Đặc biệt, vấn đề bảo vệ QCN trong pháp luật tố tụng hình sự TTHS, quá trình giải quyết một vụ án hình sự là thực hiện nhiệm vụ xử lý nghiêm minh mọi loại tội phạm trước pháp luật và bảo
Trang 1PHAN THỊ ĐOÀI MSSV: 1155030024
NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN
VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 – 2015
GVHD: TS LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2KHOA LUẬT HÌNH SỰ -*** - PHAN THỊ ĐOÀI MSSV: 1155030024
NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN
VỀ QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 - 2015
GVHD: TS LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình
sự Nhật Bản về quyền im lặng của người bị buộc tội và kinh nghiệm cho Việt Nam” đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện Tôi sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi thắc mắc, khiếu nại sau này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 7 năm 2015
Sinh viên thực hiện
PHAN THỊ ĐOÀI
Trang 4Cô bận rộn với rất nhiều công việc trong giảng dạy nhưng Cô vẫn dành thời gian để giúp đỡ em trong suốt quá trình viết khóa luận Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt về mọi mặt cho em trong suốt bốn năm học tập tại Trường để em có thể được chọn viết khóa luận như ngày hôm nay Em cảm ơn các Thầy, cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy và chỉ bảo trong suốt quá trình em theo học, nghiên cứu và rèn luyện ở dưới mái trường Đại học Luật TP HCM Những kiến thức mà Thầy, cô truyền đạt không chỉ trau dồi cho em kiến thức trong thời gian học mà nó còn là nền tảng kiến thức cơ bản để giúp em viết khóa luận và định hướng công việc cho tương lai của em sau này nữa Xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian vừa qua
Mặc dù đã có rất nhiều sự cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song với kinh nghiệm và kiến thức còn hạn hẹp nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân em chưa thấy được Em rất mong nhận
Trang 5được sự đóng góp từ phía quý Thầy, cô giáo để khóa luận tốt nghiệp được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 7 năm 2015
Sinh viên
PHAN THỊ ĐOÀI
Trang 7MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận chung về quyền im lặng trong tố tụng hình sự 6
1.1 Lịch sử hình thành, phát triển và khái niệm QIL trong TTHS 6
1.2 Cơ sở pháp lý của quyền im lặng trong TTHS 14
1.3 Nội dung của quyền im lặng 19
1.4 Đặc điểm pháp lý của quyền im lặng 21
1.5 Ý nghĩa của quyền im lặng trong TTHS 23
Kết luận chương 1 28
CHƯƠNG 2: Nghiên cứu quyền im lặng trong pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản 29
2.1 Khái quát chung về mô hình tố tụng hình sự ở Nhật Bản 29
2.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản về quyền im lặng 33
2.2.1 Chủ thể của quyền im lặng 33
2.2.2 Trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm QIL 37
2.2.3 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản về quyền im lặng 41
Trang 82.2.4 Đánh giá ưu điểm và nhược điểm 46 Kết luận chương 2 48 CHƯƠNG 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội 48 3.1 Đánh giá pháp luật TTHS Việt Nam về cơ sở pháp lí cho việc ghi nhận
quyền im lặng và kinh nghiệm của Nhật Bản cho Việt Nam 49
3.1.1 Đánh giá pháp luật TTHS Việt Nam về cơ sở pháp lý cho việc ghi nhận quyền im lặng 49
3.1.2 Thực trạng ở Việt Nam hiện nay trong lĩnh vực TTHS 54 3.2 Đề xuất một số giải pháp để xây dựng và nâng cao khả năng cụ thể hóa quyền im lặng vào trong Bộ luật TTHS Việt Nam 58 Kết luận chương 3 66 PHẦN KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với tình hình hiện nay, tác giả nhận thấy rằng xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm những quyền con người (QCN) phù hợp với sự phát triển nền kinh tế, xã hội của đất nước, đúng định hướng xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa là rất quan trọng Đặc biệt, vấn đề bảo vệ QCN trong pháp luật tố tụng hình sự (TTHS), quá trình giải quyết một vụ án hình sự là thực hiện nhiệm vụ xử lý nghiêm minh mọi loại tội phạm trước pháp luật và bảo đảm QCN cho người bị buộc tội (NBBT), trong đó có quyền im lặng (QIL)
QIL chính là QCN, cụ thể tại điểm g, khoản 3, Điều 14, Công ước về các quyền
dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) đã ghi nhận “không ai buộc phải đưa ra lời
khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội” Với tư cách là
thành viên của Công ước, các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận QIL chính là QCN trọng tâm của NBBT cần được bảo vệ Chính vì vậy khi trở thành thành viên của Công ước ICCPR từ năm 1982 nước ta có trách nhiệm và nghĩa vụ nội luật hóa quy định này vào pháp luật của nước mình, cụ thể là ghi nhận vào pháp luật TTHS để đảm bảo quyền cho NBBT
Bộ luật TTHS năm 2003 hoàn thành và ra đời là một trong những thành công của quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Sự ra đời của Bộ luật TTHS đã đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của vấn đề bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi phạm tội Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng Bộ luật TTHS, bên cạnh những thành tích đạt được trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, xử lý tội phạm kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật thì không thể tránh khỏi những sai sót và tiêu cực nhất định vì những lí do khách quan, chủ quan khác nhau xuất phát từ các cơ quan tham gia tiến hành tố tụng (THTT), dẫn đến những vự án oan, sai vô cùng nặng nề và không đáng có để xảy ra trong thời gian qua tại một số địa phương trên
Trang 10cả nước Bức cung, nhục hình, không tôn trọng QIL của NBBT ngay tại giai đoạn bị
tạm giam tạm giữ Theo lời cảnh báo Miranda “Anh có quyền giữ im lặng Bất cứ
điều gì anh nói có thể và sẽ được sử dụng để chống lại anh trước toà” Từ lâu trong
pháp luật các quốc gia trên thế giới đã nhận thức được điều này, đây thể hiện sự tự
do của con người, không ai lại chống lại mình dù họ đang phạm tội hay không phạm tội Làm thế nào để hạn chế án oan sai ở nước ta, bởi vì hậu quả của án oan sai là vô cùng nặng nề, từ phía người bị kết án oan thì ngoài ảnh hưởng tới bản thân chính người bị kết án, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới thân nhân của người bị kết án oan đó, còn kẻ phạm pháp đúng nghĩa thì lại nằm nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật
Vì vậy quyền được im lặng trong TTHS nên được đưa ra để giải quyết cấp bách tình
trạng này, góp phần đáp ứng yêu cầu “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững
mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…”- Nghị quyết số 49/NQ-TW
