1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở việt nam thực trạng và hướng hoàn thiện (luận văn thạc sỹ luật)

118 13 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Đánh Giá Tác Động Môi Trường Ở Việt Nam - Thực Trạng Và Hướng Hoàn Thiện
Tác giả Võ Trung Tin
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Hưu Nghị
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 5,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 6 1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của hoạt động đánh giá tác động 19 môi trường 1.3 Các nguyên tắc của ph

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỢC LUẬT TP Hồ CHÍ MINH

VÕ TRUNG TIN

PHÁP LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG

MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM - THựC

TRẠNG VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 6

1.2 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của hoạt động đánh giá tác động 19

môi trường

1.3 Các nguyên tắc của pháp luật về đánh giá tác động môi trường 27

MÔI TRƯỜNG

LUẬT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Ở VỆT NAM

3.1 Thực ưạng thực hiện công tác đánh giá tác động môi ưường ở Việt Nam và 70

sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới các nội dung pháp luật về đánh giá tác

động môi trường ở nước ta

3.2 Những quan điểm và các căn cứ của sự điều chỉnh pháp luật đối với hoạt 74

động đánh giá tác động môi trường

3.3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về đánh giá 77

tác động môi ưường ở Việt Nam

Trang 3

1 BC : Báo cáo

5 KHCN&MT : Khoa học, Công nghệ và Môi trường

15 TN&MT : Tài nguyên vù Môi trương

Scanned by CamScanner

Trang 4

1 Cơ sở khoa học và thực tiỗn của đồ tài

Đánh giá lác động môi trường, so với một số khái niệm pháp lý khác,

là một khái niệm còn tương đối mđi Tuy nhiôn, việc thừa nhận và thực hiện

hoạt động này trong pháp luật môi trường của nhiồu nước đã làm cho việc

nghiên cứu v6 vấn đổ này trở nên câ'p thiết, ở Việt Nam, ĐTM được quy định

trong Luật BVMT và các VB hướng dẫn thi hành và được xem như một khâu

trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm, thực hiện một trong những NT cơ bản của

LMT - nguyên tắc phòng ngừa)

Qua hơn 10 năm thực hiện công tác ĐTM, các quy định PL Việt Nam

về vân đề này cồn rất nhiều những yếu‘điểm, hạn chế cần khắc phục; đó là

sự tuân thủ các quy định PL về ĐTM còn chưa tốt, châ't lượng BC ĐTM chưa

cao, năng lực thẩm định BC ĐTM còn hạn chế, hoạt động sau thẩm định còn

rất yếu, sự tham gia của cộng đồng trong quá trình ĐTM còn hạn chế, một số

nội dung ĐTM chưa được tiến hành [48] Đê’ khắc phục những hạn chế nói

trên, đồng thời nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác ĐTM ở Việt Nam trong

thời gian tới; việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định PL của nước ta về

ĐTM trở thành nhu cầu tất yếu, thực hiện xu thế hội nhập; nhất là trong bối

cảnh Luật BVMT 2005 vừa được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua

ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành ngày 01 tháng 7 năm 2006;

trong đó phần nội dung các quy định về ĐTM vẫn còn nhiều ý kiến khác

nhau Vì thế, tôi chọn đề tài “Pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở

Việt Nam - thực trạng và hướng hoàn thiện’’ để làm luận văn tốt nghiệp cao

học luật của mình

2 Tinh hình nghiên cứu đề tài

Scanned by CamScanner

Trang 5

ĐTM không phải là một víín đổ qurt tnđi mê Tính đến thời điểm này

đâ có nhiổu đó tài nghiên cứu vé DTM ở nhiều góc độ khác nhau Hiện nay,

các tài liộu vẻ ĐTM đang lưu hành ở nước ta chủ yếu là các tài liệu dịch do

Chương trình môi trường của Liên hợp quốc cung cấp cho Cục Môi trường

thuộc Bộ KHCN&MT (nay là Cục Bảo vệ môi trường thuộc Bộ TN&MT)

Công trình đầu tiên do các nhà khoa học Việt Nam viết về ĐTM là quyển

“Đánh giá tác động môi trường - phương pháp luận” (Nhà xuât bản Khoa học

và Kỳ thuật, Hà Nội, 1994) Tiếp theo đó là Đề án “Xây dựng năng lực quản

lý môi trường ở Việt Nam” của trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học

Quốc gia Hà Nội, mà kết quả là sự ra đời của quyển “Đánh giá tác động môi

trường" vào đầu năm 1999; “Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường

chung các dự án phát triển” đầu năm 2000 Đây là những tài liệu nghiên cứu

về vấn đề ĐTM một cách tổng quan, cung cấp cho người đọc những vấn đề

cơ bản nhất về ĐTM như các pp kỹ thuật sử dụng để ĐTM, các nội dung cần

chú ý trong xây dựng BC ĐTM, Những tài liệu này nghiên cứu về vân đề

ĐTM dưới góc độ khoa học MT Có thể nói, những tài liệu này đã đặt nền

tảng cho việc xây dựng và phát triển các quy định PL Việt Nam về ĐTM sau

này

Dưới góc độ pháp lý, đã có một số tài liệu nghiên cứu về ĐTM, đáng

chú ý là Chương III Đánh giá tác động môi trường trong giáo ưình LMT dành

cho đào tạo cử nhân luật của Trường Đại học Luật Hà Nội Tuy nhiên, với

tính cách là một chương trong giáo trình, nó chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu

một cách khái quát nhất về ĐTM cũng như những quy định PL Việt Nam về

vân đề này mà chưa đi vào các nội dung cụ thể, mang tính chuyên sâu

Bên cạnh đó, đã có những đề tài nghiên cứu về ĐTM dưới góc độ pháp

lý mang tính chuyên sâu như một số khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật của

sinh viên các trường, ưong đó đáng chú ý là luận văn thạc sĩ của Lê Sơn Hải

với tên đề tài là “Những vấn đề pháp lý của việc đánh giá tác động môi

Scanned by CamScanner

Trang 6

trường" Đây là luận vAn thạc sì đAu tiên ở nước tu nghiên cứu vó D I M (lưới

góc độ pháp lý Luận vàn đA trình bày một số nội thing chủ yêu của 1’1 vỏ

ĐTM và nêu phương hướng lidp tục xAy dựng vù hoàn thiện 1’1, vó l)TM ỏ

Việt Nam Tuy nhiên, luận vAn được hoàn thành nAin 1999, thời điếm mA cAc

VB pháp quy về vân đề ĐTM chỉ tộp trung giAi quyết theo nhưng vAn đó cụ

thê mà chưa mang tính hộ thông, vì thê nhưng nội dung nghiên cứu chưa

mang tính tổng quan và toàn diộn Hơn nưa, vào thời điổm dó, 1’1 vẻ DTM

chưa thật sự trở thành đề tài được tranh luộn nhiồu vù thu hút sự quan tAm của

nhiều nhà khoa học pháp lý Chính vì thố, tôi tiếp tục nghiên cứu vó vAn đố

này trên cơ sở kê thừa các kết quả về mặt khoa học của các tài liệu đA nêu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu nhưng biểu hiộn độc

thù của ĐTM, phân tích và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiộn các quy

định PL về ĐTM Với mục đích trên, các nhiộm vụ của luận vAn phủi giâi

quyết là:

- Làm rõ bản chất của hoạt động ĐTM trong toàn bộ quá trình kiổm

soát ô nhiễm MT;

- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của các quy định PL vồ ĐTM

ở Việt Nam ưên cơ sở phân tích quá trình hình thành và phát triển của khái

niệm ĐTM;

- Phân tích, đánh giá các quy định PL Việt Nam về ĐTM, kết hợp vđi

thực tiễn thực hiện; từ đó đề xuâ't các giải pháp nhàm hoàn thiện các quy định

PL về vấn đề này

4 Đối tượng, phạm vỉ và phương pháp nghiên cứu

4.1 Dối tượng nghiên cứu

Scanned by Cam Scanner

Trang 7

Luận van lẠp trung nghiên cửu một cách toàn diộn vỏ vấn đồ DTM

điA'1 góc độ phâp lý cùng như những quan hộ xíl hội phát sinh từ hoụt động

này theo các quy định của PL Việt Nam Trong một số nội dung, chúng tôi có

tham khảo quy định một sô nưđc và thực tiỗn thực hiộn

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong PL của cúc nước trên thố giới thì ĐTM được áp dụng đối với các

DA phát triển PL Viột Nam quy định ngoài cốc DA phát triển ra thì ĐTM

còn được áp dụng cả với các cơ sở đang hoạt động Trên thực tố, đối với các

cơ sô đang hoạt động thì việc ĐTM đên thời điểm này đã kết thúc Cho nên,

trong luận văn chúng tôi chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định PL Việt

Nam về ĐTM đối vđi các DA

4.3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin kết

hợp vđi phương pháp so sánh, phân tích, tổng hợp và thống kê để nghiên cứu

nội dung của đề tài

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Kế thừa những thành quả nghiên cứu nói trên, chúng tôi đã cố gắng

đến mức cao nhất trong việc nghiên cứu đề tài này với cách tiếp cận vừa cụ

thể, vừa tổng quan đê’ đạt kết quả tốt Luận văn trình bày một cách tương đối

có hệ thống những vấn đề về sự hình thành và phát triển của khái niệm

ĐTM, của PL về ĐTM với những vấn đề từ tổng quan đến cụ thể và chuyên

sâu, giúp cho việc tiếp cận và vận dụng các quy định PL về ĐTM một cách

khoa học

Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định PL về ĐTM vào thực tiễn còn

nhiều hạn chế Chúng tôi tập trung vào phân tích những hạn chế này, từ đó

đưa ra một sô đề xuât kết hợp giừa lý luận và thực tiễn thực hiện

1Scanned by Cam Scanner

Trang 8

\ ơi két quâ nghiên cửu chúng tôi hy vọng luận ván có giá trị tham

khio "hit d’.nh trươc hét đối vơi những người quan tâm về vấn đề ĐTM dưới

goc dè phap ụ; là nguồn tài liệu tham khào hữu ích trong việc giảng dạy và

Sx 'àp môn hoc Luật Mòi trường củng như khà nàng ứng dụng của luận vãn

\ ào thực bèn và hoạt động quàn lý nhà nươc về BVMT

tv Nội đung cùa đề tài các vấn đề cẩn giài quyết

Ngoài phần mô đầu kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

nòi dung luận vàn dược trình bày trong 3 Chương, bao gồm:

Chưtig ỉ: Khái quát về đánh giá tác động môi trường

Ckưcr.g 2: Pháp iiiậr Việt Nam vé đánh giá tác động môi trường

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật về đánh giá

tác động môi trường ở Việt Nam

Mặc dù đã rất cố gắng để luận vãn là một tài liệu có giá trị nhưng luận

vãn chac chắn sẽ không the tránh khói sai sót Chúng tôi mong muốn nhận

dược sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô giáo và những người quan tàm

đến đề tài Xỉn chân thành cảm ơn PGS.TS Pham Hữu Nghị đã tận tình hương

dln và giúp đờ em hoàn thành luận văn này: càm ơn các cơ quan đã cung cấp

“h’dng tài liệu nghiên cứu: cảm ơn các tác giả đã có những còng trình nghiên

cứu mà chúng tòi sử đụng để tham khảo trong luận vãn

Scanned by CamScanner

Trang 9

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ ĐÁNH GIÁ

TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Scanned by CamScanner

Trang 10

Chương I

KHÁI QUÁT VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

1.1 KHÁI NIỆM ĐÁNH GIÁ TĂC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

1.1.1 Định nghĩa đánh giá tác động môi trường

Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment -

EIA) là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi và có thể được xem xét dưới

nhiều góc độ khác nhau Xét dưới góc độ quản lý, nó được coi là một biện

pháp QLNN về MT, xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về

mỏi liên hệ, những tác động biện chứng giữa các hoạt động phát triển và các

khía cạnh MT Với tư cách là một khái niệm pháp lý, ĐTM là hệ thống các

quan hệ PL hình thành giữa cơ quan QLNN với các tổ chức, cá nhân thực hiện

các hoạt động phát triển trong việc khảo sát và đánh giá các tác động của các

hoạt động phát triển đó đối với các yếu tố MT [11, tr 103]

ĐTM thực ra là một công việc rất mới, nhưng đã thu được những kết

quả to lớn Nhiều người trong chúng ta tưởng đã hiểu rõ bản chất của công

việc này Song có lẽ mỗi người chỉ nắm bắt được một vài khía cạnh cơ bản

của ĐTM Một số điểm có thể thống nhất được về công việc này là:

- ĐTM là quá trình xác định khả năng ảnh hưởng đến MT xã hội và

cụ thể là đến sức khoẻ của con người Từ đó đánh giá tác động đến các thành

phần MT vật lý, sinh học, kinh tế, xã hội nhằm giúp cho việc ra quyết định

một cách hợp lý và logic

- ĐTM còn cố gắng đưa ra biện pháp nhằm giảm bớt những tác động

có hại, kể cả việc áp dụng các biện pháp thay thế

Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa chung, đầy đủ, vạn năng về

ĐTM Có thể nêu ra một số định nghĩa để chứng tỏ tính đa dạng của thuật

ngữ này

Scanned by CamScanner

Trang 11

- DTM là một dành gid chn tất cả những ảnh hường MT cũng như

nhiĩng ảnh hưàng xà hội liên quan, có thể phát xinh từ một DA |511.

Đinh nghía này cho thây ĐTM không chỉ xcm xét những ảnh hưởng về

mặt MT tự nhiên (đât, nước, không khí, ) mà nó còn xem xét những tác động

đến mảt xà hội (kinh tế, văn hoá, giáo dục, ) Như vậy, phạm vi yêu cầu

ĐTM phải làm là rất rộng, điểu này là cần thiết nhưng nó rất phức tạp, không

de thực hiện Trong khi đó, đối tượng có thể gây ra những ảnh hưởng cần xem

xét thì định nghĩa chỉ nêu một cách chung chung: một DA, quá hẹp Định

nghĩa lại không để cập đên các đối tượng có thể gây ra tác động lớn hơn, như

một kẻ hoạch, quy hoạch, một chương trình phát triển,

- ĐTM là một sự kiểm tra có hệ thống những hậu quả về MT của các

DA, các chính sách, các kế hoạch và chương trình [19].

So với định nghĩa trên, định nghĩa vừa nêu thu hẹp phạm vi và mở rộng

đối tượng cần xem xét Nó đặt ra yêu cầu là việc đánh giá các hậu quả về

MT phải có tính hệ thống, tức là các yếu tố bị ảnh hưởng phải được xem xét

ưong một thể thống nhất, từng loại tác động cần phải được cân nhắc về mức

độ, tam quan trọng, các khía cạnh không gian, thời gian và cả mối tương tác

qua lại giữa chúng đối với MT Tuy nhiên, định nghĩa chỉ xem ĐTM như là

một “sự kiểm tra” nên cũng không thể hiện đúng bản chất, vai trò của ĐTM

- xem xét, phân tích, đánh giá các tác động để dự báo các hậu quả MT có thể

xảy ra nhằm hạn chế, ngăn ngừa chúng

- ĐTM là một quy trình để xác định, dự báo và mô tả cái lợi và những

hậu quả của một sự phút triển được dự kiến bằng những thuật ngữ thích hợp

Để trở nên có ích, việc đánh giá cần phải được truyền đạt bằng những thuật

ngữ mà cộng đồng và những người làm quyết định có thể hiểu được Những cái

lợi và hâu quả phải được xác định trên cơ sở những tiêu chuẩn thích hợp với

quốc gia có DA [18, tr 10].

Scanned by CamScanner

Trang 12

Khác vơi hai quan điểm trên, định nghĩa này đà thể hiện được vai trò

của ĐTM cũng như những yêu cầu khi thực hiện DTM Nó khóng phải là một

công việc độc lâp mà là cả một quy trình vơi nhiều giai đoạn, nhiểu bước

thực hiện; mỗi giai đoạn, mổi bước lại được tiến hành khác nhau Hơn nữa,

quy trình này không nhừng dự báo hậu quả của tác động mà còn xác định cái

lợi cùa các tác động đó nhằm cân nhắc về mọi mật để có quyết định hợp lý

hơn Đồng thơi, quy trình này còn phải phù hợp với điểu kiện của từng quốc

gia và đàm bảo cho sự tham gia cùa cộng đổng Nhưng hạn chế của định

nghĩa là không néu rõ sẽ dự báo lợi, hại trong lĩnh vực nào (mà ở đáy cần quy

định là những ảnh hưởng về MT) Đó là chưa nói đến việc định nghĩa quá dài,

khó nhớ

- Luật BVMT 1993 (Điều 2) đà đưa ra định nghĩa về ĐTM như sau:

ĐTM là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến MT của các DA, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, của các cơ sở sản

xuất kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, xã hội, ván

hoá, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các biện pháp

thích hợp để BVMT.

Theo định nghĩa này thì ĐTM được thực hiện thông qua việc phân tích,

đánh giá các tác động có ảnh hưởng đến MT nhằm mục đích dự báo những

hậu quả có thể xảy ra cho MT So với các định nghĩa khác thì xét về bản

chất, định nghĩa này đã cân nhắc đến những đặc tính pháp lý cơ bản của

những khái niệm tương ứng trên thế giới

Tuy nhiên, định nghĩa này không ngắn gọn, khó nhớ; cách hiểu về yếu

tố tác động chưa phù hợp Theo định nghĩa này, ta thấy có 2 loại đối tượng

phải thực hiện việc ĐTM, đó là các DA và các cơ sở đang hoạt động Đây

cũng là vấn đề có nhiều ý kiến tranh luận ngay từ khi Luật BVMT 1993 còn

là dự thảo Đến nay, vẫn còn có ý kiến cho rằng Luật BVMT 1993 đã hiểu

sai về thuật ngữ này với lý giải rằng PL các nước chĩ quy định ĐTM đôi vđi

Scanned by CamScanner

Trang 13

các DA mà không quy định ĐTM đối với các cơ sở đang hoạt động Ý kiến

ngược lại được số đông chấp nhận cho rằng cách hiểu trong Luật BVMT 1993

là hoàn toàn chính xác và lý giải rằng các nội dung quan trọng nhất của công

việc ĐTM là xác định ảnh hưởng lên MT của các yếu tố tác động nhằm tìm

ra giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực vấn đề khác nhau chỉ là ở chỗ các

nước coi yêu tô “tác động” nói trên chỉ là các DA sắp xảy ra, sắp được thực

hiện còn Luật BVMT 1993 ngoài các DA còn coi “yếu tố tác động” là cả các

cơ sở hiện đang hoạt động [13, tr 13)

Cách hiểu như thê này hoàn toàn trái với mục đích của hoạt động ĐTM

là ngăn ngừa, dự báo; tức là yếu tố tác động ở đây “sẽ xảy ra” và có nguy cơ

tác động Do đó, định nghĩa trong Luật BVMT 1993 xem các cơ sở đang hoạt

động cũng là đối tượng phải ĐTM thực ra chỉ là cách để giải quyết những tồn

đọng trong thực tế áp dụng PL mà thôi vì các cơ sở đang hoạt động này là

những cơ sở đã đi vào hoạt động trước ngày 10/01/1994, là ngày mà Luật

BVMT 1993 có hiệu lực Quy định này là cách áp dụng cho phù hợp với thực

tiễn của Việt Nam vào thời điểm có nhiều cơ sở đã đi vào hoạt động nhưng

khi còn là DA chưa được ĐTM Vì thế, cần phải xác định đúng bản chất của

hoạt động ĐTM

Ngoài các định nghĩa được đề cập thì còn rất nhiều định nghĩa khác

nữa về ĐTM (Phụ lục 1)

Từ các định nghĩa này, có thể nhận thấy một số điểm khác biệt trong

chúng thể hiện sự khác biệt trong nhận thức về nghĩa của từ “môi trường” và

bản chất của DA được đánh giá

Theo chúng tôi, để xác định đúng bản chất của thuật ngữ ĐTM, cần

làm rõ các thuật ngữ “đánh giá”, “tác động” và “môi trường”

- “Đánh giá”, như trong định nghĩa của Giáo sư Lê Thạc Cán, Giám

đốc Trung tâm Phát triển bền vững môi trường, thì bao gồm cả công việc thu

thập, chỉnh lý số liệu, tài liệu sau đó tiến hành phân tích để xác định các tác

Scanned by Cam Scanner

Trang 14

động Kết quả của việc đánh giá giúp cho việc lựa chọn được DA thích hợp

17]

