GTGT cấu thành trong hàng hóa

và dịch vụ được thiết kế để áp dụng cho đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ mà ở đó, nghĩa vụ thuế GTGT được tính trên cơ sở thuế GTGT đầu ra trừ đi thuế GTGT đầu vào thì sự tồn tại bắt buộc của mục thuế suất và tiền thuế trên hóa đơn

14

Khoản 1 Điều 4 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

15 Điều 4 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

Trang 15

GTGT là cần thiết Do đó, với riêng hóa đơn GTGT thì yếu tố “tiền thuế” là bắt buộc phải có trên hóa đơn, nếu không có mục này thì hóa đơn GTGT sẽ không đủ cơ sở để

áp dụng cho đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ nữa Mỗi chỉ tiêu ghi nhận trên hóa đơn đều có ý nghĩa và giá trị riêng của nó nên khi lập hóa đơn phải ghi một

cách cẩn thận và chính xác

Để tính thuế đầu ra, cơ quan thuế căn cứ trên hóa đơn của đối tượng nộp thuế đã

sử dụng khi cung cấp hàng hóa dịch vụ Tương tự, để tính thuế đầu vào, cơ quan thuế

sẽ căn cứ trên hóa đơn đối tượng nộp thuế được cung cấp từ đối tượng khác đã cung cấp hàng hóa dịch vụ cho họ Việc xác định số thuế GTGT mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ thực hiện hoàn toàn phải dựa trên các hóa đơn đầu ra và đầu vào hợp pháp16

Chỉ khi có đầy đủ hóa đơn hợp pháp để chứng minh thì số thuế GTGT đầu vào mới được chấp nhận khấu trừ, điều này cho thấy được tầm quan trọng của hóa đơn GTGT trong việc thể hiện đúng, trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh

cơ quan thuế chấp nhận khấu trừ khi giải quyết khấu trừ và hoàn thuế

16 Nguyễn Lê Hải (2002), “Một số biện pháp pháp lý đối với việc quản lý chế độ hoàn thuế GTGT ở Việt Nam

hiện nay”, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật trường Đại học Luật Tp.HCM, tr 3

17 Điều 4 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

Trang 16

Vì vậy, đối với hóa đơn bán hàng tác giả sẽ không đề cập nhiều bởi sự thể hiện vai trò của nó trong việc xác định nghĩa vụ thuế không nhiều như hóa đơn GTGT

1.1.2.2 Các loại hóa đơn khác

Đây là các loại hóa đơn mà giá trên đó đã có thuế GTGT bao gồm tem, vé, thẻ, phiếu thu tiền bảo hiểm… Với các tổ chức, cá nhân sử dụng máy tính tiền để bán hàng hóa, dịch vụ tại các quầy hàng, siêu thị phải sử dụng hóa đơn bán lẻ Các loại hóa đơn này về mặt hình thức vẫn phải có các tiêu chí bắt buộc phải có trên mỗi tờ hóa đơn giống hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng như đơn giá, số lượng, tên chủ thể phát hành hóa đơn… còn các loại hóa đơn đặc thù trong ngành hàng không (như vé máy bay), ngành đường sắt (vé tàu hỏa) và các ngành có tính chất quốc gia sẽ do Tổng cục Thuế chấp nhận việc tự in để đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của mình Còn đối với các loại tem, vé, hóa đơn khác thì Tổng cục Thuế sẽ ủy quyền cho Cục thuế các Tỉnh thành phố xem xét chấp thuận và quản lý Đây cũng là loại hóa đơn được cơ quan thuế xem xét có thể được chấp nhận khi khấu trừ và hoàn thuế trong một số trường hợp

Như vậy, hiện tại có ba loại hóa đơn cơ bản là hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng và các loại hóa đơn khác Mỗi loại hóa đơn có hình thức và vai trò nhất định đối với chủ thể phát hành và sử dụng nhưng khi nói đến nghĩa vụ mà người nộp thuế phải thực hiện thường là nói đến hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng thông thường Bởi lẽ các loại hóa đơn này thường gắn với hoạt động kinh doanh thường xuyên của chủ thê nộp thuế và nhà nước sẽ tiến hành thu thuế dựa trên kết quả kinh doanh của đối tượng nộp thuế thông qua việc khấu trừ và hoàn thuế Điều này có nghĩa hóa đơn là chứng cứ xác định nghĩa vụ thực tế mà người nộp thuế phải thực hiện đối với nhà nước Các loại hóa đơn này có một số tiêu chí bắt buộc giống nhau về hình thức như tên loại hóa đơn, đơn vị tính, số lượng, đơn giá nhưng yếu tố đặc thù riêng có phản ánh bản chất của mỗi loại hóa đơn đó là yếu tố tiền thuế là yếu tố bắt buộc đối với hóa đơn GTGT còn các loại hóa đơn còn lại không cần ghi nhận điều đó Mặc dù hình thức thể hiện trên hóa đơn có thể khác nhau nhưng nội dung cơ bản của hóa đơn là giống nhau vì có như vậy thì hóa đơn mới thực hiện đúng vai trò của nó trong việc xác định nghĩa vụ của chủ thể nộp thuế Như vậy, chỉ những loại hóa đơn trên đây khi tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc

về hình thức và nội dung như quy định mới được xem là hóa đơn hợp pháp, tức là mới được xem xét chấp nhận khi sử dụng để kê khai, tính thuế, khấu trừ và hoàn thuế

1.1.3 Hình thức thể hiện của hóa đơn

1.1.3.1 Hóa đơn tự in

Trang 17

Hoá đơn tự in là hoá đơn do các tổ chức, cá nhân kinh doanh tự in ra trên các thiết bị tin học, máy tính tiền hoặc các loại máy khác khi bán hàng hoá, dịch vụ18 Trên hóa đơn được in bởi các đơn vị tổ chức được quyền tự in hóa đơn thì ngoài các tiêu chí bắt buộc phải có trên mỗi loại hóa đơn thường xuất hiện một số tiêu chí riêng biệt của

tổ chức tự in hóa đơn đó để phục vụ cho hoạt động kinh doanh như lô-gô, hình ảnh trang trí hoặc quảng cáo