về chiến lược cải cách tư pháp của Bộ Chính trị ban hành năm 2005 Hiện nay tình trạng án oan sai ngày càng rất nhiều bởi xuất phát điểm từ nhiều nguyên nhân khác nhau Tuy nhiên một trong những nguyên nhân liên quan mật thiết tới nó đó chính
là tôn trọng quyền được im lặng của NBBT ngay từ giai đoạn tạm giam tạm giữ, một khi quyền của NBBT xem nhẹ, ép cung nhục hình thì đã không thỏa mãn các yêu cầu theo trình tự thủ tục quy định của Bộ luật TTHS Khi thủ tục không đảm bảo, sự chủ quan duy ý chí xuất phát từ bất kỳ ai dù là bị can, bị cáo hay thậm chí từ
cơ quan THTT thì chính khi đó sự thật của vụ án hình sự sẽ gặp nhiều khó khăn, uẩn khúc và đó chính là một trong những nguyên nhân “chết người” dẫn tới án oan sai trong hình sự Có thể nói, nghĩa vụ phải chứng minh của chính cơ quan tiến hành tố tụng, quyền được im lặng của NBBT trong suốt quá trình điều tra, truy tố, thậm chí lúc xét xử vụ án hình sự, nó quyết định đến sự phán quyết đúng người đúng tội hay không của Tòa án
Việc học hỏi, tiếp thu những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và áp dụng pháp luật của các nước tiên tiến trên thế giới là một trong những cách thức để hoàn thiện những khiếm khuyết trong pháp luật của chính mỗi quốc gia là cần nên làm,
Trang 11đặc biệt là bảo vệ QIL của NBBT trong pháp luật TTHS Trong đó tác giả chọn Nhật Bản cho việc nghiên cứu qua đó để tiếp thu kinh nghiệm từ Nhật Bản cho xây dựng và áp dụng pháp luật ở nước ta bởi vì xuất phát từ những điểm tương đồng giữa nước ta và Nhật Bản
Vì những lí do trên, tác giải quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản về quyền im lặng của người bị buộc tội và kinh nghiệm cho Việt Nam” để làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến thời điểm hiện tại, tác giả nhận thấy có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến quyền của NBBT có thể kể tới như: công trình nghiên cứu khoa học năm 2012 “Quyền được miễn trừ nghĩa vụ khai báo trong tố tụng hình sự và vấn đề sửa đổi Hiến pháp năm 1992” của Thạc sỹ Lê Nguyên Thanh; đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường năm 2007 của tác giả Nguyễn Đức Huy với tên đề tài “Bảo vệ quyền con người trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”; đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2009 “Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Thái Phúc; bài viết khoa học năm 2014 “Quyền im lặng trong TTHS một số nước trên thế giới” của Tiến sỹ Nguyễn Quốc Việt; sách chuyên khảo năm 2012 “Những mô hình TTHS điển hình trên thế giới” của Tiến sỹ Tô Văn Hoà Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu và bàn bạc một cách cơ bản về QIL trong TTHS Việt Nam Trong khi đó đã có nhiều quốc gia trên thế giới, các Công ước quốc tế đã ghi nhận QIL chính là QCN của NBBT Đặc biệt khi Việt Nam chúng ta đã trở thành thành viên trong số những Công ước quốc tế đó Chính vì vậy tác giả cho rằng việc lựa chọn nghiên cứu đề tài này là cần thiết và qua đó để kiến nghị cần ghi nhận QIL vào trong pháp luật TTHS Việt Nam
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài “nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản về quyền im lặng của người bị buộc tội và kinh nghiệm cho Việt Nam” Thứ nhất, nghiên cứu những quan điểm, khái niệm về mặt khoa học và những cơ sở lý luận về QIL trên thế giới Thứ hai, nghiên cứu chủ đạo pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản
về quyền im lặng của người bị buộc tội Thứ ba, dựa trên những cơ sở trước đó, rà soát những quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta cũng đồng thời dựa trên những kinh nghiệm của Nhật Bản đề xuất cho Việt Nam trong việc quy định QIL vào pháp luật TTHS
Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận bằng cách tiếp cận những quan điểm khoa học tiến bộ về QIL trên thế giới cũng như trong nước Đồng thời nghiên cứu cơ sở pháp lý quy định tại pháp luật TTHS Nhật Bản, qua đó xem xét những quy định của pháp luật Nhật Bản về QIL Nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam có liên quan tới QIL
4 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu bằng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê khi tiến hành thống kê đưa ra các số liệu ở phần thực tiễn hoạt động thực thi QIL của NBBT trong TTHS, phương pháp so sánh khi
so sánh QIL của bị can bị cáo giữa thực trạng của nước ta với các quốc gia trên thế giới, phương pháp lịch sử nghiên cứu qua các thời gian khác nhau, từ đó để liên kết lại tạo sự logic, phương pháp nghiên cứu lý thuyết để thu thập, tìm kiếm thông tin
từ nhiều nguồn tư liệu trong và ngoài nước để phân tích và kết luận vấn đề, bên cạnh đó còn có những phương pháp như: phương pháp tổng hợp, phương pháp hệ thống
Trang 135 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
Mục đích của khóa luận Thứ nhất, tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử hình thành và
cơ sở lý luận cũng như thực tiễn áp dụng QIL trên thế giới Thứ hai, nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Nhật Bản quy định về QIL để rút ra những ưu và nhược từ
đó rà soát đánh giá những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam để đưa ra những
đề xuất góp phần nâng cao hiệu quả của QIL
Từ những mục tiêu trên khóa luận có nhiệm vụ như sau:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về quyền được im lặng trong tố tụng hình sự: khái niệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, thủ tục…
- Nghiên cứu quy định của pháp luật tố tụng hiện hành và các pháp luật các quốc gia khác trên thế giới, đặc biệt ở pháp luật TTHS Nhật Bản về quyền im lặng
- Tìm hiểu thực trạng quy định pháp luật nước ta về quyền im lặng và đề xuất QIL áp dụng vào Bộ luật TTHS nước ta
Trang 14CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Lịch sử hình thành, phát triển và khái niệm quyền im lặng trong tố tụng
hình sự
Hoàn thiện pháp luật để đảm bảo QCN trong pháp luật được mỗi một quốc gia đặt mục tiêu hàng đầu.Trong đó hoàn thiện pháp luật để bảo đảm QCN trong lĩnh vực TTHS lại được đặc biệt quan tâm hơn TTHS là một lĩnh vực đặc thù, có tính nghiêm khắc và răn đe cao Bên cạnh đó pháp luật TTHS thể hiện sự bất bình đẳng
rõ rệt nhất giữa một bên là cơ quan Nhà nước mang sức mạnh quyền lực Nhà nước
để thực hiện quyền buộc tội, một bên lại là người bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo,…(gọi chung là NBBT) là những người bị cho là phạm tội Vì vậy, nhiệm vụ của pháp luật TTHS lại đặt ra mục tiêu và có tính chất quan trọng là làm sao dung hòa được quyền và lợi ích của hai bên, là làm sao có thể buộc tội, xử lý nghiêm khắc, giáo dục người phạm tội, nhưng cũng đồng thời đảm bảo lợi ích chính đáng của Nhà nước, công dân, tổ chức trong đó bảo đảm tốt về lợi ích và quyền của NBBT Như tác giả đã trình bày ở trên, lĩnh vực TTHS có tính đặc thù và nghiêm khắc cao, vì vậy trong quá trình tiến hành các giai đoạn trong TTHS, đặc biệt là ở giai đoạn điều tra vụ án, nếu để ra những sai sót không đáng có thì có thể ảnh hưởng