Việc đánh giá mức độ tác động nhiều khi có thể dựa vào một số tiêu

chuẩn, chẳng hạn tiêu chuẩn của cơ quan y tế thế giới về khả năng tác động

của các chất độc hại đến sức khoẻ con người Mức tác động, mức tổn thất do

tác động còn có thể đánh giá qua đơn vị tiền tệ trong các bước đánh giá chi

phí - lợi ích mở rộng Tác động tốt, có lợi được coi là lợi nhuận, tác động có

hại được coi là chi phí Các lợi ích, chi phí MT loại này thường không được

tính đến trong luận chứng kinh tế, kỹ thuật Dự báo là công việc rất cần thiết,

trước hêt là vì việc đánh giá được thực hiện khi mà DA chưa thực thi, nên mọi

tác động chưa xảy ra Do vậy mà cần phải dự báo

- Khái niệm “tác động” cũng được bàn cãi nhiều Theo định nghĩa

thông thường thì tác động là hiệu ứng, là ảnh hưởng của một vật, một quá

trình này lên vật hoặc quá trình khác [17, tr 25]

Nếu theo định nghĩa này thì có rất nhiều tác động hiện đang tồn tại,

không thể kể hết Trong ĐTM, tác động được xác định rõ là tác động của DA

lên MT Và muốn đánh giá tác động thì phải đề cập được các vấn đề như tác

động đó thuộc loại nào? Phạm vi tác động, thời gian tác động, mức độ tác

động,

- Còn thuật ngữ “môi trường” cũng là một thuật ngữ có nhiều cách

tiếp cận khác nhau Hiểu theo nghĩa chung nhất thì “MT bao gồm toàn bộ nói

chung những'điều kiện tự nhiên và xã hội trong đó con người hay một sinh vật

tồn tại, phát triển trong mối quan hệ với con người hay sinh vật ấy" [46, tr

639-640]

Hiểu theo nghĩa này thì MT được xác định rất rộng vì nó bao gồm cả

MT tự nhiên và MT xã hội Và nêu như hiểu MT theo cách này thì có một

loại yếu tố cấu thành MT nữa mà việc áp dụng các quy định PL MT nói

chung, các quy định PL về ĐTM nói riêng là rất khó hoặc không thể, đó là

Scanned by CamScanner

Trang 15

thê mà trong Luật BVMT 1993 (l)iẻii I) đưa ra cách hiểu vẻ MT hẹp hơn,

theo đó “MT bao gồm <•<)(' \'èn t(ĩ lự nhién Ví) yếu tâ vật chđl nhân lụo quan hệ

mtft thiết vài nhau, bao quanh con người, Cíí (Inh hường tới đời sríng, sàn xuất,

sự tồn tụi v<) phát triền ( lia con người Ví) thiên nhiân" Cách hiểu như thố này

sC giđi han được phạm vi điổu chỉnh cùa luật và dó úp dụng các quy định PL

hơn

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng khi nói đến ĐTM thì cần xác

đinh các đặc điểm sau đây:

DTM là một quá trình và là một khâu trong hoạt động kiểm soát ô

nhiễm MT

Nói đên kiểm soát ô nhiễm MT là nói đến “quá trình phân tích, dự háo,

kiểm tra, xử lý nhằm ngăn chặn việc gây ô nhiễm MT từ các nguồn gây ô

nhiễm” (Quan điểm của Tổ bộ môn Luật Môi trường - Đại học Luật thành

phố Hồ Chí Minh) Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động từ phân tích, dự

báo, đánh giá hiện trạng MT, dự báo ô nhiễm MT trong tương lai đến hoạt

động kiểm ưa để chúng ta xử lý các chất thải, xử lý các hành vi vi phạm PL

ưong việc kiểm soát ô nhiễm MT; nhằm mục đích chung là ngăn chặn việc

gây ô nhiễm MT từ các nguồn gây ô nhiễm Và MT ở đây chỉ nên hiểu bao

gồm yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo như đã đề cập ở ưên

❖ Quá trình ĐTM phải gắn liền với việc dự liệu, phòng ngừa

Vì mục đích của ĐTM bao giờ cũng là lường ưước những rủi ro mà yếu

tố tác động có thể gây ra cho MT Điều này xuất phát từ hậu quả lâu dài và

ảnh hưởng sâu rộng của chất lượng MT đến tính mạng, sức khoẻ của nhiều

người nếu công tác ĐTM không được dự liệu trước hoặc dự liệu không đầy

đủ Ngược lại, mỗi bước, mỗi khâu trong toàn bộ quá trình ĐTM được gắn

lien với việc dự liệu, phòng ngừa thì việc khắc phục những hậu quả (nêu có)

Scanned by CamScanner

Trang 16

từ sự tác động này sê hiộu quả rất nhiều Vì thế, các nhà MT học cho rằng

“cách liếp cận theo phương chúm phòng ngừa đang được ưu tiên và trở thành

cách tiếp cận chủ yếu à hầu hết các nước phát triển" 115, tr 391.

❖ DTM phâi ill đói với việc đưa ra các biện pháp giảm thiểu tác động

Từ chỗ dự liệu được những tác động thì phải có biện pháp giảm thiểu

tác động Mục đích của công việc này là tìm kiếm những phương thức tiến

hành tốt nhât, nhằm loại bỏ hoặc tôi thiểu hoá các tác động có hại và phát

huy sử dụng tối đa những tác động có lợi đồng thời đảm bảo cho cộng đồng

(hoặc các cá thể) không phải chịu chi phí vượt quá lợi ích (lợi nhuận) do DA

mang lại hoặc họ nhận được

Đê’ đạt được mục đích này, các biện pháp giảm thiểu tác động phải

được thực hiện đúng thời điểm và cách thức như được nêu trong BC ĐTM

Như vậy, có thể hiểu “ĐTM là (một quá trình) phân tích, dự báo các tác

động đến MT của các DA đầu tư nói chung, trên cơ sở đó dưa ra các biện pháp

giảm thiểu tác động khi triển khai DA” Cách hiểu này cũng gần như cách

hiểu theo Luật BVMT 2005 Định nghĩa như vậy vừa ngắn gọn, lại bao quát

được bản chát của hoạt động ĐTM Tuy nhiên, đối với các DA chiến lược,

quy hoạch, kế hoạch phát triển thì trong Luật BVMT 2005 lại xem đó là

“đánh giá môi trường chiến lược” Việc phân tích, dự báo các tác động đến

MT của các DA chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê

duyệt nhằm đảm bảo PTBV là một dạng của ĐTM mà Luật BVMT 1993 đã

từng đề cập

Theo chúng tôi, sở dĩ có sự phân biệt ĐTM hay đánh giá MT chiến

lược theo Luật BVMT 2005 xuất phát từ quy mô (quô'c gia, vùng, ) và về

kiểu loại (ngành hay tổng hợp) khác nhau của việc lập kế hoạch phát triển

Vì thế, nội dung của việc cân nhắc các vân đề MT trong mỗi loại hình lập kê

hoạch cũng phải được tiến hành một cách tương xứng Đánh giá MT chiến

Scanned by CamScanner

Trang 17

lược ra dời để bổ sung cho DTM cấp ĩ)A nhằm đưa các vân đề MT tương

xứng vào quá trình ra quyết dinh cao hơn cấp DA và được xem như là một

cách tiếp cận dầy triến vọng Đánh giá MT chiên lược là việc ứng dụng các

NT ĐTM trong viộc hoạch dịnh chính sách, kố hoạch, chương trình và các cấp

quy hoạch phát triển khác cao hơn cấp DA Đánh giá MT chiến lược là cách

nép cận thực tê nhát, đặc biệt nếu biết kết hợp việc ra quyết định với các chỉ

tiêu PTBV thì dánh giá MT chiên lược sẽ trở thành một công cụ hiệu quả,

góp phần ngăn chặn xu hướng tiếp tục suy giảm MT trong từng quốc gia cũng

như toàn cầu

Thật ra, không thể gói gọn toàn bộ công tác ĐTM chỉ vào một vài câu

dịnh nghĩa như vậy Bởi vì trong quá trình thực hiện ta sẽ thây từng từ ngữ

trong câu đòi hỏi phải có sự định nghĩa, xác định rõ

1.1.2 Mục đích - ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường

Mặc dù ra đời chính thức chưa lâu, nhưng thuật ngữ ĐTM đã được sử

dụng rộng rãi ưên thế giới Điều đó chứng tỏ khả năng áp dụng công cụ này

vào công tác BVMT ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới Để thấy rõ hơn

điều này, ta xét kỹ hơn tới mục đích và ý nghĩa của ĐTM

1.1.2.1 Mục đích của đánh giá tác động môi ưường

Với định nghĩa đã nêu, ta có thể thấy rõ mục tiêu cuối cùng của ĐTM

là ngăn chặn những tác động có thể gây ô nhiễm MT, suy thoái MT nhằm

BVMT, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, các giá trị đời sống xã hội bằng

việc sử dụng chúng một cách hợp lý Có thể nói, hoạt động ĐTM có những

mục đích cơ bản sau:

- Thứ nhất, ĐTM nhằm xác định, dự báo, ngăn ngừa những ảnh hưởng

tiem năng đến MT, xã hội và sức khoẻ con người của một hoạt động Nói cách

khác, ĐTM là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện NT phòng ngừa.

Scanned by CamScanner

Trang 18

Tiòn h.Anh DTM L\ xem \CI cac Anh hmhig tơi MT nói chung của một

boat dòng \ÒI đung dảu nén mA DTM phih thực hiộn là mô tA, đánh gùi hiộn

mng cù* XIĩ nơi du kiên dAt D \ Sau do lựa chọn những hoạt động có khâ

nlng inh hương den MT dẻ xem \0l phàn lích vẻ lác dộng trực liếp, gián

ticp uc dòng làu dAi \à sự tương tác qua lọi của Cílc lác động đó Đây

ch nh A cơ xơ dê cac nhA dẫu tư cac nhA quán lý thây trước dược hậu quâ sê

xi) r* cho Mĩ du’ bao dươc mức dò vA quỵ mò ánh hưởng của hoạt động đó

Ching han như MÒC khai thác cat ơ cac con sông sè dần đốn hiện tượng thay

doi óờng chày hoẠc sụt lơ bơ ràt nguy hiểm (CÓ thể gầy thiệt hại tính mạng

cho ngươi dàn sông gần bơ), hậu quà kì gày ô nhiễm dòng sông và về lâu dài

co thê ành hương đèn hệ sinh thái ơ lưu vực sông đó

Dư báo 1A cơ sơ cho phòng ngừa Do đó ĐTM đà giúp con người tiên

liệu trươc các tác động xâu đến MT thì con người phải đưa ra các biện pháp

khlc phuc hoác ngăn ngừa phù hợp Trước tiên, đây chính là trách nhiệm của

chù cơ sơ chủ DA Họ phải xây dựng các thiệt bị xử lý chất thải hay đầu tư

sừ dụng các công nghệ sạch, tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của mình để

lựa chọn các giải pháp thích hợp Chính vì vậy mà trong nội dung của BC

ĐTM ở phần cuối luôn phải có kiến nghị và đề xuất để giảm thiểu tác động

MT

- Thứ hai, ĐTM đảm bảo gắn sự phát triển kinh tê' xã hội với việc

BVMT, hay nói cách khác là tạo ra sự PTBV.