Ưu điểm của hóa đơn tự in là làm cho doanh nghiệp có ý thức trách nhiệm quản

lý và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hóa đơn tự in của cơ sở mình, không làm thất lạc, mất mát hoặc để người khác lợi dụng bởi vì nhà nước đã trao toàn tự in hóa đơn về cho doanh nghiệp, doanh nghiệp được quyền quyết định về hình thức, nội dung,

số lượng hóa đơn tự in để phù hợp với nhu cầu sử dụng hóa đơn của doanh nghiệp mình do đó doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về số hóa đơn mà mình tự in trước nhà nước Hơn nữa hóa đơn do doanh nghiệp tự in mang rất nhiều đặc trưng riêng của doanh nghiệp đó vì vậy ý thức sử dụng hóa đơn sẽ cao hơn nếu không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tín thương hiệu của doanh nghiệp một khi bị nhà nước đặt vào nhóm doanh nghiệp chịu rủi ro cao về thuế và không được quyền tự in hóa đơn nữa Ngoài ra, hóa đơn tự in còn rất thuận lợi cho các đơn vị vì trên hóa đơn được thiết kế phù hợp với nhu cầu và mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp Trên tờ hóa đơn có ghi rõ tên, địa chỉ doanh nghiệp giúp doanh nghiệp tự khẳng định, tự chịu trách nhiệm với khách hàng và trước pháp luật, đảm bảo cả về công tác kế toán, hạch toán trong sử dụng hóa đơn19 Mặt khác, việc tự in hóa đơn nâng cao tính chủ động tích cực của đơn vị trong

việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như đòi hỏi sự tự giác trung thực cao của các doanh nghiệp trong in ấn, phát hành, đăng ký sử dụng hóa đơn tự in Chính vì thế quy định cho phép sử dụng hóa đơn tự in trở nên rất có ý nghĩa đối với việc xác định nghĩa vụ thuế

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì hạn chế của hóa đơn tự in là dễ bị các đối tượng tự in hóa đơn lợi dụng để chiếm đoạt tiền thuế vì quy định về hình thức hóa đơn tự in chưa thực sự hoàn thiện và nhiều doanh nghiệp đã lạm dụng quyền tự in hóa đơn để mua bán hóa đơn bất hợp pháp và chiêu thức sử dụng hình thức này sẽ được tác giả đề cập cụ thể tại chương 2

18 Điểm a khoản 3 Điều 3 Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31 tháng 3 năm 2014 hướng dẫn thi hành nghị định

số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính Phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

19

Hồng Chuyên (2000), “Sử dụng hóa đơn tự in giải pháp tích cực trong quản lý thu thuế”, Tạp chí thuế nhà

nước, số 11, tr 12

Trang 18

1.1.3.2 Hóa đơn điện tử

Hoá đơn điện tử là tập hợp các thông điệp dữ liệu điện tử về bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, được khởi tạo, lập, gửi, nhận, lưu trữ và quản lý bằng phương tiện điện tử Hoá đơn điện tử được khởi tạo, lập, xử lý trên hệ thống máy tính của tổ chức đã được cấp mã số thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ và được lưu trữ trên máy tính của các bên theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử20 Đây là hình thức hóa đơn mới xuất hiện trong những năm gần đây và đang được khuyến khích sử dụng vì những ưu điểm của nó và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế Giống như hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử được sử dụng cho cả hai đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp và khấu trừ, bởi lẽ hình thức hóa đơn điện tử cũng chỉ là hình thức thể hiện bên ngoài của hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng và các loại hóa đơn khác

Nếu như đối với hóa đơn tự in và các loại hóa đơn khác, các thông tin cần thiết

sẽ được thể hiện đầy đủ trên hóa đơn giấy và luân chuyển từ người bán sang người mua thông qua hoạt động mua bán trực tiếp giữa hai bên thì đối với hóa đơn điện tử các thông tin đó sẽ được thể hiện và lưu trữ trên các phương tiện điện tử và truyền qua đường truyền internet mà không cần có sự gặp gỡ trực tiếp của hai chủ thể Chính điều này sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian, chi phí in ấn, chi phí đi lại cho các bên Hoạt động khởi tạo hóa đơn điện tử là hoạt động tạo ra định dạng cho hóa đơn, thiết lập đầy

đủ các thông tin của người bán, loại hóa đơn, ký hiệu hóa đơn, định dạng truyền – nhận

và lưu trữ hóa đơn trước khi bán hàng hoá, dịch vụ trên phương tiện điện tử của tổ chức kinh doanh hoặc của các tổ chức cung cấp dịch vụ về hoá đơn điện tử và được lưu trữ trên phương tiện điện tử của các bên theo quy định của pháp luật21

Việc sử dụng chữ ký điện tử về hình thức sẽ bắt mắt hơn, thể hiện tính chuyên nghiệp và khó bị bắt chước giả chữ ký như vậy sẽ tránh được các rủi ro mang tính pháp lý

Tuy nhiên, hạn chế trong việc ứng dụng sử dựng hóa đơn điện tử là doanh nghiệp phải có phần mềm bán hàng hoá, dịch vụ kết nối với phần mềm kế toán, đảm bảo dữ liệu của hoá đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tự động chuyển vào phần mềm (hoặc cơ sở dữ liệu) kế toán tại thời điểm lập hoá đơn và có các quy trình sao lưu dữ liệu, lưu trữ dữ liệu đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về chất lượng lưu trữ Như vậy so với hóa đơn giấy do doanh nghiệp tự in thì đối với doanh nghiệp tự khởi tạo hóa đơn điện tử phải đáp ứng được nhiều điều kiện khắt khe hơn, bởi vì đây là một

Trang 19

hình thức hóa đơn mới đòi hỏi phải đáp ứng được những điều kiện cao hơn về hệ thống phần mềm cũng như nguồn lực có trình độ trong sử dụng công nghệ thông tin và phải

có sự kết nối giữa các doanh nghiệp với nhau trong cùng một hệ thống Tổ chức khởi tạo hóa đơn điện tử trước khi khởi tạo hoá đơn điện tử phải ra quyết định áp dụng hoá đơn điện tử gửi cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp bằng văn bản giấy hoặc bằng văn bản điện tử gửi thông qua cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế và chịu trách nhiệm

về quyết định này

1.1.3.3 Hóa đơn đặt in

Hóa đơn đặt in là hóa đơn do tổ chức kinh doanh đặt in theo mẫu để sử dụng cho hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ , hoặc do cơ quan Thuế đặt in theo mẫu để cấp, bán cho các tổ chức, hộ và cá nhân22 Như vậy, đây là hình thức hóa đơn mà các tổ chức, đơn vị cá nhân kinh doanh với quy mô nhỏ hoặc siêu nhỏ không đủ điều kiện tài chính và cơ sở vật chất để đáp ứng điều kiện dưới hình thức tự in hóa đơn theo quy định của pháp luật sử dụng để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của mình Quy định này rất phù hợp với điều kiện và quy mô sản xuất của các doanh nghiệp này bởi muốn kinh doanh các chủ thể này buộc phải cung cấp hóa đơn cho khách hàng nhưng lại không đủ tiềm lực để tự in hóa đơn

Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn hình thức đặt in hóa đơn dù doanh nghiệp đó thuộc đối tượng được quyền tự in hóa đơn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, hình thức đặt in hóa đơn cũng có một số nhược điểm nhất định bởi tổ chức đặt

in hóa đơn không được quyền tự chủ mà phải phụ thuộc hoàn toàn vào tổ chức nhận đặt in về thời gian, địa điểm nên vì một số lý do khách quan mà nhiều doanh nghiệp trở nên điêu đứng vì không có hóa đơn giao cho khách hàng vì hóa đơn in chưa kịp do nhiều đơn đặt hàng hoặc cháy nhà xưởng, hư máy móc Mặc dù vậy, hình thức đặt in hóa đơn cũng là một trong những hình thức in hóa đơn phổ biến được nhiều chủ thể lựa chọn hiện nay vì nhiều ưu điểm của nó

