1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề pháp lý về vận tải hàng hóa quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics của DNVN theo quy định của pháp luật VN và ĐƯQT có liên quan

63 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những Vấn Đề Pháp Lý Về Vận Tải Hàng Hóa Quốc Tế Trong Chuỗi Dịch Vụ Logistics Của Doanh Nghiệp Việt Nam
Tác giả Lâm Thị Thúy Vân
Người hướng dẫn TS. Phan Ngọc Tâm
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại Luận Văn Cử Nhân Luật
Năm xuất bản 2015
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH LÂM THỊ THÚY VÂN NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG CHUỖI DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

LÂM THỊ THÚY VÂN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG CHUỖI DỊCH VỤ LOGISTICS

CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT Chuyên ngành: Luật Quốc tế

Người hướng dẫn: TS Phan Ngọc Tâm

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này hoàn toàn do tôi thực hiện dưới sự hướng

dẫn của TS Phan Ngọc Tâm Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đã

được dẫn nguồn Các kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn của mình

Sinh viên thực hiện

Lâm Thị Thúy Vân

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

2 AEC: Cộng đồng kinh tế ASEAN

3 BLDS 2005: Bộ luật Dân sự 2005

4 BLHH 2005: Bộ luật Hàng Hải 2005

5 DNVN: Doanh nghiệp Việt Nam

6 DWT: Đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của tàu thủy tính bằng tấn

7 ĐƯQT: Điều ước quốc tế

8 EDI: Hệ thống trao đổi dữ liệu trực tuyến

9 FTA: Hiệp định Thương mại tự do

10 ICAO: Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế

11 ICD: Cảng cạn

12 LHKDD 2006: Luật Hàng không dân dụng 2006

13 LĐT 2014: Luật Đầu tư 2014

14 LDN 2014: Luật Doanh nghiệp 2014

15 LTM 2005: Luật Thương mại 2005

16 MTO: Người kinh doanh vận tải đa phương thức

17 PLVN: Pháp luật Việt Nam

18 SDR: Quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ tiền tệ Quốc tế

19 TPP: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương

20 WTO: Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 5

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG CHUỖI DỊCH VỤ CỦA CÁC DNVN 9

1.1 K HÁI QUÁT VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò dịch vụ logistics 9

1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm hoạt động logistics 10

1.1.1.2 Khái niệm, đặc điểm dịch vụ logistics 11

1.1.1.3 Vai trò của dịch vụ logistics 14

1.1.2 Hoạt động logistics tại Việt Nam 15

1.1.2.1 Hành lang pháp lý 15

1.1.2.2 Cơ sở hạ tầng logistics 16

1.1.2.3 Hoạt động cung ứng dịch vụ logistics của doanh nghiệp Việt Nam 19

1.2 Vận tải hàng hóa quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics 21

1.2.1 Khái quát về vận tải hàng hóa quốc tế 21

1.2.1.1 Khái niệm, đặc điểm của vận tải quốc tế 21

1.2.1.2 Vai trò của vận tải hàng hóa quốc tế: 22

1.2.1.3 Mối liên hệ giữa vận tải quốc tế và dịch vụ logistics: 24

1.2.2 Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế 26

1.2.2.1 Hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế 26

1.2.2.2 Chứng từ vận tải trong vận tải hàng hóa quốc tế: 29

1.2.2.3 Mối quan hệ giữa hợp đồng vận tải và chứng từ vận tải 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LÝ VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG CHUỖI DỊCH VỤ LOGISTICS CỦA CÁC DNVN TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 32

2.1 Những vấn đề pháp lý của doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics 33

Trang 5

2.1.1 Điều kiện kinh doanh dịch vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics của DNVN 33

2.1.2 Trách nhiệm của người chuyên chở trong vận tải hàng hóa quốc tế theo quy định của PLVN và các ĐƯQT có liên quan 36

2.1.2.1 Trách nhiệm của người chuyên chở trong vận tải biển quốc tế 36

2.1.2.2 Trách nhiệm của người chuyên chở trong vận tải quốc tế bằng đường hàng không 43

2.1.3 Thông báo tổn thất và khiếu nại 48

2.1.3.1 Đối với vận tải biển quốc tế 48

2.1.3.2 Đối với vận tải quốc tế bằng đường hàng không 49

2.2 Hội nhập quốc tế và vấn đề phát triển vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics 50

2.2.1 Hội nhập quốc tế 50

2.2.2 Thực trạng pháp lý về vận tải quốc tế tại Việt Nam và giải pháp phát triển 52

2.2.2.1 Thực trạng hoạt động vận tải hàng hóa quốc tế và giải pháp phát triển 52

2.2.2.2 Thực trạng pháp lý về vận tải hàng hóa quốc tế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

55 KẾT LUẬN 58

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

“Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế cũ hiện không còn phù hợp nữa, Việt Nam cần nâng cao năng lực cạnh tranh, mức độ sáng tạo của nền kinh tế, cũng như cần nhận thức được rằng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng mở cửa và hội nhập sâu rộng hơn với nền kinh tế toàn cầu, những thành quả dễ dàng gặt hái hầu như

đã gần được khai thác hết.”

Ông Bùi Quang Vinh,

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, CHXHCNVN, ngày 15/7/2013

Chính vì vậy, khi bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức, khó khăn khi mà cả hai động lực chính của tăng trưởng trong giai đoạn trước đó là lực lượng lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang giảm sút và cần được thay đối bằng cách thay đổi nâng cao năng suất từng ngành

Do vậy, một hệ thống dịch vụ logistics có hiệu quả đặc biệt là vận tải hàng hóa quốc

tế hiệu quả sẽ đóng vai trò đáng kể trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển trong thời gian tới Qua việc nâng cao tính tin cậy của chuỗi cung ứng và tăng cường hệ thống vận tải và kho vận sẽ giúp các nhà sản xuất, các nhà cung cấp dịch vụ vận tải, cơ quan quản lý thương mại giảm thiểu những trở ngại, giảm chi phí kinh doanh từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo điều kiện cho Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài và đáp ứng được nhu cầu thị trường thế giới

Để thực hiện được điều này, nhất thiết cần phải có sự hoạt động của các nhà kinh doanh vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics Với tính chất của các phương thức vận tải là khác nhau nên trong quá trình xác lập hợp đồng vận tải cũng như các mối quan hệ pháp lý có liên quan đến quá trình vận chuyển là khác nhau Do vậy, bên cạnh việc phát triển các yếu tố có liên quan đến cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, năng lực chuyên chở, mở rộng thị trường, đẩy mạnh buôn bán xuất nhập khẩu bằng các công cụ tài chính thì việc cấp bách là cần phải xây dựng một hệ thống các quy định, quy tắc pháp luật quốc gia trong lĩnh vực này tương thích với các quy định, tập quán pháp luật quốc tế nhằm tạo cơ sở pháp lý phù hợp cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng là một công việc hết sức quan trọng và có tính chất sống còn

Chính vì vậy, đòi hỏi phải nhận thức rõ hoạt động này cả về lý luận lẫn thực tiễn

nên tác giả đã chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý về vận tải hàng hóa quốc tế trong

Trang 7

chuỗi dịch vụ logistics của DNVN theo quy định của pháp luật VN và ĐƯQT có liên quan” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

số nước trong khu vực và thế giới

Hiện nay, các công trình, tài liệu nghiên cứu về vận tải quốc tế Có thể kể đến một sốnghiên cứu như:

- Huỳnh Thị Tố Quyên(2006), Bồi thường thiệt hại trong vận chuyển hàng không dân dụng, Luận văn cử nhân, Trường ĐH Luật TP.HCM Luận văn

nghiên cứu chủ yếu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vận chuyển hàng không dân dụng bao gồm cả hành khách, hành lý và hàng không trên cơ sở Luật hàng không dân dụng 1991

- Nguyễn Thị Vân Huyền(2007), Những thuận lợi và khó khăn của ngành hàng không Việt Nam khi gia nhập WTO, Luận văn cử nhân, Trường ĐH Luật

TP.HCM Luận văn này nghiên cứu khái quát chung nhất về ngành hàng không nên không có điều kiện đi sâu vào phân tích những quy định cụ thể của Luật HKDD và các ĐƯQT có liên quan đến các quy định về vận tải hàng không, đặc biệt là quy định về trách nhiệm của người chuyên chở

- Nguyễn Thị Liệu(2011), Vận chuyển hàng hóa bằng đường biển trong chuỗi dịch vụ logistics – thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn cử nhân,

Trường ĐH Luật TP.HCM Với công trình này, tác giả đã có sự phân tích mối liên hệ giữa vận tải và dịch vụ logistics nhưng mới chỉ phân tích một phương

Trang 8

thức chủ yếu của vận tải quốc tế mà chưa có sự mở rộng các phương thức vận tải quốc tế khác

Nhìn chung, các đề tài về vận tải quốc tế hay dịch vụ logistics tuy không phải là vấn