ĐTM phải được đặt trong một thể thống nhất của yêu cầu phát triển và

không được đối lập với sự phát triển Chĩ khi đặt việc ĐTM trong sự thống

nhất với các hoạt động phát triển kinh tế xã hội thì mới có thể tạo ra được sự

quan tâm thực sự của nhà nước, của tổ chức, cá nhân tới việc BVMT Các

biện pháp giảm thiểu tác động của MT trong trường hợp này sẽ trở thành một

bộ phận cùa kế hoạch phát triển

Scanned by CamScanner

Trang 19

ĐTM phải thật sự là công cụ giúp cho việc lựa chọn quyết định Như đà

đề cập, thực chát của ĐTM là cung cấp tư liộu đã được cân nhác, phán tích

một cách khoa học vé những lợi ích và tổn thât tiổm tàng vó tài nguyôn MT

để các cơ quan ra quyết định có điéu kiện lựa chụn phương án phát tricn một

cách hợp lí hơn chính xác hơn

Trong bôi cảnh hiện nay, con người đã có nhận thức cao hơn về MT

nen khi tiền hành bât kì một hoạt động phát triển nào, luật pháp các nươc đẻu

đòi hỏi phải đánh giá toàn diện về những hậu quả sẽ xảy ra cho MT từ những

hoạt động đó Kêt quả đánh giá phải được ghi nhận lại trong BC ĐTM Để

kêt luận được hoạt động đó có được phép tiến hành hay không, đòi hỏi BC

ĐTM phải được các cơ quan có thẩm quyền về MT thẩm định Quá trình thẩm

định là việc các cơ quan này phải xem xét, cân nhắc giữa lợi ích kinh tế từ

một DA phát triển với mức độ nguy hại cho MT của nó Chẳng hạn như việc

sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu có tác động tăng năng suất cây

ưồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhưng đồng thời cũng làm ô nhiễm

đất, nguồn nước và kể cả gây nguy hiểm cho sức khỏe con người khi lượng

hóa chất sử dụng vượt mức cho phép

Nếu việc lựa chọn phương án giảm thiểu là của các chủ DA và các nhà

tư vấn thì việc quyết định áp dụng phương án nào hay phải thay đổi, sử dụng

biện pháp khác thuộc thẩm quyền của người ra quyết định Do đó, việc thẩm

định cũng như việc lập BC ĐTM phải do những người có chuyên môn thực

hiện Vì thế, kết quả thẩm định luôn cho ra một quyết định trong đó lợi ích

MT, mục tiêu BVMT luôn được xem xét, cân nhắc với hiệu quả kinh tế của

hoạt động sản xuất, DA đầu tư Điều 17 và 18 Luật BVMT 1993 cho thấy kết

quả thẩm định BC ĐTM luôn có những ảnh hưởng nhất định đến hoạt động

của cơ sở sản xuất hoặc tiến trình của một DA; nêu không đảm bảo TCMT,

cơ sở sản xuất có thể bị đình chỉ hoạt động, còn DA của chủ đầu tư có thể

không được duyệt cho phép thực hiện

Scanned by CamScanner

Trang 20

- Thư ba, DTM giúp đưa PL về MT trà nên hoàn thiện và có tính thực

thi cao.

Việc tiên hành ĐTM củng như thẩm định BC ĐTM đều phải do những

nhà khoa học nhà quản lý MT hay những người có chuyên môn về MT thực

hiện Chinh những người này trong quá trình áp dụng những quy định PL sẽ

phát hiện ra những điểm còn thiếu sót, bất cập chưa được quy định Họ sẽ có

sự so sánh, dối chiêu giữa quy định PL về MT với điều kiện thực tế, khả năng

của các đối tượng cũng như xu hướng phát triển, đổi mới trong lĩnh vực

BVMT các nưđc Từ đó, tìm tòi, học hỏi ở PL các quốc gia tiến bộ, phù hợp

với điều kiện nước nhà để trao đổi, kiến nghị với cơ quan QLNN có thẩm

quyền về BVMT nhằm bổ sung, hoàn thiện những quy định PL về MT hiện

hành

Bên cạnh đó, ĐTM nhằm dự đoán, ngăn chặn trước những tác động

xâu đôi với MT của các hoạt động nên mục tiêu BVMT đã được thực hiện

ngay từ giai đoạn đầu, không để tình trạng ô nhiễm xảy ra rồi mới tiến hành

khắc phục, bảo vệ ĐTM cho phép các chủ DA, cơ sở biết được các tác hại

MT trong hoạt động của mình để tự đề xuất biện pháp giảm thiểu trên cơ sở

quy định và yêu cầu của PL, phù hợp với điều kiện, khả năng thực có của cơ

sở, DA; cơ quan có thẩm quyền không áp đặt Một khi phương án của họ được

cơ quan thẩm định châp nhận thì ý thức tự giác tuân thủ phương án đó của chủ

cơ sở, DA càng cao Và họ buộc phải thực hiện vì nếu vi phạm nghĩa vụ này;

gây ô nhiễm MT thì phải chịu trách nhiệm vật chất Quy định nghĩa vụ ĐTM

tức là nhà nước đòi hỏi các chủ thể phải quan tâm đến nghĩa vụ thực hiện các

quy định PL về ĐTM

- Riêng ở Việt Nam, ĐTM còn nhằm mục đích đánh giá ảnh hưởng đến

MT của các cơ sở đang hoạt động [26], từ đó phân loại các cơ sở đang hoạt

động, xem xét nó từ khía cạnh BVMT để giải quyết hàng loạt vân đề như có

Scanned by CamScanner

Trang 21

phâi di dời các cơ sở gây ô nhiỏm không? Có phải thay đổi công nghệ, thiết

bị của các cơ sở này đê’ giảm thiểu gây ô nhiỗm MT không? Có phải lắp đặt

hẹ thông xử lý chât thải không? Hoặc có thể bị đình chỉ hoạt động không?

Đày là mục đích của hoạt động ĐTM riêng có của PL Việt Nam Bởi vì PL

các nước không gắn việc ĐTM đôi với các cơ sở đang hoạt động mà chỉ với

các DA Tại sao lại có điều này? Đó có phải là sự tiên bộ trong các qui định

PL Việt Nam về ĐTM không? vấn đề này chúng tôi sẽ quay trở lại ưong

phần 2.1.2

ỉ 1.2.2 Ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường

Qua phân tích mục đích của ĐTM ta thây rõ ý nghĩa to lớn của nó trong

sự phát triển chung của nhân loại, thể hiện ở chỗ ĐTM là công cụ quản lý

MT quan trọng Song, nó không nhầm thủ tiêu, loại trừ, gây khó dễ cho phát

triển kinh tế - xã hội như nhiều người nghĩ mà hỗ trợ phát triển theo hương

đảm bảo hiệu quả kinh tế, BVMT Hoạt động ĐTM có ý nghĩa đặc biệt quan

trọng, điều này thể hiện ở những phương diện sau đây:

- ĐTM giúp chúng ta xem xét nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là

công nghệ xử lý chất thải và giám sát MT.

ĐTM có thể tiến hành theo nhiều phương án của hoạt động phát triển,

so sánh lợi hại của các tác động theo những phương án đó, trên cơ sỏ đó kiên

nghị việc lựa chọn một phương án phù hợp cả yêu cầu phát triển và BVMT

Chính vì thế, ĐTM góp phần loại trừ hoặc hạn chế các tác động xấu của DA

cùng như của các cơ sở sản xuâ't kinh doanh tới MT ĐTM không xem xét các

DA một cách riêng lẻ mà đạt chúng trong xu thê' phát triển chung của khu

vực, của quốc gia và rộng hơn là toàn thê giđi Khi đánh giá một DA cụ thê,

bao giờ cũng xét thêm các DA phương án thay thế nghía là xét đốn các DA

cố thể cho cùng đầu ra, nhưng có công nghộ sử dụng khác nhau hoặc đặt ô vị

trí khác Hơn nữa ỏ mỗi một khu vực luôn có châ't lượng MT "nén”, mà khi

Scanned by CamScanner

Trang 22

đật DA vào cần phải cân nhác kỹ tránh gây tác hại tích lũy ở mức độ cao cho

một khu vực

- DT\f sẽ góp phần cung cấp các tư liệu khoa học cần thiết cho việc

quỵêt định phát tnển giúp kết hợp các cóng tác BVMT trong thời gian dài.

Trước kia, khi xem xét để đưa ra các quyết định phát triển, chúng ta

thường chủ yêu dựa vào sự phân tích hợp lý, khả thi và tối ưu của các điều

kiện kinh tê - kỳ thuật, còn các yêu tô MT thường bị bỏ qua hoặc không được

COI trọng đúng mức ĐTM sẽ giúp các cơ quan xét duyệt DA đưa ra được các

quyết định đúng đắn để đảm bào cân bằng giữa phát triển và BVMT Mọi tác

động được tính đên không chỉ qua mức độ mà còn theo khả năng tích lũy, khả

nãng kéo dài theo thời gian Trong thực tế nhiều vân đề được bỏ qua trong

quá khứ đã gây tác động có hại cho hiện tại và mai sau, nhiều hoạt động gây

rủi ro lớn đã xảy ra buộc chúng ta phải cân nhắc kỹ

- ĐTXÍ giúp chữ nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt

chẽ hơn đồng thời góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ DA,

các cơ sở.