Như vậy, với cả ba hình thức hóa đơn tự in, hóa đơn điện tử hay hóa đơn đặt in đều là những hình thức thể hiện bên ngoài của hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng và các loại hóa đơn khác Tùy thuộc vào ưu và nhược điểm của từng hình thức hóa đơn

mà doanh nghiệp lựa chọn hình thức in hóa đơn cho phù hợp, trong đó đối với hóa đơn đặt in và hóa đơn điện tử là hai hình thức thể hiện mới nên pháp luật có những quy định chặt chẽ hơn về đối tượng đặt in hóa đơn và sử dụng hóa đơn điện tử Việc phân loại cả ba hình thức này không phải để chứng minh hình thức hóa đơn nào quan trọng

22 Điều 3 Thông tư 39/2014/TT-BTC

Trang 20

hơn mà chỉ dừng lại ở việc sử dụng hình thức in ấn hóa đơn nào thực sự phù hợp với từng chủ thể kinh doanh, tiết kiệm được chi phí cho doanh nghiệp và cho nhà nước đồng thời phù hợp với xu thế chung của thời đại

1.1.4 Vai trò của hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế

Hóa đơn được xem là chứng từ xác nhận quan hệ mua bán giữa các chủ thể trong nền kinh tế, ghi nhận các thông tin quan trọng để làm cơ sở xác định nghĩa vụ thuế đối với nhà nước của đối tượng nộp thuế với nhiều loại sắc thuế khác nhau, bên cạnh đó hóa đơn còn có vai trò giống như một bản hợp đồng thu nhỏ chứ đựng các nội dung cơ bản nhất về quyền và nghĩa vụ của các bên trong đó có nghĩa vụ về thuế

1.1.4.1 Hóa đơn là cơ sở để xác nhận giao dịch giữa các bên và nghĩa vụ về thuế thông qua các yếu tố ghi nhận trên hóa đơn

Người nộp thuế là người phải thực hiện đầy đủ chế độ sử dụng hoá đơn cũng như lập và giao hoá đơn cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật23

Về phía người bán hàng hóa, dịch vụ thì hóa đơn được xem là chứng từ gốc xác định doanh thu (giá) để tính nhiều loại sắc thuế quan trọng liên quan đến doanh nghiệp như thuế TNDN, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu Như vậy nếu người bán không lập hóa đơn mà cơ quan quản lý thuế không phát hiện được thì họ có thể trốn nhiều sắc thuế cùng một lúc, còn nếu người bán ghi giá bán trên hóa đơn thấp hơn giá trị thực của giao dịch thì cũng dẫn đến giảm nghĩa vụ thuế của người bán gây thất thu NSNN Việc lập hóa đơn chậm so với thời điểm bán hàng, dịch

vụ cũng là một cách thức để người nộp thuế trì hoãn nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước24

Do mỗi nghiệp vụ phát sinh đều được thể hiện trên hóa đơn nên để xác định được số thuế phải nộp trong từng khâu lưu thông thì chủ yếu dựa vào hóa đơn, vì vậy đòi hỏi người bán phải lập hóa đơn và giao cho người mua theo đúng quy định thì mới đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch với nhau và với nhà nước

Bên cạnh đó, hóa đơn được xem như bằng chứng xác thực nhất chứng minh mối quan hệ mua bán giữa hai bên chủ thể, có giá trị tương tự như một bản hợp đồng có giá trị ràng buộc nghĩa vụ giữa người bán với khách hàng sở hữu thông qua hóa đơn đó Trên phương diện khách hàng tiêu dùng là một cá nhân thì việc lưu giữ hóa đơn có giá trị như bằng chứng pháp lý chứng minh cho quyền sỡ hữu hợp pháp của người mua,

Trang 21

đồng thời khách hàng sẽ được hưởng các quyền lợi khác như quyền được bảo hành sản phẩm cũng như đảm bảo chất lượng hàng hóa

Thông qua quản lý hóa đơn, các cơ quan thuế sẽ nắm bắt được nghĩa vụ cũng như tình hình nộp thuế của các đối tương nộp thuế để từ đó nhanh chóng phát hiện và

xử lý kịp thời những hành vi gian lận về thuế, đảm bảo thu đúng, thu đủ cũng như tạo công bằng giữa các doanh nghiệp kinh doanh Hóa đơn còn là công cụ để kiểm soát sự chuyển dịch hợp pháp hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường, quản lý tài chính, chống thất thu NSNN Việc kiểm tra hóa đơn khi bán hàng sẽ kiểm tra được doanh số bán đúng thực tế, doanh nghiệp sẽ khó có thể báo “âm” để được hoàn thuế cũng như hàng lậu và hàng không có hóa đơn sẽ khó có cơ hội lọt vào thị trường

Như vậy, qua việc phân tích những vấn đề khái quát nhất về hóa đơn cho thấy nội dung quan trọng nhất của hóa đơn chính là phải thể hiện được tên loại hóa đơn, số tiền thuế phải nộp, có như vậy hóa đơn mới đảm bảo đầy đủ nội dung luật định để làm bằng chứng của chủ sở hữu hàng hóa đã mua và quan trọng hơn là cơ sở để xác định nghĩa vụ thuế đối với nhà nước, đảm bảo nguyên tắc công bằng và sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể trong nền kinh tế

1.1.4.2 Hóa đơn là cơ sở để khấu trừ và hoàn thuế của doanh nghiệp

Ở nước ta tồn tại hai loại thuế cơ bản là thuế trực thu và thuế gián thu Theo đó, thuế trực thu là loại thuế mà nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân hoặc thể nhân, mà cơ sở để được khấu trừ và hoàn thuế trong thuế TNDN là chi phí hợp lý và hóa đơn đầu vào sẽ là bằng chứng quan trọng nhất để doanh nghiệp sử dụng trong khấu trừ và hoàn thuế Ngược lại thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng, là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ do chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại là người phải chịu thuế cuối cùng và thuế gián thu được thể hiện ở thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu Dó đó khi người mua mua hàng hóa, dịch vụ là đã đóng góp một phần tài chính vào ngân sách nhà nước thể hiện qua hoạt động đánh thuế gián tiếp ghi nhận trên hóa đơn GTGT và hóa đơn bán hàng, tức là người sử dụng hàng hóa dịch vụ đã thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và hóa đơn sẽ là bằng chứng ghi nhận điều đó

Trong việc xác định nghĩa vụ thuế thì hóa đơn lại được xem là bằng chứng gốc

để xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ cũng như chi phí hợp lý tính thuế TNDN Những hành vi sử dụng hóa đơn bất hợp pháp như mua bán hóa đơn hay sử dụng hóa đơn giả dẫn đến tăng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, tăng chi phí được

