Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, đối tượng nghiên cứu trọng tâm là pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng nên từ phần này trở đi, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HCM - 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, nội dung được trích dẫn trong khóa luận đều được dẫn nguồn tài liệu tham khảo cụ thể và chính xác
Tác giả khóa luận
Kiều Anh Vũ
Trang 41.1.1 Sơ lược về sự ra đời của tín dụng Trang 07 1.1.2 Sơ lược về các hình thức của tín dụng Trang 08 1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng Trang 10
1.2 Khái quát về tín dụng ngân hàng Trang 12
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng ngân hàng Trang 12 1.2.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Trang 12 1.2.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Trang 13 1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường Trang 14 1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng Trang 15 1.2.3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng Trang 15 1.2.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay Trang 16 1.2.3.3 Căn cứ vào mức độ bảo đảm vốn vay Trang 16
1.3 Khái quát về hợp đồng tín dụng Trang 16
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng Trang 16 1.3.1.1 Khái niệm hợp đồng tín dụng Trang 16 1.3.1.2 Đặc điểm hợp đồng tín dụng Trang 18 1.3.2 Phân loại hợp đồng tín dụng Trang 19 1.3.2.1 Căn cứ vào thời hạn vay Trang 19 1.3.2.2 Căn cứ vào mức độ bảo đảm vốn vay Trang 19 1.3.2.3 Căn cứ vào mức độ sử dụng vốn vay Trang 20 1.3.3 Nguyên tắc ký kết hợp đồng tín dụng Trang 21
CHƯƠNG 2:
PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Trang 24 2.1 Sự cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trang 24 2.2 Pháp luật về điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trang 25
2.2.1 Điều kiện chủ thể đối với bên cho vay trong hợp đồng tín dụng Trang 25 2.2.1.1 Chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng Trang 25 2.2.1.2 Những điều kiện chủ thể đối với bên cho vay trong hợp đồng tín dụng Trang 28 2.2.2 Điều kiện chủ thể đối với bên vay trong hợp đồng tín dụng Trang 42 2.3 Pháp luật về hạn chế tín dụng đối với các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trang 52 2.3.1 Những trường hợp không được cấp tín dụng Trang 52 2.3.2 Những trường hợp hạn chế tín dụng Trang 54
Trang 52.3.3 Những trường hợp giới hạn tín dụng Trang 55
2.4 Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ký kết
hợp đồng tín dụng Trang 57
2.4.1 Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay Trang 57 2.4.2 Quyền và nghĩa vụ của bên vay Trang 60
2.5 Một số đề xuất, kiến nghị Trang 61
2.5.1 Kiến nghị đối với các quy định của pháp luật có liên quan đến điều kiện
chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng của bên cho vay Trang 61 2.5.2 Kiến nghị đối với các quy định của pháp luật có liên quan đến điều kiện
chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng của bên vay Trang 65 2.5.3 Kiến nghị đối với các quy định hạn chế tín dụng đối với chủ thể
ký kết hợp đồng tín dụng Trang 66 2.5.4 Đề xuất đối với các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trang 67
KẾT LUẬN Trang 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Quyết định số 2399/QĐ-NHNN ngày 15/12/2006 của Ngân hàng Nhà nước
về việc cấp Giấy phép hoạt động cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín
Phụ lục 2: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế công ty cổ phần do
Phòng Đăng ký kinh doanh, Sở Kế hoạch và đàu tư tỉnh Sóc Trăng cấp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín
Phụ lục 3: Quy chế ủy quyền ký kết, thực hiện hợp đồng dân sự, thương mại và tham
gia tố tụng trước pháp luật của Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín
Phụ lục 4: Giấy ủy quyền của Giám đốc chi nhánh Tp Hồ Chí Minh - Ngân hàng
Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín cho Giám đốc kinh doanh chi nhánh Tp
Hồ Chí Minh - Ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín
Phụ lục 5: Hợp đồng tín dụng hạn mức số ASU.DN.02.130111 giữa Ngân hàng
Thương mại cổ phần Việt Nam Thương Tín - Chi nhánh Tp Hồ Chí Minh với khách hàng (do Giám đốc Chi nhánh ký)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Qua 25 năm thực hiện đường lối Đổi mới (1986 – nay) chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử Chúng ta đã
“tranh thủ, tận dụng được thời cơ và vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động tiêu cực của hai cuộc khủng hoảng tài chính – kinh tế khu vực và toàn cầu, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”1 Việt Nam đã trở thành thành viên thứ
150 của tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới – WTO Đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng nhanh và ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức hợp lí, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt Đạt được những kết quả đó, ngoài
sự nỗ lực chung của cả nước phải kể đến sự đóng góp của hệ thống ngân hàng đã nỗ lực không ngừng thực hiện mục tiêu “đảm bảo ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, ổn định hệ thống ngân hàng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế
và thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”2
Sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng là một trong những điều kiện cơ bản của sự phát triển, hệ thống ngân hàng được ví như là hệ thần kinh của nền kinh tế Đại hội lần thứ XI của Đảng cũng đã xác định phương hướng phát triển kinh tế trong những năm tới là “phát triển các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao”3 Bên cạnh đó, hệ thống các
tổ chức tín dụng ngày càng lớn mạnh với 3 ngân hàng thương mại 100% vốn Nhà nước, 2 ngân hàng chính sách, 39 ngân hàng thương mại cổ phần, 5 ngân hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 53 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 18 công ty tài chính, 13 công ty cho thuê tài chính, 1.037 quỹ tín dụng nhân dân, 4
1
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về các văn kiện trình Đại hội XI của Đảng do đồng chí
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trình bày ngày 12/01/2011, Tìm hiểu Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc và Điều
lệ Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Nxb Thời đại, Hà Nội, tr 14 – 15
2
Website Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, xem thêm tại:
http://www.sbv.gov.vn/wps/portal/!ut/p/c4/04_SB8K8xLLM9MSSzPy8xBz9CP0os3gDFxNLczdTEwMLQ1dL A09_X
AYNcAQwNzA_2CbEdFAFjmS9E!/?WCM_PORTLET=PC_7_0D497F540O8A70IOVKL3FS1GE5_WCM& WCM_GLOBAL_CONTEXT=/wps/wcm/connect/sbv_vn/sbv_vn/vn.sbv.research/vn.sbv.research.research/Mfu PySn-EKPekHeVLffFiZM2010-03-05-05-29-16
3
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của
Đảng, Tìm hiểu Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc và Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Nxb Thời
đại, Hà Nội, tr 146
4
http://www.thanhnien.com.vn/Pages/20110427/Xay-dung-he-thong-ngan-hang-hien-dai-an-toan-hieu-qua.aspx
Trang 7Thực tiễn đó đòi hỏi pháp luật ngân hàng phải được tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện nhằm “hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng”5 như định hướng của Đảng ta đã đề ra trong Chiến lược kinh tế - xã hội 2011 – 2020, cũng như định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng đã được xác định trong Đề án phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 kèm theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/05/2006 của Thủ tướng là: “Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn kinh doanh tiền tệ - ngân hàng Xây dựng môi trường pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng minh bạch và công bằng nhằm thúc đẩy cạnh tranh và bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ, ngân hàng Các chính sách và quy định pháp luật về tiền tệ, hoạt động ngân hàng góp phần tạo môi trường lành mạnh và động lực cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và người dân phát triển sản xuất kinh doanh”
Đối với hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng, hoạt động cho vay là hoạt động thường xuyên và chủ yếu nhất Cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng Để một hợp đồng tín dụng tồn tại trong thực tế và có hiệu lực thì hợp đồng tín dụng đó phải được ký kết bởi những chủ thể có năng lực, thẩm quyền và những điều kiện khác theo quy định của pháp luật Nếu một hợp đồng tín dụng được ký kết không đáp ứng điều kiện về chủ thể thì bị vô hiệu Điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng tín dụng đó; đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động bình thường, ổn định của các tổ chức tín dụng Từ đó, về mặt vĩ mô, có thể sẽ dẫn đến những hệ quả không tốt cho nền kinh tế Chính vì thế, những quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng là rất quan trọng Cũng vì vậy, việc nghiên cứu pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng là rất cần thiết, nghiên cứu để hệ thống hóa và làm sáng tỏ những quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng, để dễ dàng vận dụng vào thực tế, tăng tính thực thi của pháp luật Đồng thời, nghiên cứu về vấn đề này
để thấy được những hạn chế, vướng mắc của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng, đề ra các kiến nghị để xây dựng, hoàn thiện pháp luật
Bên cạnh đó, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về hợp đồng tín dụng với các góc độ nghiên cứu khác nhau nhưng theo khảo sát của người viết, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
Vì những lý do nêu trên, với sự quan tâm của người viết đối với đề tài này, cùng
với điều kiện thời gian và những hiểu biết của bản thân, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp
5
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Tìm hiểu Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc và Điều lệ
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Nxb Thời đại, Hà Nội, tr 80
Trang 8luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt
nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Có thể nói hợp đồng tín dụng là một chủ đề pháp lý rộng lớn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả với các đề tài nghiên cứu, góc độ nghiên cứu khác nhau Qua quá trình khảo sát về tình hình nghiên cứu tại trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, người viết nhận thấy các tác giả đã tập trung nghiên cứu nhiều về tranh chấp
hợp đồng tín dụng như khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng tín dụng ngân hàng – lí luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Cao Cường
(năm 2002), khóa luận tốt nghiệp “Pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp
đồng tín dụng ngân hàng – thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Kiều Anh Thư
(năm 2003), luận văn cao học “Giải quyết tranh chấp về lãi suất cho vay trong hợp
đồng tín dụng của tổ chức tín dụng tại Tòa án” của tác giả La Hồng (năm 2007), khóa
luận tốt nghiệp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng – nguyên nhân và giải pháp qua thực
tiễn giải quyết tại Tòa án” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (năm 2008), khóa luận