đề mới mẻ Nhưng số lượng nghiên cứu còn hạn chế Đối với đề tài logistics chủ yếu được tiếp cận dưới góc độ kinh tế, quản trị, một số ít tiếp cận dưới khía cạnh pháp lý nhưng cũng nghiên cứu tổng quát, chưa có điều kiện nghiên cứu cụ thể từng hoạt động trong chuỗi dịch vụ Công trình nghiên cứu vận tải quốc tế cũng chỉ dừng lại ở những phương thức vận tải cụ thể, chưa có sự mở rộng các phương thức vận tải khác và chưa đặt vận tải quốc tế trong mối quan hệ của chuỗi dịch vụ logistics một cách hệ thống và đầy đủ dưới góc độ pháp lý

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ logistics và vận tải quốc tế để thấy được mối liên hệ và vai trò của vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics.Thông qua đó tạo cơ sở lý luận nền tảng cho nghiên cứu về các doanh nghiệp kinh doanh vận tải quốc tế trong bối cảnh hội nhập quốc tế để đánh giá những ưu và hạn chế trong những quy định của pháp luật Việt Nam, có so sánh, đối chiếu với các ĐƯQT có liên quan nhằm đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện vấn đề này

Với mục đích đó, luận văn đưa ra các nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics của các doanh nghiệp Việt Nam

- Nghiên cứu, so sánh các quy định pháp luật Việt Nam và các ĐƯQT có liên quan về vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics

- Trên cơ sở phân tích những thực trạng của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải quốc tế, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Với tính chất là một đề tài thuộc khoa học xã hội, luận văn dựa trên nền tảng của phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, trong quá trình giải quyết những vấn đề cụ thể đặt ra đối với đề tài, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu, đánh giá, tổng hợp để giải quyết vấn đề

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề pháp lý của doanh nghiệp vận tải quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics, bao gồm: điều kiện kinh doanh, trách nhiệm của người chuyên chở và các quy định về vấn đề thông báo tổn thất và khiếu nại

Trang 9

Phạm vi nghiên cứu của đề tài: chuỗi dịch vụ logistics là một chuỗi cung ứng có phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều mắt xích có liên quan mật thiết với nhau Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả chỉ chọn lọc nghiên cứu một trong những khâu quan trọng nhất của dịch vụ logistics là vận tải Và hoạt động vận tải cũng là một lĩnh vực rất đa dạng và phong phú nên luận văn sẽ giới hạn trong phạm vi vận tải quốc tế với đối tượng vận chuyển là hàng hóa, hoạt động trong hai môi trường: vận tải đường biển và vận tải đường hàng không

6 Đóng góp của đề tài:

Luận văn mang lại cách tiếp cận vận tải quốc tế một cách đầy đủ và thống nhất dưới góc độ pháp lý, đồng thời giải thích được mối liên hệ của vận tải quốc tế chuỗi dịch vụ logistics Rút ra những ưu và hạn chế của pháp luật và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải quốc tế so với thông lệ quốc và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động vận tải quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam cho phù hợp và tương thích với thông lệ quốc tế

7 Bố cục của luận văn:

Luận văn có bố cục gồm 3 phần: lời mở đầu, nội dung chính và kết luận

Nội dung chính có 2 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vận tải hàng hóa quốc tế trong chuỗi dịch

vụ logistics của các DNVN

Chương 2: Thực trạng pháp lý về vận tải hàng hóa quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics của các DNVN trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 10

: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA QUỐC TẾ TRONG

CHUỖI DỊCH VỤ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM Khái quát về dịch vụ logistics

Khái niệm, đặc điểm và vai trò của dịch vụ logistics

Ở Việt Nam, dịch vụ logistics cùng với công nghệ thông tin và truyền thông, dịch

vụ tài chính, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ giáo dục được coi là các ngành dịch

vụ “cơ sở hạ tầng”, “dịch vụ có giá trị gia tăng cao” trong nền kinh tế quốc dân và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh và bền vững1 Tuy nhiên, thuật ngữ “Logistics” xuất hiện lần đầu tiên không phải trong lĩnh vực ngoại thương mà trong hoạt động quân sự2 Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các chuyên gia logistics trong quân đội đã tiến hành áp dụng các kỹ năng logistics trong công cuộc tái thiết nền kinh tế thế giới hậu chiến Đây cũng là lúc hoạt động logistics trong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng và triển khai

Trải qua ba giai đoạn phát triển: phân phối vật chất (Physical distribution), hệ

thống logistics (logistics system), quản trị dây chuyền cung ứng (Supply Chain

Trang 11

Management – SCM) theo ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Parcific - Ủy ban Kinh tế và Xã hội Châu Á – Thái Bình Dương) Logistics đã dần hoàn thiện và đáp ứng các nhu cầu tất yếu của hoạt động ngoại thương hiện nay

Khái niệm, đặc điểm hoạt động logistics

Khái niệm logistics:

Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về logistics bởi xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau sẽ đưa ra những khái niệm mà khó có thể khẳng định được khái niệm nào là đúng nhất Ngay từ giai đoạn đầu mới xuất hiện, người ta đã đưa ra

khái niệm như sau: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình vận chuyển hàng hóa và lưu kho của: Nguyên vật liệu đi vào xí nghiệp; Hàng hóa, bán thành phẩm trong quá trình sản xuất; Sản phẩm cuối cùng đi ra khỏi xí nghiệp”

Khái niệm này đã nêu ra đúng quy trình của logistics nhưng theo quan điểm hiện đại về cách tiếp cận logistics hợp nhất thì vẫn có hạn chế Lấy ví dụ: khi một doanh nghiệp giới thiệu một sản phẩm mới hay thay đổi quan trọng trong sản phẩm hiện tại

Để hỗ trợ việc này nhất thiết phải có đào tạo, phát triển các tài liệu kỹ thuật, phải có các bộ phận thay thế dự phòng và các phương tiện kiểm tra sửa chữa Tất cả các yếu tổ này đặc biệt cả yếu tố thông tin, theo quan điểm hiện đại đều thuộc logistics, trong khi theo khái niệm trên thì logistics chỉ bao gồm quản lý, vận chuyển và lưu kho Do vậy, đây vẫn chưa là một khái niệm đầy đủ3

- Logistics là nghệ thuật và khoa học giúp quản trị và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác5

- Logistics là quá trình tối ưu hóa các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế 6

Tuy nhiên, định nghĩa được coi là đầy đủ nhất và được sử dụng rộng rãi nhất là định nghĩa của Hội đồng quản trị logistics (Council of Logistics Management – CLM),

3Hoàng Văn châu(2011), Logistics và vận tải quốc tế, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội, tr.7

4

Theo quan niệm của Liên hợp quốc

5 Theo Gattorna, J (1983), “Handbook of Physical Distribution Management”3 th

edition, Gower Publishing Company, England

6Đoàn Thị Hồng Vân(2003), Logistic – Những vấn đề cơ bản, NXB Thống kê, Hà Nội.

Trang 12

1991: “logistisc là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình sản xuất cho đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với các yêu cầu của khách hàng”

Theo các quan niệm này, logistics gắn liền với cả quá trình nhập nguyên nhiên

vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Đặc điểm hoạt động logistics:

Thứ nhất, logistics là một quá trình Có nghĩa hoạt động logistics là tích hợp nhiều

các yếu tố có mối quan hệ hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau Đây là một chuỗi các hoạt động liên tục được thực hiện một cách có hệ thống Do đó, logistics xuyên suốt mọi giai đoạn, tức là từ giai đoạn đầu vào đến giai đoạn tiêu thụ sản phẩm cuối cùng

Thứ hai, logistics liên quan đến tất cả các nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần

thiết để tạo ra sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng

Thứ ba, logistics tồn tại ở cả hai cấp độ là hoạch định và tổ chức Ở cấp độ thứ

nhất, vấn đề đặt ra là phải lấy nguồn nguyên vật liệu ở đâu? Khi nào? Và vận chuyển chúng đi đâu? Vì vậy xuất hiện vấn đề vị trí; ở cấp độ thứ hai, quan tâm tới việc làm thế nào để đưa các yếu tố đầu vào từ điểm đầu tiên đến điểm cuối cùng trong dây chuyền cung ứng Xuất hiện vấn đề vận chuyển và lưu trữ

Khái niệm, đặc điểm dịch vụ logistics

Khái niệm dịch vụ logistics:

Song song với quá trình phát triển của logistics là quá trình phát triển của những nhà cung cấp dịch vụ logistics Xuất phát ban đầu từ những người giao nhận (Forwarder/ Freight Forwarder/ Forwarding Agent), chính là người kinh doanh dịch vụ giao nhận vận tải Khi các quan hệ trong thương mại quốc tế thay đổi, vai trò của nhà vận tải giao nhận cũng bắt đầu thay đổi, từ chỗ thay mặt khách hàng thực hiện từng công việc đơn lẻ, tách biệt như: vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như các dịch vụ tư vấn có liên quan và các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm các nhà giao nhận đã cung cấp một dịch vụ trọn gói từ cửa đến cửa “Door to door” Rõ ràng dịch vụ giao nhận không còn đơn thuần như trước nữa mà đã phát triển ở mức độ cao hơn và phức tạp hơn Người giao nhận đã trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics

Như vậy, với sự ra đời của vận tải đa phương thức, chủ hàng chỉ phải ký hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO – Multimodal Transport

Trang 13

Operator) MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho đến khi giao hàng bằng một chứng từ duy nhất và MTO

chính là người cung cấp dịch vụ logistics Do đó, có thể nhận định rằng: “dịch vụ logistics được xem là sự phát triển cao và hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải, đặc biệt là vận tải đa phương thức”7

Theo định nghĩa của GATS trong WTO: “logistic là chuỗi cung ứng dịch vụ, gồm lập ra kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự dịch chuyển và lưu kho hàng hóa, dịch vụ

và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Dịch vụ logistic truyền thống gồm dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận, các dịch vụ giá trị gia tăng của bên thứ 3 (làm việc theo yêu cầu của khách hàng)”

Theo quy định Luật Thương mại (LTM) 20058: “Dịch vụ logistic là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”9

Luật Thương mại 2005 xác định mỗi khâu trong chuỗi cung ứng đều được xem là một hoạt động logistics hoàn chỉnh NĐ 140/200710 đã khẳng định một lần nữa tại

khoản 2 Điều 3: “thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó” Trong khi, dịch vụ

logistics được hiểu ở trên là một chuỗi liên hoàn gồm nhiều dịch vụ, đây là những mắc xích có mối quan hệ mật thiết nhau trong chuỗi logsistics, mắc xích trước đóng vai trò

là nhà cung ứng cho các mắc xích sau, liên tục trong cả một quá trình từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Như vậy, định nghĩa dịch vụ logistics của LTM 2005 mặc dù đã mở rộng khái niệm dịch vụ giao nhận của LTM 1997 về nội hàm và đã sử dụng thuật ngữ “logistics” được

sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế nhưng khái niệm này không mang tính tích hợp cao Đồng thời cũng chưa thể hiện rõ dịch vụ logistics là sự phát triển cao và hoàn thiện của dịch vụ giao nhận vận tải

7

Nguyễn Như Tiến (2006), Logistics khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao

nhận Việt Nam,NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, tr.45

Trang 14

Tóm lại: Nội dung của hoạt động logistics được hiểu là logistics hợp nhất

(Integrated Logistics), tức là tổng hợp của tất cả các hoạt động logistics cần thiết để đảm bảo hỗ trợ một cách hiệu quả nhất và kinh tế nhất cho một tổ chức11

Nội dung

của logistics hợp nhất bao gồm các yếu tố: vận tải (Transportation); lưu kho, dự trữ (Storage/Inventory); bộ phận sửa chữa và dự phòng (Spare and repair parts); nhân sự

và đào tạo (Personnel and training); tài liệu kỹ thuật (Technical publications); thiết bị

hỗ trợ và kiểm tra (Test and support equipment); cơ sở vật chất (Facilities)12 và không phải lúc nào doanh nghiệp cũng sử dụng tất cả các thành phần trên của logistics nhưng cần quan tâm để có thể lên kế hoạch chuẩn bị cũng như thực hiện sao cho hiệu quả, phục vụ tối đa mục tiêu của mình Trong khi dịch vụ logistics được hiểu theo LTM

2005 là một hoạt động cung ứng dịch vụ riêng lẻ nhằm mục đích thu lợi nhuận

Đặc điểm dịch vụ logistics:

Thứ nhất, dịch vụ logistics là một hoạt động thương mại, cũng giống như hoạt động

mua bán hàng hóa, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác13 Khi các thương nhân khi có đủ điều kiện kinh doanh theo luật định thì việc thực hiện một hoặc một số các hoạt động nằm trong chuỗi cung ứng logistics như: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, đóng gói, bao bì theo yêu cầu của khách hàng để hưởng thù lao thì được coi như là nhà cung cấp dịch vụ

logistics

Thứ hai, chủ thể của quan hệ dịch vụ logistics bao gồm thương nhân cung ứng dịch

vụ logistics và khách hàng Theo khoản 1 Điều 6 LTM 2005 định nghĩa thương nhân

bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh, nhưng trong Điều 234 LTM

2005 thì quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh, do vậy thương nhân là cá nhân không thể kinh doanh dịch vụ này Khách hàng: có thể là thương nhân hoặc không, có thể là chủ sở hữu hàng hóa hoặc không phải là chủ sở hữu hàng hóa Đây là những người có nhu cầu sử dụng dịch

vụ logistics, họ có thể là người vận chuyển thậm chí có thể là người làm dịch vụ logistics khác

Thứ ba, nội dung của dịch vụ logistics gồm nhiều công việc khác nhau liên quan đến sự dịch chuyển của hàng hóa Bao gồm: nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi,

làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi

mã ký hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với

Trang 15

khách hàng Vì bản chất của logistics là một chuỗi cung ứng các dịch vụ có mối liên

hệ mật thiết nhau, trong đó mắt xích trước đóng vai trò là nhà cung ứng cho mắt xích sau nó, cung ứng từ nguyên liệu thô cho đến sản phẩm cuối cùng Do vậy, logistics

không phải là một dịch vụ đơn lẻ, thuật ngữ này bao giờ cũng ở dạng số nhiều

Thứ tư, dịch vụ logistics là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện: theo quy định của

pháp luật hiện hành14, nhiều hoạt động trong chuỗi logistics là những hoạt động thuộc các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện Thương nhân muốn kinh doanh dịch vụ này phải tiến hành đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics cụ thể

Vai trò của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics là một trong những yếu tố góp phần không nhỏ vào vấn đề phát triển nền kinh tế của một quốc gia và cho bản thân các doanh nghiệp Điều này được thể hiện như sau:

Thứ nhất, Logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và tăng cường năng lực

cạnh tranh quốc gia cũng như năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp: theo nhiều nghiên cứu về logistics ở các hãng sản xuất, trong cơ cấu giá bán sản phẩm, chi phí sản xuất thường chiếm 48%, chi phí marketing chiếm 27%, chi phí logisics chiếm 21%, còn phần lợi nhuận là 4% Điều này cho thấy cho chi phí logistics là rất lớn Do đó việc hình thành và phát triển logistics sẽ giúp cho các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics và làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản và đạt được nhiều hiệu quả hơn15

Logistics có quy mô 20 – 22 tỷ USD/năm, ngành logistics tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng hàng năm 20 % và được kỳ vọng duy trì mức tăng như vậy trong 5 năm tới

do khả năng dồi dào16 Theo nhiều ước tính, chi phí logistics chiếm khoảng 13 – 15%

GDP của VN17, do vậy nó tác động tới và chịu tác động bởi các hoạt động kinh tế khác Khi nền kinh tế toàn cầu đang trong xu thế hội nhập, mở rộng nhiều cơ hội hợp tác cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong mua bán hàng hóa Việc phát triển dịch vụ logistics sẽ góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và quốc gia Và dịch vụ logistics trở thành một trong các lợi thế cạnh tranh của quốc gia Những quốc gia kết nối vơi mạng lưới logistics toàn cầu thì có thể tiếp cận được nhiều thị trước và người tiêu dùng từ nhiều nước trên thế giới

14 Điều 234 – Luật Thương mại 2005; Điều 6, Điều 7, Điều 8 – NĐ 140/2007

15Đặng Đình Đào(2011), Dịch vụ Logistics ở VN trong tiến trình hội nhập quốc tế, NXB, Hà Nội, tr.30

Trang 16

Thứ hai, việc phát triển dịch vụ logistics có ý nghĩa đảm bảo việc vận hành sản

xuất kinh doanh các dịch vụ khác được đảm bảo về mặt thời gian và chất lượng Vì logistics tạo ra các giá trị gia tăng bằng cách tạo ra “các tiện ích”18

Theo quan điểm kinh tế, việc sử dụng thể hiện giá trị và sự hữu ích của một mặt hàng hay một dịch vụ nào đó trong việc đáp ứng yêu cầu nào đó của người sử dụng Logistics mang lại 4 tiện ích về: hình dáng, mẫu mã (Form utility); sở hữu (Possession utilyty); thời gian (Time utility); địa điểm (Place utility) Trong đó, cốt lõi là 2 loại tiện ích do logistics mang lại là thời gian và địa điểm Nếu không có 2 loại tiện ích này, khó có thể thỏa mãn các yêu cầu của khách hàng khi nếu hàng hóa không đến kịp lúc, hàng hóa không được giao theo các điều kiện đã thỏa thuận, không đến đúng nơi quy định làm cho mỗi hành động kinh tế trong chuỗi logistics sẽ bị thiệt hại

Dưới góc độ doanh nghiệp, logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu

tố thời gian, đúng địa điểm, nhờ đó bảo đảm cho quá trình sản xuất, kinh doanh diễn ra theo đúng kế hoạch đã đặt ra, góp phần nâng cao năng suất lao động và hạ giá thành sản phẩm, sử dụng hiệu quả vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, hạn chế hàng tồn kho ở mức tối thiểu