Trang 22

trừ sẽ làm giảm thuế GTGT phải nộp hoặc làm tăng số thuế GTGT được hoàn và giảm thuế TNDN phải nộp Giả sử trong trường hợp tăng số thuế được hoàn thì không chỉ thất thu thuế mà còn chiếm đoạt bất hợp pháp ngân sách của nhà nước

1.2 Quy định của pháp luật hiện hành về hóa đơn trong việc xác định nghĩa vụ thuế

1.2.1 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc in ấn, phát hành, quản lý và

sử dụng hóa đơn

1.2.1.1 Quyền và nghĩa vụ của cơ quan thuế

 Trong hoạt động in ấn, phát hành hóa đơn

Hóa đơn là công cụ đặc biệt được nhà nước sử dụng trong việc quản lý thuế, quản lý tài chính và đảm bảo công bằng xã hội nên việc quy định chủ thể có thẩm quyền phát hành hóa đơn phải hết sức chặt chẽ Việc in và phát hành hóa đơn từ lâu đã không còn là đặc quyền của Bộ Tài Chính mà theo quy định của pháp luật hiện hành hiện có hai chủ thể có thẩm quyền phát hành hóa đơn là Cục Thuế các tỉnh, thành phố

do Bộ tài Chính ủy quyền và các tổ chức, cá nhân kinh doanh

Căn cứ vào quyết định ban hành các loại hóa đơn của Bộ tài Chính, Tổng cục Thuế chịu trách nhiệm in ấn, phát hành, tổ chức cấp phát, hướng dẫn kiểm tra quản lý

sử dụng hóa đơn đối với các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ thuộc các thành phần kinh tế trong cả nước Hàng năm Tổng Cục Thuế sẽ căn cứ vào nhu cầu sử dụng hóa đơn mà tiến hành việc lập kế hoạch in hóa đơn và bán hoặc cấp hóa đơn cho các tổ chức cá nhân thuộc trường hợp không được tự in hóa đơn mà phải mua hóa đơn của Cục Thuế Định kỳ 3 tháng một lần Cục Thuế các Tỉnh sẽ quản lý tình hình in hóa đơn của các tổ chức nhận in hóa đơn và tổ chức cung ứng phần mềm

tự in hóa đơn thông qua chế độ báo báo theo quý Qua việc báo cáo này, cơ quan quản

lý thuế sẽ nắm bắt được số lượng hóa đơn được in ra qua đó gián tiếp đánh giá hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu vực mình quản lý cũng như nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với nhà nước

Cục thuế các địa phương là chủ thể có thẩm quyền in và phát hành hóa đơn để cấp cho các đối tượng phải mua hóa đơn từ cơ quan thuế và các loại hóa đơn mà Cục thuế được in ấn và phát hành là hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng Đây là hai loại hóa đơn có vai trò quan trọng trong quản lý thuế Xuất phát từ chức năng của các cơ quan quản lý thuế đối với sự vận hành của hệ thống thuế nước ta, cơ quan thuế là chủ thể quản lý trực tiếp hoạt động in ấn, phát hành hóa đơn của tổ chức, cá nhân Tuy nhiên, nhiều đối tượng nộp thuế đã không tuân thủ quy định pháp luật trong hoạt động in ấn,

Trang 23

phát hành hóa đơn mà in hóa đơn một cách tràn lan để bán, lập khống, làm sai lệch nội dung hóa đơn gây tổn thất cho NSNN, ảnh hưởng đến môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, vì vậy những doanh nghiệp này phải được đặt dưới sự kiểm soát đặc biệt hết sức chặt chẽ của nhà nước trong hoạt động in ấn và phát hành hóa đơn Do đó, để phục vụ cho hoạt động mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ các chủ thể này phải mua hóa đơn trực tiếp từ cơ quan thuế và cơ quan thuế là chủ thể thay mặt đối tượng nộp thuế in ấn và cấp phát hóa đơn

Đối với việc phát hành hóa đơn thì các loại hóa đơn do Cục Thuế đặt in để bán,

cấp trước khi bán, cấp lần đầu phải lập Tờ thông báo phát hành hoá đơn Tờ thông báo

phát hành hoá đơn phải được gửi đến tất cả các Cục Thuế trong cả nước trong thời hạn mười ngày kể từ ngày lập Tờ thông báo phát hành và niêm yết ngay tại các cơ sở trực thuộc Cục Thuế trong suốt thời gian sử dụng hoá đơn25 Hóa đơn do Cục thuế phát hành được cấp phát, quản lý theo một tỉ lệ thống nhất trên cả nước và chỉ được bán cho các tổ chức, cá nhân không tự in được hóa đơn để sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh của mình

Như vậy, việc in và phát hành hóa đơn được quy định theo một quy trình nghiêm ngặt và có sự kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã phần nào phản ánh được tầm quan trọng của hóa đơn đối với việc thực hiện nghĩa vụ của các đối tượng nộp thuế trước nhà nước Tổng cục Thuế sẽ là chủ thể trực tiếp tổ chức hướng dẫn xét duyệt mẫu hóa đơn tự in của các cơ sở kinh doanh và chỉ định nhà

in để quản lý việc in ấn, phát hành hóa đơn trên phạm vi cả nước, việc in ấn hóa đơn không thể thực hiện tùy tiện, tràn lan mà phải được kiểm soát chặt chẽ thông qua việc chỉ định nhà in Sự ràng buộc này là hết sức cần thiết giúp cho cơ quan quản lý thuế có

cơ sở xem xét chấp thuận hay không các loại hóa đơn chứng từ được đối tượng nộp thuế kê khai trong hồ sơ hoàn thuế Trong phạm vi quyền hạn của mình, Tổng cục Thuế còn phối hợp với các ngành quản lý thị trường, công an ngăn chặn các hành vi in

ấn hóa đơn giả, mua bán hóa đơn chứng từ Việc xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm về hóa đơn chứng từ sẽ góp phần loại trừ và ngăn chặn số lượng hóa đơn chứng

từ gian lận có thể dùng để lập hồ sơ xin hoàn thuế bất hợp pháp26

 Trong quản lý, sử dụng hóa đơn

Tổng Cục Thuế là cơ quan có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn trong phạm vi cả nước, ngoài ra còn phải thông báo rộng

25 Điều 12 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

26 Nguyễn Lê Hải (2003), tldd, tr.27

Trang 24

rãi các loại hoá đơn đã được phát hành, được báo mất, không còn giá trị sử dụng trên phạm vi cả nước và có trách nhiệm thông báo công khai danh sách những doanh nghiệp chịu rủi ro cao về thuế Tổng cục Thuế với tư cách là cơ quan thuế cấp trung ương sẽ chịu trách nhiệm quản lý chế độ hóa đơn chứng từ trong phạm vi toàn quốc

