Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại như: dư nợ cho thuê còn thấp so với tổng mức dư nợ tín dụng; nợ xấu có xu hướng tăng cao, đặc biệt các công ty có thâm niên hoạt động càng dà
Trang 1KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-o0o -
VÕ THỊ XUÂN THÙY
PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
CHÍNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương Mại
TP HCM - 2010
Trang 2-o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI
Trang 3BLDS Bộ luật Dân sự BCA Bộ Công an BTC Bộ Tài chính BTP Bộ Tư pháp
CP Chính phủ
NĐ Nghị định NHNN Ngân hàng Nhà nước
QĐ Quyết định TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TT Thông tư TTLT Thông tư liên tịch
Trang 4
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong khóa luận này là trung thực Các thông tin tham khảo đều được dẫn nguồn cụ thể Những kết luận khoa học trong công trình này chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả khóa luận
VÕ THỊ XUÂN THÙY
Trang 5Lời cam đoan
Mục lục
Mở đầu……… 1
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động cho thuê tài chính và nội dung quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính 1.1 Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính 4
1.1.1 Khái niệm cho thuê tài chính 4
1.1.2 Các đặc điểm của cho thuê tài chính 6
1.1.3 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính 11
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế 11
1.1.3.2 Đối với bên cho thuê 13
1.1.3.3 Đối với bên đi thuê 14
1.1.4 Các hình thức cho thuê tài chính 15
1.1.4.1 Cho thuê tài chính thông thường 15
1.1.4.2 Mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính 16
1.1.4.3 Cho thuê tài chính hợp vốn 16
1.2 Công ty cho thuê tài chính và những rủi ro thường gặp trong hoạt động cho thuê tài chính 17
1.2.1 Công ty cho thuê tài chính - Chủ thể của hoạt động cho thuê tài chính 17
1.2.1.1 Công ty cho thuê tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hang 17
1.2.1.2 Hình thức pháp lý của công ty cho thuê tài chính 19
1.2.2 Những rủi ro thường gặp trong hoạt động cho thuê tài chính 20
1.2.2.1 Rủi ro do lỗi từ phía công ty cho thuê tài chính 20
1.2.2.2 Rủi ro xuất phát từ khách hàng thuê tài chính 21
1.2.2.3 Rủi ro xuất phát từ nhà cung ứng tài sản, cơ quan giám định và
các cơ quan có thẩm quyền liên quan 22
1.2.2.4 Những rủi ro bất khả kháng khác 23
1.3 Nội dung quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính 24
1.3.1 Các quy định liên quan đến hợp đồng cho thuê tài chính 24
1.3.1.1 Hình thức của hợp đồng 24
1.3.1.2 Chủ thể của hợp đồng 25
1.3.1.3 Đối tượng của hợp đồng 26
Trang 61.3.2.1 Đăng ký tài sản cho thuê tài chính 26
1.3.2.2 Bảo hiểm tài sản cho thuê tài chính 27
1.3.2.3 Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước hạn và thu hồi tài
sản cho thuê tài chính 28
1.3.3 Các quy định khác của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động cho thuê tài chính 29
1.3.3.1 Giới hạn cho thuê tài chính 30
1.3.3.2 Các trường hợp cấm cho thuê 31
1.3.3.3 Các trường hợp hạn chế cho thuê 31
1.3.3.4 Tỷ lệ bảo đảm an toàn 32
1.3.3.5 Trích lập dự phòng rủi ro 32
Kết luận chương 1 33
Chương 2: Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính 34
2.1 Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính 34
2.1.1 Những kết quả đã đạt được 34
2.1.1.1 Về hình thức của hợp đồng cho thuê tài chính 34
2.1.1.2 Về chủ thể của hợp đồng cho thuê tài chính 35
2.1.1.3 Về bảo hiểm tài sản cho thuê tài chính 36
2.1.1.4 Trường hợp cấm cho thuê tài chính 36
2.1.1.5 Trường hợp hạn chế cho thuê tài chính 37
2.1.2 Những điểm còn hạn chế 38
2.1.2.1 Đối tượng của hợp đồng 38
2.1.2.2 Đăng ký tài sản cho thuê tài chính 39
2.1.2.3 Thu hồi tài sản cho thuê tài chính 40
2.1.2.4 Giới hạn cho thuê đối với một khách hàng 41
2.1.2.5 Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro 41
2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính 42
2.2.1 Mở rộng đối tượng cho thuê tài chính 43
2.2.2 Tăng quyền của bên thuê trong quá trình mua tài sản cho thuê tài chính 45
2.2.3 Tăng cường quyền sở hữu tài sản của công ty cho thuê tài chính 48
Trang 7Lời kết luận 51 Danh mục tài liệu tham khảo
Mục lục
Trang 8MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Một nền kinh tế sẽ phát triển mạnh mẽ khi vấn đề vốn được giải quyết Khi dòng vốn được lưu thông từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn thì cơ thể kinh tế sẽ được nuôi sống và phát triển Các ngân hàng thương mại ra đời chính là để thực hiện nhiệm vụ này Tuy nhiên khi nền kinh tế phát triển đến một mức nào đó thì nhiệm vụ điều hòa dòng vốn trong nền kinh tế cần sự chung sức của những định chế khác Như vậy sẽ đa dạng hóa các hình thức điều hòa vốn cũng như đảm bảo sự an toàn của hệ thống tín dụng Và công ty cho thuê tài chính ra đời chính là “cánh tay nối dài” của các ngân hàng trong việc cung ứng các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế Với những ưu điểm của mình như bên thuê được tài trợ 100% vốn đầu tư; giúp tiếp cận các công nghệ hiện đại, tiên tiến trên thế giới một cách nhanh nhất; thủ tục đơn giản, thuận tiện; và đặc biệt không cần phải cầm cố, thế chấp tài sản….cho thuê tài chính ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa dòng vốn “nuôi sống” nền kinh tế Đặc biệt trong tình hình hiện nay khi mà nền kinh tế nước ta đã chuẩn bị đủ thế và lực để “hòa nhập chứ không hòa tan” vào “sân chơi lớn” của nền kinh tế thế giới sau những bỡ ngỡ của giai đoạn đầu hội nhập
Ở Việt Nam, công ty cho thuê tài chính đầu tiên được thành lập vào năm 1996
và hoạt động cho thuê tài chính cũng đã manh nha ở các ngân hàng trước đó nhưng phải đến khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho áp dụng thí điểm bởi quyết định 149/QĐ-NHNN ngày 17/5/1995 và Chính Phủ ban hành quyết định 16/NĐ-CP ngày 2/5/2001 về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính thì hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam mới thực sự hình thành và ngày càng phát triển Đến nay
có trên 20 công ty cho thuê tài chính đang hoạt động, bao gồm các công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn và công ty cho thuê tài chính cổ phần Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam được thành lập năm 2007 đến nay có 9 thành viên1 Hiệp hội cho thuê tài chính Việt Nam đã cùng với các công ty cho thuê tài chính đánh giá, tổng kết hoạt động thực tiễn, đề xuất, kiến nghị với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước những vấn đề để hoàn thiện các cơ chế, tạo điều kiện cho các công ty cho thuê tài chính hoạt động tốt hơn
Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong lĩnh vực cho thuê tài chính Đó là: đã xây dựng được khung pháp lý điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính; tạo thêm kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp, các thành phần trong nền kinh tế; các công ty cho thuê tài chính đã bước đầu ổn định, hoạt động có hiệu quả và đang từng bước mở rộng thị phần Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại như: dư nợ cho thuê còn thấp so với tổng mức dư
nợ tín dụng; nợ xấu có xu hướng tăng cao, đặc biệt các công ty có thâm niên hoạt động càng dài; mạng lưới hoạt động còn hạn hẹp, phân bổ không đều giữa các vùng; sản phẩm cung cấp cho thị trường chưa đa dạng; thủ tục tài trợ còn phức tạp; vốn của công ty cho thuê tài chính còn khiêm tốn; hoạt động cho thuê tài chính chưa được quảng bá rộng rãi; chưa có hình thức phối hợp giữa các công ty cho thuê tài chính với cơ quan đăng kí sở hữu và đăng kí lưu hành tài sản, bảo đảm an toàn khi
1 Thông tin từ: http://lc.viettinbank.vn/web/home/knowledge/090615_3.html , “Lịch sử cho thuê tài chính”
Trang 9tài sản lưu hành Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng này, song nguyên nhân cơ bản và chủ yếu nhất là do môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính chưa đồng bộ và thông thoáng, đặc biệt là nội dung pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính
Như vậy, để hoạt động cho thuê tài chính phát huy hết những thế mạnh của mình, yêu cầu đầu tiên là cần phải có cơ chế pháp luật bảo đảm an toàn cho hoạt động này Có như vậy, các thành viên trong xã hội mới mạnh dạn đưa nguồn vốn nhàn rỗicủa mình vào lưu thông trong nền kinh tế thông qua công ty cho thuê tài
chính Vì vậy, tác giả chọn đề tài : “Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt
đông cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính” - để nghiên cứu và
viết khóa luận tốt nghiệp Thông qua khóa luận tác giả hi vọng sẽ góp một phần vào việc hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính Để qua đó, hoạt động cho thuê tài chính sẽ phát huy hết tất cả các thế mạnh của mình Và góp vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề vốn cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
Hiện nay việc tìm tài liệu về hoạt động cho thuê tài chính rất đơn giản Trên mạng Internet và các tạp chí có rất nhiều bài viết về vấn đề này Tuy nhiên các bài viết chỉ dừng ở mức cung cấp cho người đọc những kiến thức căn bản nhất và về một mảng nào đó của hoạt động cho thuê tài chính Đặc biệt, ở các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Tài chính thương mại,…thì nội dung các bài phân tích sẽ sâu hơn, nêu và giải quyết những vấn đề phức tạp hơn trong pháp luật cho thuê tài chính cũng như thực tiễn áp dụng chúng trên thực tế
Do đó, nếu muốn tìm hiểu toàn diện về hoạt động cho thuê tài chính thì cần phải tìm đọc các công trình nghiên cứu chuyên sâu Thời gian từ năm 1995 đến năm
1997 có bốn công trình tiêu biểu nghiên cứu về hoạt động cho thuê tài chính Bao
gồm: “ Tìm hiểu và sử dụng hệ thống tín dụng thuê mua “ - của Trần Tô Sử và Nguyễn Hải Sản, Nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 1995; “ Những giải pháp phát triển và hoàn thiện tín dụng thuê mua ở Việt Nam trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường “ - Luận án Phó Tiến sĩ Kinh tế năm 1996 của Phạm Huy Hùng; “ Vận dụng tín dụng thuê mua trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam “ - Luận án Tiến
sĩ Kinh tế năm 1996 của Nguyễn Văn Bân; “ Vận dụng tín dụng thuê mua góp phần đổi mới máy móc, thiết bị tại Việt Nam “ - Luận án Tiến sĩ Kinh tế năm 1997 của
Nguyễn Tiến Đạt Tuy nhiên, các công trình này được viết khi hoạt động cho thuê tài chính mới chỉ bắt đầu hình thành và tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam cũng đang ở giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh
tế thị trường Do vậy, những công trình này chỉ còn ý nghĩa về mặt lý luận trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay Từ năm 2003 đến nay có một số công trình nghiên cứu về hoạt động cho thuê tài chính trong môi trường nước ta hội nhập với
kinh tế thế giới Đó là: “ Một số giải pháp thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam “ - Luận án Tiến sĩ Kinh tế năm 2003 của Đoàn Thanh Hà; “ Giải pháp phát triển thị trường cho thuê tài chính ở Việt Nam trong quá trình hội nhập tài chính tiền tệ” - Luận án Tiến sĩ Kinh tế năm 2006 của Tống Thiên Phước