Hơn nữa, dịch vụ logistics hỗ trợ cho dòng chu chuyển của nhiều giao dịch kinh tế

Ở góc độ xem xét tổng thể, dịch vụ logistics là mối liên hệ kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa Trong đó, mỗi hoạt động trong chuỗi lại chiếm một khoản chi phí nhất định, vì vậy nếu nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động dịch vụ logistics thì sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội Do vậy, nền kinh tế chỉ thực sự phát triển nhịp nhàng, đồng bộ nếu dây chuyền cung ứng dịch vụ logistics hoạt động liên tục, nhịp nhàng

Hoạt động dịch vụ logistics tại Việt Nam

Hành lang pháp lý

Trước khi Luật Thương mại 2005 có hiệu lực, các hoạt động dịch vụ logistics chưa được pháp luật Việt Nam (PLVN) điều chỉnh mà chỉ quy định các hoạt động giao nhận trong Luật Thương mại 1997 Tuy nhiên, khi thương mại quốc tế có nhiều điều kiện để phát triển mạnh mẽ, tất yếu đặt ra vấn đề hội nhập kinh tế của Việt Nam Để có thể tham gia vào Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Việt Nam đã phải tiến hành nhiều công đoạn trong đó có việc hoàn thiện cơ chế pháp luật thương mại để tương xứng với các quy định chung của thương mại quốc tế Mặc dù còn hạn chế nhưng LTM 2005 đã

có những quy định liên quan đến hoạt động dịch vụ logistics Bao gồm: 8 điều (từ

18 Hoà ng Vă n Châu(2011), Logistics và vậ n tả i quố c tế , NXB Thông tin và Truyề n thông, Hà nộ i, tr.54

Trang 17

Điều 233 đến Điều 240) điều chỉnh các vấn đề: dịch vụ logistics; điều kiện kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của thương nhân và của khách hàng; các trường hợp miễn trừ trách nhiệm; giới hạn trách nhiệm; quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa; nghĩa vụ của thương nhân kinh khi cầm giữ hàng hóa Ngoài ra, Nghị định 140/2007 được ban hành

để hướng dẫn chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Như đã phân tích ở trên, các công việc trong chuỗi dịch vụ logistics rất đa dạng, phong phú Do vậy, phạm vi điều chỉnh là rất rộng, liên quan đến nhiều văn bản pháp luật khác nhau cùng điều chỉnh Ngoài những quy định trực tiếp tại LTM 2005 và NĐ 140/2007 thì còn có các văn bản pháp luật khác như: Bộ luật Hàng hải (BLHH) 2005, Luật Hàng không Dân dụng Việt Nam (LHKDD) 2006, Luật Hải quan và một số điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế cùng tham gia điều chỉnh như: Công ước Brussel 1924, Công ước La Haye – Visby 1968, Công ước Hamburg 1978; Công ước Rotterdam 2009; Công ước Warsaw 1929

Theo đó, có thể phân loại cơ sở hạ tầng logistics gồm: cơ sở hạ tầng giao thông

vận tải và cơ sở hạ tầng thông tin và truyền thông Trong phạm vi của đề tài này,

tác giả chỉ tập trung phân tích cơ sở hạ tầng giao thông vận tải nhằm làm cơ sở lý luận nền tảng để nghiên cứu vận tải hàng hóa quốc tế Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải của logistics bao gồm:

Thứ nhất, cơ sở hạ tầng vận tải đường biển: với chiều dài bờ biển khoảng 3.260

km, cùng với nhiều cảng biển sâu, rộng, Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển vận tải biển Hiện nay, theo số liệu của Cục Hàng hải Việt Nam thì toàn quốc có 126 cảng được phân bố theo ba cụm tương ứng ba miền nhưng chỉ có 20 cảng quốc tế21

Trang 18

Trong đó có 44 cảng biển (219 bến cảng) với khoảng 45 km dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế đạt 470 – 500 triệu tấn/năm Sản lượng hàng hóa thông qua năm 2014 đạt 370,3 triệu tấn (trong đó hàng container đạt 10,24 triệu TEU) Đa số các cảng của Việt Nam là cảng nhỏ, các cảng chính là cảng Hải Phòng, Đà Nẵng, Sài Gòn nhưng đều là các cảng ở cửa sông và cách cửa biển từ 30 đếm 90 km, điều này gây bất lợi cho các tàu lớn cập cảng

Hiện Việt Nam có 597 chủ tàu thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó chỉ có 33 chủ tàu sở hữu đội tàu có tổng trọng tải lên 10.000 DWT, còn lại là đội tàu nhỏ thuộc các thành phần kinh tế tư nhân, nhỏ lẻ tại các địa phương Hải Phòng, Thanh Hóa, Thái Bình, Cần Thơ22

Thứ hai, vận tải đường hàng không:

Hiện nay ở Việt nam có tổng cộng 22 sân bay có hoạt động dân sự Đến năm 2015, Việt Nam sẽ có 24 sân bay dân dụng, trong số này đáng kể nhất là sự đầu tư xây dựng sân bay quốc tế Long Thành với tiêu chuẩn quốc tế của Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế (ICAO)23 Cat 4F, đáp ứng cho các loại máy bay lớn hiện đại cất, hạ cánh Tuy nhiên, chất lượng sân bay lớn ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, một số sân bay đã bắt đầu quá tải trong khi vận chuyển hàng hóa quốc tế chỉ tập trung ở sân bay Tân Sơn Nhất và sân bay Nội Bài

Về đội máy bay, đa số máy bay hiện nay của Việt Nam là máy bay đi thuê, Việt Nam chỉ sở hữu một số máy bay nhỏ, tầm bay hạn chế Đội tàu bay của hãng hàng không Việt Nam đạt 97 chiếc với độ tuổi trung bình 6 tuổi; số lượng tàu bay sở hữu là

43 chiếc, chiếm tỷ lệ 44,3% với độ tuổi trung bình là 5 năm Với xu hướng hội nhập sâu rộng vào hoạt động hàng không quốc tế, các hãng hàng không Việt Nam đã đưa vào đội tàu bay khai thác các chủng loại tàu bay mới, hiện đại và thông dụng trên thế giới như B777, A330, A321, B737, ATR72-50024 Ngoài ra, để tạo cở sở hạ tầng cần thiết cho việc phát triển vận chuyển từ cửa đến cửa (Door to door), các thiết bị xếp dỡ, vận chuyển hàng hóa bao gồm xe vận chuyển container/pallet, xe nâng hàng, thiết bị nâng container/pallet, băng chuyển hàng hóa, giá đỡ

Thứ ba, vận tải đường sông:

Việt Nam là một quốc gia có hệ thống giao thông đường sông rất phong phú và mật

độ dày đặc cao Khoảng 2.360 sông, kênh rạch với tổng chiều dài 220.000 km nhưng

Trang 19

chỉ có khoảng 19% (41.900 km) có khả năng khai thác vận tải Trong đó có hơn 7.189 cảng và bến thủy nội địa các loại, 4.809 bến bốc xếp hàng Đặc biệt là các loại tàu thuyền cỡ nhỏ, với các loại hàng hóa có giá trị thấp như than đá, gạo, cát, đá và các loại vật liệu khác25

Thứ tư, vận tải đường sắt:

Mạng đường sắt Việt Nam có tổng chiều dài 3.143km trong đó 2.531 km chính tuyến, 612 km đường nhánh và đường ga bao gồm 3 loại khổ đường: 1000mm chiếm 85%, khổ đường 1435mm chiếm 6%, khổ đường lồng (1435mm & 1000mm) chiếm 9% Hệ thống đường sắt chưa được điện khí hóa và chỉ có một chiều, điều này gây trở ngại không nhỏ trong việc tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển Đường sắt VN nối với đường sắt quốc tế qua các cửa khẩu với Trung Quốc Bên cạnh đó tiêu chuẩn kỹ thuật, kết cấu hạ tầng đường sắt nước ta còn ở mức thấp và lạc hậu26

Thứ năm, vận tải đường bộ:

Tuyến đường ô tô chính là tuyến đường bộ, nó hình thành một mạng lưới ô tô dưới dạng ba chiều hoặc mạng nhện Theo đó, tổng chiều dài đường bộ nước ta hiện có trên 258.200 km với 104 tuyến quốc lộ, 5 đoạn tuyến cao tốc và các tuyến đường do trung ương quản lý với tổng chiều dài 18.744 km

Về tiêu chuẩn kỹ thuật: đường có tiêu chuẩn kỹ thuật cao (cao tốc, cấp I, cấp II) chiếm tỷ trọng rất thấp chỉ đạt 7,51% Tỷ lệ đường đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cấp III, cấp

IV chiếm 77,73%; còn lại đường có tiêu chuẩn kỹ thuật thấp (cấp V, cấp VI) chiếm tỷ

lệ là 14,77%

Công cụ vận tải bằng ô tô chính là ô tô, có thể phân loại dựa vào trọng tải gồm: ô tô loại nhỏ, có trọng tải dưới 2,5 tấn/chiếc; ô tô trung bình có trọng tải đạt 2,5 – 5 tấn/chiếc; ô tô loại lớn có trọng tải từ 5 tấn/chiếc trở lên27