tốt nghiệp “Tranh chấp về lãi suất trong hợp đồng tín dụng” của tác giả Phạm Lê Ninh
(2010), Ngoài ra, mối quan hệ giữa hợp đồng tín dụng với các hợp đồng, giao dịch
bảo đảm tiền vay cũng đã có tác giả quan tâm nghiên cứu như đề tài “Mối quan hệ giữ
hợp đồng tín dụng và giao dịch bảo đảm tiền vay” của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên
(năm 2010) Vấn đề hợp đồng tín dụng vô hiệu và hậu quả của nó cũng đã được nghiên
cứu qua khóa luận tốt nghiệp “Hợp đồng tín dụng vô hiệu và xử lý hợp đồng tín dụng
vô hiệu – thực trạng pháp luật và hướng hoàn thiện” của tác giả Lâm Vương Mỹ Linh
(năm 2003)
Như vậy, các nghiên cứu về hợp đồng tín dụng đã được thực hiện, công bố tương đối nhiều và đa dạng Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về
“Pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng” Đối với các công trình nghiên cứu kể
trên, nội dung pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng không phải là chưa được
đề cập đến nhưng chỉ được nghiên cứu ở mức độ sơ lược trong chương viết về lí luận chung về hợp đồng tín dụng Trong các đề tài trên, có lẽ chỉ có khóa luận tốt nghiệp
“Hợp đồng tín dụng vô hiệu và xử lý hợp đồng tín dụng vô hiệu – thực trạng pháp luật
và hướng hoàn thiện” của tác giả Lâm Vương Mỹ Linh là có đề cập một cách tương
đối cụ thể về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trong khóa luận này, người viết đã trình bày, phân tích những quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
để làm sáng tỏ nội dung hợp đồng tín dụng vô hiệu do vi phạm điều kiện chủ thể Ngoài ra, pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng cũng được đề cập trong một số
công trình khác, như: khóa luận “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân
hàng – Thực trạng và hướng hoàn thiện” của tác giả Phan Thỵ Tường Vy (năm 2002)
Trang 9có viết về chủ thể hợp đồng tín dụng ngân hàng; khóa luận “Các biện pháp pháp lý
nhằm bảo đảm an toàn hoạt động cho vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng” của
tác giả Lê Thị Quế Châu (năm 2008) có đề cập đến “chủ thể của hợp đồng tín dụng (hơp đồng cho vay)”
Khảo sát trên internet và một số tạp chí chuyên ngành Luật và ngân hàng như tạp chí Khoa học pháp lý, tạp chí Luật học, tạp chí Ngân hàng, tác giả cũng nhận thấy
rằng đề tài “pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng” cũng chưa được nghiên
cứu nhiều và cũng chỉ được đề cập ở mức độ khái quát, “điểm qua”
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài khóa luận là “Pháp luật về chủ thể
ký kết hợp đồng tín dụng” như là một nghiên cứu mới trong lĩnh vực này
3 Mục đích nghiên cứu
Trước hết, tác giả thực hiện khóa luận này là nhằm trang bị thêm cho chính mình những kiến thức chuyên môn nhất định, đồng thời hướng đến việc phục vụ công việc của tác giả trong tương lai
Thứ hai, như phần trên đã trình bày, các đề tài nghiên cứu về “pháp luật về chủ
thể ký kết hợp đồng tín dụng” là chưa nhiều và chưa sâu Do đó, tác giả thực hiện công
trình nghiên cứu này nhằm đóng góp thêm một công trình nghiên cứu mới trong lĩnh vực khoa học pháp lý nói chung và pháp luật ngân hàng nói riêng, đồng thời làm phong phú và đang dạng thêm các nghiên cứu về hợp đồng tín dụng
Thứ ba, nghiên cứu đề tài này là để hệ thống hóa, đồng bộ hóa những quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Đồng thời phân tích, bình luận, làm sáng tỏ những quy định đó để vận dụng, áp dụng trong thực tế được dễ dàng Bên cạnh đó, phát hiện những vướng mắc, hạn chế của pháp luật hiện hành về chủ thể
ký kết hợp đồng tín dụng để đề xuất các kiến nghị hoàn thiện
Thứ tư, tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu của mình sẽ được dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích đối với sinh viên chuyên ngành Luật Thương mại nói riêng và sinh viên ngành Luật, ngành tài chính – ngân hàng nói chung Người viết cũng hy vọng
đề tài của mình cũng sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị cho các chủ thể tham gia vào hoạt động tín dụng, chuẩn bị ký kết hợp đồng tín dụng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Như tên gọi của đề tài, đối tượng nghiên cứu của công trình này là những quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, để làm tiền đề, nền tảng cho việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng, cần phải có những kiến thức lí luận cơ bản có liên quan Vì thế, tác giả còn tìm hiểu một số vấn đề lí luận về tín dụng, tín dụng ngân hàng và hợp đồng tín dụng
Trọng tâm nghiên cứu của tác giả là những quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực luật ngân hàng về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Tuy vậy, vấn đề chủ thể ký kết
Trang 10hợp đồng, dù là hợp đồng tín dụng hay bất cứ hợp đồng nào khác, cũng đồng thời là một vấn đề thuộc ngành luật dân sự Vì vậy, lí luận về hợp đồng và chủ thể ký kết hợp đồng dân sự cũng như các quy định của pháp luật dân sự về chủ thể ký kết hợp đồng cũng được tác giả quan tâm nghiên cứu, đề cập, vận dụng và kết hợp trình bày trong công trình này để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu của công trình là “pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng” Đây cũng là quá trình hệ thống hóa, đồng bộ hóa những quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng mà tác giả đã đề cập ở trên
Trong thời gian và điều kiện nghiên cứu có hạn, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu
về những quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng chứ không nghiên cứu toàn bộ những quy định của pháp luật từ trước đến nay về vấn đề này cũng như không nghiên cứu về sự phát triển, tiến bộ của các quy định pháp luật qua các thời kỳ, giai đoạn Những quy định của pháp luật hiện hành được nghiên cứu ở đây là những quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực luật ngân hàng và ngành luật dân sự điều chỉnh về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng, chứ không điều chỉnh về hợp đồng tín dụng nói chung cũng như các khía cạnh khác có liên quan đến hợp đồng tín dụng
“Pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng” được tác giả nghiên cứu là những quy định của pháp luật được hệ thống hóa nhằm làm sáng tỏ các vấn đề: Một là, ai là chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng? Hai là, các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng tín dụng cần có những điều kiện gì? Ba là, pháp luật có những quy định nhằm hạn chế tín dụng đối với các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng hay không? Bốn là, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng là gì? Trên cơ sở đó, tác sẽ có những nhận định, đánh giá và đề xuất một số kiến nghị đối với những quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
5 Phương pháp nghiên cứu
Cũng như các công trình nghiên cứu khác, trong công trình này, tác giả cũng vận dụng đa dạng các phương pháp nghiên cứu khác nhau
Tác giả đã vận dụng lí luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp diễn dịch, quy nạp, so sánh, phân tích, tổng hợp, tổng – phân – hợp,… trong quá trình nghiên cứu, chú trọng liên hệ thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề Trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng đã kế thừa các thành quả nghiên cứu trước đó nhưng cũng đảm bảo tính khoa học, tính riêng, tính đặc thù trong công trình nghiên cứu của mình Đồng thời tác giả cũng đã ứng dụng công nghệ thông tin, internet trong việc nghiên cứu để có được hiệu quả nghiên cứu cao nhất
6 Kết cấu của khóa luận
Trang 11Khóa luận bao gồm phần mở đầu, ội dung, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục Trong đó, nội dung khóa luận được chia làm hai chương như sau:
- Chương 1: Khái quát về tín dụng, tín dụng ngân hàng và hợp đồng tín dụng 1.1 Sơ lược về tín dụng
1.2 Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.3 Khái quát về hợp đồng tín dụng
- Chương 2: Pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
2.1 Sự cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
2.2 Pháp luật về điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
2.3 Pháp luật về hạn chế tín dụng đối với các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng 2.4 Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng 2.5 Một số đề xuất, kiến nghị
Trang 12
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG, TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Trước khi nghiên cứu pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng, trước hết chúng ta cần phải có những hiểu biết cơ bản mang tính khái quát chung về tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng, hợp đồng tín dụng nói riêng Vì vậy, trong chương này, tác giả sẽ trình bày những kiến thức khái quát chung đó, bao gồm ba phần: một là, sơ lược về tín dụng với các nội dung khái quát nhất về sự ra đời của tín dụng, các hình thức tín dụng trong nền kinh tế và khái niệm, đặc điểm của tín dụng; hai là một số vấn
đề lí luận cở bản về tín dụng ngân hàng với các nội dung là khái niệm và đặc điểm của tín dụng ngân hàng; vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường và các hình thức tín dụng ngân hàng; ba là khái quát về hợp đồng tín dụng với các nội dung
là khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng, phân loại hợp đồng tín dụng và nguyên tắc ký kết hợp đồng tín dụng Đây là những kiến thức cần thiết, cơ bản, làm cơ
sở, nền tảng để nghiên cứu chương tiếp theo trong công trình này cũng như là cơ sở chung để nghiên cứu các đề tài khác về tín dụng, hợp đồng tín dụng và ngân hàng
1.1 Sơ lược về tín dụng
1.1.1 Sơ lược về sự ra đời của tín dụng
Các tài liệu nghiên cứu về tín dụng đều chỉ ra rằng tín dụng đã xuất hiện từ thời
kỳ chiếm hữu nô lệ, khi xã hội đã có sự phân công lao động Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự phân hóa xã hội: một nhóm người trở nên giàu có, nắm giữ tư liệu sản xuất, của cải, tiền bạc, (tạm gọi là nhóm người thứ nhất); trái lại, cũng có những người thu nhập thấp hoặc không đáp ứng đủ nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hoặc gặp những rủi ro, biến cố bất thường, (tạm gọi là nhóm người thứ hai) Trong tình hình
đó, nhóm người thứ hai có nhu cầu vay mượn tài sản, tiền tệ của nhóm người thứ nhất Lúc đầu, việc vay mượn này chỉ mang tính trợ giúp phi kinh tế nhưng về sau một số người đã lợi dụng việc này để kiếm lời làm giàu cho riêng mình, họ trở thành người sống bằng nghề cho vay Như vậy, trong xã hội đã xuất hiện quan hệ cho vay lấy lãi
Đó chính là sự ra đời của tín dụng
Lúc bấy giờ, có rất ít người cho vay nhưng lại có rất nhiều người đi vay và việc
đi vay thường rất cấp bách nên lãi suất cho vay rất cao Vì thế, quan hệ vay mượn trong thời kỳ này được gọi là tín dụng nặng lãi Trong thời gian đầu, tín dụng nặng lãi được thực hiện bằng hiện vật, hàng hóa Về sau, nó dần dần được tiền tệ hóa theo quá trình
mở rộng của quan hệ hàng hóa – tiền tệ