Trang 10Riêng ở trường Đại học Luật TP HCM, đến thời điểm hiện nay, có các khoá
luận tốt nghiệp nghiên cứu về hoạt động cho thuê tài chính Đó là, “Địa vị pháp lý của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính” - Khoá luận năm 2000, của tác giả Tô Lan Hương; “Pháp luật về tín dụng thuê mua ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” - Khoá luận năm 2000, của tác giả Lương Thị Mỹ Quỳnh; “Một số vấn
đề pháp lý về hợp đồng cho thuê tài chính - Lý luận và thực tiễn” - Khóa luận năm
2004, của tác giả Bùi Thị Hằng; “Pháp luật hợp đồng cho thuê tài chính” - Khóa luận năm 2005, của tác giả Trần Thị Niệm; “Pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính” - Khóa luận năm 2005, của tác giả Nguyễn
Quốc Hoàng Các khóa luận này đã đề cập đến những vấn đề chủ yếu và quan trọng của hoạt động cho thuê tài chính xét về mặt lý luận cũng như thực tiễn Tuy nhiên, vấn đề bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính vẫn chưa có công trình hay khóa luận nào đi sâu nghiên cứu
3 PHƯƠNG PHÁP, ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Phương pháp và mục đích nghiên cứu: Tác giả sử dụng các phương pháp
phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp,…trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng để tìm hiểu và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về nội dung pháp luật bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính cũng như khi áp dụng những quy định trên vào thực tiễn sẽ phát sinh những ưu nhược điểm - Từ đó sẽ nhận thấy những nội dung cần tiếp tục phát huy, những thành tựu đã đạt được và cả những bất cập còn tồn tại, nguyên nhân, hậu quả của nó Qua đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty cho
thuê tài chính
Đối tượng nghiên cứu: Là những quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước về cho thuê tài chính, các quan
hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ cho thuê tài chính Và tình hình
áp dụng các quy định pháp luật vào thực tế để từ đó tìm ra các ưu, nhược điểm của pháp luật cũng như các giải pháp để nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính
4 KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN:
Khóa luận gồm các phần sau:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: gồm 2 chương:
+ Chương 1: Lý luận chung về hoạt động cho thuê tài chính và nội dung quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính
+ Chương 2: Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính
- Phần kết luận
- Phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ NỘI DUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI
CHÍNH
1.1 Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính:
1.1.1 Khái niệm cho thuê tài chính:
Ngày nay, trên thế giới, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng phát triển và thể hiện vai trò quan trọng của mình Tại Mỹ, ngành cho thuê tài chính chiếm khoảng 25%-30% tổng số tiền tài trợ cho các giao dịch mua bán thiết bị hằng năm của các doanh nghiệp Doanh thu từ hoạt động cho thuê tài chính trung bình hằng năm ở Hàn Quốc là 17 tỷ đô la Mỹ, ở Thái Lan là 3 tỷ đô la Mỹ…Tổng doanh thu hằng năm của ngành này ước đạt trên 500 tỷ đô la Mỹ với đà tăng trưởng trung bình 7% hằng năm2 Như vậy, nhu cầu thuê trang thiết bị, máy móc để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng là nhu cầu có thật của xã hội Đi thuê có thể vì không có khả năng mua hay cũng có thể vì họ chỉ có nhu cầu sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định Hoạt động cho thuê tài chính ra đời đã đáp ứng được nhu cầu này Không những thế với những ưu điểm, thế mạnh của mình, cho thuê tài chính không chỉ đóng vai trò là một hoạt động cho thuê tài sản thông thường mà còn được xem là một kênh dẫn vốn tín dụng trung và dài hạn cho các doanh nghiệp Xét dưới góc độ kinh tế, cho thuê tài chính là hình thức cho thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó, người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng Người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê Thông thường một hoạt động cho thuê tài chính được tiến hành qua các bước như sau: người đi thuê lựa chọn tài sản và thương lượng giá cả với bên cung ứng sản phẩm, sau đó sẽ thương lượng với công ty cho thuê tài chính Công ty cho thuê với tư cách người cho thuê sẽ mua tài sản và chuyển thẳng tài sản đến bên thuê
Người đi thuê trong tình huống này giống như đi vay một khoản nợ và ngược lại người cho thuê là người cho vay với tư cách là một chủ nợ có đảm bảo (tài sản bảo đảm chính là tài sản cho thuê, nếu bên thuê không thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình thì bên cho thuê có quyền thu hồi và xử lý tài sản) Vì vậy, cho thuê tài chính còn được gọi là thuê vốn, là một phương pháp tài trợ vốn Khi một hợp đồng cho thuê tài chính được ký kết, người thuê lập tức có được một luồng tiền vào thể hiện dưới dạng tài sản, do người thuê – không phải bỏ tiền ra mua Bên thuê phải thanh toán tiền thuê định kỳ cho đến khi hết hạn hợp đồng, khoản tiền thuê này bao gồm vốn gốc và lãi của khoản tín dụng mà bên công ty cho thuê tài chính đã cấp
2 Thông tin từ: http://www.sangtaotre.com/tintucDetail.asp?catID=11&newsID=31 , ”Tìm vốn qua cho thuê
tài chính”
Trang 12Nguyên tắc hoàn trả của tín dụng luôn luôn được bảo đảm Việc quay trở về điểm xuất phát của tín dụng không phải như lúc đầu nhượng đi mà là một giá trị lớn hơn – đó gọi là tiền lãi mà người cho vay được hưởng
Như vậy, về bản chất, hoạt động cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê là công ty cho thuê tài chính với bên thuê, thường là các doanh nghiệp Và theo Luật Các tổ chức tín dụng 2004
thì: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”3
Tuy nhiên, do hình thức đối tượng chuyển giao của việc cấp tín dụng trong
hoạt động cho thuê tài chính là “máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác”4
nên cho thuê tài chính có nhiều điểm khác biệt so với các hoạt động cấp tín dụng khác Như: bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê
và có sự chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuê cũng như mọi rủi ro liên quan tài sản thuê từ bên cho thuê sang bên thuê trong một khoảng thời gian nhất định; bên thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê cho bên cho thuê; thời hạn thuê phải chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cho thuê; tổng số tiền thuê tối thiểu phải tương đương với giá thị trường của tài sản tại thời điểm thuê; khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc được thuê tiếp theo sự thỏa thuận của hai bên; trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy hợp đồng Và hoạt động cho thuê tài chính còn khác với các hình thức cấp tín dụng khác ở thời gian cấp tín dụng Theo đó, cho thuê tài chính là hình thức tín dụng trung và dài hạn
Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về cho thuê tài chính tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia và các điều ước quốc tế mà các quốc gia đó ký kết
Theo Hiệp hội các công ty tài chính Thụy Điển (Association of Finance
Companies, Sweden) thì “cho thuê tài chính có nghĩa là: Bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê, tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê, quyền sử dụng được chuyển giao cho bên thuê suốt thời hạn thuê, thường bằng thời gian hữu ích của tài sản, và hợp đồng cho thuê tài chính không được huỷ ngang” 5
Khái niệm cho thuê tài chính này đã không đề cập đến khả năng chuyển quyền sở hữu tài sản từ bên cho thuê sang bên thuê khi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính Còn theo định nghĩa của Uỷ ban về chuẩn mực kế toán quốc tế trong “Chuẩn
mực kế toán số 17, sửa đổi năm 1997” (IAS 17), “ cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng chuyển dịch về căn bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản Quyền sở hữu đó có thể được chuyển giao hoặc không được chuyển giao” Đồng thời chuẩn mực này cũng đưa ra 4 tiêu chuẩn: quyền sở hữu
được chuyển giao khi thời hạn thuê chấm dứt; hợp đồng thuê quy định quyền chọn mua theo giá tượng trưng; thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản; giá trị hiện tại của các khoản tiền thuê tối thiểu lớn hơn hay tương đương với giá trị của tài sản Nếu một giao dịch thuê tài sản có một trong 4 tiêu chuẩn này thì
đó là giao dịch cho thuê tài chính; ngược lại là cho thuê vận hành
3
Khoản 10 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 2004
4 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
5
Phạm Hùng, “Những giải pháp phát triển và hoàn thiện tín dụng thuê mua ở Việt Nam trong quá
trình chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Luận án Phó TiếnSĩ khoa học kinh tế
Trang 13Dựa vào các tiêu chuẩn phân loại theo IAS 17, các quốc gia đã đưa ra khái niệm cho thuê tài chính phù hợp với điều kiện của mỗi nước Ví dụ như theo Hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính của Hoa Kỳ thì một giao dịch cho thuê tài chính phải thoả mãn ít nhất 1 trong 4 tiêu chuẩn sau: Quyền sở hữu tài sản cho thuê được chuyển giao cho bên thuê khi hợp đồng chấm dứt, Bên thuê được quyền lựa chọn mua tài sản với giá tượng trưng ở một thời điểm nào đó hoặc khi hợp đồng chấm dứt, Thời hạn thuê phải lớn hơn hoặc bằng 75% thời gian hữu ích của tài sản, Hiện giá các khoản tiền thuê tối thiểu là 90% hoặc lớn hơn so với giá trị của tài sản cho thuê
Ở Việt Nam, khái niệm cho thuê tài chính được quy định trong Luật Các tổ
chức tín dụng 2004: “cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính giữa bên cho thuê là tổ chức tín dụng với khách hàng thuê”6 Ta thấy khái niệm này chưa nêu bật được những dấu hiệu cơ bản cũng như các đặc điểm nhận biết của hoạt động cho thuê tài chính Sau đó,
Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
và Nghị định 65/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ra đời đã cụ thể hóa quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2004:
”Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thoả thuận của hai bên; bên thuê được quyền
ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại; thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê; tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng” 7
Khái niệm trên về cơ bản đã tương thích với quy định của pháp luật các nước trên thế giới và trong các điều ước quốc tế phổ biến, được nhiều quốc gia chấp thuận Khái niệm cũng đã nêu bật được những đặc trưng của hoạt động cho thuê tài chính để nhằm phân biệt với các hoạt động cấp tín dụng khác
1.1.2 Các đặc điểm của cho thuê tài chính:
Về bản chất, cho thuê tài chính là hoạt động cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn Tuy nhiên, không giống như ngân hàng, việc tài trợ vốn của cho thuê tài chính lại thông qua tài sản (máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác) Chính vì vậy, trong đặc điểm của cho thuê tài chính, vừa có những đặc điểm của cho thuê tài sản, vừa có đặc điểm của hoạt động tín dụng