rất lớn tới tính mạng của một con người Vì vậy, trong lĩnh vực TTHS cần “hoàn
thiện các thủ tục tư pháp, tôn trọng và bảo vệ QCN”1 Trong một thống kê của một công trình nghiên cứu ở nước ngoài, trên cơ sở tra cứu 420 bản Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới, đã thống kê đến gần 60 QCN được quy định trong các bản Hiến pháp các nước và Luật nhân quyền quốc tế Cụ thể như sau: quyền sống, tự do biểu đạt, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do báo chí, tự
do tư tưởng, ý kiến, quan điểm, quyền có quốc tịch, cấm hồi tố, không bị trường phạt khi luật chưa có quy định là tội phạm, quyền không bị tước tự do một cách tủy
tiện, quyền được suy đoán vô tội, quyền được im lặng hoặc không phải tự chứng
minh mình không phạm tội, quyền được yêu cầu xem xét là việc bắt giữ mình,
1 Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ chính trị ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Trang 15quyền được kháng cáo, quyền được xét xử công khai, quyền không bị xét xử hai lần
vì cùng một hành vi phạm tội, cấm tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục, … Trong thống kê trên đã cho thấy QIL chính là QCN của NBBT cần được bảo đảm Nghiên cứu này cho thấy, có rất nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa nội dung QIL là QCN vào trong các văn bản pháp lý của quốc gia mình, đặc biệt là quy định trong văn bản pháp lý cao nhất – Hiến pháp nhằm bảo vệ QCN của NBBT Tới đây có thể khẳng định QIL chính là QCN Về lý luận, gốc của QIL chính là nguyên tắc suy đoán vô tội (presumption of innocence), một nguyên tắc nhân đạo tôn trọng QCN và có tính phổ quát ở hầu hết hệ thống pháp luật TTHS Để hiểu rõ hơn về QIL được hình thành và được định nghĩa dưới gốc độ pháp luật theo chiều dài lịch
sử hình thành và phát triển tác giả xin khái quát về lịch sử hình thành như sau: Khái niệm về QIL đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử thế giới Qua tìm hiểu của tác giả xác định rằng Anh là quốc gia đầu tiên quy định về chế định QIL này Nước Anh vốn dĩ là một quốc gia theo mô hình tố tụng tranh tụng (Adversarial Model) Theo tìm hiểu của tác giả qua nhiều nguồn tài liệu, vào thế kỷ thế XVI ở Vương
quyền không bắt buộc phải đưa ra bằng chứng chứng minh mình có tội hay không
có tội cho tới thế kỷ XIX, xuất hiện vụ kiện Bodkin Adams với việc tình nghi người này đã thực hiện hành vi giết người hàng loạt được đưa ra xét xử Được Luật sư tư vấn, Bodkin Adams đã không đưa ra bằng chứng tại Tòa Mà sau này Melford Stevenson – là một Thẩm phán nổi tiếng ở nước Anh đã nhận định: “Vụ án của Bodkin Adams là một ví dụ rõ ràng về các đặc quyền của sự im lặng đã dấn đến một
NBBT, bởi những NBBT không có trách nhiệm phải chứng minh mình có tội hay không, vì trách nhiệm đó thuộc về các cơ quan nhà nước Nước Anh chính là quê hương, nơi ra đời của chế định QIL, như tác giả đã nhắc tới ở trên QIL được nhắc
2 http://m.vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/240877/quyen-im-lang khi-cuoc-song-khong-nhu-la-phim.html , bài viết của Bùi Phú Châu, trường Luật Westminster, Luân Đôn, Vương quốc Anh, truy cập ngày 13/5/2015
3 Nguyễn Quốc Việt, 2014, Bàn về quyền im lặng trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới, Khoa học Kiểm sát, số 01/2014, Tr.13
Trang 16đến đầu tiên ở Anh và cũng là lần đầu tiên trên thế giới vào thế kỷ XVI và thực sự hoàn thiện từ thế kỷ XIX Lúc đó khi Tòa án bắt đầu cảm thấy nghi ngờ về tính chính xác trong lời thú tội của bị cáo, rút ra từ quá trình điều tra không có cơ chế giám sát cần thiết Luật thẩm phán năm 1912 ra đời để đáp ứng đòi hỏi đó, rằng:
“cảnh sát được thực hiện bất kỳ cuộc thẩm vấn cần thiết nào trong quá trình giam
giữ, miễn rằng nó không dẫn đến kết quả là một lời thú tội được thực hiện trong sợ hãi và không tỉnh táo Nếu cảnh sát không tuân thủ điều này , thẩm phán có quyền loại bỏ bất kỳ bằng chứng buộc tội nào được đưa ra trước phiên tòa4” Tóm lại, ở
Anh chủ thể được hưởng QIL là những NBBT, được hưởng trong tất cả các giai đoạn tố tụng, chủ thể có nhiệm vụ chứng minh thuộc về các cơ quan THTT Cách hiểu của người Anh về QIL là quyền của một người bị tình nghi không trả lời bất kỳ câu hỏi nào của cảnh sát và được xem như là cách thức để bảo vệ người đó trước việc tự buộc tội chính mình, tuy nhiên nếu cảnh sát tìm ra được tội từ người bị buộc tội, thì đây là một trong những cơ sở luận tội họ tại phiên tòa, đây là điểm đặc biệt
để cho người bị buộc tội suy nghĩ lại trước lời họ định nói hay không định nói, được
quy định tại Điều 34, Luật tư pháp hình sự Anh năm 1994: “1 Trong bất kỳ giai
đoạn nào của thủ tục tố tụng đối với một tội phạm, nếu có cơ sở cho rằng, nghi phạm:
a) Vào bất kỳ thời điểm nào trước khi buộc tội, khi được hỏi một cách cẩn trọng bởi điều tra viên về việc có hay không hoặc ai đã thực hiện tội phạm, mà không cung cấp bất kỳ lời khai chính xác nào dựa vào đó bào chữa cho mình trong quá trình tố tụng hoặc
b) Khi đang bị cáo buộc phạm tội hoặc chính thức thông báo có thể bị truy tố,
không cung cấp bất kỳ lời khai chính xác nào về những sự thậy mà tại thời điểm được hỏi có thể suy luận hợp lý rằng nghi can sẽ khai báo khi được hỏi, yêu càu hay thông báo thì trong quá trình xác định rằng liệu nghi phạm có
4 Luật cảnh sát và chứng cứ hình sự Anh PACE, 1984
Trang 17tội hay không, có thể được sử dụng trong những suy luận buộc tội nếu phù hợp”
Một vụ án nổi tiếng ở Anh có liên quan tới QIL của NBBT, nên khi vi phạm cơ bản về QIL của NBBT thì dù họ mang trọng án giết người cũng thoát tội Đó là vụ
án hung thủ là Christoppher Halliwell, một tài xế taxi; nạn nhân là Rebecca Godden-Edwards, cảnh sát điều tra Steve Fulcher đã vi phạm cơ bản QIL của người
bị buộc tội Diễn biến vụ án, vào khoảng 2 giờ sáng ngày 19/03/2011 cô gái O’Callaghan được thấy trên camera quan sát an ninh đang rời hộp đêm Suju để đi
bộ khoảng 800m để đến căn hộ trong thị trấn cổ Swindon mà cô ở cùng với bạn trai Kenvin Reape Reape đã gửi một tin nhắn đến cho O’Callaghan khoảng hơn 1 giờ sau đó Nhưng 10 năm sau gia đình của Rebecca Godden-Edwards mới biết con gái