Nhận xét: Nhìn chung cơ sở hạ tầng logistics ở nước ta còn nghèo nàn, bố trí chưa

hợp lý và chất lượng kém Quy mô nhỏ ở cả cấp độ quốc gia, địa phương và vùng lãnh thổ lẫn các doanh nghiệp logistics Ngoài ra, chưa đủ khả năng đáp ứng được nhu cầu phục vụ việc lưu chuyển hàng hóa trong khi khối lượng hàng hóa tham gia vào quá trình lưu chuyển ngày càng lớn

Trang 20

Nội-Phát triển hạ tầng giao thông vận tải, các phương thức vận tải, hệ thống phân phối, kho vận ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển dịch vụ logistics nhưng hiện nay cơ sở

hạ tầng của Việt Nam chưa phát triển kịp với sự phát triển của nền kinh tế và cũng không đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của ngành dịch vụ logistics Do vậy, phát triển tốt cơ sở hạ tầng, cũng như các trung tâm logsitics là một trong các điều kiện tiên quyết cho các dịch vụ logistics phát triển, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh

tế quốc tế hiện nay Chính vì tầm quan trọng này nên Đảng và Nhà nước đã có những

cơ chế, chính sách phát triển, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng, nâng cao chỉ số phát triển về hạ tầng logistics Theo đánh theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank report, 2014), Việt Nam đã có sự cải thiện về hệ thống hạ tầng logsitcs từ vị trí

72 và điểm trung bình là 2,68/5 trong năm 2012 thì đến năm 2014, Việt Nam đã vươn lên vị trí 44 với điểm trung bình 3,11/5 Đây là một bước phát triển đáng kể, mang lại nhiều cơ hội và hy vọng phát triển trong tương lai

Hoạt động cung ứng dịch vụ logistics của doanh nghiệp Việt Nam

Thứ nhất, nhà cung ứng dịch vụ logistics:

Trên thế giới có nhiều khái niệm về nhà cung ứng dịch vụ logistics nhưng tựu

chung lại đều coi họ (Logistics Service Provider – LSP) là “các công ty độc lập tự thiết kế, thực hiện và quản lý những nhu cầu logistics trong chuỗi cung cấp của khách hàng”28

Luật Thương mại 2005 đưa ra khái niệm tại Điều 234: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật” Theo đó, DNVN để được kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp

ứng các điều kiện kinh doanh được quy định cụ thể tại các Điều 5, Điều 6, Điều 7 NĐ 140/2007

Hiện nay có khoảng 1200 doanh nghiệp và 25 đại diện của trên 30 tập đoàn giao nhận hàng đầu thế giới tham gia đầu tư và kinh doanh dưới nhiều hình thức Cả nước hiện có 7 trung tâm logistics và 19 ICD được đưa vào hoạt động29

Mặc dù dịch vụ logistics đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới nhưng ở Việt Nam còn khá mới mẻ Cùng với quá trình hội nhập, dịch vụ logistics đã theo chân các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Hàng loạt các công ty, doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực này đã ra đời và phát triển Tuy nhiên, cũng còn những hạn chế, khó khăn cần khắc phục

28

Lê Thị Minh Thảo(2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh dịch vụ logistics của các doanh nghiệp giao nhận vận

tải VN trong thời kỳ hội nhập WTO, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế

29 Đề án Tái cơ cấ u vậ n tả i biể n đ ế n nă m 2020, Bộ GTVT, Hà Nộ i, 4/2015

Trang 21

Thứ hai, quy mô hoạt động trên thị trường:

Thị trường dịch vụ logistics ở Việt Nam hiện chưa có quy mô lớn nhưng được đánh giá là đầy tiềm năng Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển, hướng vào xuất khẩu và có tốc độ tăng trưởng cao Chi phí logistics chiếm một tỉ lệ khá cao sao với GDP của quốc gia (25% GDP)

Hiện nay, các doanh nghiệp logistics của Việt Nam hoạt động khá chuyên nghiệp và hiệu quả nhưng trên thực tế chỉ mới đáp ứng được 25% nhu cầu thị trường và chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp các dịch vụ đơn lẻ, một số công đoạn của cả chuỗi dịch vụ logistics30

Khoảng 80% doanh nghiệp chỉ nằm trong giai đoạn đầu của chuỗi giá trị ngành, tức

là chủ yếu hoạt động ở mô hình 1PL31 và 2PL32 Hầu hết các DNVN mới đóng vai trò

là những nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các công ty logistics nước ngoài như đảm nhận các việc khai báo hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi chưa có doanh nghiệp nào đủ sức tổ chức, điều hành toàn bộ quy trình hoạt động logistics Các dịch vụ 4PL33 chưa được phát triển34

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới: chỉ số LPI ( Logistics Performance Index) Việt Nam ở mức trung bình, nhưng đã có sự phát triển đáng kể khi vươn lên xếp vị trí thứ 48 thế giới (năm 2014) với năng lực tổng hợp đạt 3,15 điểm theo thang điểm 5 (năm 2007: xếp vị trí 53 với số điểm 2,89)35

Như vậy, hoạt động logistics tại Việt Nam, mặc dù đây là lĩnh vực mới mẻ nhưng

có tầm quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, phát triển dịch vụ logistics sẽ tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, hoạt động logistics còn một số tình trạng cần phải khắc phục trong thời gian tới Đó là, hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động logistics còn nhiều hạn chế, chưa có một cơ chế, chính sách đồng bộ; chưa xây dựng được chiến lược tổng thể phát triển logistics ở Việt Nam; quy mô doanh nghiệp logistics chủ yếu là vừa và nhỏ, kinh doanh manh mún, hoạt động cơ bản tập trung ở thị trường nội địa; thị trường logistics hạn chế, chưa tương

30

http://www.thamico.com/vi/news/214-thi-truong-dich-vu-logistics-viet-nam-co-hoi-va-thach-thuc-.html (truy cập ngày 20/6/2015)

33

Logistics bên thứ 4 (4PL – Fourth party logistics): người cung cấp dịch vụ là người tích hợp (intergrator), gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vât chất khoa học kỹ thuật với các yếu tố khác nhằm vận hành cả quá trình logistics

Trang 22

xứng với tiềm năng; cơ sở hạ tầng cho hoạt động logistics còn yếu kém, hạn chế sự phát triển và dẫn đến chi phí logistics ở Việt Nam

Vận tải hàng hóa quốc tế trong chuỗi dịch vụ logistics

Khái quát về vận tải hàng hóa quốc tế

Khái niệm, đặc điểm của vận tải quốc tế

Vận tải theo nghĩa rộng được hiểu là một quy trình kỹ thuật nhằm di chuyển vị trí của con người hay hàng hóa nhằm đáp ứng các yêu cầu nào đó Còn theo nghĩa hẹp (dưới góc độ kinh tế), vận tải chỉ bao gồm những sự di chuyển của vật phẩm và con người khi đồng thời thỏa mãn hai tính chất: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập36

Hoạt động vận tải trên thực tế là một hoạt động rất đa dạng và phong phú Do vậy, giới hạn trong đề tài này, tác chỉ sẽ chỉ phân tích vận tải ở phạm vi vận tải quốc tế với đối tượng vận chuyển là hàng hóa và hoạt động trong hai môi trường: vận tải đường biển và vận tải đường hàng không

Theo đó, vận tải quốc tế là cầu nối cho các mối quan hệ kinh tế thương mại giữa các nước trên thế giới xích lại gần nhau hơn Có thể đưa ra khái niệm về vận tải quốc tế

như sau: “Vận tải quốc tế là hình thức chuyên chở hàng hóa giữa hai hay nhiều nước, tức là điểm đầu và điểm cuối của quá trình vận tải nằm ở hai nước khác nhau” 37 Vận tải quốc tế là một phần của vận tải - bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân nên vận tải quốc tế cũng mang những đặc điểm của vận tải như sau:

Thứ nhất, vận tải là ngành sản xuất vật chất của xã hội: khi nói về vận tải, C.Mác

khẳng định: “Ngoài ngành khai khoáng, ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến

ra, còn có một ngành sản xuất vật chất thứ tư nữa, ngành đó cũng trải qua ba giai đoạn sản xuất khác nhau là thủ công nghiệp, công trường thủ công và cơ khí Đó là ngành vận tải, không kể là ngành vận tải người hay vận tải hàng hóa”38

Như vậy theo quan điểm này, vận tải là một ngành sản xuất vật chất của xã hội Trong sản xuất của ngành vận tải, con người cũng thông qua công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm của ngành vận tải – sự di chuyển vị trí của hành khách, hàng hóa nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người

Trang 23

Thứ hai, vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt của xã hội: vận tải vừa có các

đặc điểm chung của các ngành sản xuất vật chất khác đồng thời có những đặc điểm rất riêng biệt Tính riêng biệt của ngành sản xuất vận tải được thể hiện:

- Quá trình sản xuất vật chất không làm thay đổi hay mất đi các tính chất

lý, hóa của đối tượng vận chuyển Bởi, đây là một quá trình tác động nhằm làm

thay đổi vị trí của đối tượng vận chuyển trong không gian chứ không tác động

về mặt kỹ thuật vào đối tượng lao động để tạo thành sản phẩm như các ngành sản xuất khác Hơn nữa, mục đích sản xuất của ngành vận tải là đảm bảo an toàn cho đối tượng vận chuyển Vì vậy, trên thực tế, nếu có sự thay đổi trong quá trình vận chuyển thì hoàn toàn do các yếu tố khách quan tác động chứ không phải là mục đích của quá trình sản xuất của ngành vận tải

- Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gắn liền và không tách rời nhau: đối tượng sản xuất của ngành vận tải không giống như các ngành sản

xuất thông thường khác, vì sản phẩm vận tải không có một khoảng cách về thời gian giữa sản xuất và tiêu dùng Nghĩa là, khi quá trình sản xuất vận tải kết thúc thì đồng thời sản phẩm vận tải được tạo ra Do vậy, trong sản xuất của ngành vận tải không có sản phẩm dự trữ

- Sản phẩm vận tải không có hình dáng, kích thước, trọng lượng nhưng vẫn có tính vật chất: sản xuất trong ngành vận tải không sáng tạo ra sản phẩm

mới như các ngành sản xuất vật chất khác, mà sáng tạo ra sản phẩm đặc biệt đó

là sự di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển trong không gian nhằm đáp ứng nhu cầu của con người Mặc dù sản phẩm vận tải tồn tại dưới dạng vô hình nhưng giống với các loại hàng hóa khác là vẫn mang hai thuộc tính của hàng hóa: tính giá trị và tính sử dụng

Kết luận: vận tải quốc tế là ngành sản xuất vật chất đặc biệt, là ngành kinh tế độc

lập, một bộ phận cấu thành nền kinh tế xã hội, tạo ra sản phẩm xã hội và có thu nhập quốc dân

Vai trò của vận tải hàng hóa quốc tế

Thứ nhất, vận tải quốc tế có mối quan hệ mật thiết với mua bán quốc tế:

Mối quan hệ này được thể hiện ở chỗ, khi mua bán hàng hóa quyền sở hữu được thay đổi từ người bán sang người mua, còn di chuyển quyền sở hữu đó phải nhờ vào vận tải Vận tải là khâu không thể thiếu trong mua bán hàng hóa quốc tế Chính vì vậy, tập quán thương mại quốc tế (Incoterms) quy định rất cụ thể về trách nhiệm vận chuyển hàng hóa tùy thuộc vào điều kiện cơ sở giao hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng mà sẽ thuộc về người mua hoặc người bán

Trang 24

Vận tải và ngoại thương có mối quan hệ hữu cơ với nhau có tác dụng thúc đẩy nhau cùng phát triển Trước đây, vận tải quốc tế là tiền đề, điều kiện tiên quyết để mua bán

hàng hóa quốc tế ra đời và phát triển V.Lê nin đã nhận định rằng: “Vận tải là phương tiện vận tải vật chất của mối liên hệ kinh tế với nước ngoài”39 Khi mua bán hàng hóa quốc tế được mở rộng và phát triển lại tạo ra những yêu cầu tất yếu để thúc đẩy vận tải quốc tế ngày càng phát triển và hoàn thiện Hiện nay, tất cả các phương thức vận tải hiện đại đều tham gia phục vụ chuyên chở hàng hóa quốc tế, trong đó vận tải đường biển giữ vai trò chủ đạo

Thứ hai, vận tải phát triển góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường trong mua bán quốc tế:

Trước đây, khi vận tải chưa có điều kiện để phát triển thì việc mua bán hàng hóa giữa các quốc gia với nhau về loại hàng hóa, số lượng, giá trị hàng hóa còn hạn chế,

cơ cấu hàng hóa trên thị trường thế giới đơn giản, nghèo nàn Hơn nữa, không cho phép mở rộng quan hệ mua bán tới những thị trường xa xôi Khi vận tải đã phát triển

và hoàn thiện về hệ thống kỹ thuật lẫn giá thành vận tải, cơ cấu hàng hóa trên thị trường đã bắt đầu có sự thay đổi theo chiều hướng mở rộng ra, đa dạng, phong phú Người ta có thể bán tất cả những gì mình có và ngược lại có thể mua tất cả những gì mình cần, từ những hàng hóa đơn giản như các nguyên, nhiên, vật liệu cho đến những hàng hóa cao cấp mang tính kỹ thuật như máy móc, thiết bị, hay từ lương thực, thực phẩm thiết yếu đến những đồ xa xỉ

Vận tải quốc tế mở rộng, giá thành vận tải giảm, cự ly vận chuyển trung bình tăng, điều kiện vận chuyển dễ dàng tạo ra những thuận lợi cần thiết cho việc mở rộng thị trường mua bán quốc tế Người mua có thể mua hàng ở nhiều thị trường khác nhau và người bán cũng có thể bán hàng ở nhiều thị trường khác nhau mà không bị ràng buộc nhiều về khoảng cách vận chuyển như trước

Thứ ba, vận tải quốc tế ảnh hưởng tới cán cân thanh toán quốc tế và hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu của nền kinh tế quốc dân:

Vận tải quốc tế có hai chức năng là phục vụ và kinh doanh Chức năng phục vụ được thể hiện ở chỗ vận tải quốc tế có thể đảm bảo phục vụ nhu cầu chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu của mỗi nước; chức năng kinh doanh thể hiện trong việc xuất khẩu sản phẩm vận tải, nhất là vận tải đường biển Nếu có thể xuất khẩu nhiều sản phẩm vận tải cũng như các dịch vụ có liên quan đến vận tải sẽ thu được nhiều ngoại tệ, xuất siêu sản phẩm vận tải quốc tế sẽ có tác dụng tốt đối với cán cân thanh toán quốc tế,

39C.Mác, F.Ăng ghen, V.Lê nin,Bàn về giao thông vận tải, Nxb Sự thật, Hà Nội 1963, tr 26

Trang 25

ngược lại, thiếu hụt trong các cán cân xuất nhập khẩu sản phẩm vận tải quốc tế sẽ làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế

Chi phí vận tải trong mua bán quốc tế, bao gồm toàn bộ chi phí có liên quan đến quá trình tổ chức chuyên chở và chuyên chở hàng hóa từ nơi gửi hàng tới nơi nhận hàng Chi phí vận tải nói chung và cước phí nói riêng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc cấu thành giá bán của sản phẩm trên thị trường cho nên khi mua bán hàng hóa quốc tế cả người xuất khẩu cũng như người nhập khẩu đều phải quan tâm đến phí vận tải mà cơ bản là cước phí khi tính toán giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu Như vậy, vận tải hàng hóa quốc tế có vai trò quan trọng trong hoạt động ngoại thương thông qua việc thúc đẩy hoạt động mua bán quốc tế phát triển, mở rộng cơ cấu hàng hóa và thị trường trong mua bán quốc tế Ngoài ra còn có ý nghĩa đối với cán cân thanh toán quốc tế và hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế quốc dân

Mối liên hệ giữa vận tải quốc tế và dịch vụ logistics

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, bản chất của logistics đó là một quá trình bao gồm nhiều hoạt động có tính tương hỗ lẫn nhau, nó không phải là một hoạt động đơn lẻ, do đó nếu muốn toàn bộ quá trình được diễn ra một cách thuận lợi cần nhịp nhàng phối hợp các hoạt động này với nhau Và vận tải (Transportation) là một trong những mắt xích quan trọng nhất của chuỗi cung ứng dịch vụ logistics, là phương thức chuyên chở, mạch máu lưu thông toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp Mối liên hệ của vận tải và dịch vụ logistics được thể hiện như sau:

Thứ nhất, vận tải là một mắt xích trong chuỗi dịch vụ logistics, giúp hoạt động logistics diễn ra một cách bình thường Và ngược lại, logistics thúc đẩy sự phát triển của vận tải

Vận tải tham gia vào chuỗi dịch vụ logistics từ giai đoạn sản xuất cho đến khi phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng Bởi lẽ, các nhà sản xuất không phải lúc nào cũng có sẵn các nguồn nguyên nhiên vật liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất ra sản phẩm, hơn nữa nếu có thì việc sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ này không mang lại nhiều lợi nhuận cho các nhà sản xuất, vì họ phải mất thêm khoản chi phí để lưu kho, bảo quản Đồng thời sẽ không tạo được tính linh hoạt trong vấn đề nắm bắt các nhu cầu của thị trường để tiến hành sản xuất Do vậy, các nhà sản xuất sẽ chủ động tổ chức việc thu mua, lựa chọn các phương tiện vận tải phù hợp nhằm giảm được tối đa các chi phí kể trên Và vận tải đã phải tham gia vào việc vận chuyển các nguồn nguyên liệu này đến các nhà xưởng, thậm chí ngay cùng cùng một phân xưởng Khi sản phẩm