Trang 14Thứ nhất, về hợp đồng cho thuê tài chính
Cơ sở pháp lý để thiết lập quan hệ cho thuê tài chính là Hợp đồng cho thuê tài chính được ký kết giữa các bên Hợp đồng cho thuê tài chính là thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và động sản khác theo những quy định của pháp luật, phù hợp quyền và nghĩa vụ của các bên8 Khi đàm phán, giao kết hợp đồng hai bên hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận các nội dung chứa đựng trong hợp đồng Tuy nhiên,
để đảm bảo tính an toàn cho hoạt động cho thuê tài chính, pháp luật quy định một hợp đồng cho thuê tài chính phải có các nội dung chủ yếu: Tên, địa chỉ của công ty cho thuê tài chính và bên thuê; điều kiện cho thuê; tên, chủng loại và chất lượng của tài sản cho thuê; mục đích sử dụng tài sản thuê; tiền gốc và lãi suất thuê tài chính, các chi phí khác; thời điểm nhận nợ và thời hạn cho thuê tài chính; kỳ hạn và thời hạn trả nợ tiền thuê tài chính; quyền và nghĩa vụ của các bên, xử lý trường hợp hợp đồng cho thuê chấm dứt trước hạn9 Trong khi đối với hợp đồng cho thuê tài sản bình thường, pháp luật không hề quy định cụ thể các nội dung cần phải có trong hợp đồng Pháp luật chỉ liệt kê các nội dung các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài sản giống như các hợp đồng dân sự khác10 Trong hợp đồng cho thuê tài sản các bên tự do thể hiện ý chí của mình trong phạm vi pháp luật không cấm, còn trong hợp đồng cho thuê tài chính thì các bên phải chịu những ràng buộc nhất định
Thứ hai, chủ thể tham gia quan hệ cho thuê tài chính
Chủ thể tham gia vào quan hệ cho thuê tài chính là công ty cho thuê tài chính
và khách hàng thuê Theo đó, bên thuê là tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình11 Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thể trở thành khách hàng thuê trong cho thuê tài chính nếu đáp ứng các điều kiện tại thông tư 06/2005/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định
16/2001/NĐ-CP: „phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự; có
dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu tư phục vụ đời sống khả thi, hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật và sử dụng tài sản thuê để thực hiện dự án đó; có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán tiền thuê trong thời hạn thuê đã cam kết”12
Một trong những ưu điểm của cho thuê tài chính là bên cho thuê được cấp tín dụng mà không cần có tài sản đảm bảo cho khoản tín dụng đó (bởi quyền sở hữu tài sản thuê do bên thuê nắm giữ) Vậy nên đây là hình thức tài trợ vốn rất phù hợp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hơn nữa, khi tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại gặp rất nhiều vướng mắc Do: vốn kinh doanh của doanh nghiệp ít dẫn đến vốn tự có tham gia vào dự án quá nhỏ, từ đó dẫn đến rủi ro
8 Khoản 1 Điều 17 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
9 Điểm 10.2 Mục 1 Thông tư 05/2006/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cho thuê tài chính
và dịch vụ ủy thác cho thuê tài chính theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP
10 Xem Điều 402 Bộ luật Dân sự 2005
11 Khoàn 2 Điều 7 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
12 Điểm 2.2 Mục 1 Thông tư 05/2006/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cho thuê tài chính
và dịch vụ ủy thác cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định
65/2005/NĐ-CP
Trang 15cao cho ngân hàng khi đầu tư, cấp vốn; báo cáo tài chính thường không được kiểm toán hằng năm, do đó không đủ độ tin cậy để ngân hàng đồng ý tài trợ tín dụng; tài sản bảo đảm quá ít, không đủ để thế chấp hoặc thuyết phục ngân hàng cho vay vốn;
sự yếu kém của doanh nghiệp trong việc lập dự án để vay vốn, đặc biệt ở khâu thuyết trình dự án để ngân hàng thẩm định năng lực doanh nghiệp Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay xu hướng phát triển của các ngân hàng là cơ cấu thu nhập sẽ tập trung vào các hoạt động dịch vụ và đầu tư Như năm 2009, trong cơ cấu thu nhập của Sacombank, nguồn thu từ tín dụng chỉ chiếm 25,5% doanh thu; tại Ngân hàng Á Châu thì lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm 20%13 Từ các lý do trên mà việc vay vốn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các ngân hàng là rất khó khăn
Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn lại không mấy mặn mà với hoạt động cho thuê tài chính vì: các doanh nghiệp này có đủ điều kiện để tiếp cận nguồn vốn tín dụng của ngân hàng Lãi suất khi vay vốn ở ngân hàng thấp hơn so với cho thuê tài chính Các ưu đãi mà ngân hàng dành cho khách hàng cũng nhiều hơn Đặc biệt, các sản phẩm của ngân hàng rất đa dạng, đáp ứng các yêu cầu khác nhau của khách hàng Hơn nữa, do nguồn vốn của công ty cho thuê tài chính ít nên việc tài trợ cho những dự án lớn, dài hơi là gần như không thể Hoạt động quảng bá, giới thiệu hoạt động cho thuê tài chính đến các doanh nghiệp còn yếu, chưa đạt hiệu quả
Vì vậy, khách hàng của cho thuê tài chính thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu vay vốn để tạo tài sản cố định phục vụ sản xuất kinh doanh nhưng không có điều kiện để vay vốn tại các ngân hàng Trong khi đó, khách hàng thuê của cho thuê tài sản có thể là bất kỳ cá nhân, tổ chức nào chỉ cần đáp ứng đủ các điều kiện nhằm đảm bảo hiệu lực của hợp đồng cho thuê tài sản14 Như: “người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích, nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, hình thức của giao dịch phù hợp (nếu pháp luật quy định)”15 Hơn nữa, khi tham gia giao dịch cho thuê tài sản thì khách hàng thuê có thể sử dụng tài sản thuê vào mục đích sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng Cho thuê tài chính thì không được dùng tài sản thuê vào mục đích tiêu dùng Quy định này cũng đã tạo nhiều hạn chế cho hoạt động cho thuê tài chính
Thứ ba, đối tượng của hoạt động cho thuê tài chính là tài sản
Xét dưới hình thức cấp vốn, cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài sản giữa bên cho thuê với khách hàng thuê Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả16 Tuy nhiên, khác với các hình thức cấp tín dụng khác, khi đối tượng chuyển giao là tiền tệ thì hình thức chuyển giao tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính là tài sản Công ty cho thuê tài chính thông qua việc cho thuê tài sản đã cấp cho bên đi thuê một khoản tín dụng dưới hình thức thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển hay các động sản khác Còn đối tượng của cho thuê tài sản có thể là động sản hoặc bất động sản, pháp luật không giới hạn
13
Thông tin từ:
http://www.baomoi.com/Info/Cap-nhat-KQKD-nam-2009-cua-cac-Ngan-hang/126/3763834.epi
,“Cập nhật kết quả kinh doanh năm 2009 của các ngân hàng”
14 Điều 410 Bộ luật dân sự 2005
15
Điều 122 Bộ luật dân sự 2005
16 Khoản 10 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 2004
Trang 16Và mặc dù, đối tượng của cho thuê tài chính cũng là tài sản như hoạt động cho thuê tài sản nhưng nếu đi sâu vào ta sẽ thấy có nhiều điểm khác biệt Đầu tiên, như
đã phân tích ở trên, trong hoạt động cho thuê tài chính, khách hàng thuê sẽ chủ động liên lạc, giao dịch với bên cung ứng sản phẩm để tìm hiểu, lựa chọn tài sản thuê Sau đó, sẽ thương lượng với công ty cho thuê tài chính về việc cho thuê tài sản Nếu hai bên đạt được sự thỏa thuận thì hợp đồng sẽ được ký kết, quan hệ cho thuê tài chính sẽ được thiết lập Bên cho thuê sẽ mua tài sản và chuyển giao cho bên thuê Như vậy, sau khi quan hệ cho thuê tài chính được thiết lập thì công ty cho thuê tài chính mới sở hữu tài sản thuê thông qua việc mua tài sản từ phía nhà cung ứng Khác với cho thuê tài sản, bên cho thuê sở hữu tài sản ngay từ đầu trước khi quan
hệ thuê được xác lập
Cho thuê tài chính còn khác về căn bản so với các loại cho thuê tài sản khác là
có sự chuyển dịch về cơ bản các rủi ro và các lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài
sản thuê “Cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng chuyển dịch về căn bản tất cả những rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản” 17 Lợi ích được đề cập ở trên là lợi nhuận có được từ khả năng hoạt động của tài sản thuê trong suốt quá trình thuê Rủi ro là khả năng hao mòn vô hình do máy móc để không, do lạc hậu kỹ thuật hoặc do những hệ quả của các biến động về điều kiện kinh tế trong thời gian thuê Nếu pháp luật không quy định như vậy, thì khả năng bên thuê không thực hiện nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn tài sản là rất dễ xảy ra
“Khác với các hình thức cho thuê tài sản thông thường theo quy định của pháp luật dân sự, trong hoạt động cho thuê tài chính, bên thuê chỉ giữ quyền sở hữu
“danh nghĩa” đối với tài sản cho thuê (quyền này cho phép công ty cho thuê tài chính có thể thu hồi tài sản cho thuê nếu bên thuê vi phạm hợp đồng), còn những quyền năng cụ thể đối với tài sản cho thuê được chuyển giao hầu như hoàn toàn cho bên thuê“ 18
Bên thuê có toàn quyền sử dụng tài sản thuê trong suốt thời gian
thuê theo đúng mục đích nêu trong hợp đồng và hưởng dụng những lợi ích mà tài sản mang lại Quyền chiếm hữu và quyền định đoạt, bên thuê cũng nắm giữ trong một giới hạn mà hai bên đã thỏa thuận Ví dụ như nếu hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng thì bên thuê được quyền cho thuê lại tài sản cho thuê, bên thuê cũng có quyền quyết định sử dụng, khai thác lợi ích từ sản phẩm thuê… Điểm mấu chốt là bên thuê trả đủ cả tiền gốc và lãi cho bên cho thuê khi đến hạn thanh toán Ở cho thuê tài sản thông thường, rủi ro cho tài sản trong thời gian thuê vẫn do bên cho thuê gánh chịu Và tài sản sau khi thuê vẫn thuộc sở hữu bên cho thuê nên việc sử dụng tài sản trong thời gian cho thuê sẽ ảnh hưởng đến giá trị còn lại của tài sản và bên cho thuê phải gánh chịu
Thứ tư, về thời hạn cho thuê tài chính
Thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian sử dụng hữu ích của tài sản Thời gian
sử dụng hữu ích là thời gian mà tài sản phát huy được tác dụng cho sản xuất, kinh doanh và được tính bằng: thời gian mà doanh nghiệp dự tính sử dụng tài sản; hoặc
số lượng tài sản, hoặc các đơn vị tương tự mà doanh nghiệp dự tính thu được từ việc
17 Chuẩn mực kế toán số 17, sửa đổi năm 1997 (IAS 17)
18 Thông tin từ:
http://phapluatvn.wordpress.com/2010/04/02/pháp-luật-về-cho-thuê-tài-chính-một-số-vấn-đề-cần-hoàn-thiện , Th.s Trần Vũ Hải-Khoa Pháp luật Kinh tế-ĐH Luật Hà Nội, “Pháp luật về cho thuê tài
chính-Một số vấn đề cần hoàn thiện”
Trang 17sử dụng tài sản19 Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là vì: đối tượng đi thuê tài chính phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang thiếu vốn, và không có khả năng vay vốn ngân hàng nên thời gian thuê phải tương đối dài thì mục đích của bên đi thuê mới đạt được Nếu thời gian cho thuê ngắn thì thời gian để bên cho thuê khai thác tài sản không đủ, chi phí mà bên đi thuê phải bỏ ra cũng rất lớn