họ đã chết đúng vào ngày sinh nhật 29 tuổi của Godden-Edwards Tuy nhiên cảnh sát không thể buộc tội với Christoppher Halliwell về tội giết Rebecca Godden-Edwards vì đã vi phạm QIL, theo luật sư Richard Latham bào chữa cho Christoppher Halliwell cho rằng quy trình điều tra của thám tử Steve Fulcher đã thể hiện một sự xem thường đáng kính ngạc đối với quy định, luật lệ Ông trình bày với hai lập luận, thứ nhất tập trung vào cách hỏi cung thì diễn ra trên một đồi hoang vắng, trong lúc đó Christoppher Halliwell không có đại diện tư vấn pháp luật bên cạnh và không được thanh tra Steve Fulcher thông báo về QIL của bị cáo theo đúng luật định; tại một phiên họp của Tòa Hoàng gia Bristol, luật sư Richard Latham lại cho rằng Steve Fulcher đã cố ý không tuân thủ đạo luật Cảnh sát và chứng cứ hình
sự 1984 (PACE), theo đó nghi can khi bị bắt giữ vẫn có quyền được bảo vệ về mặt pháp lý Việc hỏi cung Christoppher Halliwell không phải tại đồn cảnh sát nhưng trên đỉnh đồi vắng đã tạo thêm sức ép đối với bị cáo và có thể coi như một kỹ xảo
để né tránh quyền có cố vấn pháp luật bên cạnh nghi can và QIL cho bị can, thẩm phán Cox hoàn toàn đồng ý với luật sư Richard Latham; lập luận thứ hai được luật
sư Richard Latham đưa ra với sự quan ngại thân chủ của ông có thể không nhận được một phiên xét xử công bằng khi thám tử Steve Fulcher để rò rỉ thông tin điều tra lên truyền hình Cuối năm 2012 Tòa án Hoàng gia Bristol đã kết án Christoppher
Trang 18Halliwell, 48 tuổi về tội giết và quan hệ tình dục với O’Callaghan, hắn cũng đã thừa nhận về tội của mình và bị tuyên phạt 25 năm tù giam Tuy nhiên sự liên quan giữa Christoppher Halliwell với nạn nhân Rebecca Godden-Edwards được đình chỉ, chưa
có bằng chứng pháp y nào liên quan Chính vì vậy mà Christoppher Halliwell đã
1994 (Đạo luật CJPO) quy định rằng việc NBBT không trả lời những câu hỏi do cảnh sát đưa ra về một sự việc nào đó khi bị buộc tội, khởi tố và truy tố trước khi đưa ra xét xử mà không có lý do chính đáng thì thẩm phán và bồi thẩm đoàn có quyền suy đoán bất lợi cho NBBT khi xem xét người này có tội hay không Điều này chứng tỏ NBBT có QIL ngay từ khi bị bắt giữ
Cùng với sự phát triển nhanh chống của pháp luật các quốc gia trên thế giới, bắt đầu thế kỉ XIX, QIL đã bắt đầu nở rộ được quy định trong pháp luật nhiều quốc gia Cho đến thế kỉ XX, ở nước Mỹ QIL được phát triển dựa trên nền tảng từ nước Anh,
ở Mỹ cho rằng QIL là một trong những quyền cơ bản nhất của NBBT Tại Mỹ câu nói cửa miệng của cảnh sát rất quen thuộc khi bắt một người bị cho là pham tội bắt
đầu bằng: “You have the right to remain silent Anything you say can and will be
used against you in a court of law You have the right to talk to a lawyer and have him present with you while you are being questioned If you can’t afford to hire a lawyer, one will be appointed to represent you before any questioning if you wish You can decide at any time to exercise these right and not ansewer any questions or make any statements (tạm dịch là “Anh có quyền giữ im lặng Bất cứ điều gì anh nói có thể sẽ được chúng tôi sử dụng để chống lại anh trước Tòa án Anh có quyền nói chuyện với Luật sư và có Luật sư hiện diện trong quá trình xét hỏi Nếu anh không thể thuê được Luật sư, anh vẫn được cung cấp một Luật sư bằng nguồn tài chính của Chính phủ”) Câu nói này đã xuất hiện từ sau vụ Miranda kiện Bang
Arizona vào năm 1966 Theo đó vụ án Miranda như sau, Ernesto Miranda, sinh năm
1941, Miranda vốn là một người hư hỏng, bị bắt ở Phoenix (Arinoza) về tội cướp và
5 http://phapluattp.vn/the-gioi/giet-nguoi-nhung-van-thoat-toi-445998.html , truy cập ngày 20/06/2015
Trang 19cưỡng dâm Sau khi bị bắt giữa, Miranda bị nhận dạng bởi những nạn nhân tố cáo Miranda được đưa vào một phòng hỏi cung tại đồn cảnh sát, cuộc hỏi cung kéo dài hơn 2 tiếng đồng hồ Trong suốt cuộc hỏi cung này, Miranda đã kí xác nhận vào bản thú tội và trên mỗi tờ giấy đều có in sẵn những dòng chữ rằng người khai hoàn toàn
tự nguyện không đe dọa, lừa dối hay được hứa sẽ được giảm tội Ngoài những dòng chữ đó ra Miranda không hề nhận được thêm thông báo rằng Marida có quyền được mời Luật sư Sau đó Miranda bị kết án 20 năm tù với tội danh cướp và cưỡng dâm Tuy nhiên, với sự biện hộ của Luật sư Alvin Moore, Miranda đã kháng án vì lí do anh ta không hề hay biết rằng mình có QIL và có quyền thuê Luật sư bào chữa có mặt cùng trong các cuộc hỏi cung, bởi vì cảnh sát không thông báo nên anh ta không biết Cuối cùng, sau nhiều lần kháng cáo, đến năm 1966, lúc này Miranda vừa bước qua tuổi 25, tại cấp giám đốc thẩm, Chánh án Tòa án tối cao Mỹ là ngài
Earl Warren ra phán quyết đối với đơn kháng cáo của Miranda như sau: “Một người
bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền được giữ im lặng và bất kỳ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để chống lại người đó trước tòa án Người đó phải được thông báo anh ta có quyền tư vấn và
có Luật sư ở bên cạnh trong khi thẩm vấn (nếu không đủ tài chính sẽ được chỉ định Luật sư)” Nếu những NBBT ở Hoa Kỳ không nhận được thông báo này từ cảnh sát
thì mọi lời khai của NBBT trước đó trong mọi trường hợp sẽ không được sử dụng như là những bằng chứng để buộc tội họ trước Tòa Qua đây cho chúng ta nhìn thấy rằng, ở Hoa Kỳ việc điều tra tội phạm, truy tìm thủ phạm là trách nhiệm của Nhà nước cụ thể là những cơ quan mang công quyền thực thi nhiệm vụ này trên thực tế, còn NBBT không phải có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội, trong mọi trường hợp
họ đều có QIL cho tới khi có Luật sư bên cạnh họ Ngày nay quyết định nổi tiếng của Tòa án tối cao Mỹ về vụ án Miranda này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, một lần nữa nó khẳng định giá trị mạnh mẽ của QIL (hay còn gọi là quyền Miranda) đối với nền tư pháp trong lĩnh vực TTHS ở Hoa Kỳ nói riêng và trên thế giới nói chung Tóm lại ở Mỹ trong mọi trường hợp, trong mọi đối tượng, trong mọi tội phạm, không phân biệt từng đối tượng, loại tội phạm cụ thể Cảnh sát Mỹ đều phải đọc
Trang 20cảnh báo Miranda trước khi hỏi cung người bị buộc tội có thể nói đây là điểm khác với nhiều quốc gia trên thế giới, tác giả thiết nghĩ sự quy định về QIL ở mỗi nước khác nhau do xuất phát từ đặc điểm kinh tế của từng quốc gia
Từ thế kỷ XVI cho tới thế kỷ XX và hiện nay, hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới đã thừa nhận QIL là nguyên tắc cơ bản và không thể thay đổi của NBBT Chính vì vậy mà hàng loạt quy định về QIL được trịnh trọng xuất hiện trong các văn bản pháp luật của các quốc gia trên thế giới sau đó Như ở nước Đức, quy định
cụ thể tại Điều 136, Bộ luật TTHS nước Cộng hòa liên bang Đức: “tại thời điểm