Sự quản lý thống nhất rất có ý nghĩa khi kiểm soát việc sử dụng hóa đơn của các cơ sở kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đối chiếu xác minh hóa đơn, xác định

số thuế đầu ra và đầu vào hợp lý Ngoài Tổng Cục Thuế thì Cục Thuế các địa phương cũng phải quản lý, thanh tra, kiểm tra hoạt động tạo, phát hành, sử dụng hóa đơn của tất cả các chủ thể trong phạm vi do mình quản lý27

mở sổ theo dõi các tổ chức cá nhân đăng ký sử dụng hóa đơn tự in trên địa bàn Vì vậy, khi có hồ sơ xin khấu trừ và hoàn thuế, cơ quan thuế địa phương sẽ có cơ sở để so sánh đối chiếu với tình hình sử dụng hóa đơn mà doanh nghiệp tự kê khai Nếu phát hiện có hóa đơn bất hợp lý, sẽ yêu cầu doanh nghiệp phải giải trình và chứng minh cụ thể Các Cục Thuế và Chi cục Thuế còn phải kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất sử dụng hóa đơn tại các đơn vị, ngăn chặn kịp thời các hành vi sai phạm, làm ăn phi pháp, gian lận hóa đơn

Như vậy những nội dung thực hiện chủ yếu của biện pháp quản lý sử dụng hóa đơn thể hiện ở việc xác định tính hợp pháp của các loại hóa đơn hay xác định trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp trong việc quản lý sử dụng hóa đơn Điều này tạo ra sự ràng buộc chặt chẽ cần thiết giúp cơ quan thuế có cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi khi tiến hành kiểm tra xác minh các loại hóa đơn được kê khai trong hồ sơ kê khai, khấu trừ và hoàn thuế Quản lý sử dụng hóa đơn được xem là biện pháp pháp lý quan trọng hàng đầu đối với việc quản lý chế độ khấu trừ và hoàn hoàn thuế, đồng thời ở tầm vĩ mô nó còn có vai trò như công cụ đắc lực của nhà nước để quản lý tài chính,

27 Điều 23 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

Trang 25

kinh tế đảm bảo công bằng xã hội trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước, tăng cường pháp chế nhà nước trong quản lý nền kinh tế28

Hóa đơn tự in cũng là loại hóa đơn do Bộ Tài chính thống nhất quản lý Thay vì

Cơ quan Thuế các tỉnh phát hành hóa đơn và bán cho các doanh nghiệp với số tiền thu được từ việc bán hóa đơn sẽ dùng vào bù đắp cho chi phí in ấn, bảo quản thì Cục Thuế trao quyền này lại cho các doanh nghiệp tự in và chỉ giữ vai trò kiểm soát số hóa đơn được in ra, thay vào đó doanh nghiệp sẽ chịu hoàn toàn chi phí in ấn, bảo quản hóa đơn nhưng doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tự in sẽ có trách nhiệm hơn với hóa đơn tự in của mình Việc cơ quan thuế trao quyền tự chủ in hóa đơn cho người nộp thuế và chỉ bán hóa đơn cho một số đối tượng đặc thù đã giúp cơ quan thuế giảm bớt nguồn nhân lực trong xử lý việc giao nhận và bán hóa đơn Bên cạnh đó cơ quan Thuế chỉ cần tập trung vào theo dõi, quản lý quá trình phát hành, in ấn và sử dụng hóa đơn

Tổng cục Thuế đã coi quản lý hóa đơn chứng từ là một trong những trọng tâm hoạt động của mình Đặc biệt ngành thuế đã có nhiều cố gắng trong quy trình quản lý hóa đơn bằng nhiều cách thức khác nhau như:

 Tổ chức xác minh đối chiếu hóa đơn bằng việc cơ quan quản lý hóa đơn các cấp tổ chức xác minh hóa đơn của các cơ quan, tổ chức, đặc biệt là phải chú trọng đẩy mạnh đối chiếu hóa đơn giữa cơ quan thuế các địa phương theo cơ chế đối chiếu chéo Việc đối chiếu chéo hóa đơn để phát hiện hành vi mua bán hóa đơn bất hợp pháp là biện pháp tối ưu được ưu tiên sử dụng và có vai trò như “vũ khí” quan trọng trong công tác quản lý thu NSNN29

 Báo cáo tình hình in ấn, phát hành và sử dụng hóa đơn thông qua cơ chế cứ định

kỳ 3 tháng Cục Thuế các Tỉnh sẽ quản lý tình hình in hóa đơn của các tổ chức nhận in hóa đơn và tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn thông qua chế độ báo báo theo quý Qua việc báo cáo này thì Cục Thuế sẽ nắm bắt được số lượng hóa đơn được in ra để thông qua đó gián tiếp đánh giá hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu vực mình quản lý cũng như nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp với nhà nước

 Đối với bảo quản và xử lý hóa đơn thì hóa đơn tại mỗi đơn vị phải có kho bảo quản an toàn, tránh mối mọt đồng thời phải có người trông coi, mở sổ quản lý theo đúng quy định để tránh bị mất mát hư hỏng Đồng thời thực hiện thông báo

28 Nguyễn Lê Hải (2002), tlđd, tr.28

29

Việt Tuấn (2014), “Ngành thuế truy thu, truy hoàn, phạt 13.657 tỷ đồng qua thanh tra, kiểm tra 64.119 doanh

nghiệp”, Tạp chí Thuế nhà nước, số 16 (478) , tr 6

Trang 26

việc mất hóa đơn, từ chối hóa đơn, đình chỉ, thu hồi hóa đơn sử dụng sai quy định của các tổ chức, cá nhân Bên cạnh đó, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành tiêu hủy những hóa đơn không còn giá trị sử dụng, lập bảng kê thanh hủy hóa đơn và phải được sự chấp thuận của Tổng Cục Thuế

1.2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh

 Trong hoạt động in ấn, phát hành hóa đơn

Chế độ in và phát hành hóa đơn của tổ chức và cá nhân kinh doanh có nhiều sự thay đổi khi có quy định mới được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chủ thể được quyền in ấn phát hành hóa đơn là tổ chức, cá nhân kinh doanh, bao gồm cả doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp ở địa bàn kinh tế khó khăn cũng phải tự đặt in hoặc tự in hóa đơn và cơ quan Thuế không bán hóa đơn cho các chủ thể này nữa Quy định này đã mở rộng rất nhiều về đối tượng được quyền in hóa đơn so với các quy định trước đây và pháp luật trao quyền tự chủ cũng như tự chịu trách nhiệm cho người nộp thuế tự in hóa đơn Điều này sẽ là lợi thế cho cho các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn nhưng ngược lại quy định này lại không phù hợp với doanh nghiệp sử dụng ít hóa đơn vì giá thành hóa đơn rất cao

Đối tượng được quyền tự in hóa đơn là doanh nghiệp (kể cả ngân hàng) phải có vốn điều lệ 15 tỉ đồng trở lên tính theo số vốn đã thực góp mới được tự in hóa đơn30thay vì mức vốn điều lệ từ 1 tỉ đồng như quy định trước đây Điều này chứng tỏ nhà nước đã siết chặt quy định về đối tượng tự in hóa đơn để doanh nghiệp tự in không còn