Trong hoạt động cho thuê tài sản, thời hạn thuê do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận thì được xác định theo mục đích thuê, nếu không thể xác định dựa vào 2 tiêu chí trên thì hợp đồng hết thời hạn khi bên thuê đạt được mục đích thuê20
Và ở đây thời gian này không phụ thuộc vào thời gian khấu hao tài sản Bởi vì sau khi thuê tài sản sẽ được chuyển giao trở lại cho bên cho thuê, cái mà bên thuê hướng đến chính là mục đích thuê đã đạt được hay không
Thứ năm, về tiền thuê
Tổng số tiền thuê tối thiểu phải tương đương với giá thị trường của tài sản tại thời điểm thuê Khoản tiền thuê mà bên đi thuê trả cho bên cho thuê bao gồm: giá mua tài sản, chi phí hợp lí và lãi cho thuê Bên cho thuê là chủ sở hữu tài sản cho thuê nên phải tiến hành các thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, đăng ký tài sản giao dịch bảo đảm…điều này sẽ phát sinh nhiều loại chi phí Cũng chính vì lí do này mà cho thuê tài chính không thể là tài trợ vốn ngắn hạn Khi đó chi phí quản lí rất cao và người đi thuê sẽ khó chấp nhận Ngoài ra, bên cho thuê cũng phải gánh chịu những rủi ro Để bù đắp rủi ro này, người cho thuê phải tính các chi phí thiệt hại vào chi phí thuê
Tiền thuê trong giao dịch cho thuê tài sản thì do các bên thỏa thuận Riêng trường hợp Nhà nước có quy định khung giá cho thuê để thực hiện chức năng quản
lý thì các bên phải tuân thủ21 Như khi các bên cho thuê đất hay cho thuê văn phòng thì giá cho thuê phải tuân theo khung giá mà Chính phủ đã ban hành và khung giá của chính quyền địa phương công bố (nếu có)
Thứ sáu, nguyên tắc không hủy ngang của hợp đồng cho thuê tài chính
Trong thời hạn thuê, các bên không được đơn phương hủy hợp đồng Quy định này là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của cả bên cho thuê lẫn bên đi thuê Doanh nghiệp đi thuê tài chính phần lớn là do họ không có vốn để mua sắm trang thiết bị, máy móc… phục vụ cho sản xuất, kinh doanh Vì vậy, nếu bên công ty cho thuê tài chính hủy ngang hợp đồng thì khả năng toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp sẽ bị ngưng trệ rất dễ xảy ra Thậm chí, có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp Ngược lại, khi bên đi thuê hủy ngang hợp đồng thì công ty cho thuê tài chính sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý tài sản là đối tượng của hợp đồng Nếu tài sản đó có tính chuyên dụng cao thì việc tìm đối tác mới gần như là không thể Và như vậy, vốn của công
ty cho thuê tài chính sẽ bị “đóng băng” Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi mà vốn hoạt động đối với các công ty cho thuê tài chính là cả một vấn đề lớn
Tuy nhiên trong một số trường hợp ngoại lệ được quy định tại Điều 27 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính thì các bên có quyền chấm dứt hợp đồng trước thời hạn Quy định này sẽ tạo cơ chế nhằm bảo vệ triệt để các bên khi tham gia vào giao dịch
19 Mục 05, Chuẩn mực kế toán số 03
20
Điều 482 Bộ luật dân sự 2005
21 Điều 481 Bộ luật dân sự 2005
Trang 18Trong khi đó, hợp đồng cho thuê tài sản thì có thể bị hủy ngang khi: theo thỏa thuận của các bên về việc chấm dứt trước thời hạn, hợp đồng bị hủy bỏ hoặc bị đơn phương chấm dứt thực hiện22 Xuất phát từ việc quyền, lợi ích của các bên không bị ảnh hưởng nhiều khi hợp đồng cho thuê chấm dứt trước thời hạn Bên thuê có thể đi thuê tài sản khác, bên cho thuê thì có thể nhận lại tài sản của mình để tiếp tục cho thuê
Thứ bảy, về xử lý tài sản thuê sau khi kết thúc thời hạn cho thuê
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Bên thuê trong thời gian đầu cần tài sản nhưng không đủ vốn nên đi thuê tài chính Công ty cho thuê tài chính mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và cho bên thuê thuê, sau đó sẽ bán lại cho bên thuê khi hết hạn hợp đồng với giá danh nghĩa Thực chất là hoạt động cho thuê tài chính tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không
có vốn có được tài sản để đưa vào sản xuất, kinh doanh và có thời gian khai thác những lợi ích từ tài sản thuê để trả tiền thuê và cuối cùng là mua được tài sản đó Trong hợp đồng cho thuê tài sản thì khi hợp đồng cho thuê chấm dứt, bên thuê
có nghĩa vụ trả lại tài sản thuê cho bên cho thuê Nếu bên thuê muốn mua tài sản đó thì thỏa thuận với bên cho thuê Và lúc này hai bên sẽ đàm phán, thực hiện một hợp đồng mới - hợp đồng mua bán tài sản, hoàn toàn không liên quan đến hợp đồng cho thuê tài sản đã kết thúc
Các đặc điểm trên đã tạo nên sự khác biệt của hoạt động cho thuê tài chính so với các hình thức cho thuê tài sản hay cấp tín dụng Từ đó, sẽ giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của hoạt động này
1.1.3 Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính:
1.1.3.1 Đối với nền kinh tế:
Trong bất cứ xã hội nào, ở một nền kinh tế nào mà có phương thức để người đang cần vốn và người có nguồn vốn nhàn rỗi (tạm thời) gặp nhau thì xã hội đó, nền kinh tế đó sẽ phát triển Lúc đó “mạch máu vốn” trong “cơ thể kinh tế” sẽ lưu thông
từ nơi thừa đến nơi thiếu Bản chất của hoạt động cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, thị trường cho thuê tài chính cũng là một bộ phận của thị trường vốn, thị trường này diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chính trung dài hạn theo những phương thức giao dịch nhất định23
Hoạt động cho thuê tài chính đã góp phần huy động các nguồn vốn nhàn rỗi
“nằm yên ở két sắt” hoặc tích trữ dưới các dạng tài sản khác để giải quyết nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp có tiềm năng nhưng lại hạn chế về vốn Đây là một giải pháp để nền kinh tế tăng trưởng vì khi được đáp ứng vốn, các doanh nghiệp sẽ phát huy được năng lực của mình Khi cộng đồng doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất hơn cho xã hội, mức thu nhập của người lao động được cải thiện, tiền thuế mà doanh nghiệp nộp vào ngân sách nhiều hơn… Ngoài ra, thông qua các công ty cho thuê tài chính có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các công ty
22 Khoản 2, Khoản 3 Điều 491 Bộ luật dân sự 2005
23
Thông tin từ: http:///www.saga.vn/view.aspx?id=13878, “Cho thuê tài chính-Liệu có phải là một giải pháp
trong lúc khó khăn đối với các doanh nghiệp”
Trang 19cho thuê tài chính trong nước liên kết, hợp tác với các tổ chức nước ngoài, cho thuê tài chính đã tạo ra một kênh dẫn vốn từ bên ngoài vào cho nền kinh tế Như chiến lược mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác nước ngoài của Sacombank-SBL với công ty cho thuê tài chính quốc tế (IFC), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)…Và kết quả là ADB đồng ý hỗ trợ 5 triệu USD tài trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam, IFC tài trợ các dự án đầu tư sử dụng thiết bị, công nghệ sản xuất sạch và tiết kiệm năng lượng trong năm 200824
Cho thuê tài chính gắn chặt với việc đổi mới trang thiết bị, máy móc, công nghệ…Khách hàng chủ yếu của các công ty cho thuê tài chính thường là các doanh nghiệp có quy mô kinh doanh nhỏ, nguồn vốn ít Do vậy, khi có nhu cầu đổi mới, thay thế dây chuyền trang thiết bị để nâng cao năng lực sản xuất, tăng chất lượng sản phẩm thì các doanh nghiệp này phải huy động, tìm kiếm các nguồn vốn từ bên ngoài Việc tìm kiếm các nhà tài trợ tài trợ cho doanh nghiệp trong tình huống này hay các doanh nghiệp tự huy động nguồn vốn thông qua việc phát hành giấy tờ có giá như cổ phiếu…là rất khó xảy ra Vì đây là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên thế và lực chưa đủ để huy động vốn thông qua các hình thức trên Việc vay vốn của các ngân hàng cũng tương tự Do vậy, đi thuê tài sản từ công ty cho thuê tài chính được xem là giải pháp tối ưu, bên cho thuê sẽ dùng lợi nhuận có được từ việc khai thác,
sử dụng tài sản trong thời gian thuê để trang trải tiền thuê và tiền mua lại tài sản Từ điểm khởi đầu, doanh nghiệp đi thuê không có cả vốn cả tài sản đến khi kết thúc hợp đồng doanh nghiệp có thể có cả tài sản (nếu doanh nghiệp mua) và cả lợi nhuận (nếu doanh nghiệp sử dụng tài sản hiệu quả) Đây thực sự là một giải pháp cho các doanh nghiệp có tiềm năng có thể phát huy tối đa những thế mạnh của mình
Xét ở khía cạnh vĩ mô, thông qua việc thay thế trang thiết bị của các doanh nghiệp, các quốc gia sẽ đổi mới, bắt kịp các công nghệ hiện đại, tiên tiến trên thế giới, đặc biệt khi cả thế giới đang ở trong giai đoạn chạy đua công nghệ như hiện nay Đối với các quốc gia đang phát triển thì đây thực sự là một giải pháp tốt để thay thế các công nghệ lỗi thời và bắt kịp với tốc độ phát triển công nghệ đang diễn
ra trên thế giới Riêng các nước có trình độ kỹ thuật cao thì đây sẽ là con đường cập nhật, ứng dụng thường xuyên và nhanh nhất các công nghệ mới, hiện đại
Bên cạnh đó, sự ra đời của hoạt động cho thuê tài chính cũng đã tạo ra sự cạnh tranh giữa các nguồn tài chính Và một khi có cạnh tranh tất yếu sẽ có phát triển Mặc dù các hình thức này không thay thế cho nhau, mỗi hình thức có một đặc trưng riêng, chúng sẽ bổ sung cho nhau, làm đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng Tuy nhiên, một khi khách hàng có nhiều lựa chọn thì việc phát huy hết những khả năng
có thể của mình là giải pháp bắt buộc nếu các ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung muốn phát triển Thông qua đó, sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng, đảm bảo các nguồn tài chính được sử dụng tốt nhất
Tuy nhiên, khi áp dụng phương thức này các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển cần hết sức cẩn trọng nếu không muốn nước mình biến thành “bãi rác công nghiệp” của các nước phát triển Vấn đề môi trường hiện nay là vấn đề nóng bỏng, kinh phí bỏ ra để phục hồi là rất lớn, và gần như không thể đưa về tình trạng nguyên vẹn như ban đầu Bên cạnh đó, những hậu quả xảy ra do máy móc,
24
Thông tin từ: http://sblmachine.vn/tabID/3529/default.aspx?ArticleID=910&CategoryID=106
“Một năm hoạt động sôi nổi của Sacombank-SBL”
Trang 20trang thiết bị…hư hỏng, không đảm bảo an toàn là không lường trước được Vì vậy, chúng ta cần có những định hướng phát triển hoạt động cho thuê tài chính đúng đắn, đồng bộ, toàn diện với một hàng lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng; nguồn thông tin chính xác và sự quản lý chặt chẽ
1.1.3.2 Đối với bên cho thuê:
Việc ra đời và áp dụng phương thức cho thuê tài chính không phải là loại hình thay thế các phương thức tài trợ cổ điển như cho vay trung dài hạn bằng tiền, mà nó
là “cánh tay nối dài” của Ngân hàng thương mại, tạo ra thêm một kênh dẫn vốn cho nền kinh tế Đứng trên góc độ công ty cho thuê, cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận Tuy nhiên, cho thuê tài chính có những đặc trưng riêng so với các loại hình cấp tín dụng khác, và chính những đặc trưng này dẫn đến những ưu thế rất riêng của nó đối với bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính Cụ thể:
Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng có mức độ rủi ro thấp hơn các hình thức cấp tín dụng khác, vì những lý do sau:
Thứ nhất, bên cho thuê với tư cách là chủ sở hữu về mặt pháp lý, họ có quyền
quản lý và kiểm soát tài sản theo các điều khoản của hợp đồng thuê25 Trong trường hợp bên đi thuê thanh toán tiền thuê không đúng hạn thì bên cho thuê được thu hồi tài sản và đồng thời buộc bên đi thuê phải bồi thường các thiệt hại26 Bên thuê sẽ phải bồi thường cho bên cho thuê nếu bên cho thuê chứng minh được: có thiệt hại xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại
và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật của bên thuê Những thiệt hại này có thể là thiệt hại gắn liền với việc hưởng dụng, khai thác lợi ích từ tài sản thuê mà bên cho thuê đã bị mất
Thứ hai, cho thuê tài chính là hình thức tài trợ vốn thông qua việc bên cho thuê
mua tài sản để cho thuê nên vấn đề kiểm soát mục đích sử dụng vốn của bên đi thuê không còn là một khó khăn lớn khi so sánh với các hình thức cấp tín dụng khác như cho vay vì mỗi tài sản có một công năng sử dụng cụ thể, nhất định Và khi nguồn vốn cho vay được sử dụng đúng mục đích thì khả năng thu hồi vốn sẽ được đảm bảo
Thứ ba, trong trường hợp bên đi thuê bị phá sản thì tài sản cho thuê tài chính
không bị phát mãi, bên cho thuê có thể ngay lập tức thu hồi ngay được tài sản của mình27 Vì tài sản này không phải thuộc sở hữu của bên đi thuê Như vậy, ngay trong trường hợp này thì nguồn vốn mà bên cho thuê bỏ ra vẫn có khả năng thu hồi
Khả năng quay vòng vốn cao vì: số vốn mà công ty cho thuê tài chính tài trợ
thông qua việc mua tài sản thuê được thu hồi dần trong thời gian diễn ra giao dịch cho thuê tài chính Do đó, công ty cho thuê tài chính có thể linh động trong kinh doanh, hiện tượng “vốn đóng băng” khó xảy ra Trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng chỉ cần vốn bị “tắc nghẽn” ở một khâu nào đó thì hậu quả là khó lường Vì hoạt
25 Khoản 2 Điều 23 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
26 Khoản 3 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính, Khoản 9 Điều 1 Nghị định 65/2005/NĐ-CP quy định việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP
27 Khoản 2 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
Trang 21động tín dụng ngân hàng thực chất là đi vay để cho vay Do đó, nếu không tính toán tốt, khả năng quay vòng vốn thấp thì khả năng rủi ro xảy ra rất cao
Lợi ích về thuế vì: tài sản thuê vẫn thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê nên
bên cho thuê được khấu hao tài sản đó, làm giảm thuế thu nhập phải nộp Ngoài ra, còn được hưởng các khoản miễn giảm thuế đối với tài sản thuê
Tóm lại, hoạt động cho thuê tài chính đã mang lại cho công ty cho thuê tài chính những ưu thế hơn hẳn các chủ thể cấp tín dụng khác Vì vậy, hiện nay, cho thuê tài chính có thể được xem là một trong những “khu vực” thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước
1.1.3.3 Đối với bên đi thuê:
Với quá trình hình thành và phát triển, cho thuê tài chính đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hạn hẹp về ngân quỹ, các doanh nghiệp có mức độ tín nhiệm thấp
có được cơ sở vật chất và thiết bị cần thiết để sử dụng Khi tham gia giao dịch cho thuê tài chính, bên cho thuê có được những thuận lợi sau đây:
Thứ nhất, bên thuê được tài trợ 100% vốn đầu tư Điều này rất khó xảy ra nếu
doanh nghiệp vay vốn ở các ngân hàng thương mại Vì khi doanh nghiệp vay vốn, các ngân hàng căn cứ vào các yếu tố sau để xác định mức cho vay: nhu cầu vay vốn của khách hàng; mức vốn tự có của khách hàng tham gia vào dự án; phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống; tỉ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản bảo đảm tiền vay; khả năng hoàn trả nợ của khách hàng vay; khả năng nguồn vốn của ngân hàng Do đó, khả năng doanh nghiệp được ngân hàng cho vay toàn bộ nguồn vốn cần để đưa vào sản xuất là rất thấp Hơn nữa, yếu tố quan trọng chi phối mức
độ an toàn của ngân hàng khi cho vay vốn chính là uy tín của doanh nghiệp, hay nói cách khác chính là sự tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng vay Trong khi
đó, ở hoạt động cho thuê tài chính thì tài sản thuê chính là vật bảo đảm chắc chắn và
có ý nghĩa đảm bảo cho công ty cho thuê tài chính thu hồi vốn
Thứ hai, cho thuê tài chính giúp doanh nghiệp đi thuê tránh được những rủi ro
do sở hữu tài sản Rủi ro về sự lạc hậu, lỗi thời của tài sản là một rủi ro lớn nhất mà người chủ sở hữu tài sản phải gánh chịu, đặc biệt đối với các thiết bị có tốc độ phát triển nhanh Vì vậy, rủi ro về sự lạc hậu của tài sản và giá trị còn lại của tài sản sẽ
do người cho thuê gánh chịu
Thứ ba, cho thuê tài chính sẽ giúp bên thuê tiếp cận công nghệ hiện đại nhanh
nhất Đặc biệt, khi trong tương lai nếu công ty cho thuê tài chính tạo được mối quan
hệ chặt chẽ với bên cung ứng sản phẩm Khi đó, thông qua công ty cho thuê tài chính, bên cung ứng sẽ đưa sản phẩm của mình tiếp cận được với doanh nghiệp đang cần máy móc, thiết bị Và doanh nghiệp cũng sẽ tìm được những sản phẩm phù hợp, hiện đại Vai trò của công ty cho thuê tài chính sẽ chủ động hơn, trở thành cầu nối cho nhà cung ứng và khách hàng thuê gặp nhau Mặt khác, doanh nghiệp còn được chủ động trong việc lựa chọn nhà cung cấp, mẫu mã, chủng loại của thiết
bị, máy móc Quy định này là ưu điểm của cho thuê tài chính so với các hình thức cho thuê tài sản khác
Thứ tư, việc đi thuê tài sản có khả năng không làm tăng tỷ số nợ của doanh
nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp không được xếp hạng tín dụng cao, cho
Trang 22thuê tài chính là một hình thức huy động vốn dễ dàng nhất vì hợp đồng thuê được coi như một khoản nợ có đảm bảo đối với người cho thuê Như vậy, sẽ giảm được tài sản Nợ của doanh nghiệp Một trong những khâu mà ngân hàng sẽ xem xét kĩ để quyết định có cho khách hàng vay hay không - là kiểm tra hồ sơ của khách hàng Thông qua số liệu nằm trong các hồ sơ, ngân hàng sẽ xác định được tài chính doanh nghiệp như: khả năng sinh lời, tính ổn định, tính hiệu quả, hiệu quả sản xuất, sức tăng trưởng…Đặc biệt hệ số nợ của doanh nghiệp là một hệ số quan trọng Vì đây là
tỷ lệ giữa vốn vay so với vốn chủ sở hữu tính đến thời điểm cuối kỳ Tỷ lệ này càng nhỏ thì giá trị của vốn chủ sở hữu càng lớn, lại là nguồn vốn không phải hoàn trả, điều đó có nghĩa khả năng tài chính của công ty càng tốt Do đó, khi doanh nghiệp thuê tài chính thì hệ số nợ này sẽ thấp
Thứ năm, thủ tục đi thuê nhanh gọn, đơn giản, linh động hơn đi vay vì bớt
được thời gian làm thủ tục bảo lãnh, thế chấp Mặc dù, cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng nhưng không cần phải làm thủ tục đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản cầm cố hay thế chấp vì tài sản bảo đảm cho hoạt động cho thuê tài chính chính là tài sản cho thuê Và pháp luật cho thuê tài chính cũng đã quy định tài sản cho thuê phải đăng kí giao dịch đảm bảo tại Trung tâm đăng ký giao dịch có bảo đảm
Thứ sáu, doanh nghiệp đi thuê sẽ được một khoản lợi thuế vì chi phí thuê là
chi phí kinh doanh, được trừ vào doanh thu khi xác định thu nhập chịu Thuế thu nhập doanh nghiệp Nó sẽ được tính vào chi phí trước khi xác định lợi nhuận nộp thuế Tuy nhiên, cần lưu ý là công ty chỉ được hưởng lợi từ lá chắn thuế khi doanh nghiệp có lợi nhuận
Bên cạnh đó cho thuê tài chính vẫn có một số bất lợi từ khía cạnh chủ thể đi thuê Như vì tài sản đi thuê không phải thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nên không thể dùng làm tài sản bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ, chi phí khấu hao tài sản không được khấu trừ thuế…
Qua phân tích trên đã giúp chúng ta thấy rõ vai trò của hoạt động cho thuê tài chính không chỉ đối với bên thuê, bên cho thuê mà còn cả đối với nền kinh tế Tuy nhiên đó mới chỉ dừng lại ở khía cạnh lý thuyết, trên thực tế hoạt động cho thuê tài chính có phát huy hết những vai trò đó hay không thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu
tố Và một trong những yếu tố đó chính là những quy định của pháp luật về bảo đảm an toàn của hoạt động cho thuê tài chính Vấn đề này sẽ được phân tích kĩ ở những phần tiếp theo: nội dung quy định pháp luật, những bất cập và cả thực trạng
áp dụng
1.1.4 Các hình thức cho thuê tài chính:
1.1.4.1 Cho thuê tài chính thông thường:
Đây là hình thức cho thuê tài chính mà ở đó doanh nghiệp đi thuê lựa chọn tài sản và thỏa thuận giá mua với nhà sản xuất, sau đó sẽ thương lượng với một công ty cho thuê tài chính để giao kết hợp đồng cho thuê tài chính Công ty cho thuê với tư cách là người cho thuê sẽ mua tài sản và chuyển thẳng tài sản đến bên thuê Người
đi thuê trong tình huống này giống như đi vay một khoản nợ và ngược lại người cho thuê là người cho vay với tư cách là một chủ nợ có bảo đảm Bên cho thuê nắm giữ
Trang 23quyền sở hữu tài sản, bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận
Sơ đồ khái quát quy trình cho thuê tài chính thông thường được trình bày tại Phụ lục 1
1.1.4.2 Mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính:
Ngoài hình thức cho thuê tài chính thông thường, trong thuê tài chính còn có một hình thức khá phổ biến nữa là mua và cho thuê lại Công ty cho thuê tài chính
sẽ mua tài sản của doanh nghiệp, trả cho doanh nghiệp một khoản tiền mặt rồi cho doanh nghiệp thuê lại tài sản đó để tiếp tục sử dụng vào hoạt động của mình Hình thức này tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp đã lỡ mua thiết bị, máy móc và hiện tại lại thiếu vốn đưa vào sản xuất, lưu thông, nhưng không thể bán tài sản cố định để chuyển thành tài sản lưu động vì phải duy trì, mở rộng năng lực sản xuất
Hoạt động này được hướng dẫn thực hiện tại Thông tư 07/2006/TT-NHNN ngày 7/9/2006 hướng dẫn mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 và Nghị định 65/2005/NĐ-
CP ngày 19/5/2005 và Thông tư 02/2007/TT-NHNN ngày 21/5/2007 sửa đổi Khoản
5 Thông tư 07/2006/TT-NHNN ngày 7/9/2006 của Ngân hàng Nhà nước
Sơ đồ mô tả hoạt động mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính được trình bày tại Phụ lục 2
1.1.4.3 Cho thuê tài chính hợp vốn:
Trong hoạt động cho thuê tài chính, có những trường hợp mà nếu chỉ có một công ty cho thuê tài chính thì không thể đảm bảo thực hiện tốt vai trò của người cho thuê Nguyên nhân có thể xuất phát từ quy định của pháp luật, do những lí do nội tại trong công ty cho thuê tài chính hay do yêu cầu từ phía bên đi thuê Đó là khi: Nhu cầu thuê tài chính của bên thuê vượt giới hạn cho thuê tài chính của một công ty cho thuê tài chính (30% vốn tự có28 của công ty cho thuê tài chính đối với một khách hàng, và 80% vốn tự có đối với một nhóm khách hàng có liên quan); khả năng tài chính, nguồn vốn và tài sản của một công ty cho thuê tài chính không đáp ứng được nhu cầu cho thuê tài chính; nhu cầu phân tán rủi ro của công ty cho thuê tài chính; bên thuê có nhu cầu thuê tài chính từ nhiều công ty cho thuê tài chính29
Khi đó, hoạt động cho thuê tài chính sẽ được thực hiện bởi bên cho thuê bao gồm một nhóm (từ 2 trở lên) các thành viên là công ty cho thuê tài chính hoặc chi nhánh công ty cho thuê tài chính được ủy quyền theo quy định của pháp luật Trong