bắt đầu lấy lời khai lần đầu tiên, bị cáo sẽ được thông báo về tội danh bị khởi tố và các điều khoản luật hình sự áp dụng Anh ta sẽ được thông báo việc theo pháp luật, anh ta có quyền trình bày ý kiến đối với lời buộc tội hoặc không phát biểu bất cứ điều gì về lời buộc tội và ngay trước khi tiến hành kiểm tra, trao đổi với Luật sư bào chữa do anh ta lựa chọn Anh ta sẽ được hướng dẫn việc có thể yêu cầu thu thập chứng cứ để phục vụ cho bào chữa Trong những trường hợp phù hợp, bị cáo sẽ được thông báo rằng anh ta có thể trình bày ý kiến bằng văn bản Việc lấy lời khai phải tạo cơ hội cho bị cáo bác bỏ lý do nghi ngờ anh ta và đưa ra những tình tiết có lợi cho anh ta.”6 Điều này có nghĩa, đối với những NBBT trước khi tiến hành hỏi cung, điều tra, thẩm vấn thì cơ quan điều tra phải thông báo cho họ về QIL mà họ được hưởng Ở nước Thái Lan, nếu cho rằng Hoa Kỳ, Anh hay thậm chí Đức, đây là các cường quốc của thế giới, có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, có truyền thống pháp lý cần phải phù hợp với trình độ của đất nước,… Việt Nam chúng ta khó có thể tiếp thu để phù hợp với nước ta Tác giả sẽ trích dẫn sự tiến bộ để đảm bảo về QCN, đặc biệt là QCN dành cho NBBT, đây là những người sẽ chịu nhiều áp lực từ phía những người thực thi công quyền mang trong mình sức mạnh Nhà nước Thái Lan, một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, về vị trí địa lý gần với nước ta nhất và là một quốc gia bạn trên mọi mặt trong hiệp hội ASEAN, Thái Lan đã áp dụng QIL là một QCN, một quyền cơ bản cho NBBT tội trong pháp luật TTHS của
6 Điều 136, Bộ luật TTHS Cộng hòa Liên bang Đức
Trang 21quốc gia mình như sau: “trong trường hợp bắt giữ được thực hiện bởi một sĩ quan
phải thông báo cho người bị bắt của tội danh, xuất trình cho ông/bà ta một lệnh bắt , nếu có, và nói với người này rằng ông bà có quyền được giữ im lặng, bất cứ điều
gì ông/bà nói có thể và sẽ được sử dụng làm bằng chứng trong một phiên tòa, và ông/bà cũng có quyền gặp gỡ và tham vấn với một Luật sư…”.7 Cũng tương tự như các pháp luật các nước mà tác giả đã trình bày ở trên về sử dụng QIL đối với NBBT được quy định trong Bộ luật TTHS ở các quốc gia, thì Thái Lan cũng vậy, cũng với
ý nghĩa trước khi tiến hành bắt giữ một NBBT thì nhiệm vụ trước hết của cảnh sát
đó là phải thông báo cho NBBT về QIL mà họ được hưởng này Tiếp theo Điều 83,
ở Điều 84 cũng tiếp tục quy định cụ thể như sau: “một viên chức hay công dân tiến
hành bắt giữ phải không chậm trễ đưa người bị bắt cho cơ quan cảnh sát tư pháp theo Điều 83 Khi đến đó, người bị bắt phải được chuyển giao cho một nhân viên hành chính hoặc cảnh sát và tiếp tục xử lý như sau Trong trường hợp việc bắt giữ được thực hiện bởi một công dân, viên chức hành chính, cảnh sát tiếp nhận người
bị bắt phải lập hồ sơ về họ tên, nghề nghiệp và địa chỉ của công dân, bao gồm cả các thông tin và hoàn cảnh dẫn đến việc bắt giữ, và yêu cầu công dân ký vào biên bản này Nhân viên sau đó sẽ thông báo cho người bị bắt của tội danh và căn cứ bắt, và nói rằng ông/bà có QIL và bất cứ điều gì ông/bà nói có thể và sẽ được sử dụng làm bằng chứng trong một phiên tòa” 8
Qua đó tác giả rút ra khái niệm về QIL trong TTHS, như chúng ta hiểu được
tầm quan trọng của TTHS là dung hòa mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội Nhiệm vụ là xử lý nghiêm minh mọi loại tội phạm và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, công dân, tổ chức trong đó có NBBT QIL chính là QCN như tác giả đã chứng minh ở trên, QCN là quyền tự nhiên vốn có cứ hễ ai sinh ra làm người thì họ có QCN đó Khi QIL là QCN thì cũng có nghĩa khi họ làm người thì tất nhiên họ cũng có QIL Tổng hợp từ việc phân tích ở trên, QIL là QCN mà được nhiều quốc gia cũng như các ĐƯQT ghi nhận chủ thể được hưởng QIL là
7 Điều 83, Bộ luật TTHS Thái Lan
8 Điều 84, Bộ luật TTHS Thái Lan
Trang 22NBBT, khi NBBT bị buộc tội từ phía cơ quan tiến hành tố tụng NBBT có QIL trong suốt các giai đoạn tiến hành tố tụng và chủ thể đảm bảo QIL chính là những cơ quan THTT QIL là quyền của NBBT, họ có QIL cho tới khi được gặp Luật sư của họ thậm chí có QIL suốt trong quá trình tố tụng Tìm hiểu về QIL ghi nhận ở một số nước trên thế giới cho thấy lịch sử hình thành QIL bắt đầu từ nước Anh vào thế kỉ thứ XVI, gắn liền với sự kiện việc ghi nhận QIL là một cách thức để bảo vệ cho các
cá nhân chống lại quyền lực Nhà nước có nguồn gốc từ khi lật đổ hoàn toàn các đại biểu tăng lữ và chế độ chính trị quân chủ Sau đó phát triển ở Anh và các nước trên thế giới vào thế kỷ thứ XIX cho tới nay Nếu trên thế giới các quốc gia đã đưa chế định QIL NBBT vào các văn bản pháp lý của quốc gia mình cho phù hợp với các điều ước quốc tế (ĐƯQT) về nhân quyền thì ở Việt Nam hiện nay, QIL chưa có một văn bản pháp lý nào chính thức quy định Tuy nhiên, nếu xét kỹ thì ở một số Điều luật của các văn bản pháp luật Việt Nam đã gián tiếp quy định về chế định QIL này
Tại Điều 10, Bộ luật TTHS nước ta có quy định: “trách nhiệm chứng minh tội
phạm thuộc về các cơ quan THTT Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội” Lịch sử ghi nhận QIL ở mỗi một quốc gia là khác
nhau, nó phụ thuộc vào tình hình thực tại của mỗi quốc gia cũng như về việc tham gia các ĐƯQT liên quan tới việc bảo vệ QIL để nội luật hóa vào quốc gia mình, tuy nhiên dù rằng thì lịch sử vẫn ghi nhận sự ra đời của QIL đầu tiên tại Anh vào thế kỷ XVI và phát triển ở nhiều quốc gia từ thế kỷ XIX cho tới nay Nhưng khái niệm về QIL ở các quốc gia trên thế giới và trong các ĐƯQT vẫn hiểu theo hướng QIL là QCN, là quyền của NBBT, theo suốt NBBT trong tất cả các giai đoạn THTT, trách nhiệm chứng minh tội phạm và bảo vệ QIL thuộc về cơ quan THTT
1.2 Cơ sở pháp lý của quyền im lặng trong tố tụng hình sự
Từ những dữ kiện lịch sử trên cho thấy, QIL đã xuất hiện từ rất sớm trong TTHS thế giới, đã kịp thời đáp ứng việc đảm bảo QCN của NBBT
Trên thế giới, có rất nhiều Công ước quốc tế về QCN có ghi nhận liên quan tới
bảo đảm QIL, đặc biệt là QIL cho NBBT Có thể nhắc tới một số như sau, đầu tiên
Trang 23Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (Việt Nam đã là thành viên của công ước vào năm 1982) năm 1966 (ICCPR), tại Điều 14, khoản 2, điểm g đã quy định
rất rõ về quyền của NBBT: “không ai bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính
mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội”; Công ước về các quyền của trẻ em, tại
điểm iv, khoản 2, Điều 40 có ghi nhận nguyên tắc: “mọi người không bị bắt buộc
phải khai báo để chống lại mình hoặc phải nhận tội”; Công ước chống tra tấn và
các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đọa hoặc hạ nhục năm 1984, tại
Điều 2 công ước có quy định rõ: “1 Mỗi quốc gia thành viên phải thực hiện các
biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, hoặc các biện pháp hiệu quả khác để ngăn chặn các hành vi tra tấn trên bất cứ khu vực lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình Không có bất kỳ hoàn cảnh ngoại lệ nào, cho dù là trong tình trạng chiến tranh, hoặc đang bị đe doạ bởi chiến tranh, mất ổn định chính trị trong nước hoặc bất kỳ tình trạng khẩn cấp nào có thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn
3 Mệnh lệnh của quan chức hay của cơ quan có thẩm quyền cấp trên không thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn.” Ngoài ra còn có, Công ước về các
QCN của Chây Mỹ, quy định cụ thể tại điểm g, khoản 2, Điều 8: “bất kỳ NBBT nào
đều không bắt buộc phải làm nhân chứng chống lại chính mình hoặc phải nhận tội”
QIL đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử thế giới, sự ra đời của chế định QIL
đã đánh một dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp luật thế giới, bởi lẽ sự ra đời của chế định này đã kịp thời đáp ứng việc đảm bảo QCN theo pháp luật quốc tế về nhân quyền nói chung và bảo vệ quyền của NBBT trong pháp luật hình sự nói riêng
Ở Anh đã cho thấy QIL đã xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI, XVII và phổ biến vào
thế kỷ XIX.“Vào thế kỷ thứ XVII, bị cáo đã không được phép có người đại diện
trong một phiên tòa hình sự, nhưng họ buộc pải bảo vệ chính mình như một nghĩa
vụ Quyền của NBBT trong việc gọi nhân chứng để đưa ra lời khai thay mặt cho NBBT cũng bị hạn chế đáng kể Luật sư bào chữa thông thường cũng không được phép hỏi nhân chứng Đến giữa thế kỷ XIX, Luật sư mới được trình bày trước bồi thẩm đoàn Họ lập luận rằng đó là những thay đổi về luật TTHS thông thường cùng
Trang 24với việc thông qua các giả định về quyền suy đoán vô tội và yêu cầu chứng minh không phải dựa trên sự nghi ngờ và sự phát triển của quy tắc về bằng chứng phạm tội, đó là động lực thực sự đằng sau sự xuất hiện của các đặc quyền chống lại sự tự buộc tội.” 9 Nếu như ở Anh đã manh nha QIL từ thế kỷ XVI, thì ở Hoa Kỳ, một
quốc gia có thể đánh giá rất cao về trình độ lập pháp, lập hiến đã hình thành chế định QIL vào đầu thế kỷ XX, xuất phát điểm từ vụ án nổi tiếng Miranda, vụ án đã
“không một ai bị buộc phải chịu trách nhiệm về một tội nghiêm trọng hay một trọng
tội xấu xa khác nếu không có sự tường trình hay cáo trạng của Bồi thẩm đoàn, những trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân, hoặc trong lực lượng dự bị, khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc trong tình trạng xã hội gặp nguy hiểm Không ai bị kết án hai lần về cùng một tội có nguy hại đến tính mạng và thân thể; không ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng pháp luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thỏa đáng”11 Có thể nói, ở một số hệ thống pháp luật tiên
tiến như Mỹ, Anh đã đi đầu trong việc quy đinh chế định QIL vào trong pháp luật quốc gia mình Dưới sự ảnh hưởng của pháp luật Anh với các nước từng là thuộc địa của Anh, nhiều nước đã áp dụng QIL như Ấn Độ, Singapore, Canada hay Australia Không chỉ ảnh hưởng tới việc lập pháp của các nước từng là thuộc địa của Anh Mà chế định QIL của Anh còn ảnh hưởng sâu rộng tới toàn thể Châu Âu,
cụ thể tại khoản 1, Điều 37, Công ước Châu Âu về nhân quyền quy định rằng “Tất
9 [Report (No 59) of the Queensland Law Reform Commission (2004) – The Abrogation of the Privilege AgainstSelf-Incrimination, tr.10&11 This latter argument because: “in the seventeenth century, an accused was not allowedlegal representation in a criminal trial, but was obliged to conduct his or her own defence The right of an accused tocall witnesses to give sworn testimony on his or her behalf was also significantly restricted… Defence counsel werenot generally permitted to examine witnesses until the middle of the eighteenth century or to address the jury untilthe beginning of the nineteenth century It argues that it was these changes to common law criminal procedure,together with the adoption of the presumption of innocence and the requirement of proof beyond reasonable doubt,and the development of rules of criminal evidence, that were the real driving force behind the emergence of theprivilege against self-incrimination”.]
10 Xem ví dụ kể về vụ án Miranda ở phần 1.1
11 The Fifth Amendent of Constitution of USA
Trang 25cả mọi người có quyền từ chối phát biểu nếu làm như vậy sẽ khiến cho chính bản thân hay mọi người thân bị khởi tố” hay tại khoản 4, Điều 40 cũng quy định chi tiết
rằng “một người bị cáo buộc có quyền từ chối bình luận, và không thể tước quyền
này trong bất kỳ hoàn cảnh nào” Không chỉ dừng lại ở Anh, Hoa Kỳ mới áp dụng
chế định QIL, mà hầu hết các quốc gia trên thế giới, từ Ấn Độ, Singapore, Canada, Australia cho tới Đức, Argentina, Hàn Quốc, Nhật Bản và ngay cả Thái Lan cũng
áp dụng QIL này Dù là quốc gia theo mô hình pháp luật tranh tụng hay thẩm vấn thì họ vẫn quy định QIL trong pháp TTHS của quốc gia mình để thực hiện đúng cam kết theo luật quốc tế nhân quyền về bảo vệ QCN nói chung và bảo vệ QCN của NBBT trong TTHS nói riêng Tuy nhiên, để đáp ứng với nhu cầu của từng quốc gia, đáp ứng yêu cầu trong công tác đấu tranh phòng chống tội pham, đặc biệt trong tình hình tội phạm ngày càng tinh vi và mở rộng xuyên quốc gia, một số quốc gia quy định ngoại lệ đối với một số tội phạm như tội phạm khủng bố hay tội phạm tham nhũng thì không có quyền sở hữu QIL này
Ở Nhật Bản, pháp luật TTHS Nhật Bản là theo mô hình gốc là tranh tụng
nhưng hiện nay theo hướng mô hình TTHS pha trộn Đối với các nước theo mô hình TTHS pha trộn nói chung và trong đó có Nhật Bản nói riêng, những quốc gia này vốn có truyền thống tuyệt đối hóa nguyên tắc công bằng trong TTHS thì điều này rất dễ hiểu khi dẫn đến trong tố tụng thì QIL cũng được ghi nhận là một trong những quyền cơ bản nhất của NBBT Tại điều 1, BLTTHS Nhật Bản có quy định:
“mục đích của Bộ luật là làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án cũng như áp dụng
và thực thi việc trừng trị một cách nhanh chóng đối với những vụ án hình sự trong khi vẫn xem xét đầy đủ đến việc duy trì phúc lợi công và đảm bảo nhân quyền đối với từng cá nhân” Qua ghi nhận chặt chẽ tại Điều 1, rõ ràng cho thấy mục tiêu
TTHS ở Nhật Bản quan trọng nhất “yêu cầu xác định sự thật khách quan, bảo đảm
công lý(mục tiêu và phương pháp luận mà hệ TTHS thẩm vấn hướng tới) đồng thời bảo đảm quyền con người, duy trì phúc lợi công(mục tiêu và phương pháp luận mà
Trang 26hệ TTHS tranh tụng hướng tới)” 12 Bằng việc làm cụ thể, nội luật hóa các Tuyên
ngôn nhân quyền, các ĐƯQT mà Nhật Bản là thành viên, tiếp thu tốt những tinh hoa văn hóa của nhân loại, bảo đảm những quyền cơ bản của con người trong đó có