Các đóng góp của cộng đồng trước khi DA được đầu tư, hoạt động có

thể nâng cao mối liên hệ cộng đồng và đảm bảo hiệu quả đầu tư Nó góp

phần nâng cao trách nhiệm của các câp quản lý, các chủ DA đến việc BVMT

Đóng thời ĐTM liên kết được các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau,

nhằm giải quyết công việc chung là đánh giá mức độ tác động MT các DA,

giúp cho người ra quyết định chọn được DA phù hợp với mục tiêu BVMT

ĐTM củng phát huy được tính công khai cùa việc lập, thực thi DA và ý thức

của cộng đồng trong việc tham gia ĐTM nói riêng và BVMT

Bén cạnh đó, một trong những nội dung quan trọng của quá ưình ĐTM

đó là hoạt động giám sát sau DA Hoạt động này giúp cho cơ quan có thẩm

quyền xem xét ưong hoạt động của mình, cơ sở có vi phạm những gì mà họ

Scanned by CamScanner

Trang 23

d;i cam kết trong Bí’ D I M đã được xót duyột hay không Thực hiện công tác

D I M tôt có thô’ đóng góp cho sự phát triến thịnh vượng trong tương lai Thông

qua các kiên nghị của ĐTM, việc sử dụng tài nguyôn sẽ thận trọng hơn và

giảm được sự đe dọa của suy thoái MT đốn sức khỏe con người và hệ sinh

thái

Chính vì những mục đích và ý nghĩa nêu trên nên kỹ thuật ĐTM được

xcm như một trong những công cụ mang tính thủ tục quan trọng nhất ưong

lĩnh vực BVMT ĐTM thường là một yêu cầu trước khi những kế hoạch phát

triển được cơ quan QLNN có thẩm quyền thông qua Nếu cơ quan QLNN có

thẩm quyổn không chấp nhận, kế hoạch phát triển cũng sẽ bị từ chối triển

khai (49, tr 547|

1.2 Sơ LƯỢC QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIEN

CỦA HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Việc xác định thời điểm ra đời của công tác ĐTM không phải dễ dàng

Bởi vì nếu xét về tính chất công việc (một biện pháp để BVMT) thì dường

như ĐTM đã có từ rất lâu Song, nếu xét về thời gian mà công việc này được

gọi tên, được thừa nhận (như một thuật ngữ pháp lý) thì còn rất mới mẻ

Chúng tôi xin điểm lại hai mốc chính của quá trình hình thành và phát triển

của hoạt động này

1.2.1 Đánh giá tác động môi trường - một biện pháp để bảo vệ môi

trường

Để duy trì sự sống và tiếp tục phát triển của nòi giống, ngay từ thời kỳ

sơ khai, nhân loại đã biết khai thác tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho

cuộc sống hàng ngày Mặc dù vào thời gian đó chưa có ý thức một cách rõ

rệt, nhưng loài người, nhờ bản năng sinh tồn cùng đà biết bảo vệ thiên nhiên

ở một mức độ nhất định Điều này thể hiện ở các hoạt động bảo vệ rừng, sinh

Scanned by CamScanner

Trang 24

vật rừng mà phần nhiéu gán VƠI tư tưởng tốn giáo, tín ngương, Chẳng hạn

việc quy đinh các khu rưng thiông, rưng cấm; viộc tôn thơ rnột ví loai vật ítín

ngưỡng tô tcm) thực chát liì những hanh vi được ngươi xưa thực hiộn nhàm

BVMT sống cùa mình

Xả hội loài ngươi hiện đang sốrig trong thơi ky cống nghiệp, đang khai

thác và sử dụng các nguồn nãng lượng mơi, các nguốn tai nguyên thién nhién

mơi Điêu này cũng đóng nghía vơi việc con ngươi can thiệp vào thién nhién

nhiều hơn trước Để “chế ngự thiên nhiên”, con người nhiêu khi đả tạo nén

những mâu thuẫn sáu sắc giữa mục tiêu phát triển của minh với những diễn

biên mang tính quy luật của thiên nhiốn Bốn cạnh đó, xã hội cóng nghiệp

còn tạo ra sự chênh lệch rất lớn vé mức độ phát triển kinh tế giữa các nước

Trật tự bất hợp lý về kinh tế thế giới đã làm xuất hiện hai hình thức ô nhiễm

chính trên thế giới có mối quan hệ biện chứng chật chẽ với nhau Đó là “ô

nhiễm do tiêu thụ” tại các nước công nghiệp phát triển và “ô nhíẻm do đói

nghèo” tại các nước chậm phát triển

Thực tế, khuynh hướng xem xét các tương tác của các hoạt động phát

triển và những hậu quả của chúng đã được bắt đầu từ rất sớm Nước Mỹ được

nhiều người chấp nhận là cái nôi của hoạt động BVMT Vào cuối thập niên

30, Văn phòng cải tạo khai hoá của Mỹ (US Bureau of Reclamation) tiến

hành một nghiên cứu về những ảnh hưởng mở rộng đến xă hội và MT của

đập Grand Coulie trên sông Colombia thuộc tiểu bang Washington Nhưng

phải đến tận những năm 60, những thảm hoạ MT (như sự cố tràn dầu Santa

Barbara, vụ nhiễm độc thủy ngân ở vịnh Minamata của Nhật Bản do nước

thải công nghiệp, ) mới tạo nên làn sóng phản đối của những nhóm nghiên

cứu MT đối với các kỹ thuật dùng trong đánh giá DA, và cũng từ đó những

điểm yếu của những kỹ thuật này đã được tìm thấy

Những năm 50, 60 là những nãm đỉnh cao của sự phát triển công

nghiệp và khoa học kỹ thuật của Mỹ Chính trong giai đoạn này, nhận thức

Scanned by CamScanner

Trang 25

k

i

của nhàn loại VC MT đA được nâng cao Nhiổu DA phát triển quan trọng đã

được lien hành đanh giđ vẻ mặt MT Song, viộc xem xét các hậu quả về MT

cùa DA vần theo quy ninh truyẻn thông (Cost - Benefit - Analysis), lúc này

đà bộc lộ rô sự thài bai 118, tr 5|

Nhu* vày, cac hoạt động của con người đã ngày càng tác động nhiều hơn tơi thiên nhiên và MT xung quanh Tác động MT đã tạo ra những thay

dời ve chàt lượng, biên đôi sự phân bổ các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân

tô chàt lượng MT sông Những tác động đó có thể tích cực nhưng cũng có thể

tiêu cực Chính vì thè, con người cần phải xem xét để tìm ra cũng như để dự

liệu được những tác động nào là tích cực để phát huy và những tác động nào

là tiêu cực để hạn chê Điều này đã hình thành nên khái niệm ĐTM ĐTM

được hình thành như một công cụ để quy hoạch phát triển nhằm hạn chế, tiến

tơi loại bỏ các tác động tiêu cực do các DA gây nên

ở Việt Nam, vào thời điểm hình thành ĐTM, chúng ta còn phải tập trung hết sức người, sức của vào công cuộc giải phóng đất nước và sau đó là

khôi phục, xây dựng lại những gì đã bị hủy hoại trong chiến tranh Tuy nhiên,

từ đầu những năm 80, nhiều nhà khoa học Việt Nam đã tiếp cận công tác

ĐTM thông qua các hội thảo khoa học và các khoá đào tạo Chính phủ Việt

Nam cũng sớm nhận thức được vấn đề MT và ĐTM nên đã tạo điều kiện cho

các cơ quan, cá nhân tiếp cận các lĩnh vực này Sau đó, với sự đầu tư của một

số tổ chức quốc tế, nhiều khoá học về ĐTM đã được mở ra Trong thời gian

từ 1978 đến 1990, nhà nước đã đầu tư vào nhiều chương trình điều tra cơ bản

ở vùng Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh giáp biển

miền Trung, Các số liệu và kết quả thu được từ các chương trình này sẽ là

cơ sở cho công tác ĐTM về sau Cũng trong khoảng thời gian này, một Hội

ỉ I

thảo huấn luyện về ĐTM đã được Chương trình nghiên cứu khoa học câp nhà

nước về Tài nguyên và MT (Chương trình 52D) tổ chức tại Hà Nội năm 1984

Một số cán bộ của Chương trình 5 2D tham gia ĐTM trong xét duyệt luận

Scanned by CamScanner

Trang 26

chứng kỹ thuật của công trình thủy điện Trị An Tiếp đó, vào năm 1986-1991,

ủy ban Khoa học kỹ thuật nhà nước đưa ra đề tài nghiên cứu khoa học câp

nhà nước về ĐTM gổm 2 nội dung: Nghiên cứu về ĐTM của lòng hồ Hoà

Bình và Nghiên cứu về pp luận về ĐTM

Bước vào nhừng năm 1990, lĩnh vực ĐTM ở Việt Nam đã có một bước

tiên cụ the Một sô hoạt động thực tế về ĐTM đối với DA về hệ thống tưới

tiêu Quản Lộ, Phụng Hiệp ở đồng bằng sông Cửu Long do Công ty ESSA -

Canada thực hiện với sự cộng tác của chuyên viên Việt Nam và nhiều DA

công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh do Trung tâm Môi trường ở Thành