Trang 13Khi chủ nghĩa tư bản ra đời, để phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng, các nhà tư bản rất cần bổ sung vốn nhưng không thể chấp nhận quan hệ tín dụng nặng lãi nên họ đã thông qua nhà nước, sử dụng tôn giáo, pháp luật để đấu tranh với những người cho vay nặng lãi Kết quả là nhà nước ban hành các đạo luật khống chế mức lãi suất Về sau, giai cấp tư sản tự góp vốn lại và cho nhau vay với lãi suất vừa phải Nói cách khác, họ thiết lập quan hệ tín dụng cho riêng mình Đây là thời điểm mở đầu cho giai đoạn phát triển mới ngày càng lớn mạnh của hệ thống tín dụng
Ngày nay, cùng với sự phát triển và hiện đại hóa của nền kinh tế thị trường, các quan hệ và hình thức tín dụng ngày càng phát triển đa dạng và phong phú, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
1.1.2 Sơ lược về các hình thức tín dụng
Trong nền kinh tế, tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Căn cứ vào yếu tố chủ thể, tín dụng bao gồm bốn hình thức sau:
Một là, tín dụng nhà nước
Theo quan điểm của người viết, có thể hiểu tín dụng nhà nước là quan hệ tín
dụng có sự tham gia của nhà nước với tư cách là chủ thể cho vay hoặc chủ thể đi vay
Với tư cách là chủ thể cho vay, nhà nước sử dụng nguồn vốn thuộc sở hữu của mình từ quỹ ngân sách nhà nước để tiến hành cho một số tổ chức, cá nhân vay Mục đích của nhà nước khi tham gia vào quan hệ tín dụng này nhằm cung ứng vốn cho một
số chủ thể mà nhà nước có chính sách ưu đãi
Với tư cách là chủ thể đi vay6, nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) phát hành các loại trái phiếu để huy động nguồn vốn từ nhân dân (nhân dân là người cho vay) để tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước Nếu trái phiếu do Bộ tài chính phát hành thì gọi là trái phiếu Chính phủ7 Trái phiếu Chính phủ bao gồm các loại trái phiếu, tín phiếu, công trái, như: tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc và công trái xây dựng tổ quốc8 Trái phiếu do Chính quyền địa phương phát hành, cụ thể là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thì gọi là trái phiếu chính quyền địa phương9 Như vậy, cơ sở pháp lý xác lập quan hệ vay mượn này là các loại trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương Nhà nước sẽ thanh toán cả vốn và lãi cho chủ sở hữu những loại trái phiếu này khi đến hạn Với tư cách là chủ thể đi vay, nhà nước không chỉ vay từ nhân
6
Mục đích đi vay của nhà nước là để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội; bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước; cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ; cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật và các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia (Khoản 1 Điều 4 Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 05/01/2011 của Chính phủ)
Trang 14dân, các tổ chức kinh tế, xã hội trong nước mà trong một số trường hợp, Nhà nước còn
đi vay nước ngoài, có thể là Chính phủ, tổ chức kinh tế nước ngoài hoặc tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế10
Hai là, tín dụng thương mại
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các thương nhân được thực hiện thông qua việc mua bán chịu hàng hóa cho nhau Khi đến thời hạn đã được thoả thuận, người mua phải hoàn lại vốn cho người bán dưới hình thức tiền tệ cùng với một khoản lãi Tín dụng thương mại còn gọi là tín dụng hàng hóa vì đối tượng của tín dụng thương mại là hàng hóa, dịch vụ
Trong tín dụng thương mại, vốn vay tồn tại dưới hình thức hàng hoá chứ chưa phải là tiền nhàn rỗi Chủ thể của tín dụng thương mại, người đi vay và người cho vay, đều là các doanh nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Trong quan hệ tín dụng thương mại, người đi vay là người mua chịu, người cho vay là người bán chịu Đặc điểm của hình thức tín dụng này là cho vay dưới hình thức hàng hóa, thu nợ dưới hình thức tiền tệ Cơ sở pháp lý để xác lập quan hệ mua chịu và bán chịu trong tín dụng thương mại là hối phiếu đòi nợ và hối phiếu nhận nợ Hối phiếu đòi nợ là giấy tờ có giá do người ký phát (người bán chịu) lập, yêu cầu người bị
ký phát (người mua chịu) thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng11 Hối phiếu nhận nợ là giấy tờ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng12 Người thụ hưởng có thể là người bán chịu hoặc người khác theo quy định của pháp luật về các công cụ chuyển nhượng
Ba là, tín dụng tự huy động vốn
Tín dụng tự huy động vốn là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua việc các doanh nghiệp phát hành trái phiếu để tiến hành huy động vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật trong tín dụng tự huy động vốn là
tờ trái phiếu do các doanh nghiệp được phép phát hành Trái phiếu là chứng khoán nhận nợ do các doanh nghiệp phát hành nhằm mục đích bổ sung thêm nguồn vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Sỡ dĩ, quan hệ phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp là quan hệ tín dụng vì, căn cứ vào thời hạn cũng như lãi suất được thỏa thuận trong tờ trái phiếu, chủ thể phát hành sẽ phải hoàn trả cả vốn và lãi cho người sở hữu
10
Theo một số tài liệu, quan hệ tín dụng phát sinh giữa nhà nước Việt Nam với nước ngoài hoặc giữa tổ chức kinh tế Việt Nam với nước ngoài được gọi là hình thức tín dụng quốc tế Ví dụ, Giáo trình Luật Ngân hàng của trường Đại học Luật Hà Nội (Nxb Công an nhân dân, năm 2007), tr 100
Trang 15trái phiếu Trong quan hệ tín dụng này, chủ thể phát hành trái phiếu là người đi vay, còn tổ chức, cá nhân sở hữu trái phiếu là chủ thể cho vay13
Bốn là, tín dụng ngân hàng (còn gọi là tín dụng của các tổ chức tín dụng)
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là các tổ chức tín dụng, còn bên kia là các tổ chức và cá nhân, được thực hiện thông qua việc các tổ chức tín dụng huy động tiền nhàn rỗi trong công chúng và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi vay14
Trong tín dụng ngân hàng, tổ chức tín dụng đóng vai trò là tổ chức trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay vốn Các tổ chức tín dụng vừa là người cho vay đồng thời là người đi vay Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp, cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội Với tư cách là người cho vay, các tổ chức tín dụng cung cấp tín dụng cho các chủ thể khác trong xã hội
Hiện nay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng được cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu các giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và bao thanh toán15 Trong các hoạt động này, hoạt động cho vay là hoạt động thường xuyên, chủ yếu và phổ biến nhất Cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng Mặc dù cũng là quan hệ tín dụng ngân hàng như hoạt động cho vay nhưng các hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong các quan hệ cho thuê tài chính, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, bao thanh toán không gọi là hợp đồng tín dụng Trong quan hệ cho thuê tài chính, các bên ký kết hợp đồng cho thuê tài sản; trong hoạt động chiết khấu giấy tờ có giá, các bên ký kết hợp đồng chiết khấu giấy tờ có giá,
Đặc điểm của tín dụng ngân hàng là huy động vốn và cho vay đều được thực hiện dưới hình thức chủ yếu là tiền tệ, vì vậy nó có thể đáp ứng được mọi nhu cầu về vốn của các chủ thể Nhờ đặc điểm này mà tín dụng ngân hàng là tín dụng phổ biến, linh hoạt nhất trong nền kinh tế thị trường
1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng
Mặc dù tín dụng đã ra đời từ rất lâu và tồn tại với nhiều hình thức khác nhau như
đã nêu trên nhưng cho đến nay, dường như vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, đầy
đủ về tín dụng Khái niệm tín dụng đã được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa ở các góc
độ khác nhau Có tác giả định nghĩa theo cách giải thích nguồn gốc của thuật ngữ này,
có tác giả giải thích nghĩa của từ, có tác giả định nghĩa theo dạng liệt kê,
13
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, khoa Luật Thương mại (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 212
14
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, khoa Luật Thương mại (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 210
15
Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010
Trang 16Theo tìm hiểu của người viết, ở Việt Nam, từ cuối thập niên 60 đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, những tác phẩm đầu tiên nghiên cứu về tín dụng – ngân hàng đã xuất hiện16 và thuật ngữ “tín dụng” cũng đã bắt đầu được định nghĩa Theo đó, tín dụng được nhìn nhận như sau: “có 3 yếu tố chánh phối hợp lẫn nhau để tạo thành tín dụng
Ba yếu tố đó là: “thời giờ, tín nhiệm và sự hứa hẹn hoàn trái”17
Ngày nay, các định nghĩa, giải thích về “tín dụng” rất đa dạng:
- Theo tập bài giảng Luật tài chính – ngân hàng Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội thì “tín dụng là quan hệ kinh tế về sử dụng vốn tạm thời giữa người cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả, dựa trên cơ sở của sự tín nhiệm”18
- Theo sách “Tiền tệ, tín dụng và ngân hàng” của tác giả Lê Văn Tư, “Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức tạp, như: bán chịu hàng hóa (vante à crédit), cho vay, chiết khấu (escompte), bảo lãnh (acceptation), ký thác (dépôt), phát hành giấy bạc”19
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Hùng, tác giả quyển “Lý thuyết tài chính – tiền tệ” thì “Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ Latinh “creditium,” có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm Trong tiếng Anh, được gọi là credit Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn”20
- Theo Từ điển Luật học, “tín dụng là mối quan hệ giữa người cho vay và người vay Theo đó, người cho vay chuyển giao quyền sử dụng một lượng tài sản cho người vay trong một thời hạn nhất định Khi đến hạn trả nợ, người vay phải hoàn trả người cho vay lượng tài sản đã vay có hoặc không kèm theo một khoản lãi”21
- Theo Giáo trình Luật Ngân hàng của trường Đại học Luật Hà Nội thì “Tín dụng
là một từ Hán – Việt với nghĩa gốc là “tin dùng” – sử dụng với sự tín nhiệm Dần dần
từ này được sử dụng với nghĩa là giao vốn, tài sản trên cơ sở của sự tín nhiệm”22
- Theo Giáo trình Lý thuyết tiền tệ của tác giả Nguyễn Minh Kiều thì “về mặt tài chính, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”23
- Theo Giáo trình Luật Ngân hàng của trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh thì
“tín dụng là tổng hợp các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chuyển giao và sử
16
Năm 1969, quyển sách đầu tiên bằng tiếng Việt nghiên cứu về ngân hàng và ngoại thương “Nghiệp vụ Ngân
hàng dẫn giải – Luật lệ ngoại thương và hối đoái” của tác giả Nguyễn Văn Tuyền được xuất bản Năm 1973, tác
giả này tiếp tục cho xuất bản quyển “Tín dụng – Ngân hàng – Lý thuyết và thực hành”
Trang 17dụng tạm thời các nguồn vốn tiền tệ, tài sản nhất định dựa trên nguyên tắc có hoàn trả
cả vốn và lãi vay”24
Tựu trung lại, theo người viết, có thể hiểu tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa
trên sự tin tưởng, tín nhiệm, có thời hạn và có hoàn trả cả vốn và lãi vay Theo đó, bên cho vay chuyển giao các nguồn vốn tiền tệ hoặc tài sản cho bên vay để bên vay sử dụng theo mục đích vay trong một thời hạn nhất định Khi đến hạn, bên vay có nghĩa
vụ hoàn trả cả vốn cho bên vay, kèm theo lãi suất
Từ định nghĩa nêu trên, có thể thấy tín dụng có các đặc điểm sau:
- Một là, cơ sở thiết lập quan hệ tín dụng là sự tin tưởng, tín nhiệm Sự tin tưởng, tín nhiệm được thể hiện ở chỗ bên cho vay tin rằng bên vay sẽ có khả năng hoàn trả những gì đã vay kèm theo lãi vay Sự tin tưởng có thể dựa trên uy tín của bên vay, khả năng kinh tế của bên vay hoặc sự đảm bảo của bên thứ ba Bên cạnh đó, ngày nay, sự tin tưởng, tín nhiệm còn xuất phát từ sự điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ này Hai là, tín dụng là một quan hệ chuyển giao quyền sở hữu có thời hạn Trong quan hệ tín dụng, bên cho vay chuyển giao cho bên vay các nguồn vốn tiền tệ hoặc tài sản và đây là sự chuyển giao quyền sở hữu nhưng có thời hạn Là sự chuyển giao quyền sở hữu vì thực tế bên cho vay đã chuyển giao cả ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt cho bên vay Sự chuyển giao này là sự chuyển giao có thời hạn vì khi đến thời điểm nhất định, bên vay phải hoàn trả nguồn vốn đã vay cho bên vay, kèm với lãi suất
Ba là, tín dụng là quan hệ có sự hoàn trả Bên vay chỉ được bên cho vay chuyển giao quyền sử hữu trong một thời hạn nhất định Vì vậy, tất yếu khi đã hết thời hạn vay thì bên vay phải hoàn trả vốn đã vay kèm với lãi suất cho bên cho vay
1.2 Khái quát về tín dụng ngân hàng
Trên đây là sơ lược về sự ra đời của tín dụng, các hình thức tín dụng trong nền kinh tế và khái niệm, đặc điểm của tín dụng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, đối tượng nghiên cứu trọng tâm là pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng nên từ phần này trở đi, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về các nội dung có liên quan mật thiết nhất với đối tượng nghiên cứu của đề tài như tín dụng ngân hàng, hợp đồng tín dụng, hoạt động cho vay và những quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trong phần này, tác giả trình bày một số vấn đề lí luận về tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tín dụng ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng phổ biến trong nền kinh tế Trong quan
hệ tín dụng này, các tổ chức tín dụng đóng vai trò là tổ chức trung gian, đứng ra huy
24
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, khoa Luật Thương mại (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 203
Trang 18động nguồn vốn nhàn rỗi để cho vay lại nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của một số tổ chức, cá nhân, đồng thời các tổ chức tín dụng kiếm lời từ việc cho vay lại từ nguốn vốn nhàn rỗi này Như vậy, có thể hiểu tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc tài sản, phát sinh giữa một bên là các tổ chức tín dụng với một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội có nhu cầu vay vốn, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay
Tuy vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu khía cạnh tổ chức tín dụng tham gia vào quan hệ tín dụng với tư cách là người cấp tín dụng,
là chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng nên khái niệm tín dụng ngân hàng được hiểu như sau: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ giữa tổ chức tín dụng (bên cấp tín dụng) với các tổ chức và cá nhân (bên đi vay), trong đó tổ chức tín dụng thực hiện việc chuyển giao các nguồn vốn tiền tệ hoặc tài sản cho bên đi vay trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả cả vốn và lãi vay”25
1.2.1.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng cũng là một hình thức tín dụng nên nó cũng mang những đặc điểm chung của tín dụng như đã trình bày ở phần trên là: cơ sở thiết lập quan hệ tín dụng ngân hàng là sự tin tưởng, tín nhiệm; tín dụng ngân hàng cũng là một quan hệ chuyển giao quyền sở hữu có thời hạn; tín dụng ngân hàng là quan hệ có sự hoàn trả Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn có một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, một bên tham gia quan hệ tín dụng ngân hàng luôn là các tổ chức tín dụng hoặc các tổ chức khác được phép thực hiện hoạt động ngân hàng Vì trong quan
hệ tín dụng này, các tổ chức tín dụng đóng vai trò là tổ chức trung gian, đi vay để cho vay Do đó, các tổ chức tín dụng luôn là một bên trong quan hệ tín dụng ngân hàng, có thể là bên vay (khi đi vay) hoặc bên cho vay (khi cấp tín dụng)
Thứ hai, đối tượng cấp tín dụng của tín dụng ngân hàng là tiền tệ hoặc tài sản Là chủ thể cấp tín dụng trong quan hệ tín dụng ngân hàng, các tổ chức tín dụng có thể cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu các giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và bao thanh toán Trong các hình thức cấp tín dụng này thì vốn tiền tệ là đối tượng trong hoạt động cho vay, bảo lãnh, chiết khấu và bao thanh toán của
tổ chức tín dụng, còn tài sản là đối tượng trong hoạt động cho thuê tài chính
Thứ ba, thời hạn cho vay trong tín dụng ngân hàng rất đa dạng và phong phú Do
tổ chức tín dụng được phép huy động vốn dưới nhiều kỳ hạn khác nhau nên khi cấp tín dụng, tổ chức tín dụng có thể đáp ứng các nhu cầu vay vốn với các kỳ hạn khác nhau của các bên đi vay Thời hạn cho vay trong tín dụng ngân hàng đa dạng ở chỗ có thời
25
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, khoa Luật Thương mại (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 213
Trang 19hạn vay ngắn hạn (đến 12 tháng), có thời hạn vay trung hạn (trên 12 tháng đến 60 tháng) và có thời hạn vay dài hạn (trên 60 tháng)26
Thứ tư, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có sinh lãi Lãi là phần chênh lệch giá trị giữa nguồn vốn tiền tệ hoặc tài sản mà bên cho vay nhận được từ sự hoàn trả của bên vay so với giá trị của nguồn vốn tiền tệ hoặc tài sản đã cho vay ban đầu Trong hoạt động cấp tín dụng, thông qua công cụ lãi suất, qua sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay, các tổ chức tín dụng thường thu về một phần lợi nhuận cho mình Do đó, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có sinh lãi và hoạt động ngân hàng được xem là hoạt động kinh doanh, là hoạt động có sinh lợi
1.2.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có vai trò quan trọng trong việc giữ gìn sự
ổn định và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, được thể hiện ở các nội dung sau:
Một là, tín dụng ngân hàng góp phần quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế
vĩ mô của Nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế về mặt vĩ
mô Sự quản lý, điều tiết này của Nhà nước được thực hiện qua nhiều chính sách, công
cụ khác nhau Trong đó, chính sách tiền tệ quốc gia và các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia được sử dụng thường xuyên và chủ yếu Các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ Và để thực hiện các công cụ này của chính sách tiền tệ, Nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ) phải thực hiện thông qua các tổ chức tín dụng – chủ thể của tín dụng ngân hàng hay nói cách khác thông qua tín dụng ngân hàng, Nhà nước sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia để điều tiết nền kinh tế vĩ mô Có thể nói tín dụng ngân hàng là “phương tiện của chính sách tiền tệ quốc gia”, Nhà nước thông qua “phương tiện” này để sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia, từ
đó điều tiết nền kinh tế vĩ mô Điều đó cho thấy tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước
Hai là, tín dụng ngân hàng góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế
Trong nền kinh tế luôn xảy ra hiện tượng cùng một lúc có những chủ thể tạm thời
dư thừa về vốn (vốn nhàn rỗi) do họ không có nhu cầu sử dụng hoặc do yếu tố sản xuất mang tính thời vụ trong khi các chủ thể khác lại có nhu cầu vay vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư, tiêu dùng, Sự dư thừa và thiếu hụt tạm thời về vốn như vậy đòi hỏi cần phải sự điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Khi ấy, cần đến tín dụng ngan hàng Tín dụng ngân hàng đóng vai trò là chiếc cầu nối để các tổ chức, cá nhân điều hòa nhu cầu
26
Theo Điều 8 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành kèm theo Quyết định số 1627/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (gọi tắt là Quy chế cho vay 1627)
Trang 20về vốn lẫn nhau Các tổ chức tín dụng tham gia vào quan hệ tín dụng ngân hàng nhằm kiếm lời trên số vốn tạm thời nhàn rỗi, ngược lại bên vay có thể giải quyết được nhu cầu tạm thời thiếu vốn của mình Như vậy, thông qua tín dụng ngân hàng, nguồn vốn được điều hòa từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng nhu cầu về vốn của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường
Ba là, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển, là đòn bẩy trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân 27
Nhờ vào vai trò điều hòa vốn của tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp được đáp ứng nhu cầu về vốn để đảm bảo quá trình sản xuất bình thường và đầu tư, phát triển sản xuất, trang trải các chi phí lưu thông, đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng Trong nền kinh tế, không phải chỉ có một vài doanh nghiệp có nhu cầu về vốn, cần đến tín dụng ngân hàng mà là rất nhiều doanh nghiệp, thuộc các lĩnh vực kinh tế khác nhau Thông qua tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp thuộc các ngành nghề kinh tế được đáp ứng vốn kịp thời, giúp họ đẩy mạnh sản xuất, tạo ra nhiều hàng hóa cho xã hội Nhờ vậy, nền sản xuất hàng hóa cũng phát triển theo và kéo theo sự phát triển của toàn
bộ nền kinh tế Như vậy, tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện tạo điều kiện thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển, thật sự là đòn bẩy trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân
Bốn là, tín dụng ngân hàng góp phần phát triển, nâng cao đời sống xã hội
Như phần trên đã trình bày, tín dụng ngân hàng giúp đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, tạo điều kiện thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa Nhờ vậy, các doanh nghiệp cũng sẽ phát triển Sự phát triển của các doanh nghiệp làm cho họ tăng quy mô sản xuất, cần nhiều nhân công, qua đó góp phần giải quyết nhu cầu lao động, việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp trong xã hội Cũng thông qua tín dụng ngân hàng, và thông qua các chính sách hỗ trợ vốn thông qua tín dụng của Nhà nước đối với các đối tượng dân cư, người dân có vốn để sản xuất, từng bước cải thiện đời sống của họ (chẳng hạn như tín dụng đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác; hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội) Doanh nghiệp
và người dân được đáp ứng nhu cầu về vốn để đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ làm cho nền sản xuất hàng hóa phát triển, giúp cho tổng sản phẩm quốc nội tăng cao, thu ngân sách dồi dào và từ đó, đời sống nhân dân cũng được nâng cao
1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng
Các hình thức tín dụng ngân hàng rất đa dạng Tùy theo các tiêu chí phân loại mà
có các hình thức tín dụng ngân hàng khau nhau Dưới đây là một số căn cứ phân chia tín dụng ngân hàng và các hình thức của của nó
1.2.3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
27
Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, khoa Luật Thương mại (2010), Giáo trình Luật Ngân hàng, Nxb Đại
học quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr 204