đã được hoàn thiện, vận tải chính là yếu tố giúp các nhà sản xuất đưa các thành phẩm

Trang 26

này ra thị trường, thực hiện chức năng phân phối cho đến khi sản phẩm được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng

Ngoài ra, các phương tiện vận tải, cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật của hệ thống vận tải cũng góp phần không nhỏ vào việc thực hiện các hoạt động còn lại của chuỗi dịch

vụ logistics Đặc biệt, khi vấn đề mua bán hàng hóa quốc tế đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ, vận tải quốc tế tham gia tích cực và đóng vai trò to lớn đối với sự phát triển của dịch vụ logistics Do vậy, nếu phát triển một hệ thống giao thông vận tải tốt sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho doanh nghiệp

Ngược lại, khi hoạt động logistics phát triển đồng thời cũng mang lại nhiều cơ hội phát triển cho dịch vụ vận tải Vì một trong những mối quan tâm hàng đầu của logistics là phát triển cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, vận tải sẽ tận dụng những điều kiện này để phát triển Hơn nữa, việc quản lý và kiểm soát được các luồng chu chuyển

sẽ tiết kiệm được thời gian, giảm chi phí vận tải góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các nhà vận tải trong nước so với khu vực và thế giới

Thứ hai, chi phí logistics phụ thuộc rất nhiều vào chi phí vận tải Do đó, nếu muốn

giảm chi phí logistics để tăng lợi nhuận, nhất thiết các doanh nghiệp phải giảm chi phí vận tải Để thực hiện hoạt động logistics cần có chi phí nhất định Chi phí chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp Vì vậy, việc tăng hay giảm chi phí này ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận của doanh nghiệp

Chi phí logistics được hiểu là chi phí dùng trong việc sử dụng các nguồn lực khác nhau, bao gồm: nhân lực, hàng hóa, tiền bạc, thông tin để thực hiện dịch vụ chăm sóc khách hàng và được tính bằng khối lượng tiền tiêu thụ Khi gắn với dòng chu chuyển hàng hóa thương mại, chi phí logistics diễn tả số tiền được chi cho hệ thống phân phối dịch vụ hậu mãi,nguồn cung ứng hàng hóa và việc điều hành sản xuất (liên quan trực tiếp tới lưu chuyển hàng hóa)

Trong các yếu tố cấu thành chuỗi logistics và chi phí logistics thì chi phí vận tải thường chiếm 1/3 tổng chi phí logistics Do vậy có thể nói rằng, cắt giảm chi phí vận tải sẽ giảm chi phí logistics Chi phí vận tải lại phụ thuộc vào các yếu tố như thời gian, quãng đường, giá trị khối lượng hàng hóa cũng như khoảng cách, vị trí kho hàng cũng như các trung tâm phân phối so với nơi sản xuất

Như vậy, vận tải hàng hóa nói chung và hàng hóa quốc tế nói riêng là một mắt xích quan trọng nhất trong chuỗi dịch vụ logistics và có mối liên hệ tác động qua lại lẫn

Trang 27

nhau Theo đó, phát triển vận tải hàng hóa quốc tế đồng thời cũng có ý nghĩa trong việc phát triển dịch vụ logistics và ngược lại

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế

Hợp đồng vận tải hàng hóa quốc tế

Khái niệm:

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa (tài sản) theo Điều 535 Bộ luật Dân sự 2005 định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển tài sản đến địa điểm đã thỏa thuận và giao tài sản đó cho người có quyền nhận, còn

bên thuê vận chuyển có trách nhiệm trả cước phí vận chuyển

Hợp đồng vận tải hàng hóa bằng đường biển: theo khoản 1 Điều 70 BLHH 2005

được hiểu là văn bản cam kết giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo

đó người vận chuyển sẽ cam kết vận chuyển hàng hóa từ cảng này đến cảng khác theo yêu cầu của người thuê, còn người thuê vận chuyển cam kết thanh toán cước phí Điều này cũng được quy định tương tự tại Điều 1 Quy tắc Hague và khoản 6 Điều 1 Quy tắc Hamburg 1978 Tuy nhiên, trong Quy tắc Hague thì chỉ định nghĩa “hợp đồng chuyên chở”, được hiểu chỉ là những hợp đồng được “chứng nhận bằng một vận tải đơn đường biển hay một tài liệu quyền sở hữu tương tự”, điều này đã được định nghĩa chặt chẽ hơn là: “hợp đồng chuyên chở bằng đường biển” trong Quy tắc Hamburg

Hợp đồng vận tải hàng hóa bằng đường hàng không: Điều 128 Luật HKDD

2006 quy định: hợp đồng vận chuyển hàng hóa là sự thỏa thuận giữa người vận chuyển

và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến địa điểm đến và trả hàng hóa cho người có quyền nhận; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán cước phí vận chuyển

Như vậy, hợp đồng vận chuyển hàng hóa xét về bản chất là một hợp đồng dân sự

Vì vậy, nền tảng pháp lý của hợp đồng này cũng phải thể hiện sự tự do ý chí và tự do định đoạt giữa hai bên: vận chuyển và bên thuê vận chuyển Do đó, hợp đồng vận chuyển là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hóa đến nơi và trả hàng theo thỏa thuận; bên thuê vận chuyển có nghĩa vụ trả

cước phí cho bên vận chuyển

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế: về bản chất là là một hợp đồng vận chuyển

có yếu tố nước ngoài Yếu tố quốc tế có thể được quy định dựa trên tính chất kinh tế (đảm bảo quyền lợi thương mại) hoặc tính chất pháp lý của hoạt động (chịu sự chi

Trang 28

phốicủa hơn 1 hệ thống pháp luật)40 Tính “quốc tế” ở đây có thể hiểu là việc thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa phải được diễn ra ở ít nhất hai quốc gia khác nhau

Đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế:

Thứ nhất,chủ thể của hợp đồng bao gồm: người vận chuyển và người thuê vận chuyển

Người vận chuyển:

Trong hợp đồng vận chuyển đường biển, Quy tắc Hague gọi là “người chuyên chở”,

bao gồm: “chủ tàu hoặc người thuê tàu ký kết một hợp đồng chuyên chở với người gửi hàng”41 Trong khi Quy tắc Hamburg đã mở rộng định nghĩa về người chuyên chở tại

khoản 1 Điều 1 “là bất kỳ người nào, tự mình hoặc trên danh nghĩa của mình đã ký kết với người gửi hàng một hợp đồng vận tải bằng đường biển”, theo đó người chuyên

chở bao gồm cả người gom hàng hoặc là người vận tải đa phương thức có ký một hợp đồng phụ với người người vận chuyển đường biển để thực hiện chặng đường biển của hành trình

Hợp đồng vận chuyển đường hàng không tại khoản 1 Điều 128, người vận chuyển

chính là: “tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằng đường hàng không”

mà thực chất là do các doanh nghiệp vận chuyển hàng không (gọi là hãng hàng không) thực hiện

Người thuê vận chuyển:

Là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người vận chuyển Người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển hàng không là người gửi hàng Còn trong hợp đồng vận chuyển bằng đường biển Người thuê vận chuyển có thể là người mua, người bán hoặc người được

ủy thác của người mua hoặc người bán ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Điều 3.1 Quy tắc Hamburg gọi là “người gửi hàng”

Trong thực tế kinh doanh ngoại thương nhiều khi người ký kết hợp đồng mua bán hoặc hợp đồng chuyên chở và người thực sự giao hàng không phải là một người Việc phân biệt hai người này là tùy thuộc vào hệ thống pháp luật của từng nước, tuy nhiên, Quy tắc Hamburg đã đề cập đến hai người này và coi họ là như nhau Điều này tạo điều kiện thuận lợi về mặt thương mại là người chuyên chở hoặc đại lý của họ không cần thiết kiểm tra bên giao hàng là người ký hợp đồng hay đại diện của họ Người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không và hợp đồng vận

40

Bùi Thị Thu (2010), Tư pháp quốc tế, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.234

41 Điều 1 - Quy tắc Hague

Trang 29

chuyển đa phương thức là người gửi hàng Người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác ký kết hợp đồng vận chuyển với người vận chuyển

Tựu chung lại, dù là hợp đồng vần chuyển hàng hóa bằng đường biển, hay đường hàng không thì cũng có hai bên trong mối quan hệ hợp đồng là bên vận chuyển và bên thuê vận chuyển, quan trọng nhất là giữa họ có ký kết một hợp đồng vận chuyển hàng hóa

Thứ hai, hình thức hợp đồng chuyên chở hàng hóa:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 356 của BLDS 2005 thì hình thức của hợp đồng vận chuyển tài sản là bằng lời nói hoặc bằng văn bản Tuy nhiên, vì tính chất phức tạp của hợp đồng cũng như đây là lĩnh vực ẩn chứa nhiều rủi ro mất má, hư hỏng hàng hóa trong quá trình vận chuyển nên PLVN quy định hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, đường hàng không phải là văn bản (trừ trường hợp nếu hợp đồng vận chuyển theo chứng từ vận chuyển thì hình thức giao kết do các bên thỏa thuận)