“tự do” in và phát hành hóa đơn tràn lan như trước Ngoài ra, doanh nghiệp được quyền tự in và phát hành hóa đơn phải là doanh nghiệp không bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế hoặc đã bị xử phạt và đã chấp hành xử phạt vi phạm pháp luật về thuế, đồng thời phải có văn bản đề nghị sử dụng hóa đơn tự in theo mẫu do Bộ Tài Chính ban hành31

Các tổ chức cá nhân kinh doanh được quyền tự in và phát hành hóa đơn GTGT, hóa đơn bán hàng hoặc các loại hóa đơn khác phù hợp với mục đích và hoạt động kinh doanh của mình Ngoài ra, các chủ thể này còn được quyền lựa chọn hình thức in hóa đơn bằng hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in hay khởi tạo hóa đơn điện tử Để sử dụng hóa đơn cho việc bán hàng hóa cung ứng dịch vụ, doanh nghiệp phải có thông báo phát hành hóa đơn và căn cứ vào nhu cầu sử dụng hóa đơn cũng như việc chấp hành các quy

30

Điều 6 Thông tư 39/2014/TT-BTC

31 Thông tư 39/2014/TT-BTC

Trang 27

định về quản lý sử dụng hóa đơn của tổ chức doanh nghiệp mà được cơ quan thuế quản

lý trực tiếp sẽ xác định số lượng hóa đơn được thông báo phát hành

Đối với cá nhân, hộ kinh doanh cũng không được tự tạo hóa đơn GTGT mà cá nhân, hộ gia đình nếu có nhu cầu sử dụng hóa đơn thì có thể sử dụng hóa đơn bán hàng

do Cục Thuế bán hoặc đặt in Đối với riêng doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế muốn tự

in hóa đơn phải sử dụng phần mềm do cơ quan Thuế cung cấp để cơ quan Thuế đảm bảo được toàn bộ dữ liệu của hóa đơn tự in nhưng thực chất là để nhà nước có thể dễ dàng kiểm soát quá trình in và phát hành hóa đơn của các chủ thể này bởi đây là những chủ thể đã làm mất niềm tin của nhà nước do đã từng có hành vi vi phạm về hóa đơn,

vì vậy đặt những chủ thể này vào trong sự kiểm soát đặc biệt là điều cần thiết

Trước khi tổ chức, cá nhân sử dụng hóa đơn tự in phải thông báo bằng văn bản với Cục Thuế tỉnh thành phố trực tiếp quản lý về mẫu hóa đơn, số lượng phát hành, thời gian sử dụng để cơ quan thuế mở sổ theo dõi quản lý đồng thời tổ chức cá nhân gửi kèm mẫu đăng ký sử dụng hóa đơn với Tổng cục Thuế về cho Cục Thuế tỉnh, thành phố trực tiếp quản lý Căn cứ vào công văn và mẫu hóa đơn đã được Tổng cục Thuế chấp nhận, Cục Thuế trực tiếp quản lý kiểm tra, đối chiếu với hóa đơn tự có của đơn vị

có khớp đúng không và mở sổ theo dõi Cơ sở kinh doanh phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về hóa đơn tự in của mình khi mua bán hàng hóa, cung ứng dịch

vụ

Đối với việc phát hành hoá đơn của tổ chức, cá nhân kinh doanh thì trước khi sử

dụng hoá đơn cho việc bán hàng hoá, dịch vụ phải lập Tờ thông báo phát hành hoá đơn

với nội dung gồm hoá đơn mẫu, ngày bắt đầu sử dụng, ngày lập Tờ thông báo phát

hành và chữ ký của người đại diện trước pháp luật Tờ thông báo phát hành hoá đơn phải được gửi đến cơ quan thuế nơi tổ chức, cá nhân phát hành thông báo đóng trụ sở chính, trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày ký thông báo phát hành và niêm yết ngay tại các cơ sở sử dụng hoá đơn để bán hàng hoá, dịch vụ trong suốt thời gian sử dụng hoá đơn và nếu có sự thay đổi về nội dung đã thông báo phát hành phải thực hiện thủ tục thông báo phát hành mới Đối với tổ chức nhận in hóa đơn phải là những doanh nghiệp có giấy phép hoạt động trong ngành in và tổ chức cung ứng phần mềm tự in hóa đơn phải là doanh nghiệp có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, trong đó có ngành nghề lập trình máy vi tính hoặc xuất bản phần mềm, trừ trường hợp tổ chức tự cung ứng phần mềm tự in hóa đơn để sử dụng Tổ chức nhận in hóa đơn và cung ứng phần mềm tự in hóa đơn thực hiện trách nhiệm in hóa đơn theo đúng hợp đồng đã ký và phải

Trang 28

đảm bảo chất lượng in và định kỳ 3 tháng là phải thông báo tình hình lên cơ quan thuế trực tiếp quản lý

 Trong quản lý, sử dụng hóa đơn

Mọi tổ chức, cá nhân phải sử dụng hóa đơn đúng mục đích Tổ chức, cá nhân sử dụng hoá đơn điện tử, hoá đơn tự in chưa lập được lưu trữ trong hệ thống máy tính theo chế độ bảo mật thông tin, đối với hoá đơn đặt in chưa lập thì được lưu trữ, bảo quản trong kho theo chế độ lưu trữ bảo quản chứng từ có giá Riêng đối với hóa đơn đã lập trong các đơn vị kế toán được lưu trữ theo quy định lưu trữ, bảo quản chứng từ kế toán, còn hoá đơn đã lập trong các tổ chức, cá nhân không phải là đơn vị kế toán được lưu trữ và bảo quản như tài sản riêng của tổ chức, cá nhân đó

Trong trường hợp hóa đơn bị mất hay bị cháy, hỏng thì tổ chức, cá nhân phải lập biên bản và phải có đơn khai báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong thời hạn khai báo là sau ngày biên bản được lập xong, nhưng chậm nhất không quá 05 (năm) ngày,

kể từ ngày xảy ra việc mất, cháy, hỏng hoá đơn Đối với hóa đơn hết giá trị sử dụng thì

tổ chức, cá nhân phải thực hiện hủy hóa đơn và việc hủy hóa đơn phải được thông qua Hội đồng hủy hoá đơn32

Tổ chức cá nhân kinh doanh phải Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn theo quý

kể cả trường hợp trong kỳ không sử dụng hóa đơn Đối với trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp không thuộc đối tượng tự in, đặt in hoặc thuộc loại rủi ro cao về thuế thì thực hiện báo cáo theo tháng với thời hạn nộp là ngày 20 của tháng tiếp theo, nộp trong 12 tháng từ ngày thành lập và sau đó cơ quan Thuế có thông báo chuyển sang khai quý mới được chuyển sang báo cáo theo quý