QIL Nhật Bản ghi nhận và cho rằng “QIL là quyền cơ bản mà bất kỳ người nào đều
không bị bắt buộc phải làm chứng chống lại mình, bị cáo sẽ có thể im lặng từ đầu đến cuối trong phiên xét xử”13 Bên cạnh đó TTHS Nhật Bản còn quy định rõ:
“người bị bắt giữ có quyền không khai báo gì khi họ chưa được tiếp xúc với luật sư”
việc làm này tránh những oan sai, bức cung, nhục hình sau này Tóm lại ở Nhật Bản
đã ghi nhận về QIL, chủ thể hướng tới là NBBT cụ thể là bị can, chỉ có QIL quy định chi tiết cụ thể tại giai đoạn xét xử tại Tòa, chủ thể có nhiệm vụ bảo vệ QIL cho
bị can chính là Thẩm phán phiên Tòa Tuy nhiên quy định gián tiếp về QIL tại Nhật Bản cho đối tượng được mở rộng và chủ thể có nghĩa vụ nhiều hơn tác giả sẽ phân tích ở chương II cụ thể hơn
Ở Việt Nam, hiện nay trong pháp luật nước ta chưa có một quy định trực tiếp
nào quy định về QIL Tuy nhiên nếu nhìn nhận một cách khách quan thì cho thấy đã
có những quy định gián tiếp về QIL cho NBBT trong pháp luật TTHS nước ta Hơn hết vào ngày 12 tháng 11 năm 2013, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68 đã bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng nhân quyền cho nhiệm kỳ 2014 – 2016 Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất trong 14 nước trúng cử, đạt 184 ủng hộ trên
193 nước bỏ phiếu Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn lao về nhiều mặt Qua việc ghi nhận về QIL tại rất nhiều ĐƯQT, đặc biệt khi mà nước ta đã trở thành thành viên của các ĐƯQT đó, chúng ta cần phải thực hiện đúng cam kết về bảo vệ QCN trong
đó có QIL của NBBT đúng như chúng ta đã kí Một lần nữa khẳng định QIL chính
là QCN Chủ thể được hướng tới trong QIL là những NBBT Chủ thể có trách nhiệm chứng minh là các cơ quan THTT QIL được bảo vệ trong đa số các giai
12 Bài viết từ trang chuyen-doi-mo-hinh-to-tung-hinh-su-cua-Nhat-Ban truy cập ngày 15/06/2015
http://vienkiemsathaiphong.gov.vn/index.php/home/detail/943/Gioi-thieu-qua-trinh-13 裁判手続 刑事事件, [http://www.courts.go.jp/saiban/qa_keizi/qa_keizi_20/index.html], (truy cập
ngày20/6/2015)
Trang 27đoạn tố tụng đặc biệt là ở giai đoạn điều tra vụ án Khi chúng ta đã tham gia kí kết
và trở thành thành viên của nhiều ĐƯQT về đảm bảo QCN trong đó có QIL đây đã
là chuẩn bị nền tảng cơ sở lí luận vững chắc cho việc tiến tới ghi nhận QIL cho NBBT trong pháp luật TTHS nước ta sắp tới
1.3 Nội dung quyền im lặng
Qua những phân tích của tác giả về việc áp dụng chế định QIL ở một số nước trên thế giới Tình hình chung các quốc gia trên thế giới cho rằng QIL là NBBT có QIL không nói gì cho tới khi có sự hiện diện của Luật sư hay cho dù không có sự hiện diện của Luật sư thì NBBT vẫn có QIL QIL ở đây, chủ thể hướng tới được hưởng quyền là những NBBT Thứ hai chủ thể thực hiện nhiệm vụ chính là những cơ quan mang công quyền Nhà nước, những người mang trong mình sứ mệnh bảo vệ công bằng cho xã hội Thứ ba QIL sẽ được áp dụng đa số trong tất cả mội giai đoạn TTHS, tuy nhiên như tác giả phân tích ở trên thì còn tùy thuộc vào từng điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi một quốc gia thì sẽ có từng quy định phù hợp với quốc gia mình
1.3.1 Chủ thể có quyền im lặng
Như ở trên tác giả đã phân tích, chủ thể được hưởng QIL chính là NBBT Có nhiều cách hiểu khác nhau về QIL, tuy nhiên đều có điểm chung là NBBT có QIL cho tới lúc nào có sự hiện diện của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ
Nếu trong công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị có quy định: “không ai bị
buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có
quy định chủ thể được hưởng QIL như sau: “NBBT có quyền giữ im lặng trong tất
cả các giai đoạn tố tụng từ câu hỏi đầu tiên của cảnh sát cho tới lúc có mặt tại tòa
14 Điều 14, điểm g, khoản 3, Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966
15 Tharien van der Walt and Stephen De La Harpe (2005), “JOURNAL African Human rights law journal- The right to pre-trial silence as part of the right to a free and fair trial: An overview”
Trang 28giả đã phân tích ở trên Qua đây cho thấy QIL đã giành cho NBBT ngay từ lúc họ bị bắt giữ, điều này cho thấy được những điểm tích cực, có lợi cho NBBT, vì lúc này NBBT chỉ mới bị buộc tội, còn họ có phạm tội hay không là chưa chắc chắn được
1.3.2 Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm quyền im lặng
Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm thực thi QIL trên thực tế chính là những cơ quan THTT, những người mang quyền lực Nhà nước Đó là những người có trách nhiệm thông báo và bảo đảm QIL cho NBBT Tùy thuộc vào mỗi một giai đoạn tố tụng thì vai trò của mỗi cơ quan THTT bảo đảm QIL cho NBBT thì khác nhau Nếu như trách nhiệm của cơ quan điều tra là điều tra vụ án, thì đây chính là cơ quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo QIL cho NBBT; việc đi tìm sự thật của vụ án nằm phần lớn ở giai đoạn này, đây là cơ sở để cơ quan công tố tiến hành giai đoạn truy tố NBBT, ở Mỹ câu nói cửa miệng của cảnh sát luôn: “Anh có quyền giữ im lặng và bất cứ điều gì anh nói ra sẽ được dùng để làm bằng chứng để chống lại anh trước tòa” (Lời cảnh báo Miranda) Vai trò có phần quan trọng cũng không kém đó là cơ quan Viện kiểm sát, là cơ quan duy nhất có quyền tham gia vào tất cả các giai đoạn tiến hành tố tụng nên Viện kiểm sát cần thực hiện tốt vai trò của mình trong việc kiểm tra, giám sát và áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với các
cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời viện kiểm sát cần tạo điều kiện thuận lợi cho NBC thực hiện việc bào chữa của họ như thu thập chứng cứ, gặp NBBT, …Đối với Thẩm phán phiên tòa, vai trò là những trọng tài chuẩn mực, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nhiệm vụ bảo vệ QIL cho NBBT cũng là nhiệm vụ quan
trọng, ở Nhật Bản có quy định: “sau khi bản cáo trạng được công bố, chủ tọa phiên
tòa, trên cơ sở thông báo rằng bị cáo có thể giữ im lặng trong toàn bộ quá trình xét
xử hoặc từ chối trả lời về những câu hỏi mang tính chất cá nhân hoặc những vấn đề cần thiết khác được quy định trong điều lệ của tòa án với mục đích bảo vệ quyền của mình, cho phép bị cáo và Luật sư có cơ hội trình bày những vấn đề liên quan
Trang 29đến vụ án”16 Chung quy lại vai trò của một chủ thể là ở một giai đoạn khác nhau nhưng chung nhiệm vụ là bảo đảm QIL cho NBBT được thực hiện tốt trên thực tế
1.3.3 Giai đoạn đảm bảo quyền im lặng
Từ đầu cơ sở lý luận đã chứng minh được rằng đa số pháp luật các quốc gia đều cho phép NBBT có QIL trong tất cả các giai đoạn của TTHS Trong giai đoạn điều tra NBBT có QIL trong suốt quá trình điều tra ngay cả khi có sự thẩm vấn của Cảnh sát, trách nhiệm chứng minh tội phạm là thuộc về các cơ quan tiến hành tố