Trang 21Theo tiêu chí này, tín dụng ngân hàng được chia làm ba loại, đó là:
- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn đến 1 năm (12 tháng),
thường được dùng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ nhu cầu cá nhân
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm (trên
12 tháng đến 60 tháng), được dùng để đáp ứng nhu cầu về vốn để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật và mở rộng, xây dựng các công trình nhỏ, có thời gian thu hồi vốn nhanh
- Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm (trên 60 tháng), được
sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng (đường sá, bến cảng, sân bay ), cải tiến, đầu tư công nghệ mới và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
1.2.3.2 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
Theo cách phân loại này, tín dụng ngân hàng có hai loại:
- Tín dụng cho sản xuất kinh doanh: là loại tín dụng cấp cho các doanh nghiệp
và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất kinh doanh và lưu thông hàng hoá
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại và những hàng hóa tiêu dùng khác
1.2.3.3 Căn cứ vào mức độ bảo đảm vốn vay
Theo căn cứ này, tín dụng ngân hàng được chia làm hai loại:
- Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng mà khi đi vay, người vay có
tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba (có thể bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba hoặc bảo lãnh của tổ chức tín dụng khác) để đảm bảo khả năng hoàn trả
nợ vay
- Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là loại tín dụng không có tài sản cầm
cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba để đảm bảo cho khả năng hoàn trả của khoản vay mà việc đi vay chỉ dựa vào uy tín của người vay hoặc bảo đảm bằng tín chấp của các tổ chức đoàn thể, chính trị - xã hội Hình thức tín dụng này thường áp dụng đối với các cá nhân và hộ gia đình với một khoản tiền nhỏ tại tổ chức tín dụng để phục vụ kinh tế gia đình
sự, hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động, Hợp đồng tín dụng cũng là một trong các
Trang 22loại hợp đồng phổ biến trong đời sống xã hội hiện nay, nhất là trong điều kiện hệ thống các tổ chức tín dụng ngày càng lớn mạnh
Tuy hợp đồng tín dụng ngày càng phổ biến nhưng hiện nay pháp luật ngân hàng nói riêng và pháp luật hiện hành nói chung không đưa ra định nghĩa về hợp đồng tín dụng Ngay cả Luật các tổ chức tín dụng hiện hành là Luật các tổ chức tín dụng 2010, vừa có hiệu lực ngày 01/01/2011, cũng không có bất kỳ điều luật riêng biệt nào quy định về hợp đồng tín dụng mặc dù trước đó Luật các tổ chức tín dụng 1997 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004) cũng đã có một điều luật quy định về hợp đồng tín dụng tại Điều 5128 Vì thế, hiện nay, hợp đồng tín dụng chỉ còn được quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (đã được sửa đổi, bổ sung theo Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03/02/2005 và Quyết
định số 783/2005/QĐ-NHNN ngày 31/5/2005) (sau đây gọi chung là Quy chế cho vay
1627) Cụ thể: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập
thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận” Điều luật này hầu như hoàn toàn giống với quy định Điều 51 của Luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004)
Như vậy, pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa về hợp đồng tín dụng mà chỉ quy định những nội dung cơ bản của hợp đồng tín dụng Do đó, để định nghĩa hợp đồng tín dụng, cần phải dựa vào định nghĩa hợp đồng dân sự vì khái niệm hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự 2005 được xem là khái niệm chung về hợp đồng Hợp đồng dân sự được định nghĩa tại Điều 388 Bộ luật Dân sự 2005 như sau: “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Từ quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay 1627, định nghĩa về hợp
đồng dân sự và định nghĩa về tín dụng ngân hàng, có thể hiểu hợp đồng tín dụng là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ chức tín dụng (bên cho vay) với các tổ chức, cá nhân (bên đi vay) nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình vay vốn tiền tệ, sử dụng và thanh toán tiền vay
Xuất phát từ quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay 1627, có thể thấy hợp đồng tín dụng chính là cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay và hợp đồng tín dụng chỉ được
28
“Việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận”.
Trang 23lập trong quan hệ cho vay giữa các tổ chức tín dụng với khách hàng vay Vì vậy, hợp đồng tín dụng còn được gọi là hợp đồng cho vay
1.3.1.2 Đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Hợp đồng tín dụng được xem là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự nên nó cũng mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự như: mang tính tự do ý chí của các bên, thỏa thuận tự nguyện, Bên cạnh đó, hợp đồng tín dụng có những đặc điểm riêng biệt như sau:
Thứ nhất, về chủ thể, một bên chủ thể luôn là các tổ chức tín dụng với tư cách là
bên cho vay Bên cho vay có thể là một hoặc nhiều các tổ chức tín dụng (trường hợp cho vay hợp vốn) thỏa mãn điều kiện luật định: thủ tục thành lập, vốn pháp định, có điều lệ được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y và có đại diện hợp pháp khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng, Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn Chủ thể của hợp đồng tín dụng cũng là chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là các quy định của pháp luật hiện hành đối với các chủ thể này
Thứ hai, về hình thức, hợp đồng tín dụng luôn được ký kết dưới hình thức văn
bản Mặc dù hợp đồng tín dụng được hình thành trên cơ sở tín nhiệm, tin cậy lẫn nhau, song do tính chất phức tạp, tính rủi ro cao của quan hệ tín dụng mà hợp đồng tín dụng nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản với đầy đủ nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay, lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thoả thuận Hợp đồng tín dụng được ký kết dưới hình thức pháp lý là văn bản bao gồm
cả văn bản viết và văn bản điện tử dưới dạng dưới dạng thông điệp dữ liệu Dù hợp đồng tín dụng ký kết dưới hình thức nào trên đây đều có giá trị pháp lý ngang nhau và đều là chứng cứ trong quá trình giao dịch29 Thông thường, hợp đồng tín dụng là hợp đồng mẫu do chính tổ chức tín dụng soạn thảo dựa trên quy định của pháp luật và phù hợp với quy chế cho vay của chính tổ chức tín dụng đó Tên gọi của hợp đồng tín dụng
có thể là hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho vay, Hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay mà có thể có thêm các cụm từ “ngắn hạn”, “trung hạn”, “dài hạn”, “đồng Việt Nam”, “ngoại tệ”, “tiêu dùng”,
Thứ ba, đối tượng của hợp đồng tín dụng luôn là vốn tiền tệ Vốn tiền tệ trong
hợp đồng tín dụng có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ Ngoài ra, trong từng thời kỳ, vàng cũng có thể trở thành vốn tiền tệ trong hoạt động cho vay cũng như là đối tượng của hợp đồng tín dụng Chẳng hạn, trong giai đoạn từ 29/10/2010 đến ngày 01/5/2011, theo Thông tư số 22/2010/TT-NHNN ngày 29/10/2010, các tổ chức tín
29
Xem Khoản 1 Điều 124 BLDS 2005 và Điều 11, 12, 13, 14 Luật giao dịch diện tử năm 2005
Trang 24dụng được phép cho vay vốn bằng vàng nên vàng trong giai đoạn này là đối tượng của hợp đồng tín dụng Tuy nhiên, hiện nay theo Thông tư số 11/2011/TT-NHNN ngày 29/4/2011 của Ngân hàng Nhà nước (có hiệu lực từ ngày 01/5/2011) thì hiện nay, các
tổ chức tín dụng không được phép cho vay bằng vàng nên vàng không còn là đối tượng của hợp đồng tín dụng nữa
Thứ tư, hợp đồng tín dụng luôn nhằm mục đích sinh lợi
Tính chất sinh lợi của hợp đồng tín dụng biểu hiện cụ thể qua tỷ số chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn của tổ chức tín dụng Lãi suất cho vay luôn cao hơn lãi suất huy động vốn và sự chênh lệch này phụ thuộc vào cung cầu về vốn trên thị trường tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp hoạt động theo quy định của luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật khác có liên quan, hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng là hoạt động kinh doanh nên mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận không chỉ là điều tất yếu mà còn là động lực giúp tổ chức tín dụng duy trì hoạt động kinh doanh của mình Khách hàng càng nhiều,
hợp đồng tín dụng càng tăng thì lợi nhuận của tổ chức tín dụng cũng sẽ tăng
1.3.2 Phân loại hợp đồng tín dụng
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại hợp đồng tín dụng, dưới đây là một số tiêu chí:
1.3.2.1 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Theo tiêu chí này, hợp đồng tín dụng có 3 loại:
- Hợp đồng tín dụng ngắn hạn: là những hợp đồng tín dụng mà thời hạn cho vay
- Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản: là sự thoả thuận bằng văn bản
giữa tổ chức tín dụng với khách hàng, theo đó tổ chức tín dụng chấp thuận để khách hàng sử dụng vốn vay trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả và bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản của người vay hoặc người thứ ba
- Hợp đồng tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: là sự thoả thuận bằng văn
bản giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, theo đó tổ chức tín dụng chấp thuận để khách
Trang 25hàng sử dụng vốn vay trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả, dựa trên
sự bảo đảm bằng uy tín của các tổ chức chính trị - xã hội đối với người đó hoặc hoàn toàn dựa trên sự tín nhiệm của mình đối với người đó mà không cần phải có tài sản bảo đảm
1.3.2.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
Theo cách phân loại này, hợp đồng tín dụng có thể phân chia thành hai loại:
- Hợp đồng tín dụng tiêu dùng: là hợp đồng tín dụng giữa các tổ chức tín dụng
với các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, phương tiện đi lại
và những hàng hóa tiêu dùng khác
- Hợp đồng tín dụng cho sản xuất kinh doanh: là hợp đồng tín dụng giữa các tổ
chức tín dụng với các chủ thể kinh doanh
Ngoài ra, trong thực tế còn có các loại hợp đồng như: hợp đồng tín dụng nguyên tắc, hợp đồng tín dụng hạn mức33 Hợp đồng tín dụng nguyên tắc là hợp đồng tín dụng
mà trong đó các bên xác định các nguyên tắc chung và các nội dung thoả thuận sơ bộ
về việc cho vay một số vốn nhất định khi bên vay đáp ứng được đầy đủ những điều kiện vay vốn theo quy định của pháp luật cũng như của ngân hàng cho vay Hợp đồng tín dụng nguyên tắc là căn cứ để ngân hàng và bên vay tiếp tục ký các hợp đồng tín dụng cụ thể sau này Khi ấy, hợp đồng tín dụng cụ thể có thể không cần nhắc lại những thoả thuận chung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nguyên tắc Các bên thường
sử dụng hợp đồng tín dụng nguyên tắc trong trường hợp bên vay có nhiều tài sản bảo đảm đưa vào ngân hàng để vay vốn nhiều lần và diễn ra trong một thời gian dài Khi đó hợp đồng bảo đảm tiền vay được thiết lập để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng nguyên tắc, thay vì cứ mỗi hợp đồng tín dụng lại phải ký một hợp đồng bảo đảm tiền vay, vừa mất chủ động trong giao dịch vay vốn, vừa tốn kém chi phí định giá, công chứng, đăng
ký thế chấp lại