đó, 1 thành viên làm tổ chức đầu mối cho thuê hợp vốn30, 1 thành viên làm tổ chức đầu mối thanh toán31
28 Vốn tự có gồm giá trị thực có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, một số tài sản Nợ khác của tổ chức tín dụng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Vốn tự có là căn cứ để tính toán các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng
Trang 24Hoạt động cho thuê hợp vốn của các công ty cho thuê tài chính được hướng dẫn thực hiện tại thông tư số 08/2006/TT-NHNN ngày 12/10/2006 hướng dẫn hoạt động CTTC hợp vốn của các công ty cho thuê tài chính theo quy định tại nghị định
số 16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 và nghị định số 65/NĐ-CP ngày 19/05/2005
Sơ đồ khái quát quy trình cho thuê tài chính hợp vốn được trình bày Phụ lục 3 Đây là những hình thức cho thuê tài chính mà pháp luật Việt Nam cho phép công ty cho thuê tài chính thực hiện Ngoài ra, trên thế giới, tùy thuộc vào tình hình của mỗi quốc gia, nhu cầu của nền kinh tế… mà sẽ có các hình thức cho thuê tài chính khác nhằm đa dạng hóa các hình thức tài trợ vốn Qua đó, các doanh nghiệp
sẽ dễ dàng tiếp cận, sử dụng nguồn vốn, và điều tất yếu là nền kinh tế sẽ có điều kiện phát triển
1.2 Công ty cho thuê tài chính và những rủi ro thường gặp trong hoạt động cho thuê tài chính:
1.2.1 Công ty cho thuê tài chính - Chủ thể của hoạt động cho thuê tài chính: 1.2.1.1 Công ty cho thuê tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật Các
tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền
tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” 32 Việc thành lập công ty cho thuê tài chính
được thực hiện theo Mục 1 chương II Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính, Nghị định 95/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP và một số vấn đề thì được viện dẫn theo Luật Các tổ chức tín dụng 2004 Hoạt động cho thuê tài chính là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng trung dài hạn
Luật Các tổ chức tín dụng cũng quy định: “Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm: công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác”33
Trong đó, “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”34 Vậy, các hoạt động mà pháp luật cho phép công ty cho thuê tài chính thực hiện là hoạt động cấp tín dụng từ số tiền mà công ty cho thuê tài chính huy động được thông qua nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hình thức nhận tiền gửi
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, công ty cho thuê tài chính được thực hiện các nghiệp vụ sau: Cho thuê tài chính, tư vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính; dịch vụ ủy thác: Nhận
ủy thác bằng máy móc, thiết bị để cho thuê tài chính đối với nước ngoài; nhận ủy thác bằng tiền từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để nhập máy móc, thiết
bị cho thuê tài chính đối với khách hàng và các dịch vụ ủy thác khác liên quan đến
32 Khoản 1 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 2004
33
Khoản 3 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 2004
34 Khoản 7 Điều 20 Luật Các tổ chức tín dụng 2004
Trang 25hoạt động cho thuê tài chính; dịch vụ quản lý tài sản cho thuê tài chính của các Công ty cho thuê tài chính khác hoặc các dịch vụ quản lý tài sản khác liên quan hoạt động cho thuê tài chính; dịch vụ bảo lãnh liên quan đến cho thuê tài chính theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước; nghiệp vụ cho thuê vận hành; mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính; bán các khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính cho các tổ chức, cá nhân Ngoài ra, công ty cho thuê tài chính còn được thực hiện các nghiệp vụ khác khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép35
Ta thấy các nghiệp vụ trên là nhằm giúp công ty cho thuê tài chính có khả năng và điều kiện thực hiện tốt hoạt động kinh doanh chính và chủ yếu của mình
Đó là hoạt động cho thuê tài chính Công ty cho thuê tài chính có thể bắt đầu từ việc
tư vấn cho khách hàng về dịch vụ cho thuê tài chính đến việc tổ chức thực hiện dịch
vụ này trên thực tế, thực hiện các nghiệp vụ liên quan cho thuê tài chính như bảo lãnh, ủy thác và quản lý tài sản cho thuê
Về hình thức huy động vốn của công ty cho thuê tài chính được pháp luật quy định tại Khoản 1 Điều 16 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính, Khoản 1 Điều 15 Nghị định 95/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP, và chi tiết tại điểm 19.1 Mục IV của thông tư 06/2005/TT-NHNN ngày 12/10/2005 hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP Theo đó, công
ty cho thuê tài chính được phép:
Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 01 năm trở lên của tổ chức, cá nhân
Vay vốn ngắn, trung và dài hạn của tổ chức tín dụng trong và ngoài nước
Phát hành các loại giấy tờ có giá:
Công ty cho thuê tài chính được phép phát hành các loại giấy tờ có giá (kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, ) có thời hạn từ 01 năm trở lên để huy động vốn của tổ chức và cá nhân trong nước theo đúng quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để vay vốn trong nước
Công ty cho thuê tài chính được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các giấy tờ có giá khác có thời hạn từ 01 năm trở lên để huy động vốn của tổ chức, cá nhân nước ngoài khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận
Tiếp nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Như vậy, công ty cho thuê tài chính không được nhận tiền gửi không kỳ hạn
và ngắn hạn Quy định này là nhằm đảm bảo tính an toàn cho hoạt động cho thuê tài chính nói riêng và cả hệ thống tín dụng nói chung Vì nếu công ty cho thuê tài chính
sử dụng nguồn vốn không kỳ hạn, ngắn hạn để cấp tín dụng trung dài hạn thì khả năng thanh toán của bên cho thuê sẽ không đảm bảo Tuy nhiên, thực tế hiện nay, phần lớn nguồn vốn mà các công ty cho thuê tài chính có được là do vay từ các tổ chức tín dụng (chính là các Ngân hàng thương mại - chủ sở hữu của công ty cho thuê tài chính) Việc huy động vốn từ các thành phần dân cư trong xã hội chưa phát huy được hiệu quả Lý giải cho tình hình này có thể là do: hoạt động quảng bá của
35 Điều 16 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính, điểm 19.2 Mục IV Thông tư 06/2005/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP
và Nghị định 65/2005/NĐ-CP
Trang 26các công ty cho thuê tài chính chưa sâu rộng nên người dân chưa tin tưởng, mức lãi suất cũng như các ưu đãi mà công ty tài chính đưa ra chưa bằng các Ngân hàng Hơn nữa, việc huy động tiền gửi trong thời gian gần đây ngay cả với các ngân hàng cũng rất khó khăn, biểu hiện qua việc ngân hàng phải chạy đua lãi suất để thu hút vốn Ngay cả các ngân hàng cũng phải chấp nhận tình trạng đa phần khách hàng đều gửi tiền ngắn hạn Tại Sacombank, trong 9 tháng đầu năm 2009, có đến 84,8% tiền gửi thuộc kỳ hạn dưới 3 tháng36 Và hoạt động phát hành các giấy tờ có giá cũng chưa trở thành kênh huy động vốn cho các công ty cho thuê tài chính
1.2.1.2 Hình thức pháp lý của công ty cho thuê tài chính:
Ngày nay, trên thế giới, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng phát triển và thể hiện vai trò quan trọng của mình Tùy mỗi quốc gia khác nhau mà pháp luật quy định các hình thức pháp lý của công ty cho thuê tài chính Chẳng hạn theo tiêu chí nguồn gốc vốn sở hữu sẽ có công ty cho thuê tài chính Nhà nước, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài…hay theo tiêu chí cơ cấu tổ chức thì có công ty cho thuê tài chính cổ phần, công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn… Đây chỉ là những hình thức pháp lý phổ biến, chủ yếu, truyền thống của công ty cho thuê tài chính Hiện nay, pháp luật các quốc gia đang ngày càng mở rộng hơn hình thức tổ chức kinh doanh của hoạt động này Lấy
ví dụ, Hoa Kì cho phép các công ty sản xuất sản phẩm công nghiệp tham gia vào hoạt động cho thuê tài chính như một hình thức hỗ trợ bán sản phẩm của công ty Tuy nhiên, các hoạt động này phải được thực hiện thông qua các công ty con chuyên kinh doanh cho thuê tài chính Thái Lan thì lại có quy chế rộng rãi hơn, họ coi những doanh nghiệp kinh doanh cho thuê tài chính cũng như một công ty thương mại Ở Nga, không những Ngân hàng thương mại mà các Tòa thị chính cũng có quyền thành lập công ty cho thuê tài chính37
Ở Việt Nam, hoạt động cho thuê tài chính phải được thực hiện thông qua “các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam thông qua các hình thức sau: Công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 38 , công ty cho thuê tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên 39 , công ty cho thuê tài chính cổ phần40”41 Như vậy, pháp luật Việt Nam phân chia hình thức pháp
lý của công ty cho thuê tài chính theo tiêu chí cơ cấu tổ chức Ta thấy, theo như Luật doanh nghiệp thì pháp luật không cho phép công ty cho thuê tài chính thành lập dưới hình thức công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Vì doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt tất cả
39 Điều 63 Luật Doanh Nghiệp 2005: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một
tổ chức làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp
40 Điều 77 Luật Doanh Nghiệp 2005: Công ty cổ phần: là doanh nghiệp, trong đó: vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, các cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp gọi là cổ đông
41 Khoản 1 Điều 1 Nghị định 95/2008/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP
Trang 27mọi việc, ít chịu sự ràng buộc về mặt pháp lý như các doanh nghiệp khác, tài sản đầu tư cho doanh nghiệp vẫn là một bộ phận trong khối tài sản của chủ sở hữu (chỉ
kê khai chứ không chuyển quyền sở hữu) và doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân, không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào để huy động vốn Còn công ty hợp danh là một hình thức của công ty đối nhân do các thành viên quen biết
và chịu trách nhiệm liên đới, vô hạn, công ty hợp danh cũng không được phát hành chứng khoán Nếu công ty cho thuê tài chính được tổ chức dưới 2 hình thức này thì
sẽ không đảm bảo được sự an toàn cần thiết
Như vậy, công ty cho thuê tài chính vừa thuộc hệ thống tín dụng, vừa thuộc hệ thống các chủ thể kinh doanh Do đó, bên cạnh sự điều chỉnh của các quy định có tính chuyên ngành của pháp luật về cho thuê tài chính, công ty cho thuê tài chính còn chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư…
1.2.2 Những rủi ro thường gặp trong hoạt động cho thuê tài chính:
Hoạt động tài chính ngân hàng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro bởi kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh niềm tin Cho thuê tài chính cũng là một nội dung của hoạt động ngân hàng Do đó hoạt động cho thuê tài chính cũng chứa rất nhiều rủi ro Đó là: khả năng xảy ra tổn thất khi người đi thuê tài chính không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện, hoặc thực hiện không đúng các cam kết trả tiền thuê hoặc tiền mua tài sản (nếu có), thanh toán các chi phí có liên quan với công ty cho thuê tài chính hoặc bên cho thuê do những sai sót của mình đã tạo