Đối với quy định về hóa hóa đơn từ cơ quan thuế để sử dụng của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều điểm đáng lưu ý Trong đó, doanh nghiệp thuộc loại rủi ro cao về thuế thuộc diện mua hóa đơn của cơ quan thuế là quy định mới được ban hành mà các văn bản luật trước đây chưa hề có hướng dẫn Doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế sẽ bị Cục trưởng Cục Thuế công công khai danh sách vào ngày 15 hàng tháng Theo đó những doanh nghiệp này không được quyền in hóa đơn do đã từng có hành vi vi phạm

về hóa đơn do cố ý hoặc có chủ ý sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hoá đơn để trốn thuế, gian lận thuế và bị xử lý vi phạm hành chính đối với hành

vi trốn thuế, gian lận thuế Để ngăn chặn hành vi gian lận này của các doanh nghiệp có thể tiếp tục diễn ra nên tổng Cục Thuế đã đặt những doanh nghiệp này trong sự kiểm

32

Khoản 4 Điều 24, Điều 25, Điều 26, Điều 27 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

Trang 29

soát chặt chẽ và không được tiếp tục tự in hóa đơn mà thay vào đó là mua hóa đơn của

cơ quan Thuế Bên cạnh đó thông tư cũng quy định trường hợp trong vòng 30 ngày kể

từ ngày Cục trưởng Cục Thuế có văn bản thông báo cho doanh nghiệp biết đối với doanh nghiệp thuộc diện rủi ro cao về thuế và kể từ ngày có quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế và gian lận thuế có hiệu lực thi hành đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm về hóa đơn thì doanh nghiệp phải lập báo cáo hóa đơn hết giá trị sử dụng và thực hiện hủy các hóa đơn tự in, đặt in hết giá trị sử dụng và thông báo kết quả hủy hóa đơn cho cơ quan Thuế quản lý trực tiếp

Quy định này có thể xem như một chế tài đối với doanh nghiệp có hành vi gian lận thuế thông qua in hóa đơn nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng việc in hóa đơn để chiếm đoạt tiền thuế của nhà nước Việc bị thông báo công khai là doanh nghiệp chịu rủi ro cao về thuế đã gián tiếp làm xấu hình ảnh của doanh nghiệp, gây bất lợi trong hoạt động kinh doanh, buộc doanh nghiệp thực hiện việc tiêu hủy số hóa đơn đã in có thể khiến doanh nghiệp thất thoát một số tiền không nhỏ và còn bị đặt trong sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan thuế Đối với riêng hóa đơn đi mua từ Cục Thuế các tỉnh, thành phố thì trách nhiệm của tổ chức và hộ cá nhân là phải có đơn đề nghị mua hóa đơn và

bổ sung văn bản cam kết về địa chỉ sản xuất kinh doanh để nhà nước dễ dàng kiểm soát được việc sử dụng hóa đơn đúng mục đích và tránh tình trạng mua bán hóa đơn bất hợp pháp

1.2.2 Điều kiện để hóa đơn đảm bảo tính hợp pháp, có giá trị trong việc xác định nghĩa vụ thuế

Hóa đơn hợp pháp là hóa đơn đảm bảo đúng, đầy đủ về hình thức và nội dung theo quy định của pháp luật 33

Về hình thức hóa đơn phải ghi đầy đủ các chỉ tiêu bắt buộc phải có cho từng loại hóa đơn, nội dung in sẵn trên hóa đơn phải nguyên vẹn, không rách hoặc nhàu nát và các số liệu, chữ viết, đánh máy hoặc in trên hóa đơn phải

rõ ràng, trung thực, đầy đủ, chính xác, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa Nội dung trên hóa đơn phải đúng nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh, không được tẩy xóa, sửa chữa, phải dùng cùng màu mực và loại mực không phai, số và chữ viết phải liên tục không được ngắt quãng, không viết hoặc in đè lên chữ in sẵn, gạch chéo phần còn trống34

Ngoài các quy định bắt buộc trên thì hóa đơn hợp pháp phải là hóa đơn còn giá trị sử dụng, không bị cơ quan thuế ra thông báo là hóa đơn đã mất hoặc thông tin không đảm

33 Khoản 4 Điều 3 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

34 Điều 16 Nghị định 51/2010/NĐ-CP

Trang 30

bảo tính chính xác Chỉ có hóa đơn đảm bảo tính hợp pháp mới được sử dụng, lưu hành

và thực hiện chức năng của nó trong xác định thuế, quyết toán, kê khai, khấu trừ thuế

Hóa đơn đảm bảo tính hợp pháp tức là hóa đơn phải do chủ thể là Bộ tài Chính

ủy quyền cho Cục Thuế các tỉnh, thành phố phát hành hoặc hóa đơn do doanh nghiệp

tự tạo theo quy định về in ấn, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn Hóa đơn phải do người bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ lập và giao bản gốc liên 2 (là liên dùng để giao cho khách hàng) cho người mua Riêng đối với hóa đơn tự in, để đảm bảo tính pháp lý thì ngoài các quy định như trên, hóa đơn tự in của các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải được Tổng Cục Thuế chấp nhận bằng văn bản, lúc này hóa đơn sẽ chính thức được công nhận như là hóa đơn do Cục Thuế phát hành và có giá trị trong việc khấu trừ cũng như hoàn thuế

Đối với hóa đơn điện tử, để đảm bảo tính pháp lý hóa đơn điện tử phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện như có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong hóa đơn điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là hóa đơn điện tử Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị hóa đơn điện tử và thông tin chứa trong hóa đơn điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết35 Còn đối với hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy chỉ có giá trị pháp lý khi bảo đảm các yêu cầu về tính toàn vẹn của thông tin trên hóa đơn nguồn, ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi và chữ ký, họ tên của người thực hiện chuyển đổi được thực hiện theo quy định của pháp luật về chuyển đổi chứng từ điện tử

1.2.3 Quy định pháp luật về chế tài trong việc sử dụng hóa đơn

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ36 Như vậy vi phạm pháp luật về hóa đơn trong lĩnh vực thuế là hành vi làm trái các quy định của pháp luật về thuế thông qua việc tạo lập, phát hành, quản lý và sử dụng hóa đơn do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến các quan hệ pháp luật thuế và phải gánh chịu các hậu quả pháp lý về hành vi của mình

Thực tiễn cho thấy, hành vi vi phạm pháp luật về thuế trong việc sử dụng hóa đơn của người nộp thuế rất đa dạng và trong nhiều trường hợp các hành vi đó được

Trang 31

thực hiện một cách hết sức tinh vi Chính vì lẽ đó, việc điều tra, xác định hành vi vi phạm pháp luật và xử phạt vi phạm đối với các hành vi này là thực sự rất cần thiết Theo điều 103 Luật quản lý thuế năm 2006 hành vi vi phạm pháp luật về thuế thông qua hóa đơn gồm các hành vi về trốn thuế và gian lận thuế Theo đó, trốn thuế và gian lận thuế là những hành vi cố ý vi phạm pháp luật về thuế Nếu như hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, người nộp thuế thực hiện với lỗi vô ý thì đối với hành vi trốn thuế và gian lận thuế, người nộp thuế cố ý thông qua các nghiệp vụ kinh tế chủ yếu thông qua hóa đơn chứng từ để làm sai lệch số tiền thuế phải nộp theo hướng có lợi cho người nộp thuế37