Hợp đồng tín dụng hạn mức là hợp đồng tín dụng cụ thể nhưng có thêm điều khoản cho phép bên vay rút vốn và trả nợ nhiều lần, miễn là bảo đảm dư nợ vay trong mọi thời điểm không quá mức tiền vay cao nhất mà hai bên đã thoả thuận Mỗi lần vay vốn, bên vay chỉ cần ký khế ước nhận nợ thay vì phải ký nhiều hợp đồng tín dụng với những điều kiện tương tự nhau34
Trang 261.3.3 Nguyên tắc ký kết hợp đồng tín dụng
Cũng giống như việc giao kết hợp đồng nói chung, việc ký kết hợp đồng tín dụng35 cũng phải tuân theo những nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc tự do ký kết nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Tự do ở đây là tự do ý chí trong việc ký kết hợp đồng tín dụng Dựa trên nguyên tắc này, mọi cá nhân, tổ chức khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thể đều có thể tham gia ký kết bất kỳ hợp đồng tín dụng nào, nếu muốn Tự do ý chí trong việc ký kết hợp đồng tín dụng được thể hiện ở chỗ các chủ thể hoàn toàn tự do trong việc lựa chọn đối tác, lựa chọn chủ thể còn lại của hợp đồng; các bên được tự do thỏa thuận quyền và nghĩa vụ cũng như các nội dung khác trong hợp đồng tín dụng Tuy vậy, sự tự do ý chí của các bên trong việc ký kết hợp đồng tín dụng phải phù hợp với ý chí của nhà nước, tức là ý chí của các bên, sự thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội Tự do ý chí trong việc ký kết hợp đồng tín dụng không phải là
sự tự do vô hạn bởi vì bên cạnh tự do của các chủ thể ký kết hợp đồng, còn tồn tại tự
do của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Do đó, bên cạnh việc bảo đảm lợi ích của mình, các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng phải chú ý tới quyền, lợi ích của người khác, của toàn xã hội; tự do của mỗi chủ thể không được trái pháp luật, đạo đức xã hội Tự do của người khác, pháp luật và đạo đức xã hội là giới hạn của
sự tự do ý chí trong giao kết hợp đồng nói chung và trong ký kết hợp đồng tín dụng nói riêng Như vậy, cả hai bên cho vay và đi vay đều có quyền lựa chọn đối tác, tự do thỏa thuận hợp đồng, tự do về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng… nhưng những thỏa thuận đó không được trái với pháp luật và đạo đức xã hội Nếu trái với pháp luật và đạo đức xã hội thì những thỏa thuận đó vô hiệu
- Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và trung thực
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồng nói chung và ký kết hợp đồng tín dụng nói riêng không ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình
Tự nguyện trong ký kết hợp đồng tín dụng là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí bên ngoài của các chủ thể Tức là việc ký vào hợp dồng tín dụng hoàn toàn xuất phát từ ý muốn chủ quan của các chủ thể là muốn ký kết hợp đồng tín dụng đó Nói cách khác việc ký kết hợp đồng chỉ được coi là tự nguyện khi hình thức của hợp đồng phản ánh một cách khách quan, trung thực mong muốn, nguyện vọng của các bên chủ thể tham gia hợp đồng
Ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện Bình đẳng trong việc ký kết hợp
35
Gọi là “ký kết hợp đồng tín dụng” chứ không phải là “giao kết hợp đồng tín dụng” vì hợp đồng tín dụng luôn được lập thành văn bản theo quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay 1627
Trang 27đồng tín dụng là không bên nào được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ tín dụng Pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng
và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể
Thiện chí trong việc ký kết hợp đồng tín dụng là các bên khi tham gia ký kết hợp đồng cần có ý tốt với nhau, tôn trọng quyền và lợi ích của nhau Còn trung thực là ngay thẳng, thật thà, không lừa dối lẫn nhau Thiện chí, trung thực trong ký kết hợp đồng tín dụng là các bên phải đối xử với nhau trên tinh thần hợp tác, đôi bên cùng có lợi
Theo quy định của pháp luật, những hợp đồng tín dụng được ký kết không đảm bảo nguyên tắc này như ký kết hợp đồng do bị nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe dọa đều bị
vô hiệu36
Bên cạnh những nguyên tắc chung nêu trên, việc ký kết hợp đồng tín dụng còn có các nguyên tắc đặc thù sau đây:
- Nguyên tắc thông tin về mục đích sử dụng vốn vay: Không giống như việc ký
kết các loại hợp đồng khác, khi ký kết hợp đồng tín dụng, bên vay phải thông tin với tổ chức tín dụng về mục đích sử dụng vốn vay Đây là yêu cầu mang tính chất bắt buộc đối với bên vay khi tham gia vào quan hệ vay vốn với tổ chức tín dụng Đây là nguyên tắc nhằm đảm bảo an toàn hiệu quả nguồn vốn của tổ chức tín dụng và giúp các tổ chức tín dụng quản lý nguồn vốn tín dụng đã cấp Trên cơ sở nguyên tắc này, trước khi ký kết hợp đồng tín dụng, các tổ chức tín dụng có quyền yêu cầu bên vay trình bày rõ mục đích vay, kế hoạch sử dụng vốn vay, các luận chứng có liên quan đến quá trình sử dụng vốn vay Từ nguyên tắc này, điều khoản về mục đích sử dụng vốn vay là một trong những điều khoản cơ bản, bắt buộc phải được thể hiện trong hợp đồng tín dụng Nguyên tắc này dẫn đến một trong những nguyên tắc thực hiện hợp đồng tín dụng là nguyên tắc bên vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
- Nguyên tắc phòng tránh rủi ro: Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ chứa đựng nhiều rủi ro và có ảnh hưởng đến rất nhiều các chủ thể khác trong xã hội Tiền tệ là hàng hóa đặc biệt, là yếu tố rất nhạy cảm trong nền kinh tế Trong khi đó, tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ theo phương thức đi vay để cho vay, hiệu quả của hoạt động cho vay chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng trả nợ của bên vay Do đó, khi tiến hành hoạt động cho vay, khi ký kết hợp đồng tín dụng, các tổ chức tín dụng phải tuân thủ nguyên tắc phòng tránh rủi ro để đảm bảo an toàn nguồn vốn tín dụng của mình
36
Điều 131, 132 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 28Những vấn đề lí luận được trình bày ở chương này là cơ sở lí luận, là nền tảng căn bản cho việc nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các kiến nghị đối với những quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng sẽ được nghiên cứu trọng tâm ở chương 2
Trang 29CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Trên cơ sở lí luận được trình bày ở chương 1, chương này sẽ trình bày, phân tích, làm sáng tỏ những quy định của pháp luật hiện hành về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Qua đó đánh giá, nhận định và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Trong chương này tác giả sẽ trình bày năm nội dung lớn, bao gồm: sự cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể
ký kết hợp đồng tín dụng; những quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện chủ thể
ký kết hợp đồng tín dụng; những quy định pháp luật về hạn chế tín dụng đối với các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng; quyền và nghĩa vụ pháp định của các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng và một số đánh giá, đề xuất, kiến nghị của tác giả nhằm xây dựng, hoàn thiện quy định của pháp luật về chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
2.1 Sự cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
Sự cần thiết có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng trước hết xuất phát từ vai trò của pháp luật đối với kinh tế Pháp luật và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau Pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, kinh
tế là cơ sở hạ tầng, kinh tế quyết định đối với pháp luật và pháp luật có tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với kinh tế, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Tín dụng ngân hàng là một quan hệ kinh tế, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường; hoạt động ngân hàng là một trong những hoạt động chủ yếu của nền kinh tế Kinh tế ngày càng phát triển, hệ thống ngân hàng ngày càng lớn mạnh, các chủ thể tham gia vào quan hệ tín dụng ngày càng tăng, hợp đồng tín dụng được ký kết ngày càng nhiều Điều đó đòi hỏi cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Sự điều chỉnh này nhằm quy định điều kiện của các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng tín dụng, đảm bảo hiệu lực của hợp đồng tín dụng Trên
cơ sở đó, đảm bảo hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế
Cần có sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng còn xuất phát từ đặc điểm của hoạt động cho vay và vai trò của hợp đồng tín dụng Cho vay
là hoạt động tín dụng chứa nhiều rủi ro mà hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lý của nó Hiệu quả trong hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng phụ thuộc vào việc sử dụng vốn vay của bên đi vay Nếu bên đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả, đủ khả năng trả nợ khi đến hạn thì tổ chức tín dụng sẽ thu hồi được vốn và đảm bảo có lợi nhuận Trường
Trang 30hợp bên đi vay sử dụng vốn vay không hiệu quả, không có khả năng trả nợ thì nguồn vốn của các tổ chức tín dụng sẽ bị thất thoát Như vậy, có thể thấy hiệu quả hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng phụ thuộc vào hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của bên đi vay Đây chính là rủi ro trong hoạt động cho vay Do đó, để phòng ngừa và hạn chế rủi ro, để đảm bảo khả năng thu hồi nợ cũng như để đề phòng và đảm bảo có
cơ sở giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh trong quá trình cho vay, hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng đều phải lập hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng là cơ
sở pháp lý của hoạt động cho vay, là văn bản ghi nhận những thỏa thuận của bên cho vay và bên đi vay, là bằng chứng, là cơ sở để giải quyết các tranh chấp có thể phát sinh
Vì thế, cần có sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động cho vay nói chung và chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng nói riêng Sự điều chỉnh của pháp luật đối với chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng không chỉ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho sự đánh giá hiệu lực của hợp đồng tín dụng mà còn góp phần nâng cao kỹ năng ký kết hợp đồng tín dụng cũng như củng cố kỷ luật hợp đồng đối với các chủ thể tham gia hoạt động cho vay
Hoạt động cho vay là hoạt động dựa trên cơ sở của sự tin tưởng, tín nhiệm Sự tin tưởng, tín nhiệm này dựa trên uy tín, tài sản của bên đi vay Bên cạnh đó, sự đảm bảo của pháp luật về quyền và lợi ích của các bên cũng là cơ sở tạo nên sự tin tưởng, tín nhiệm giữa các bên Khi có sự điều chỉnh của pháp luật, các bên sẽ an tâm để tham gia quan hệ vay mượn trên “hành lang pháp lý” đó Do đó, pháp luật cần có sự điều chỉnh đối với các chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên, tạo sự tin tưởng cho các bên trong việc ký kết các hợp đồng tín dụng
2.2 Pháp luật về điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
Trong hoạt động cho vay, luôn luôn có hai bên chủ thể là bên cho vay và bên đi vay Cơ sở pháp lý của hoạt động cho vay là hợp đồng tín dụng Vì vậy, chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng cũng là những chủ thể của hoạt động cho vay, tức là cũng gồm hai bên chủ thể là bên cho vay và bên đi vay Các chủ thể này khi tham gia quan hệ cho vay, ký kết hợp đồng tín dụng phải thỏa mãn những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật Trong phần này, tác giả sẽ trình bày, hệ thống hóa và làm sáng tỏ những quy định của pháp luật hiện hành về điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