ra những “kẽ hở” để bên thuê lợi dụng nhằm trục lợi và kết quả là gây tổn thất trực tiếp cho công ty cho thuê tài chính
Có nhiều cách phân loại và đánh giá rủi ro trong cho thuê tài chính Tuy nhiên, dựa trên những rủi ro thường gặp trên thực tế, có thể chia thành những dạng sau:
1.2.2.1 Rủi ro do lỗi từ phía công ty cho thuê tài chính:
Quá trình cho thuê tài chính trải qua rất nhiều giai đoạn từ đàm phán, ký kết cho đến thực hiện hợp đồng Trong quá trình này, rủi ro có thể xảy ra trong bất cứ giai đoạn nào xuất phát từ phía công ty cho thuê tài chính
Thứ nhất, rủi ro có thể xảy ra ngay trong bước thẩm định42 dự án đầu tư43 của cán bộ cho thuê Đây là bước rất quan trọng trong quá trình cho thuê tài chính Việc thẩm định sẽ giúp công ty cho thuê tài chính khẳng định tính khả thi và khả năng sinh lời của dự án qua đó sẽ xác định được mức độ an toàn trong việc thu hồi vốn và lãi khi quyết định cho thuê Rủi ro trong giai đoạn này có thể do các nguyên nhân như: xuất phát từ trình độ yếu kém của cán bộ thẩm định dẫn đến việc không thu thập đầy đủ thông tin liên quan đến dự án; không nắm được kỹ thuật phân tích, xử
lý số liệu dựa trên những tài liệu thu thập được; không hiểu rõ chất lượng, giá cả tài sản từ đó dẫn đến việc không biết tư vấn cho khách hàng thuê tài sản nào cho phù hợp hoặc phạm sai lầm khi thỏa thuận giá với bên cung ứng tài sản; không nắm vững được khả năng tài chính của bên thuê như không phát hiện ra các nguồn thu khác ngoài nguồn thu từ dự án xin thuê để trả nợ cho công ty cho thuê tài chính
42 Thẩm định: là việc xem xét hồ sơ, tài liệu kỹ thuật nhằm xác định sự đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đăng ký, tính khoa học và xác thực của các bằng chứng chứng minh
43 Dự án đầu tư: là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn
cụ thể, trong khoảng thời gian xác định
Trang 28Hoặc cán bộ thẩm định thiếu tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức kém như việc cố tình báo cáo sai thực trạng của khách hàng, hay thiếu kiểm tra, kiểm soát trước khi có quyết định cho thuê của người có thẩm quyền ký duyệt sau cùng
Thứ hai, rủi ro cũng có thể xảy ra trong quá trình ký kết hợp đồng cho thuê tài
chính và hợp đồng mua bán tài sản cho thuê Về nguyên tắc, đây là hợp đồng dân sự
do vậy khi ký kết hợp đồng cần phải tuân thủ theo đúng các điều kiện nhằm đảm bảo giá trị về mặt pháp lý của hợp đồng Đó là: người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, hình thức thể hiện ra bên ngoài của giao dịch phù hợp (nếu pháp luật có quy định)44
Bên cạnh đó, khi ký kết, bên cho thuê còn phải đặc biệt chú ý việc thực hiện các biện pháp bảo đảm (nếu có) Mặc dù, hai hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng mua tài sản cho thuê là độc lập nhưng trong cả hai hợp đồng này bên cho thuê đều là chủ thể ký kết nên vai trò của bên cho thuê là rất quan trọng và nếu một trong hai hợp đồng không chặt chẽ thì việc công ty cho thuê tài chính phải gánh chịu những thiệt hại là hoàn toàn có thể xảy ra Ví dụ như do sơ suất công ty cho thuê tài chính đã ký hợp đồng mua bán tài sản với nhà cung cấp tài sản trong khi bên thuê chưa tham gia đặt cọc với một tỉ lệ nhất định để thực hiện hợp đồng, sau
đó, bên thuê không thuê nữa, dẫn đến tranh chấp giữa công ty cho thuê tài chính với nhà cung cấp tài sản
Thứ ba, rủi ro trong quá trình bảo hiểm tài sản Những rủi ro xảy ra trong quá
trình ký kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm tài sản cho thuê cũng là một trong những rủi ro thường gặp khi cho thuê tài chính Muốn hạn chế tối thiểu rủi ro trong quá trình này, cần phải tuân thủ nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm như đối tượng bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, điều kiện phát sinh sự
kiện bảo hiểm, phí bảo hiểm … Và nhất thiết cần phải quy định rõ quyền cũng như
nghĩa vụ của mỗi bên trong việc bảo hiểm tài sản như trách nhiệm của bên công ty cho thuê tài chính nếu chuyển tiền bảo hiểm chậm sau khi đã xảy ra sự cố tài sản cho thuê, hoặc các thủ tục khai báo không đúng…
Những trường hợp trình bày ở trên chỉ là những rủi ro thường gặp Trên thực
tế, có rất nhiều rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho thuê tài chính mà nguyên nhân là do xuất phát từ chủ thể cho thuê Do vậy, công ty cho thuê tài chính cần phải hết sức cẩn trọng trong suốt quá trình cho thuê để bảo vệ lợi ích của chính bản thân mình
1.2.2.2 Rủi ro xuất phát từ khách hàng thuê tài chính:
Khách hàng thuê tài chính là đối tác của công ty cho thuê tài chính, là chủ thể đang có nhu cầu thuê trang thiết bị, máy móc… Và có thể nói đây chính là trung tâm của hoạt động này nên những rủi ro xuất phát từ khách hàng thuê tài chính là rủi ro lớn nhất mà các công ty cho thuê tài chính cần đặc biệt chú ý Những rủi ro này có thể phát sinh từ các nguyên nhân sau:
Thứ nhất, do khách hàng cung cấp thông tin không trung thực, cố tình gian lận
để được thuê tài sản Đây là trường hợp, bên đi thuê vì gặp khó khăn về vấn đề trang thiết bị để đưa vào sản xuất kinh doanh nhưng không có vốn và không có đủ
44 Khoản 1 Điều 410, Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005
Trang 29điều kiện để thực hiện giao dịch thuê tài chính Hoặc người thuê tài sản không có thiện chí trả nợ, cố tình tẩu tán tài sản vì có ý định lừa đảo công ty cho thuê tài chính
Thứ hai, do xuất phát từ những đặc điểm riêng, đặc thù của nhóm doanh
nghiệp là khách hàng thuê tài chính mà sẽ tiềm ẩn những rủi ro nhất định Việc tìm hiểu kỹ tình hình tài chính, khả năng kinh doanh của doanh nghiệp đi thuê là một khâu rất quan trọng mà công ty cho thuê tài chính nhất định phải quan tâm để nguồn vốn của mình đầu tư đúng đối tượng Tài chính yếu kém của khách hàng thuê xảy ra khi: tỷ lệ vốn tự có/ tổng nguồn vốn, vốn vay/ vốn tự có, doanh số hoạt động/ vốn tự có… thấp; sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra không tiêu thụ được Bên cạnh đó, khả năng của người điều hành doanh nghiệp cũng rất quan trọng Đặc biệt, khi khách hàng thuê tài chính chủ yếu của công ty cho thuê tài chính là các doanh nghiệp vừa
và nhỏ với vốn sở hữu ít Phần lớn các nhà quản lý của các doanh nghiệp chưa qua đào tạo chuyên môn về quản lý kinh tế, điều hành sản xuất kinh doanh Họ điều hành bằng kinh nghiệm là chính nên thường không theo kịp với những biến động trên thương trường, không theo kịp được những thay đổi về chế độ, chính sách, không thích ứng được với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường
Một giao dịch cho thuê tài chính chỉ kết thúc tốt đẹp, bên cho thuê thu được lợi nhuân, bên đi thuê giải quyết được vấn đề máy móc, thiết bị để đưa vào sản xuất, kinh doanh khi cả hai bên đều có tinh thần thiện chí, hợp tác Tuy nhiên, vì bản chất hoạt động cho thuê tài chính là cấp tín dụng Nên công ty cho thuê tài chính cũng như ngân hàng thương mại, là chủ thể cung cấp khoản tín dụng luôn phải gánh chịu những rủi ro tiềm ẩn từ phía khách hàng thuê Không những thế, trên thực tế còn tồn tại những rủi ro xuất phát từ các chủ thể khác có liên quan trong hoạt động cho thuê tài chính
1.2.2.3 Rủi ro xuất phát từ nhà cung ứng tài sản, cơ quan giám định và các
cơ quan có thẩm quyền liên quan:
Ngoài bên cho thuê và bên thuê, thì trong hoạt động cho thuê tài chính còn có rất nhiều chủ thể khác có liên quan đến hoạt động này như nhà cung ứng, bên giám định, một số cơ quan có thẩm quyền trong các trường hợp nhất định Do đó, những rủi ro có thể phát sinh từ hoạt động của các chủ thể trên trong hoạt động cho thuê tài chính là dễ hiểu Trên thực tế, có những rủi ro thường gặp như:
Thứ nhất, rủi ro đến từ phía nhà cung ứng Trong hoạt động cho thuê tài chính
thông thường, doanh nghiệp đi thuê sẽ lựa chọn, thỏa thuận với bên cung ứng về đặc tính kỹ thuật, chủng loại, giá cả, cách thức và thời hạn giao nhận, lắp đặt và bảo hành tài sản cho thuê45 Sau đó, công ty cho thuê tài chính sẽ ký hợp đồng mua tài sản với bên cung ứng theo các điều kiện đã được thỏa thuận giữa bên thuê và bên cung ứng46 Nhà cung ứng tài sản là nhà cung cấp trang thiết bị, máy móc; vừa tiến hành đàm phán với bên đi thuê để thỏa thuận tài sản cho thuê, vừa giao kết hợp đồng với bên cho thuê để bán sản phẩm Do đó, trong hoạt động cho thuê tài chính, nhà cung ứng có một vai trò nhất định Trên thực tế, trường hợp nhà cung ứng tài sản và khách hàng thuê cấu kết với nhau nâng giá tài sản để khách hàng thuê lấy
45
Khoản 1 Điều 25 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
46 Khoản 1 Điều 24 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
Trang 30phần chênh lệch tham gia đặt cọc hay ký cược theo yêu cầu của công ty cho thuê tài chính hoặc nhà cung ứng cố tình giao tài sản không đúng mẫu mã, chất lượng như trong hợp đồng đã ký kết dẫn đến tranh chấp kéo dài là rất phổ biến
Thứ hai, rủi ro phát sinh từ nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu trong quá trình
nhập khẩu tài sản cho thuê Trong tình hình hội nhập hiện nay, việc kinh doanh không chỉ bó hẹp trong lãnh thổ một quốc gia Hơn nữa, một trong những điểm mạnh của cho thuê tài chính là giúp tiếp cận với các công nghệ hiện đại trên thế giới Do đó, đối tượng của cho thuê tài chính trong thời gian tới sẽ là những tài sản nhập khẩu Vì vậy, những rủi ro xảy ra trong quá trình nhập khẩu cũng ngày càng phổ biến hơn Nhà nhập khẩu đã thanh toán ứng trước cho nhà xuất khẩu, nhưng nhà xuất khẩu không giao hàng đúng với qui cách so với bộ chứng từ mà người nhập khẩu đã chấp nhận thanh toán Hoặc một số rủi ro do sự cố trong quá trình vận chuyển, bảo quản, bốc xếp tài sản từ nhà xuất khẩu đến khi tài sản giao lại cho bên thuê…Đây là những rủi ro rất dễ gặp phải nếu các bên không đàm phán, thương lượng kĩ trong quá trình ký kết hợp đồng
Thứ ba, rủi ro từ cơ quan giám định Theo quy định của pháp luật, khi hợp
đồng cho thuê tài chính chấm dứt trước hạn thì tài sản cho thuê yêu cầu cần phải có
sự giám định của cơ quan giám định độc lập về chất lượng, giá cả của tài sản Nếu
do trình độ, đạo đức yếu kém của cán bộ giám định dẫn đến việc đánh giá sai lệch
về tài sản cho thuê thì có thể dẫn đến trường hợp công ty cho thuê tài chính mua tài sản với giá cao hơn giá trị thực Hoặc trong một số trường hợp tài sản công ty cho thuê tài chính thu hồi về được đánh giá quá thấp trước khi đưa qua trung tâm bán đấu giá…
Thứ tư, rủi ro từ phía các cơ quan Công an và ủy ban nhân dân nơi diễn ra
việc thu hồi tài sản cho thuê Trên thực tế, do các cơ quan chức năng chưa hỗ trợ cho công ty tài chính thu hồi tài sản nhanh chóng và theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật, dẫn đến bên cho thuê mất rất nhiều thời gian, phí tổn khi phải thu hồi tài sản cho thuê
Thứ năm, rủi ro từ cơ quan Tư pháp khi một trong hai bên quyết định lựa chọn