“Văn bản” được hiểu là: “ngoài những cái khác, bao gồm cả điện tín và telex”42

Việc quy định telex, fax là văn bản mặc dù rất dễ bị giả mạo, tuy nhiên việc quy định này rõ ràng là cần thiết Bởi xuất phát từ thực tế trong những trường hợp người nhận hàng phải gửi thông báo về tốn thất hoặc tổn hại của hàng hóa cho người chuyên chở bằng văn bản không chậm hơn ngày tiếp sau ngày hàng hóa được chuyển giao sẽ khó khăn nếu trụ sở của hai người này cách nhau một khoảng đáng kể thì việc gửi thông báo qua telex hay fax là khả quan nhất

Thứ ba, đối tượng hợp đồng:

Đối tượng của hợp đồng là công việc vận chuyển hàng hóa, còn đối tượng chuyên chở là hàng hóa “Hàng hóa” là có sự quy định khác nhau: Quy tắc Hamburg và BLHH 2005 quy định hàng hóa có nghĩa rộng hơn Quy tắc Hague Theo đó, hàng hóa bao gồm cả súc vật sống và hàng được đóng trong container, pallet hoặc công cụ vận tải tương tự43 Điều này là cần thiết vì nó bảo vệ nhiều hơn cho người gửi hàng Trong khi, Quy tắc Hague chỉ quy định hàng hóa bao gồm của cải, vật dụng, dụng cụ chở trên tàu và được chứng thực bởi một vận tải đơn Có nghĩa là đối với những hàng hóa là súc vật sống hoặc hàng được đóng trong container hay pallet nếu xảy ra tổn thất thì chủ hàng không được vận dụng quy tắc này để đòi bổi thường

Trang 30

Chứng từ vận tải trong vận tải hàng hóa quốc tế

Chứng từ vận tải trong vận tải hàng hóa bằng đường biển, bao gồm: vận đơn, vận đơn suốt đường biển, giấy gửi hàng đường biển và các chứng từ vận tải khác44 Còn chứng từ trong vận tải hàng không theo quy định của Công ước Warsaw 1929 bao gồm: vé hành khách và không vận đơn; LHKDD 2006 quy định chứng từ vận tải đối với vận tải hàng hóa bao gồm vận đơn hàng không và biên lai hàng hóa vận chuyển nhiều kiện hàng hóa45 Tuy nhiên, giới hạn trong đề tài này, tác giả chỉ nghiên cứu chứng từ là vận đơn vận tải hàng hóa

Thứ nhất, vận đơn đường biển (Bill of Lading – B/L):

Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2005 quy định, vận đơn được hiểu là bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Quy tắc Hamburg cũng quy định tương tự, vận đơn đường biển là một bằng chứng cho hợp đồng vận chuyển đường biển và cho việc người chuyên chở đã nhận hàng Quy tắc Hague không định nghĩa vận tải đơn đường biển, tuy nhiên ở các Khoản 3, 4 Điều 3 cũng đưa ra được những đòi hỏi về nội dung của vận đơn và vai trò pháp lý là bằng chứng về việc người chuyên chở đã nhận hàng lên tàu

Phân loại vận đơn đường biển: trong vận tải biển và thương mại quốc tế thường gặp nhiều vận đơn: Vận đơn đến thẳng (Direct B/L); vận đơn chuyển tải, còn được gọi là vận đơn chở suốt (Through B/L); vận đơn hoàn hảo (Clean B/L); vận đơn không hoàn hảo (Unclean B/L); vận đơn đã xếp hàng (Shipped on Board B/L); vận đơn nhận để xếp (Received for Shipment B/L); vận đơn đến chậm (Late B/L); vận đơn theo lệnh (Order B/L); vận đơn đích danh (Straight B/L); vận đơn xuất trình (To Bearer B/L); vận đơn theo hợp đồng thuê tàu (Charter Party B/L) Vận đơn thường đươc làm thành

3 bản chính, số bản phụ tùy theo yêu cầu, khi có một bản chính được sử dụng để nhận hàng thì hai bản còn lại sẽ không có giá trị nữa

Thứ hai, vận đơn đường hàng không (Airway Bill – AWB):

Là một chứng từ đối với người gửi hàng hoặc được họ ủy quyền lập ra và được giao cho hãng hàng không cùng với hàng hóa Công ước Warsaw 1929 gọi là giấy gửi hàng hàng không, Nghị định thư Hague 1955 gọi là vận đơn hàng không Theo khoản 1

Điều 129 Luật HKDD 2006, Vận đơn hàng không là chứng từ vận chuyển hàng hoá

44

Khoản 1 Điều 73 – BLHH 2005

45 Điều 133 – LHKDDVN 2006

Trang 31

bằng đường hàng không và là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng, việc đã tiếp

nhận hàng hoá và các điều kiện của hợp đồng

Các loại vận đơn hàng không: căn cứ vào người cấp có các loại sau đây: vận đơn chủ (Master AWB – MAWB); vận đơn gom hàng (Hosue AWB – HAWB); vận đơn của hãng hàng không (Airline AWB); vận đơn trung lập (Neutral AWB)

Mối quan hệ giữa hợp đồng vận tải và chứng từ vận tải

Thứ nhất, mối quan hệ giữa hợp đồng vận tải hàng hóa bằng đường biển và vận đơn đường biển:

Khi các bên ký kết hợp đồng vận chuyển, người chuyên chở sẽ ký phát một vận đơn đường biển, vận đơn này có chức năng như một bằng chứng duy nhất xác nhận hợp đồng vận chuyển trên biển đã được ký kết; là biên lai nhận hàng để chở của người chuyên chở; là chứng từ xác nhận quyền sở hữu của hàng hóa ghi trên vận đơn Tuy nhiên, giữa vận đơn và hợp đồng vận chuyển hàng hóa có mối quan hệ độc lập với nhau:

- Hợp đồng thuê tàu chuyến (Voyage C/P):

Trước khi lập vận đơn, người chuyên chở và người thuê tàu có ký kết một hợp đồng thuê tàu Trong hợp đồng này quy định rất rõ quyền và nghĩa vụ của các bên Khi hàng hóa được xếp lên tàu hoặc được nhận để xếp lên tàu thì người chuyên chở có trách nhiệm cấp cho người gửi hàng một bộ vận đơn Có hai mối quan hệ phát sinh từ hai căn cứ pháp lý khác nhau: mối quan hệ phát sinh trên cơ sở hợp đồng thuê tàu chuyến

và mối quan hệ thứ hai là giữa người chuyên chở cấp vận đơn và người cầm giữ vận đơn dựa trên những nội dung được ghi trên vận đơn (trừ trường hợp vận đơn dẫn chiếu đến hợp đồng thuê tàu)

Lúc này, khi có phát sinh các vấn đề tranh chấp, tùy vào từng trường hợp sẽ dựa vào vận đơn hoặc hợp đồng thuê tàu để giải quyết: khi người nhận hàng đồng thời là người

ký hợp đồng thuê tàu thì căn cứ vào hợp đồng thuê tàu để giải quyết tranh chấp; khi người nhận hàng không phải là người ký hợp đồng thuê tàu thì căn cứ vào vận đơn; trường hợp vận đơn đã được chuyển nhượng cho người khác thì căn cứ vào vận đơn để giải quyết và; nếu trong vận đơn có dẫn chiếu tới hợp đồng thuê tàu hoặc vận đơn có ghi rõ “Vận đơn dùng với hợp đồng thuê tàu” thì sẽ căn cứ vào các điều khoản của hợp đồng thuê tàu để giải quyết tranh chấp46

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Luật dân sự Việt Nam số 33/2005/QH11 ngày 14/6/2005 Khác
2. Bộ Luật Hàng hải Việt Nam số 40/2005/QH11 ngày 14/6/2005 Khác
3. Luật Thương mại số 36/205/QH11 ngày 14/6/2005 Khác
4. Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 Khác
5. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của LHKDDVN số 61/2014 ngày 21/11/2014 Khác
6. Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Khác
7. Luật Đầu tƣ số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 Khác
9. Nghị định 30/2013/NĐ – CP ngày 08/04/2013 Về kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động không chung Khác
10. Nghị định 40/2014/ NĐ – CP ngày 14/4/2014 Về điều kiện kinh doanh vận tải biển và dịch vụ hỗ trợ vận tải biển Khác
11. Quyết định số 21/QĐ – TTg ngày 08/11/2011 Phê duyệt quy hoạch phát triển GTVT hàng không giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 Khác
12. Quyết định số 1495/QĐ – BGTVT ngày 27/04/2015 Phê duyệt Đề án Tái cơ cấu vận tải hàng không đến năm 2020 Khác
13. Quyết định số 604/QĐ – TTg 08/05/2015 phê duyệt đề án tăng cường kết nối GTVT trong ASEAN đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.Các văn bản quốc tế Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w