2.2.1 Điều kiện chủ thể đối với bên cho vay trong hợp đồng tín dụng
2.2.1.1 Chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng
Như các phần trên đã trình bày, hợp đồng tín dụng là cơ sở pháp lí của hoạt động cho vay Do đó, bên cho vay trong hợp đồng tín dụng là các tổ chức tín dụng được phép cấp tín dụng dưới hình thức cho vay theo quy định của pháp luật, có thể là một hoặc nhiều các tổ chức tín dụng, có đủ những điều kiện do pháp luật quy định
Theo khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Hoạt động ngân
Trang 31hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như: nhận tiền gửi, cấp tín dụng (cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác), cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản37 Như vậy, không phải tất cả các tổ chức tín dụng đều thực hiện hoạt động cho vay Và vì vậy, không phải tất cả các tổ chức tín dụng đều là chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng mà chỉ các tổ chức tín dụng có thực hiện hoạt động cho vay (vốn tiền tệ) mới là chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng
Theo Luật các tổ chức tín dụng hiện hành, các tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân38
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã39 Ngân hàng thương
mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 nhằm mục tiêu lợi nhuận40 Các ngân hàng thương mại bao gồm ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài41 Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010 Do
đó, các ngân hàng thương mại đều có thể trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng Như vậy, so với quy định tại khoản 2 Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2004), Luật các tổ chức tín dụng hiện hành không còn ghi nhận các loại hình ngân hàng hợp tác, ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển Do đó, các loại hình ngân hàng này cũng không còn là chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng
2010, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác Công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng với chức năng là sử dụng vốn tự
có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật,
Trang 32nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 01 năm42 Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính43 Trong hai loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng này thì công ty tài chính được thực hiện hoạt động “cho vay, bao gồm cả cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng”44, công ty cho thuê tài chính được thực hiện hoạt động “cho vay bổ sung vốn lưu động đối với bên thuê tài chính”45 Theo quy định tại Điều 17 Quy chế cho vay 1627, các hoạt động cho vay này của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính cũng phải lập thành hợp đồng tín dụng Do đó, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính đều có thể trở thành chủ thể cho vay của hợp đồng tín dụng
Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ46 Tổ chức tài chính vi mô được (và chỉ được) cấp tín dụng bằng đồng Việt Nam dưới hình thức cho vay47 Do đó, tổ chức tài chính vi mô cũng là chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng
Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Luật hợp tác xã 2003 nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống48 Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010 nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân49 Hai loại hình tổ chức tín dụng này được gọi chung là tổ chức tín dụng là hợp tác xã Theo khoản 2 Điều 118 Luật các tổ chức tín dụng 2010, các tổ chức tín dụng này đều có thể thực hiện hoạt động cho vay bằng đồng Việt Nam Do đó, các tổ chức tín dụng này đều có thể trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng
Bên cạnh đó, các ngân hàng chính sách cũng là tổ chức tín dụng50, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, thực hiện hoạt động cho vay đối với người
42
Khoản 1 Điều 2 Nghị định 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công
ty tài chính (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/7/2008)
Trang 33nghèo và các đối tượng chính sách khác51 Do đó, ngân hàng chính sách cũng là chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng
Ngoài ra, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng được thực hiện hoạt động cho vay vốn tiền tệ52 Vì vậy, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng có thể trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng
Tóm lại, chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng hiện nay có thể là: các ngân hàng thương mại (bao gồm ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại liên doanh, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài), công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức tài chính vi mô, ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng chính sách và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
2.2.1.2 Những điều kiện chủ thể đối với bên cho vay trong hợp đồng tín dụng
Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủ thể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thỏa mãn các điều kiện luật định sau đây:
Một là, có Giấy phép thành lập, hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp
Giấy phép được quy định từ Điều 18 đến Điều 29 Luật các tổ chức tín dụng 2010 Giấy phép bao gồm Giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Giấy phép thành lập văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước cấp Văn bản của Ngân hàng Nhà nước về sửa đổi, bổ sung Giấy phép là một bộ phận không tách rời của Giấy phép53 Ngân hàng Nhà nước là cơ quan
có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung và thu hồi giấy phép54 Việc cấp Giấy phép cho các tổ chức tín dụng được thực hiện bằng Quyết định cấp Giấy phép của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước55
Điều kiện để tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép thành lập, hoạt động được quy định tại Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng 2010 Theo khoản 1 Điều này, tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
- Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định
Vốn pháp định là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập tổ chức tín dụng Hiện nay, vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
51
Theo Điều 2 Quyết định 131/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ngân hàng chính sách xã hội và mục 2 chương II Điều lệ tổ chức và hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg ngày 22/01/2003
Trang 34hàng nước ngoài được quy định cụ thể tại Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng và Nghị định 10/2011/NĐ-CP ngày 26/01/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 141/2006/NĐ-CP Việc ban hành Nghị định 10/2011/NĐ-CP để sửa đổi, bổ sung Nghị định 141/2006/NĐ-CP về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng là kịp thời, khi mà Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 Tuy nhiên, điều đáng tiếc là việc sửa đổi, bổ sung này chưa thật sự chuẩn xác và tương thích với các loại hình tổ chức tín dụng được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng Cụ thể, Nghị định này vẫn còn quy định mức vốn pháp định đối với ngân hàng đầu tư, ngân hàng phát triển, ngân hàng hợp tác trong khi Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã không còn ghi nhận các loại hình
tổ chức tín dụng này Dù vậy, dựa theo danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo hai Nghị định này, có thể thấy mức vốn pháp định của Ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương là 3000 tỷ đồng; đối với Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, mức vốn pháp định là 15 triệu USD; ngân hàng chính sách có mức vốn pháp định là 5000 tỷ đồng; Quỹ tín dụng nhân dân
cơ sở là 0,1 tỷ đồng; Công ty tài chính là 500 tỷ đồng; vốn pháp định của công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng Theo Điều 3 Nghị định 28/2005/NĐ-CP ngày 09/3/2005 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007), vốn pháp định của tổ chức tài chính quy mô nhỏ (nay được Luật các tổ chức tín dụng 2010 ghi nhận là tổ chức tài chính vi mô) là 5 tỷ đồng
Vốn điều lệ của tổ chức tín dụng là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ tổ chức tín dụng Vốn điều lệ tối thiểu phải bằng vốn pháp định do Chính phủ quy định trong từng thời
kỳ Nguồn vốn góp thành lập tổ chức tín dụng phải là nguồn hợp pháp, không được sử dụng vốn ủy thác, vốn vay để góp vốn
- Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và
có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập hoặc thành viên sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định
Cổ đông sáng lập được hiểu là cổ đông tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ tổ chức và hoạt động đầu tiên của tổ chức tín dụng tổ chức dưới hình
Trang 35thức công ty cổ phần như: ngân hàng thương mại cổ phần, tổ chức tín dụng phi ngân hàng Thành viên sáng lập được hiểu là thành viên góp vốn thành lập tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản điều lệ tổ chức và hoạt động đầu tiên của tổ chức tín dụng tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn như: ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô
- Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn,
điều kiện theo quy định tại Điều 50 của Luật các tổ chức tín dụng 2010
Người quản lý tổ chức tín dụng bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị; Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng giám đốc (Giám đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng56 Người điều hành tổ chức tín dụng bao gồm Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh và các chức danh tương đương theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng57 Người quản lý, người điều hành của các tổ chức tín dụng phải thỏa mãn quy định tại Điều 50 và Điều 3358 của Luật các tổ chức tín dụng
2010 Theo quy định tại hai điều luật này, có thể thấy điều kiện đối với người quản lí, người điều hành của tổ chức tín dụng rất chặt chẽ Cụ thể: người quản lí, người điều hành của tổ chức tín dụng phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có điều kiện nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ (có bằng đại học trở lên thuộc các chuyên ngành phù hợp với từng vị trí quản lí, điều hành như kinh tế, quản trị kinh doanh, luật), phải có kinh nghiệm công tác (chẳng hạn, kinh nghiệm 3 năm đối với kế toán trưởng, Giám đốc chi nhánh, Phó Tổng Giám đốc; kinh nghiệm 5 năm đối với Tổng Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên), có điều kiện về cư trú bắt buộc là phải ở Việt Nam trong thời gian đương nhiệm đối với một số vị trí quản lí, điều hành (Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc); điều kiện về tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ (5% trở lên đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên) Bên cạnh đó, Điều 33 và khoản 2 Điều 50 Luật các tổ chức tín dụng 2010 còn liệt kê hàng loạt các đối tượng cụ thể để loại trừ, không cho đảm nhiệm chức vụ quản lí, điều hành của tổ chức tín dụng