Tùy theo mức độ nguy hiểm và khả năng gây thiệt hại của các hành vi vi phạm

về hóa đơn trong lĩnh vực thuế mà pháp luật quy định các chế tài tương ứng Cụ thể một hành vi vi phạm pháp luật thuế bằng việc sử dụng hóa đơn tùy theo tính chất và mức độ vi phạm hình thức xử phạt liên quan đến vi phạm về hóa đơn không chỉ dừng lại ở việc xử phạt vi phạm hành chính mà đã có chế tài hình sự

Thứ nhất, chế tài hành chính đối với các hành vi vi phạm trong việc sử dụng hóa đơn

Đối với việc xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn trong lĩnh vực thuế thì phần lớn những hành vi diễn ra trên thực tế thuộc loại vi phạm hành chính, do đó các chế tài hành chính được áp dụng nhiều hơn so với chế tài hình sự

Xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn trong lĩnh vực thuế là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật về hóa đơn, áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác đối với

tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm về hóa đơn Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hình thức xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn gồm phạt cảnh cáo đối với hành vi vi phạm hóa đơn không gây hậu quả nghiệm trọng, có tình tiết giảm nhẹ và phạt tiền với mức xử phạt tối đa với tổ chức là 50 triệu đồng Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm mà tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật còn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung khác để khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm gây ra Các loại hành

vi vi phạm bị xử lý như vi phạm liên quan đến: vi phạm quy định về tự in hóa đơn và khởi tạo hóa đơn điện tử; vi phạm quy định về đặt in hóa đơn và in hóa đơn đặt in; hành vi vi phạm quy định về mua hóa đơn, phát hành hóa đơn, sử dụng hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ; hành vi quy định về lập, gửi thông báo và báo cáo (trừ thông

37

Ngô Gia Hoàng (2013), “Người nộp thuế dưới góc độ luật quản lý thuế những vấn đề lý luận và thực tiễn”,

khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật T.p HCM, tr.20

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Trường Đại học luật Hà Nội (2009), Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận về nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
5. Lê Xuân Trường (2013), “Tăng cường quản lý hóa đơn, góp phần đấu tranh chống gian lận thuế”, Tạp chí tài chính số 09 (587), tr.18-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường quản lý hóa đơn, góp phần đấu tranh chống gian lận thuế”, "Tạp chí tài chính
Tác giả: Lê Xuân Trường
Năm: 2013
6. Vũ Duy Hoàng (2002), “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong quản lý, sử dụng hóa đơn chứng từ thuế giá trị gia tăng”; luận văn cử nhân trường Đại học Luật Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn trong quản lý, sử dụng hóa đơn chứng từ thuế giá trị gia tăng
Tác giả: Vũ Duy Hoàng
Năm: 2002
7. Nguyễn Lê Hải (2002), “Một số biện pháp pháp lý đối với việc quản lý chế độ hoàn thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay”, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật trường Đại học Luật Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp pháp lý đối với việc quản lý chế độ hoàn thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lê Hải
Năm: 2002
8. Nguyễn Thị Bảo Ngọc (2008), “Chế độ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế”, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật trường Đại học Luật Tp. HCM, tr. 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ pháp lý về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế
Tác giả: Nguyễn Thị Bảo Ngọc
Năm: 2008
9. Hồng Chuyên (2000), “Sử dụng hóa đơn tự in giải pháp tích cực trong quản lý thu thuế”, Tạp chí thuế nhà nước, số 11, tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng hóa đơn tự in giải pháp tích cực trong quản lý thu thuế”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Hồng Chuyên
Năm: 2000
10. Việt Tuấn (2014), “Ngành thuế truy thu, truy hoàn, phạt 13.657 tỷ đồng qua thanh tra, kiểm tra 64.119 doanh nghiệp”, Tạp chí Thuế nhà nước, số 16 (478) , tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngành thuế truy thu, truy hoàn, phạt 13.657 tỷ đồng qua thanh tra, kiểm tra 64.119 doanh nghiệp”, "Tạp chí Thuế nhà nước
Tác giả: Việt Tuấn
Năm: 2014
11. Ngô Gia Hoàng (2013), “Người nộp thuế dưới góc độ luật quản lý thuế những vấn đề lý luận và thực tiễn”, khóa luận tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường Đại học Luật T.p HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người nộp thuế dưới góc độ luật quản lý thuế những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ngô Gia Hoàng
Năm: 2013
12. Phạm Thị Thúy (2012), “Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật trường Đại học Luật T.p. HCM, tr.32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ pháp lý về đăng ký, kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Tác giả: Phạm Thị Thúy
Năm: 2012
13. Hoàng Thị Liên- Phó viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An, (2013), “Cần hướng dẫn giải thích một số quy định của BLHS về các tội phạm liên quan đến hóa đơn GTGT”, Tạp chí Kiểm sát số 04 (2/2013), tr.42, 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần hướng dẫn giải thích một số quy định của BLHS về các tội phạm liên quan đến hóa đơn GTGT”, "Tạp chí Kiểm sát số 04 (2/2013)
Tác giả: Hoàng Thị Liên- Phó viện trưởng VKSND tỉnh Nghệ An
Năm: 2013
14. Trung Kiên (2014), “Ứng dụng công nghệ đối chiếu chéo phát hiện 3400 số hóa đơn giả”, Tạp chí thuế nhà nước số 17 (479), tr.11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng công nghệ đối chiếu chéo phát hiện 3400 số hóa đơn giả”, "Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Trung Kiên
Năm: 2014
15. Mai Kiên (2013), “Hóa đơn điện tử - xu hướng tất yếu”, Tạp chí Thuế nhà nước, số 52 (462), tr. 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa đơn điện tử - xu hướng tất yếu”, "Tạp chí Thuế nhà nước
Tác giả: Mai Kiên
Năm: 2013
16. Bài phỏng vấn bà Trịnh Thị Thu Thủy- trưởng phòng tuyên truyền hỗ trợ cục thuế Tp.HCM”,(2013), Tạp chí thuế nhà nước, số 39(449) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí thuế nhà nước
Tác giả: Bài phỏng vấn bà Trịnh Thị Thu Thủy- trưởng phòng tuyên truyền hỗ trợ cục thuế Tp.HCM”
Năm: 2013
17. Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/HS-GĐT ngày 10/6/2013 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao xét xử các bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”, (2003), Tạp chí tòa án nhân dân kỳ II tháng 10/2013, số 20, tr.47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”, (2003), "Tạp chí tòa án nhân dân kỳ II tháng 10/2013
Tác giả: Quyết định giám đốc thẩm số 07/2013/HS-GĐT ngày 10/6/2013 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao xét xử các bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước”
Năm: 2003
1. Luật Quản lý thuế của Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 Số 78/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 Khác
4. Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/05/2010 quy định về hoá đơn bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ Khác
5. Nghị định số 04/2014/nđ-cp ngày 17/01/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khác
6. Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/03/2014 hướng dẫn thi hành nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khác
7. Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của bộ tài chính; hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hoá đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khác
8. Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010, Hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định về hoá đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w