phô Hồ Chí Minh thực hiện Nhiều đề tài ĐTM mang tính chát nghiên cứu

như công trình Hòa Bình ngăn sông; công trình Trị An sau ngăn sông; DA

khai hoang lân mặn ở Uông Bí đã được tiến hành thực hiện

Sau năm 1990, nhà nước ta cho tiến hành chương trình nghiên cứu MT

mang mã số KT 02, trong đó có một đề tài trực tiếp nghiên cứu về ĐTM, đề

tài mang mã số KT 02-16 do GS Lê Thạc Cán chủ trì Trong khuôn khổ đề tài

này, một số BC ĐTM mẫu đã được lập, đáng chú ý là BC ĐTM Nhà máy

giấy Bãi Bằng ở Vĩnh Phú và ĐTM công trình thủy lợi Thạch Nham ở Quảng

Ngãi Mặc dù chưa có Luật BVMT và các điều luật về ĐTM, song nhà nước

đã yêu cầu một số DA phải có BC ĐTM, chẳng hạn như công trình thuỷ điện

Trị An, Nhà máy lọc dầu Thành Tuy Hạ Các BC ĐTM được lập khi chưa có

Luật BVMT đã thể hiện sự quan tâm của các cấp chính quyền đến công tác

này Thông qua thực hiện công việc trên, trình độ của các cán bộ khoa học

tham gia đã được nâng cao và đây cũng là tiền đề cho việc ra đời các quy

định mang tính chất pháp quy về ĐTM sau này

1.2.2 Đánh giá tác động môi trường - một thuật ngữ pháp lý

ĐTM là khái niệm pháp lý mới so với nhiều khái niệm pháp lý truyền

thống khác Tuy nhiên, khác với nhiều khái niệm pháp lý khác phải mất tđi

Scanned by CamScanner

Trang 27

hàng trăm năm mđi hoàn thiện và có sự ảnh hưởng quy mô toàn cầu thì ĐTM

chỉ mới xuât hiện vài nàm đà trở thành một định chế pháp lý phổ biến và

xuât hiện nhanh chóng trong hệ thống PL của đa số các nước trên thế giới

1.2.2.1 Dánh giá tác động môi ưường trong pháp luật các nước

Sự thừa nhận ĐTM như là một thuật ngữ pháp lý gần như cùng thời

điểm với việc thuật ngừ “môi trường” được con người nhắc đến và đặt ra

(mặc dù vân đề MT đã được con người nhận thức từ rất lâu) Điều này xuất

phát từ sự phát sinh nhu cầu hợp tác quốc tê về BVMT ở các nước công

nghiệp phát triển, vào những năm 60, 70, người dân đã quan tâm sâu sắc hơn

đên MT sống củng như những nguy cơ thảm hại có thể đến từ cuộc sống Hơn

nừa, ô nhiễm MT không còn là nguy cơ của một quốc gia mà thật sự trở thành

vân đề toàn cầu Điều này đòi hỏi các quôc gia phải có những chính sách và

PL cụ thể về BVMT

Người ta thường lấy năm 1969, năm thông qua Đạo luật chính sách môi

trường của Mỹ (The us National Environmental Policy Act - NEPA) - một

văn bản có những quy định tiến bộ nhất về pháp luật môi trường so với những

văn bản khác ồ các quốc gia [50, tr 39] - làm thời điểm ra đời của ĐTM

Trong Đạo luật này có những điều quy định, yêu cầu phải tiến hành ĐTM của

các hoạt động lớn, quan trọng, có thể gây tác động đáng kể tới MT

Trong Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ quy định hai vấn đề

chính là ra tuyên bố về chính sách MT quốc gia và thành lập HĐ chát lượng

MT Chính HĐ này đã xuất bản tài liệu quan trọng hướng dẫn về nội dung

BC ĐTM năm 1973

Điều 112 của Đạo luật chính sách môi trường đã quy định khá cụ thể

về ĐTM bao gồm 3 điểm [17, tr 8-9]:

Scanned by CamScanner

Trang 28

kinh tê kỳ - thuật, ra quyết định thực thi các DA phát triển.

- Điểm C: Chỉ ra việc cần thiết đối với việc soạn thảo BC ĐTM, xác định nội dung cần có của BC này

Như vậy, với sự ra đời của Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ;

mục tiêu, ý nghĩa, thủ tục thi hành ĐTM đã được xác định bằng VB Hệ thống

pháp lý cùng với các cơ quan quản lý, điều hành được ban hành và thành lập

đảm bảo cho việc ĐTM nhanh chóng đi vào nề nếp

Việc ra đời Đạo luật chính sách môi trường của Mỹ là điều dễ hiểu vì đây là cường quốc có nền kinh tế phát triển bậc nhất thế giới Song, đây cũng

là nơi phải đối đầu với nhiều vấn đề MT, đặc biệt là ô nhiễm MT Sự ra đời

Đạo luật này với những quy định về ĐTM sẽ góp phần giải quyết và hạn chế

các tác động bất lợi đến MT do hoạt động kinh tế xã hội gây nên

Sau Mỹ, ĐTM đã được áp dụng ở nhiều nước (Phụ lục 2) Nhóm các

lị

nước sớm thực hiện công tác này là Nhật, Singapo, Hồng Kong (1972), tiếp

đến là Canada (1973), ức (1974), Đức (1975), Pháp (1976), Philippin (1977),

Trung Quốc (1979) Như vậy, không phải chỉ các nước lớn, các nước có nền

kinh tế phát triển mà ngay cả các nước nhỏ, đang phát triển cũng đã nhận

thức được các vấn đề MT và vai trò của ĐTM trong việc giải quyết các vấn

Trang 29

I

Như vậy, chỉ trong vòng 20 năm, DTM đs được rất nhiổu nước xem xét

áp dụng Nghĩa vụ ĐTM, theo dó, cũng trỏ thành một nghĩa vụ mới trong luật

quôc tê về MT Mặc dù vộy, các quốc gia vân không nhất trí được nội dung

cụ thể của nghĩa vụ này Chính vì thế đă dãn đốn những tranh luận gay gắt

giữa các quốc gia đang phát triển với các quốc gia phát triổn Một số quốc gia

phát triển muốn trực tiếp hoặc thông qua các lổ chức quốc tố áp đật những

nghĩa vụ ĐTM cho các quốc gia đang phát triển, trôn cơ sở những tiêu chuẩn

MT của họ (là các tiêu chuẩn mà trong nhiổu trường hợp không thích hợp với

các quốc gia đang phát triển) Trong khi đó, các quốc gia đang phát triển cho

rằng, làm như vậy là can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và chủ

- Các đặc trưng lược duyệt

Ngoài các quốc gia, các tổ chức quốc tế cũng rất quan tâm đến công tác ĐTM Ta có thể kể ra những tổ chức có nhiều đóng góp cho công tác này

như:

- Ngân hàng thế giới (WB)

- Ngân hàng phát hiển châu Á (ADB)

- Cơ quan phát triển quốc tế của Mỹ (ƯSAID)

- Chương trình môi trường của Liến hợp quốc (ƯNEP)

Các ngân hàng lớn đã có nhừng hướng dẫn cụ thể đối với ĐTM các DA vay vốn của mình Tiêng nói của ngân hàng trong trường hợp này rất có hiệu

lực vì họ nắm trong tay nguồn tài chính mà các DA rất cần cho sự đầu tư của

mình.Một công việc mà các tổ chức này thực hiện rất có hiệu quả là mở các

Scanned by CamScanner

Trang 30

khoâ học về ĐTM ó nhiêu nơi trên thê giới, đặc biệt là ở các nước đang phát

tncn

1.2.2.2 Đánh ỊỊiá tác động môi trường trong pháp luật Việt Nam

Bước vào những nảm 90 của thế kỷ XX, nhiều DA của các tổ chức

quốc tè đầu tư vào Việt Nam và theo yêu cầu của các tổ chức này, các DA đó

phải được thực hiện ĐTM Đồng thời trên cả nước đã có hàng chục DA phát

triển được ĐTM dựa vào quy trình tạm thời của Việt Nam và quy trình của

các tô chức quôc tê Xuât phát từ thực tế đó, cùng với việc nhận thức được

tầm quan trọng của ĐTM trong công tác BVMT nên các quy định về ĐTM

cũng được chính thức ghi nhận trong các VB quy phạm PL

Việc biên soạn, thông qua và ban hành Luật BVMT 1993 đã mở ra một

bước ngoặt trong công tác BVMT nói chung và ĐTM nói riêng ở nước ta

Luật BVMT đã được Quôc hội khoá IX, kỳ họp thứ tư, thông qua ngày

27/12/1993 và có hiệu lực ngày 10/01/1994 Trong đó, Điều 17 và Điều 18

quy định về ưách nhiệm ĐTM của các tổ chức và cá nhân Luật BVMT 1993

phân biệt hai trường hợp:

- Thứ nhâ't, là trường hợp các cơ sở kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế,

văn hoá, xã hội, an ninh, quôc phòng đã hoạt động từ trước khi ban hành Luật

BVMT 1993 (Điều 17);

- Thứ hai, là trường hợp sau ngày Luật BVMT 1993 có hiệu lực mới

tiến hành xây dựng, cải tạo vùng sản xuất, khu dân cư, các công ưình kinh tế,

khoa học, kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quôc phòng, các DA đầu tư

của nước ngoài hoặc liên doanh với nước ngoài và các DA phát triển kinh tế

- xã hội khác (Điều 18)

Trong cả hai trường hợp nêu trên, các tổ chức, cá nhân đều phải lập BC

ĐTM Tuy nhiên, trong trường hợp thứ nhát, cơ quan QLNN về BVMT chỉ

thẩm định để có cơ sở khẳng định các tổ chức, cá nhân cần triển khai những

Scanned by CamScanner

Trang 31

biẻn pháp nhàt đinh trong việc xử lý vân dề MT; nếu trong thời hạn quy định

mà cơ sỏ xử lý không dạt yêu câu thì cơ quan QLNN về BVMT báo cáo vđi

cơ quan nhà ntíơc câp trên trực tiếp xem xét quyết định đinh chỉ hoạt động

hoặc có biện pháp xử lý khác Trong trường hợp thứ hai, cơ quan QLNN về

BVMT thẩm đinh BC ĐTM dè cung câp cơ sở cho cơ quan có thẩm quyền

khác xót duyệt DA hoặc cho phép thực hiện DA

Sau dó Chính phù đã ban hành Nghị định 175-CP ngày 18/10/1994 về

hương dẫn thi hành Luật BVMT 1993 vơi Chương 3 (từ Điều 9 đến Điều 20)

quy định cụ thể về đối tượng, nội dung, yêu cầu ĐTM, quy trình lập, thẩm

dinh BC ĐTM Từ đây, một sô các VB quy phạm PL ra đời có quy định nghĩa

vụ ĐTM

Cho đên nay, Việt Nam đã có khoảng 20 VB pháp quy khác nhau quy

định trực tiếp về vân đề ĐTM (chưa tính các VB ở cấp địa phương ban hành

và các VB có liên quan - Phụ lục 5) Các quy định này trong thời gian qua đã

lạo khung pháp lý cần thiết cho các cơ quan nhà nước về BVMT cũng như

các lồ chức, cá nhân thực thi tốt các quy định PL về MT, thực hiện xu thế hội

nhập

1.3 CÁC NGUYÊN TAC của pháp luật về đánh giá tác

ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

Mỗi một lĩnh vực PL bao giờ cũng là sự cụ thể hoá từ những quan

điểm, những tư tưởng chỉ đạo toàn bộ các chế định PL, các quy phạm PL và

được ghi nhận trong các VB PL thuộc lĩnh vực PL ấy và các VB liên quan

Nói khác đi, đó là sự cụ thể hoá từ các NT đặc thù Các NT của PL về ĐTM

xuất phát từ các NT của LMT và có tính cụ thể, đặc thù Việc lựa chọn những

NT nào là “đặc thù”, cần phải tuân thủ trong hoạt động ĐTM không phải đơn

giản vì bản thân các NT của LMT cho đến thời điểm này vẫn còn là vấn đề

tiếp tục được tranh luận về mặt khoa học

Scanned by CamScanner

Trang 32

Tổng kêt hoạt động BVMT trên toàn thố giới trong thời gian qua, đặc

biệt là từ sau nàm 1972 tđi nay người ta đã nêu lên rất nhiều NT, đều được

gọi là những NT cần phải tuân thù trong hoạt động BVMT, Thật ra, không

phàt tàl cà các kêt luận đã được đưa ra đều có thể được gọi là “NT đặc thù”,

vì phần lún chúng được đúc kết để nhằm vào nhiều mục tiêu khác nhau

Trong hoàn cảnh như vậy, LMT cũng như PL về ĐTM cần lựa chọn và xác

định những NT chính Theo chúng tôi, PL về ĐTM cần tuân thủ theo những

NT sau đây:

1.3.1 Nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong một

môi trường trong lành

MT ưong lành được hiểu là MT vật chất mà chất lượng cho phép cuộc

sống được đảm bảo an toàn về MT, hài hòa với tự nhiên Cụ thể hơn, đó là

quyền được sống trong một MT không bị ô nhiễm Dưới góc độ pháp lý thì

chất lượng MT xung quanh đạt tiêu chuẩn cho phép Quyền được sống trong

một MT trong lành là quyền tự nhiên của con người, là quyền rất quan trọng

vì nó liên quan trực tiếp đến chất lượng cuộc sống (tiêu chí đánh giá chất

lượng cuộc sống thường căn cứ vào 3 tiêu chí: căn cứ vào thu nhập bình quân

đầu người; căn cứ vào hệ thống an sinh xã hội; căn cứ vào chất lượng MT)

Việc ghi nhận quyền con người được sống trong một MT trong lành là

xu thế chung, thể hiện trước hết trong 2 Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp

quốc là Tuyên bố Stockholm về Môi trường con người và Tuyên bố Rio de

Janeiro về Môi trường và Phát triển Tuyên bố Stockholm đã đưa quyền con

người được sống trong MT trong lành thành một NT của quan hệ giữa các

quốc gia NT số 1 của Tuyên bô' Stockholm nêu rõ: “Con người có quyền cơ

bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều kiện sống, trong một MT chất

lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách

nhiệm long trọng bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm nay và mai sau” [6,

Scanned by CamScanner

Trang 33

tr 11] NT sô 1 cùa Tuyên bô Rio de Janeiro cũng khẳng định: "Con người là

trung tâm cùa những môi quan tâm về sự phát triển láu (lài Con người có

quyền được hưàng một cuộc sông hữu ích, lùnh mạnh và hài hòa với thiên

nhiên "|6, tr 31 ].

Cộng đồng quôc tê thừa nhận đây là quyền quan trọng hàng đầu, là

mục tiêu hoạt động BVMT và các quốc gia đều ghi nhận quyền này trong các

VB PL của mình Việt Nam cùng không đứng ngoài xu thê đó, nhât là với tư

cách quốc gia ký hai Tuyên bô trên, Việt Nam có trách nhiệm biến quyền

được sống trong MT trong lành thành NT pháp lý và thực tế nó đã là NT của

LMT Việt Nam Điều 50 Hiến Pháp 1992 ghi nhận một cách tổng quát: “Ở

nước CHXHCN Việt Nam, các quyền con người được tôn trọng và được quy

định trong Hiên pháp và luật".

Trong Lời nói đầu của Luật BVMT 1993 cũng đề cập đến mục đích

ban hành của Luật BVMT là

Để nâng cao hiệu lực QLNN và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ

trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc BVMT nhằm bảo vệ sức khỏe

nhân dân, bảo đảm quyền con người được sống trong MT trong lành,

phục vụ sự nghiệp phát triển lâu bền của đất nước, góp phần BVMT khu

vực và toàn cầu.

Đây không chỉ là NT mà là mục đích của LMT, tất cả những quy định

của LMT đều nhằm thể hiện NT này Các quy phạm PL về ĐTM được xây

dựng với mục đích loại trừ ngay từ đầu những hành vi ảnh hưởng đến chất

lượng MT, đảm bảo MT trong sạch cho chất lượng cuộc sống của con người

1.3.2 Nguyên tắc phòng ngừa

Phòng ngừa được coi là NT vàng của LMT và trở thành phương châm

của hoạt động BVMT chứ không đơn thuần là một NT của LMT NT này

Scanned by CamScanner

Trang 34

được thê* hiện trước hết trong Tuyên bô Rio de Janeiro NT số 15 của Tuyên

bò quy định:

Dề BVMT cức quốc gia cần úp dụng rộng rãi pp tiếp cận ngăn ngửu tuỷ theo khiỉ nứng cửa từng quốc gia, ở chỗ nào có nguy cơ tác hại

nghiêm trọng hay không thể sửa chữa được, thì không thể nêu lý do là sự

thiếu chắc chấn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp

hiĩu hiệu dè ngăn chặn sự thoái hoá MT [6, tr 34].

Có thê thây, nghĩa vụ xây dựng và thực hiện các biện pháp mang tính

phòng ngừa này xuất phát từ tính hiệu quả của phòng ngừa so với khắc phục

Thực tê chứng minh chi phí bỏ ra để phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí

để khắc phục, thậm chí có những hậu quả do MT gây ra không thể khắc phục

được mà chĩ có thể phòng ngừa mà thôi NT này được đặt ra nhằm mục đích

dự báo, tiên liệu những hậu quả sẽ xảy ra cho MT để kịp thời có những giải

pháp khắc phục Chính vì thế, yêu cầu đặt ra trong NT này là phải lường

trước những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho MT từ đó

phải thực hiện những biện pháp loại trừ (giảm thiểu rủi ro) và phải có sự

chuẩn bị về phương án, lực lượng, phương tiện để sẵn sàng ứng phó với rủi ro

khi nó xảy ra

Thể hiện NT này, Điều 29 Hiến pháp 1992 quy định: “Nghiêm cấm mọi

hành động làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại MT” Trong Luật BVMT 1993

và Luật BVMT 2005 đều xác định phòng ngừa là NT cần tuân thủ trong hoạt

động BVMT với phương châm “Hoạt động BVMT phải thường xuyên, lấy

phòng ngừa là chính, kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện

chất lượng MT” [21].

Đối với ĐTM, việc tiến hành ĐTM cho một DA nhằm đánh giá những

ảnh hưởng đến MT, đề ra các biện pháp thích hợp để hạn chế Chẳng hạn như

việc xây dựng một nhà máy sản xuất ximăng ở nơi đông dân cư, ngoài việc

gây ô nhiễm MT xung quanh, nó còn ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân

Scanned by CamScanner

Trang 35

U Vì thê, cO thố ngăn chộn hàng viộc không cho phép xây dựng nhà máy tại địa

điểm đó, hoặc buộc phâ i sử dụng công nghộ, thiết bị hiện đại trong sản xuất

Các VB hương dàn thi hành Luột BVMT 1993 cùng đã thể hiện rõ sự phòng ngừa này bi\ng việc quy định chỉ những DA, cơ sở bảo đảm TCMT,

thực hiộn đúng yêu cầu BVMT mới được phê chuẩn BC ĐTM, được phép

hoạt động chinh thức; nếu DA, cơ sở không tuân thủ những biện pháp BVMT

thì phài thiêt kê công trình kỳ thuật thực thi biện pháp BVMT, có thể phải

thay đổi còng nghệ hoặc di chuyển địa điểm mới được tiếp tục xây dựng, hoạt

động; thậm chí phải đình chĩ hoạt động hoặc không được cấp phép đầu tư nếu

có nguy cơ gây ô nhiễm MT trẩm trọng

1.3.3 Nguyên tắc kết hợp giữa phát triển kinh tế và đánh giá tác động môi trường

Đây là NT phái sinh từ NT PTBV trong LMT Phát triển là áp lực của cuộc sống, là quy luật tất yếu của tiến hóa và đang diễn ra trên hành tinh của

chúng ta từ khi nó được hình thành Nguồn gốc của mọi biến đổi về MT sống

của con người đang xảy ra hiện nay trên thế giới, cũng như ở nước ta hiện nay

là các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người Các hoạt động này

một mặt cải thiện chất lượng cuộc sống của con người (con người hiện đại có

MT sống đầy đủ về vật chất, an toàn về sinh mệnh, phong phú về văn hóa, )

mặt khác đang tạo ra hàng loạt các vấn đề khác (khan hiếm, cạn kiệt tài

nguyên, ô nhiễm, suy thoái chất lượng MT, ) Các cộng đồng người thu nhập

thấp do không đủ điều kiện phải kiếm sống bằng sự khai thác không hợp lý,

đó là ô nhiễm do nghèo đói Những cộng đồng có nền kinh tế phát triển, với

khoa học và công nghệ cao thì phá hoại MT bằng sản xuất lớn, theo chiều

sâu, tiêu dùng lãng phí, đó là ô nhiễm do thừa thài, phát triển quá mức cần

thiết

Scanned by CamScanner

Trang 36

Vì vạy, (rong (hộp kỷ 70, xo đfl có nhiổu nhà BVMT chủ trương “đình

chi phát men" hay "nbiK trưàng bứng sâ' khftng” dể chỉ tốc độ phát triển kinh

tê bàng sô không dề bAo vộ nguốn tài nguyên vốn hữu hạn của trái đất và

chặn lại xu thê suy thoííi chât lượng MT dang đi liổn với công nghiệp hoá, đô

thi hoá vA bần cùng hoá nhân dân lao động ở nhiổu nước Cũng có ý kiến đẻ

xuât "chu nghĩa hào Vf", lây bảo vệ làm mục đích không can thiệp vào thiên

nhiên, nhát là các địa bàn chưa dược khảo sát, nghiôn cứu [27, tr 43-44J

Nhưng những chủ trương như vậy không thổ thực hiện được do những người

nghèo vân phải phát triổn nền kinh tế của mình để khỏi chết đói, người giàu

phải tiêp tục phát triển đê’ giữ vững và nâng cao mức sông hiện đã đạt được

Vân đề đặt ra là phải phát triển như thế nào để con người của các thế hệ hiện

nay cũng như trong tương lai có được cuộc sống hạnh phúc về vật chất cũng

như tinh thần Chính vì thế phải PTBV

Theo HĐ Thế giới về Môi trường và Phát triển (World Commission on Environment and Development, WCED) thì “PTBV là sự phát triển đáp ứng

các nhu cẩu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai

trong việc đáp ứng các nhu cầu của họ" [3, tr 48] Còn trong Luật BVMT

2005, Điều 3 thì giải thích PTBV là “Phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế

hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các

thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế,

bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT” Cách hiểu này cũng tương đồng như cách

hiểu về PTBV hiện nay, đó là xác định PTBV thông qua 4 tiêu chí: kinh tế,

con người, môi trường và công nghệ

Từ phương diện lý luận, quan điểm PTBV, ngay từ khi mới hình thành

đã nhận được sự đồng thuận rất cao của cộng đồng quốc tế “NT PTBV, vì vậy,

là một bộ phận của luật quốc tế hiện đại không chỉ vì quy luật logic tất yếu

của nó mà còn vì sự thừa nhận chung và rộng rãi của cộng đồng quốc tế” [15,

tr 40]