con đường Tòa án để giải quyết tranh chấp Hay rủi ro đến từ Trung tâm bán đấu giá khi bên cho thuê xử lý tài sản cho thuê Trường hợp nếu phải khởi kiện tại tòa án thì quá trình xét xử kéo rất dài, tốn rất nhiều thời gian, chi phí theo đuổi vụ kiện Và đặc biệt, phán quyết của Tòa phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán Còn nếu tài sản cho thuê tài chính thu hồi về phải đưa qua Trung tâm bán đấu giá thì cũng phải mất rất nhiều thời gian, phí tổn Ngoài
ra, có thể bị một số người làm giá bất hợp pháp Như vậy, giá bán ra sẽ thấp hơn giá trị thực của tài sản và lợi ích của công ty cho thuê tài chính sẽ bị xâm phạm
Ở trên chỉ là những rủi ro thường gặp, trên thực tế có rất nhiều trường hợp khác có thể xảy ra Do đó, cần có một hệ thống pháp lý đầy đủ và giữa các cơ quan cần có sự hợp tác thì mới có thể hạn chế được những rủi ro trên Ngoài ra, những rủi
ro xuất phát từ các nguyên nhân bất khả kháng cũng thường xảy ra
1.2.2.4 Những rủi ro bất khả kháng khác:
Đây là những rủi ro nằm ngoài dự đoán của cả bên cho thuê và bên thuê, và nếu có nhận biết trước được thì cũng không thể khắc phục được dù đã áp dụng hết
Trang 31mọi biện pháp có thể trong khả năng của mình Ví dụ như: Bên thuê tài chính chết, mất tích; bên thuê tuyên bố phá sản, giải thể; hoặc những rủi ro do thiên tai, hỏa hoạn khác…
Qua những phân tích trên, ta thấy do đặc thù kinh doanh nên hoạt động cho thuê tài chính là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro Và vì những rủi ro trong hoạt động tín dụng mang tính chất dây chuyền nên xét trên bình diện vĩ mô, thì nó cũng gây mất an toàn cho cả hệ thống tín dụng, ảnh hưởng đến cả nền kinh tế Công ty cho thuê tài chính là doanh nghiệp, mục đích cao nhất của doanh nghiệp là lợi nhuận nên doanh nghiệp có thể bỏ qua rất nhiều yêu cầu về bảo đảm an toàn cho hoạt động nhằm tối đa hóa lợi nhuận (vì rủi ro thì luôn ở dưới dạng tiềm ẩn, mà lợi nhuận thì
có thể xác định trước) Do đó, pháp luật phải tạo ra một hành lang, một nền tảng cho hoạt động của công ty cho thuê tài chính Đó chính là các quy định mà công ty cho thuê tài chính bắt buộc phải tuân thủ trong quá trình cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính cho khách hàng Tuy nhiên, pháp luật chỉ quy định những cái nền tảng, cơ sở, còn những vấn đề mang tính nghiệp vụ kinh doanh thì tự thân mỗi công ty cho thuê tài chính phải tự xác định và thực hiện chứ pháp luật không can thiệp sâu
1.3 Nội dung quy định pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động
cho thuê tài chính:
Pháp luật về bảo đảm an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính là một bộ phận của pháp luật ngân hàng với mục tiêu quan trọng là: tạo nền tảng pháp lý cho các công ty cho thuê tài chính thực hiện hoạt động kinh doanh của mình; đảm bảo
an toàn cho công ty cho thuê tài chính, qua đó sẽ đồng thời hạn chế rủi ro cho người gửi tiền, cho hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung, từ đó ổn định kinh tế - xã hội Trong phần này, chúng ta sẽ đi sâu vào nội dung các quy định pháp luật về bảo đảm
an toàn trong hoạt động cho thuê tài chính
1.3.1 Các quy định liên quan đến hợp đồng cho thuê tài chính:
Hợp đồng cho thuê tài chính là thỏa thuận giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê một hoặc một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, động sản khác theo những quy định tại Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho tuê tài chính, phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên47
Có thể nói hợp đồng là hình thức thể hiện ra bên ngoài của hoạt động cho thuê tài chính, là căn cứ pháp lý của hoạt động cho thuê tài chính Đàm phán, giao kết hợp đồng là quyền tự do của chủ thể cho thuê và đi thuê Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để đảm bảo tính an toàn trong hoạt động của công ty cho thuê tài chính nói riêng và cả hệ thống tín dụng nói chung, pháp luật chi phối quyền tự do của các chủ thể khi giao kết hợp đồng cho thuê tài chính thông qua các nội dung sau:
1.3.1.1 Hình thức của hợp đồng:
Nếu như hợp đồng là hình thức thể hiện ra bên ngoài của hoạt động cho thuê tài chính thì hình thức của hợp đồng lại là “vỏ bọc” bên ngoài của nội dung hợp đồng Hình thức hợp đồng là phương tiện, công cụ để lưu giữ, chứa đựng các nội dung mà hai bên chủ thể thỏa thuận, thống nhất Xuất phát từ tính chất phức tạp và
47 Khoản 1 Điều 17 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tở chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
Trang 32tính rủi ro của hoạt động cho thuê tài chính, cũng như mục tiêu đảm bảo an toàn của
cả hệ thống tín dụng mà pháp luật quy định: “Hợp đồng cho thuê tài chính phải được lập thành văn bản phù hợp với quy định của pháp luật”48 Theo quy định Bộ
luật Dân sự 2005 thì: “ Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản” 49 Như vậy, khái niệm
văn bản ở đây đã được mở rộng Theo đó, nếu các hợp đồng cho thuê tài chính được lập dưới hình thức telex, fax…cũng được xem là phù hợp quy định pháp luật
1.3.1.2 Chủ thể của hợp đồng:
Chủ thể hợp đồng cho thuê tài chính bao gồm: bên cho thuê và bên đi thuê Theo quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thì bên cho thuê là các công ty cho thuê tài chính thành lập và hoạt động tại Việt Nam Như vậy, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép công ty cho thuê tài chính là chủ thể duy nhất được thực hiện hoạt động cho thuê tài chính vì nếu pháp luật cho phép các loại hình tổ chức tín dụng khác tham gia hoạt động này thì tính an toàn sẽ không được đảm bảo do không có cơ chế giám sát hữu hiệu Như Ngân hàng được pháp luật cho phép huy động vốn tiền gửi với mọi loại thời hạn, và được cung ứng dịch vụ thanh toán, có nghĩa là ngân hàng phải luôn đảm bảo khả năng thanh toán trong mọi trường hợp Nếu ngân hàng tham gia hoạt động cho thuê tài chính thì không có gì để đảm bảo là ngân hàng sẽ không sử dụng nguồn vốn ngắn hạn, nguồn vốn không kỳ hạn để cấp tín dụng dưới hình thức cho thuê tài chính (là trung và dài hạn) Và khi đó, có khả năng cả hệ thống tín dụng
sẽ mất an toàn, từ đó, sẽ ảnh hưởng cả nền kinh tế
Nghị định 16/2001/NĐ-CP ra đời đã quy định: “Bên thuê là tổ chức và cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê cho mục đích hoạt động của mình”50 Nhưng trong Thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 08/2001/TT-NHNN ngày 6/9/2001 lại cụ thể hóa đối tượng thuê như sau: Cá nhân
có đăng ký kinh doanh – Doanh nghiệp - Hộ gia đình – Các tổ chức khác thuộc đối tượng vay vốn của các tổ chức tín dụng51 Như vậy, các xã viên hợp tác xã, nghệ nhân các làng nghề, các hộ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp chưa được phương thức tài trợ này quan tâm Vì đối tượng là cá nhân lại bị hạn chế vào diện cá nhân có đăng
ký kinh doanh và các hộ kinh doanh (tiểu thương, tiểu chủ có đăng ký kinh doanh thấp nhất cũng ở cấp quận, huyện) Phải đến khi Thông tư 06/2005/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ quy định về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ quy định bên cho thuê gồm: Cá nhân, hộ gia đình – Doanh nghiệp – Các tổ chức khác thuộc đối tượng được vay vốn của các tổ chức tín dụng52 thì đối tượng thuê tài chính mới thật sự được mở rộng
48
Khoản 2 Điều 17 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
49 Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005
50 Khoản 2 Điều 7 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
51 Điểm 1.1 Mục I Thông tư 08/2001/TT-NHNN ngày 6/9/2001
52
Điểm 1.1 Mục I Thông tư 06/2005/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định
16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005/NĐ-CP
Trang 33Các văn bản quy phạm pháp luật về cho thuê tài chính trước đây đều không quy định mục đích cụ thể của bên thuê mà chỉ yêu cầu bên thuê là người trực tiếp sử dụng tài sản Sau đó, Thông tư 05/2006/TT-NHNN hướng dẫn một số nội dung về hoạt động cho thuê tài chính và dịch vụ ủy thác cho thuê tài chính theo quy định tại Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 và Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2001 của Chính phủ ra đời quy định cụ thể hơn các điều kiện của bên thuê tại
Điểm 2.2 Mục I: “có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Có dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc dự án đầu
tư phục vụ đời sống khả thi, hiệu quả, phù hợp với quy định của pháp luật và sử dụng tài sản thuê để thực hiện dự án đó Có khả năng tài chính đảm bảo thanh toán tiền thuê trong thời hạn thuê đã cam kết” Với quy định này, đối tượng khách hàng
thuê đã được cụ thể, chi tiết hơn theo hướng tăng tính an toàn cho hoạt động cho thuê tài chính Vì gần như chỉ các khách hàng thuê mà khi giao kết hợp đồng bên cho thuê nhận thấy rõ có khả năng cao trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính mới có cơ hội tiếp cận với hình thức cấp tín dụng này
1.3.1.3 Đối tƣợng của hợp đồng:
Đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính là tài sản bao gồm: máy móc, thiết
bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác53 Pháp luật Việt Nam hiện hành chưa cho phép đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính là đất đai và công trình
xây dựng gắn liền với đất Do “các tổ chức tín dụng không được trực tiếp kinh doanh bất động sản”54 Vì hiện nay, thị trường bất động sản ở nước ta có rất nhiều biến động khó dự báo Hiện tượng đầu cơ, tích trữ xảy ra tương đối nhiều, giá cả trên thị trường này cũng rất bấp bênh gần như không tuân theo một quy luật nào Và đặc biệt, tính thanh khoản của các đối tượng trên thị trường này thấp hơn nhiều so với động sản Có thể nói các cơ quan Nhà nước chưa thật sự quản lý được thị trường này Việc các công ty cho thuê tài chính nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chung, nếu bỏ vốn vào thị trường này thì khi có biến động sẽ không thu hồi vốn được và nguy cơ cả hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng “đóng băng” là rất dễ xảy
ra Đây chính là các lý do mà pháp luật không cho phép đối tượng của hoạt động cho thuê tài chính là đất đai và công trình xây dựng gắn liền với đất
1.3.2 Quy định của pháp luật về tài sản cho thuê tài chính nhằm đảm bảo an
toàn cho hoạt động cho thuê tài chính:
Tài sản cho thuê là đối tượng của hoạt động cho thuê tài chính Trong hoạt động này, quyền sở hữu tài sản thuê do bên thuê nắm giữ Tuy nhiên, bên thuê lại là người sử dụng và hưởng lợi từ tài sản trong một thời gian dài Do đó, những quy định về tài sản thuê phải hết sức chặt chẽ và hệ thống thì mới có thể tránh những rủi
ro có thể xảy ra
1.3.2.1 Đăng ký tài sản cho thuê tài chính:
Đăng ký tài sản cho thuê tài chính được quy định tại Điều 19 Nghị định 16/2001/NĐ-CP Sau đó, Nghị định 65/2005/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 16/2001/NĐ-CP ra đời đã sửa đổi quy định trên Ngày 17/5/2007 Bộ
53
Khoản 1 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính
54 Điều 73 Luật Các tổ chức tín dụng 2004