- Có Điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan59
Trang 36- Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến
sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng
Đề án thành lập, phương án kinh doanh của tổ chức tín dụng thông thường bao gồm các nội dung như: sự cần thiết phải thành lập, nhu cầu khách hàng, khả năng đáp ứng nhu cầu về dịch vụ ngân hàng, khả năng quản lý các loại hình rủi ro, khả năng áp dụng công nghệ hiện đại trong quản lý hoạt động ngân hàng và quản lý rủi ro; địa bàn hoạt động và nguồn nhân lực dự kiến; năng lực tài chính,
Những điều kiện nêu trên được xem là những điều kiện chung để Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép cho một tổ chức tín dụng Để được cấp Giấy phép, bên cạnh việc đáp ứng những điều kiện chung đó, tổ chức tín dụng còn phải đáp ứng những điều kiện đặc thù tương ứng với từng loại hình tổ chức tín dụng Cụ thể, đối với tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngoài việc đáp ứng các điều kiện được nêu trên, còn phải có đủ các điều kiện sau đây: Tổ chức tín dụng nước ngoài được phép thực hiện hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật của nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính (nước nguyên xứ); hoạt động dự kiến xin phép thực hiện tại Việt Nam phải là hoạt động mà tổ chức tín dụng nước ngoài đang được phép thực hiện tại nước nơi tổ chức tín dụng nước ngoài đặt trụ sở chính; tổ chức tín dụng nước ngoài phải có hoạt động lành mạnh, đáp ứng các điều kiện về tổng tài sản có, tình hình tài chính, các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước; cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đã ký kết thỏa thuận với Ngân hàng Nhà nước về thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng, trao đổi thông tin giám sát an toàn ngân hàng và có văn bản cam kết giám sát hợp nhất theo thông lệ quốc tế đối với hoạt động của tổ chức tín dụng nước ngoài60 Riêng đối với với tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài còn phải đáp ứng điều kiện: tổ chức tín dụng nước ngoài phải có văn bản cam kết
hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản trị, điều hành, hoạt động cho tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài; bảo đảm các tổ chức này duy trì giá trị thực của vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định và thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn của Luật các tổ chức tín dụng 201061
Riêng đối với với chi nhánh ngân hàng nước ngoài, còn phải đáp ứng điều kiện: Ngân hàng nước ngoài phải có văn bản bảo đảm chịu trách nhiệm về mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam; bảo đảm duy trì giá trị thực
Trang 37của vốn được cấp không thấp hơn mức vốn pháp định và thực hiện các quy định về bảo đảm an toàn của Luật các tổ chức tín dụng 201062
Đối với các ngân hàng chính sách, việc thành lập được thực hiện theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Đối với ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân, tổ chức tài chính vi mô, điều kiện cấp Giấy phép do Ngân hàng Nhà nước quy định63
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có các dự thảo các Thông tư hướng dẫn
về điều kiện cấp Giấy phép đối với các tổ chức tín dụng, hướng dẫn cụ thể, chi tiết các điều kiện cấp Giấy phép nêu trên, như: Dự thảo Thông tư quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam; Dự thảo Thông tư quy định về việc cấp Giấy phép,
tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng; Dự thảo Thông tư quy định
về việc cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng là hợp tác xã; Dự thảo Thông tư quy định về việc cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô64
Hai là, có Điều lệ đăng ký với ngân hàng Nhà nước
Điều lệ của tổ chức tín dụng vừa là điều kiện để tổ chức tín dụng được cấp Giấy phép thành lập, hoạt động vừa là điều kiện riêng biệt để một tổ chức tín dụng trở thành chủ thể ký kết hợp đồng tín dụng Pháp luật hiện hành không đưa ra định nghĩa về điều
lệ nói chung cũng như điều lệ của tổ chức tín dụng nói riêng Tuy vậy, căn cứ vào những nội dung cần có của Điều lệ của một tổ chức tín dụng và căn cứ vào một số bản Điều lệ của các tổ chức tín dụng hiện nay, có thể hiểu điều lệ của tổ chức tín dụng là văn bản quy định những nội dung cơ bản nhất của một tổ chức tín dụng, bao gồm các điều khoản quy định về cách thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể của một tổ chức tín dụng, do những người sáng lập thỏa thuận tạo nên hoặc do đại hội thành viên thông qua trên cơ sở phù hợp với những quy định của pháp luật
Quy định về điều lệ của tổ chức tín dụng có ý nghĩa quan trọng đối với Nhà nước
và bản thân các tổ chức tín dụng Bởi vì, văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành chỉ
QW6EQaZnlgkAJRB1Qg!!/dl3/d3/L0lDU0lKSmdrS0NsRUpDZ3BSQ1NBL29Ob2dBRUlRaGpFS0lRQUJHY1 p3aklDa3FTaFNOQkFOYUEhIS80QzFiOVdfTnIwZ0RFU1pJSlJERVNaTUpRaUlrZmchIS83X0YyQTYyRkgy MDBTSUUwSUs0MDNNVlMyRzY2L3pMaW93MzUwODAwMDQvaWJtLmludi8xNzM0ODk4Njc5NzQvY mZfYWN0aW9uL21haW4!/
Trang 38điều chỉnh những vấn đề liên quan đến các tổ chức tín dụng ở mức độ chung nhất Trên
cơ sở đó, các tổ chức tín dụng phải xây dựng điều lệ riêng để cụ thể hóa những quy định của pháp luật và phù hợp với đặc điểm riêng của tổ chức tín dụng đó Điều lệ của
tổ chức tín dụng có ý nghĩa như văn bản điều chỉnh trực tiếp các quan hệ nội bộ của tổ chức tín dụng Cũng thông qua quy định về điều lệ, Nhà nước thực hiện việc quản lý quá trình hoạt động của tổ chức tín dụng từ khi thành lập cho đến khi chấm dứt
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một bản Điều lệ của một tổ chức tín dụng thường gồm các nội dung liên quan đến các yếu tố lý lịch của tổ chức tín dụng đó (tên gọi, địa điểm đặt trụ sở chính); năng lực pháp luật của tổ chức tín dụng đó (nội dung, phạm vi hoạt động), cơ cấu tổ chức, quản lý của tổ chức tín dụng; vốn điều lệ và phương thức góp vốn; nhiệm vụ, quyền hạn của những người quản lí, điều hành, các ban, bộ phận, đơn vị thuộc tổ chức tín dụng đó; các nguyên tắc tài chính, kế toán, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; thể thức sửa đổi, bổ sung Điều lệ; các nội dung khác do thành viên, cổ đông thoả thuận nhưng không được trái với quy định của pháp luật
Tùy theo loại hình tổ chức tín dụng mà những nội dung chủ yếu trong Điều lệ có
sự khác nhau nhất định Theo khoản 1 Điều 31 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều lệ của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phải có các nội dung chủ yếu sau đây: Tên, địa điểm đặt trụ sở chính; nội dung, phạm vi hoạt động; thời hạn hoạt động; vốn điều lệ, phương thức góp vốn, tăng, giảm vốn điều lệ; nhiệm
vụ, quyền hạn của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát; thể thức bầu, bổ nhiệm, miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc (Giám đốc) và Ban kiểm soát; họ, tên, địa chỉ, quốc tịch và các đặc điểm cơ bản khác của chủ sở hữu, thành viên góp vốn đối với tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn; của cổ đông sáng lập đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần; quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, thành viên góp vốn đối với tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn; quyền, nghĩa vụ của cổ đông đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần; người đại diện theo pháp luật; các nguyên tắc tài chính, kế toán, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; thể thức thông qua quyết định của tổ chức tín dụng; nguyên tắc giải quyết tranh chấp nội bộ; căn cứ, phương pháp xác định thù lao, tiền lương và thưởng cho người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát; các trường hợp giải thể; thủ tục sửa đổi, bổ sung Điều lệ
Theo khoản 2 Điều 31 và Điều 77 Luật các tổ chức tín dụng 2010, Điều lệ ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân phải có những nội dung chủ yếu sau đây: tên, địa điểm đặt trụ sở chính; nội dung, phạm vi hoạt động; thời hạn hoạt động; vốn điều lệ và phương thức góp vốn (không có quy định phương thức tăng giảm vốn điều kệ như đối với tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn); cơ cấu tổ chức,
Trang 39nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và quyền, nghĩa vụ của Tổng giám đốc (Giám đốc); thể thức tiến hành Đại hội thành viên và thông qua quyết định của Đại hội thành viên; quyền, nghĩa vụ của thành viên; các nguyên tắc tài chính,
kế toán, kiểm soát và kiểm toán nội bộ; nguyên tắc trả lương, phụ cấp và thù lao công
vụ, xử lý các khoản lỗ, chia lãi theo vốn góp, công sức đóng góp của thành viên và mức độ sử dụng dịch vụ của tổ chức tín dụng; nguyên tắc trích lập, quản lý và sử dụng các quỹ; thể thức quản lý, sử dụng, bảo toàn và xử lý phần tài sản chung, vốn tích lũy; các trường hợp và thủ tục về chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể, phá sản; thủ tục sửa đổi Điều lệ
Điều lệ, nội dung sửa đổi, bổ sung Điều lệ của các tổ chức tín dụng phải được đăng ký tại Ngân hàng Nhà nước trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được thông qua Đây là quy định mới so với Luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi, bổ sung 2004) Trước đây, theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật các tổ chức tín dụng 1997 (sửa đổi,
bổ sung 2004) thì Điều lệ của tổ chức tín dụng chỉ được thực hiện sau khi được Ngân hàng Nhà nước chuẩn y Theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng chỉ cần đăng
ký Điều lệ với Ngân hàng Nhà nước, không cần phải có thủ tục chuẩn y
Theo Dự thảo Thông tư quy định về việc cấp Giấy phép và tổ chức, hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng tại Việt Nam và Dự thảo Thông tư quy định về việc cấp Giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng, việc đăng ký Điều lệ của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng với Ngân hàng Nhà nước được thực hiện thông qua Cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng Hồ sơ đề nghị đăng ký Điều lệ bao gồm: văn bản đề nghị của tổ chức tín dụng; Nghị quyết họp Đại hội đồng cổ đông (đối với tổ chức tín dụng cổ phần), Nghị quyết của Hội đồng thành viên (đối với tổ chức tín dụng là công
ty trách nhiệm hữu hạn) thông qua Điều lệ và các văn bản khác theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước để làm rõ các vấn đề được đề nghị bổ sung (nếu có) Cũng theo các Dự thảo này, Ngân hàng Nhà nước (Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) có trách nhiệm xác nhận đăng ký Điều lệ, nội dung sửa đổi, bổ sung Điều lệ của Ngân hàng thương mại bằng văn bản trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được Điều lệ; 10 ngày đối với tổ chức tín dụng phi ngân hàng; trường hợp phát hiện nội dung của Điều lệ không phù hợp với các quy định của pháp luật, Ngân hàng Nhà nước (Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) sẽ gửi văn bản yêu cầu Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng sửa đổi, bổ sung cho phù hợp Như vậy, quy định mới có vẻ tiến
bộ, hợp lí hơn, giảm bớt được thủ tục hành chính