Scanned by CamScanner

Trang 37

NT PTBV xuàt phai từ mối quan hệ biện chứng giữa MT và phát triển:

Muôn phat triển kinh tè thì phải BVMT (vì giữa phát triển và BVMT có

chung mục tiêu 1Ă xì con người, BVMT chính là bào vệ mục tiêu phát triển,

bào xè con người; mà phát triển thì phát triển vì con người) đổng thời muốn

BVMT thì cần phải phát triển kinh tế vì nguy cơ đe dọa MT chính là kém

phàt tTK'ii Phải bìèt kết hợp giừa hai lợi ích (lợi ích kinh tế và lợi ích MT)

nhưng phải xem xét cà 2 lợi ích một cách toàn diện và lâu dài, không xem

nhẹ lợi ích nào Không vì lý do BVMT mà cản ưở sự phát triển và ngược lại

không xì phát triển mà cho phép tàn phá MT

NT này được ghi nhận ưong Tuyên bô Stockholm, NT 11 của Tuyên bố

Stockholm nèu rõ: "Cúc chinh sách MT của tất cả các nước phải làm tốt hơn

vù thòng dnh hưởng có hại đến tiềm năng phát triển hiện tại và trong rương lai

của các nước đang phát triển và cũng không kìm hãm quá trình đạt được

nhiĩng điều kiện sống tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người’ [6, ư 14] NT 12 của

Tuyên bô Rio cũng ghi nhận vấn đề này: "Các nước nên hợp tác để phát huỵ

một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp đỡ lẫn nhau dẫn đến sự phát triển

kinh tê' và phát triển lâu bền ỏ tất cả các nước, để nhằm đúng hơn vào những

vấn đề thoái hoá MT* [6, tr 34].

Thực hiện NT này, Nhà nước ta đã đưa ra những quy định nhằm kiểm

soát về mặt MT đối với các hoạt động phát triển, sản xuất kinh doanh Điều

29 Hiến pháp 1992 quy định: 'Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quỵ định cửa nhà nước về SIÌ

dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và BVMT".

Trong Luật BVMT 1993 cũng quy định về yêu cầu nhập khẩu các máy

móc, công nghệ sàn xuất phải có sự đồng ý của cơ quan QLNN về BVMT;

quy định về nghía vụ ĐTM đôi vđi các DA phát triển, kể cả các cơ sở sản

xuất đang hoạt động Vđi quy định này, sự cần thiết của việc gắn kết các xem

xét về MT vào việc lập kế hoạch đà được khẳng định Đây là nhận thức đúng

Scanned by CamScanner

Trang 38

đắn góp phan thực hiện tôt muc tiêu PTBV ô nước ta cũng như cùa toàn thố

giđi hiên nav và trong tương lai

1.3.4 Nguyên tác (lánh giá tác động môi trường lìì hoụt động mang

tính toàn câu

Đáy là NT phái sinh từ NT coi MT là một thể thống nhất NT này xuâ't

phát từ tinh tông the và thống nhât (tính không biên giới) của MT; xuât phát

từ sư chênh lệch VC điều kiện và mức độ tác động đến MT khác nhau của các

quốc gia mà các quốc gia có trách nhiệm hợp tác để chia sẻ với nhau trong

BVMT

Bản chết thống nhất của MT thể hiện trước hết về mặt không gian (bầu

khí quyển, biển, các con sông quốc tế, ) Ví dụ 70% trận mưa axit ở Bắc Âu

là do chât thải của các nước Tây Âu gây ra; hay như các quốc gia công

nghiệp phát thải phần lớn khí nhà kính (trong đó Hoa Kì chỉ chiếm 4% dân số

thế giới nhưng thải đến 24% lượng khí nhà kính phát thải toàn cầu) làm trái

đâì nóng lên Thế thì không thể nói trái đất chỉ nóng lên ở Hoa Kì hay ở các

quốc gia công nghiệp được

Cùng có thể dễ dàng nhận thây sự ảnh hưởng trên quy mô toàn cầu về

mặt MT đối với các con sông quốc tế, chất thải của các quốc gia sẽ ảnh

hưởng đến các quốc gia khác Cụ thể hơn đối với trường hợp sông Mê Công,

các quốc gia thượng nguồn như Trung Quốc, Thái Lan theo đuổi những

chương trình xây dựng đập đầy tham vọng thì những hậu quả tiêu cực từ phía

các quốc gia ở hạ nguồn như Việt Nam, Campuchia là không tránh khỏi Do

đó, BVMT là nghĩa vụ chung cho tất cả các quốc gia ữên thế giới, trong đó

ĐTM là pp hữu hiệu để ngăn ngừa ô nhiễm MT, suy thoái MT, sự cố MT

ĐTM đã nhanh chóng phát huy hiệu quả ở các nước phát triển rồi lan dần

sang các nước đang phát triển và ngày càng có nhiều quốc gia chấp nhận

Theo các thẩm phán của Toà án quốc tế thì: “ĐTM cần một sự phát triển

Scanned by CamScanner

Trang 39

tương ừng trong tư pháp để thích ứng vđi những nhu cầu đặc thù của các nước

thuộc thè giđi thứ ba" 115, tr 421

Đên nay ĐTM đà trỏ thành nghĩa vụ quan ưọng của các quốc gia, các

tổ chức và cả cá nhàn trong nghĩa vụ không gây nguy hại cho MT số Điều

ươc quốc tê ghi nhận nghĩa vụ này ngày càng tăng lên: Công ước Abidjan

(1982) Công ước Luật biển (1982), Hiệp định ASEAN (1985), Chỉ thị 4.01

(1991) của ngân hàng thê giới, Trong đó thể hiện rõ nhát là trong Tuyên bố

Stocklholm, NT 21 Tuyên bô Stockholm nêu rõ:

Cức nước có chủ quyền khai thác nguồn tài nguyên của mình theo các chính sách về MT của nước mình và phải có trách nhiệm bảo đảm

những hoạt động đúng theo pháp quyền của nước mình hoặc theo việc

kiêm soát của nước mình sao cho không gây thiệt hại đến MT của các

nước khác hoặc các khu vực vượt quá giới hạn pháp lý quốc gia [6, tr

16-17],

NT 2 Tuyên bô' Rio cũng có nội dung tương tự

Là thành viên của các Điều ước ưên, Việt Nam đã quy định về ĐTM

trong Luật BVMT 1993 cũng như các VB dưới luật Điều 12 Nghị định 175-

CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật BVMT 1993

yêu cầu các pp ĐTM phải phù hợp với trình độ quốc tế; việc xây dựng các

tiêu chuẩn về MT được thực hiện theo NT: phù hợp với trình độ phát triển

kinh tế - xã hội của đất nước, đồng thời có xu hướng hòa nhập vơi TCMT

khu vực và thế giới để giữ gìn, bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái trái đất

và phát ưiển toàn cầu; nâng cao dần chất lượng MT cho cuộc sống ở nước ta

đồng thời có thể đảm bảo không gây thiệt hại cho những tiêu chuẩn đã thỏa

thuận với cộng đồng quốc tế, khu vực

Bên cạnh đó, các cơ quan QLNN về BVMT ngày càng chú trọng đến

công tác hợp tác quốc tê về ĐTM, đó là sự tranh thủ nguồn tài trợ của các tổ

Scanned by CamScanner

Trang 40

chức nưđc ngoài, các quốc gia khdc tổ chức nâng cao trinh độ trong lĩnh

vực D I M, góp phdn củng các nước thực hiộn mục tiêu IXFBV trốn toàn cau

1.3.5 Nguyên tác* chịu ngliĩii vụ vù trách nhiộrn vẠt chất khi vỉ phạm

nghĩu vụ điínli giá túc động môi trường

NT này phái sinh từ NT người gây ô nhiỗm phải trả tiổn của LMT

Xuât phát từ sự tác động (quy mô, phạm vi) khồng giống nhau đến MT của

các hoạt động NT này đặt ra nhàm đảm bảo cho nghĩa vụ ĐTM được thực

thi, hạn chê những tác động có hại cho MT và đảm bảo công bằng cho các

dối tượng có hoạt động gây tác động vào MT Hệ thống trách nhiệm và nghĩa

vụ vột chât được xác định trên cơ sở mức độ gây ảnh hưởng xấu đến MT

Nghĩa vụ vật chát là những nghĩa vụ mà PL quy định cho các loại chủ

thể trong các trường hợp nhất định Thực hiện nghĩa vụ này, các chủ thể đã

góp một phần tài chính để làm kinh phí cho các cơ quan QLNN về MT tiến

hành các hoạt động của mình Điều 7 Luật BVMT 1993 yêu cầu: “Các tổ

chức, cá nhân sử dụng thành phần MT vào mục đích sản xuất, kinh doanh phải

đóng góp tài chính cho việc BVMT", các đối tượng phải lập BC ĐTM phải

nộp lệ phí thẩm định BC ĐTM theo quy định của PL

Vấn đề trách nhiệm vật chất chỉ được đặt ra đối với các chủ thể có

hành vi vi phạm những quy định PL về ĐTM nói riêng và LMT nói chung

Trách nhiệm này bao gồm trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách

nhiệm hình sự, trong đó, trách nhiệm dân sự là chủ yếu Các chủ thể không

thực hiện ĐTM dẫn đến hoạt động gây ô nhiễm thì phải chịu mọi chi phí cho

các biện pháp giảm thiểu, khắc phục ô nhiễm và bồi thường những thiệt hại

thực tế gây ra cho người khác do hành vi của mình Trách nhiệm này còn thể

hiện qua việc các chủ thể phải đầu tư kinh phí cho những biện pháp giảm

thiểu đề xuất trong BC ĐTM, chi phí cho việc thay đổi công nghệ, sử dụng

các biện pháp thay thế theo yêu cầu của quyết định phê chuẩn BC ĐTM

Scanned by CamScanner

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w