tụng cụ thể là Cảnh sát Còn trong giai đoạn xét xử, ở Đức: “bị cáo sẽ được thông
báo rằng bị cáo có thể lựa chọn việc trả lời cáo buộc đó hoặc không đưa ra bất kỳ tuyên bố nào về cáo buộc này Nếu bị cáo đã sẵn sàng trả lời, bị cáo sẽ được kiểm tra về cáo buộc đó có liên quan tới điều 136, khoản 2 Bất cứ việc kết án nào trước
đó đối với bị cáo cũng sẽ được công bố chỉ khi vấn đề đó có liên quan tới quyết định này Thẩm phán chủ tọa sẽ quyết định khi nào những điều kiện đó được phép công bố” Tóm lại đa số các quốc gia trên thế giới khi đã quy định QIL vào trong
pháp luật của quốc gia mình đa số đều cho rằng QIL của NBBT được đảm bảo trong suốt tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng
1.4 Đặc điểm pháp lý của quyền im lặng
Thứ nhất, QIL là một QCN Khi QIL là QCN, điều này đồng nghĩa với việc
QCN là một quyền bẩm sinh, vốn là quyền tự nhiên, hễ ai sinh ra đều có quyền này, tương tự như vậy, QIL là QCN thì nó cũng là thuộc tính tự nhiên vốn có mà không phải là kết quả của một sự ban phát nào Đặc biệt, QIL được nhấn mạnh hơn trong lĩnh vực TTHS, điều dễ hiểu ở đây, khi một người sinh ra, tạo hóa đã cho họ quyền được nói, có tiếng nói, nói hay không nói là quyền của họ Lĩnh vực TTHS là lĩnh vực thực thi quyền uy – mệnh lệnh Chính vì vậy, sự bất bình đẳng là không thể tránh khỏi, quy định thêm chế định QIL cho NBBT chính là ghi nhận QCN trong
16 Khoản 3, Điều 291, Bộ luật TTHS Nhật Bản
Trang 30pháp luật TTHS Việt Nam, đã là QCN thì ai cũng được hưởng cho dù họ đang là những NBBT
Thứ hai, QIL là QCN cơ bản của NBBT trong pháp luật TTHS.Như tác giả đã
trình bày, nhiệm vụ của pháp luật TTHS là dung hòa lợi ích của Nhà nước, xã hội
và của NBBT Một khi quyền đã trở thành QCN thì cho dù trong hoàn cảnh nào thì cũng được bảo vệ QIL đã là QCN, thì cho dù khi người đó là một con người bình thường hay là NBBT thì đã là con người thì họ sẽ được hưởng cái quyền cơ bản đó
mà pháp luật đã thừa nhận cho họ “QCN của người bị buộc tội trong lĩnh vực
TTHS bao gồm nhiều quyền khác nhau như: quyền đươc tôn trọng và bảo vệ QCD; quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phầm và quyền
tự do cá nhân khác; quyền được bào chữa; quyền được kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án 17” Hơn nữa, khi mà bất bình đẳng với các cơ quan THTT, khi mà
án oan sai ở một số địa phương đang ngày càng có xu hướng tăng việc ghi nhận QIL là quyền cơ bản của NBBT trong pháp luật TTHS là việc làm cần thiết ngay lúc này
Thứ ba, QIL là quyền mang tính quốc tế Cụ thể như sau, cùng với sự phát
triển của nhân loại thì QIL đã được quy định trong các văn bản quốc tế Ở cấp độ toàn cầu, trước tiên phải kể đến Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (Việt Nam đã là thành viên của công ước vào năm 1982) năm 1966 (ICCPR), tại
Điều 14, điểm 2g đã quy định rất rõ về quyền của người bị buộc tội: “không ai bị
buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội”; và công ước về các quyền của trẻ em, tại điểm iv, khoản 2, Điều 40 có ghi
nhận nguyên tắc: “mọi người không bị bắt buộc phải khai báo để chống lại mình
hoặc phải nhận tội” Không chỉ quy định QIL ở các văn bản pháp lý quốc tế, mà
hiện nay rất nhiều quốc gia đã nội luật hóa vào pháp luật quốc gia mình, ngoài việc
17 Võ Thị Kim Oanh (2012), “Quyền được suy đoán vô tội và vấn đề sửa đổi Hiến pháp năm 1992”, NXB Thànhphố Hồ Chí Minh, Tr 10
Trang 31để thống nhất pháp luật giữa quốc gia với quốc tế, đó còn thể hiện sự hợp tác của quốc gia với quốc tế trong việc bảo vệ QCN
Thứ tư, QIL có mối quan hệ mật thiết với các quyền khác trong TTHS Đó là có
mối quan hệ mật thiết với quyền có người bào chữa và gắn liền với quyền suy đoán
vô tội QIL là quyền có Luật sư, quyền tranh tụng bình đẳng, quyền xét xử độc lập Đấy chính là quyền cơ bản của con người, đặc biệt là đối với người bị buộc tội trong TTHS Quyền cơ bản này thể hiện ở bốn phương diện như sau: (1) Quyền đặc trưng của con người trước Nhà nước; (2) Là quyền không thể tách rời chuyển nhượng; (3) đây là quyền lâu dài; (4) quyền này nếu bị vi phạm sẽ bị kiện lên Tòa
án hiến pháp
1.5 Ý nghĩa của quyền im lặng trong tố tụng hình sự
Thứ nhất, việc ghi nhận QIL là để đảm bảo QCN.Từ khái niệm của QIL là
quyền được im lặng cho tới lúc nào có sự hiện diện của Luật sư và thậm chí QIL trong suốt giai đoạn tố tụng Bản chất của QIL là QCN cơ bản trong pháp luật Nếu nhìn nhận dưới gốc độ quốc tế thì đã có rất nhiều quốc gia dù là mô hình tố tụng tranh tụng hay là tố tụng thẩm vấn, thậm chí là mô hình pha trộn Dù là quốc gia ở châu Âu như Anh, Pháp, Argentina,… hay ở Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan,… Rất nhiều quốc gia đã đưa chế định QIL vào pháp luật quốc gia họ để chung một mục đích cuối cùng là đảm bảo QCN cho công dân trong đó có NBBT Hàng loạt văn bản pháp lý quốc tế đã quy định về QIL là QCN như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (viết tắt là ICCPR, thông qua ngày 16/12/1966), tại điều 9
có quy định: “bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt
về những lí do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đó với họ”; hay đó là sự ghi nhận tại Điều 1 của Hiến chương Liên hợp quốc: “thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hóa và nhân đạo và khuyến khích sự phát triển sự tôn trọng các QCN và các tự
do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” Điểm chung của các văn bản quốc tế này hay văn bản pháp lý quốc tế:
Trang 32Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976, công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội có hiệu lực từ ngày 03/01/1976, công ước quốc tế về xóa bỏ phân biệt chủng tộc ngày 4/01/1969 hay công ước quốc tế về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày 20/11/1989 tất cả có chung một ý nghĩa là kêu gọi các quốc gia ra sức bảo vệ QCN, bằng cách cụ thể hóa các chế định pháp lý quốc tế về QCN nội luật hóa vào pháp luật quốc gia mình, trong đó
có QIL của NBBT trong lĩnh vực TTHS Ở Việt Nam chúng ta, nếu như văn bản pháp lí cao nhất vào năm 1992, tại chương V chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân, không hề có một chi tiết nào nhắc tới quyền con người, trong các điều luật luôn ghi nhận những khái niệm như “QCD”, “mọi công dân” Tuy nhiên, mới đây tại Hiến pháp 2013, nước ta ghi nhận QCN trong một chương cụ thể tại chương
2, quy định về QCN ngay sau chương 1 về chế độ chính trị qua đó cho thấy tầm quan trọng về việc quy định QCN trong pháp luật nước ta hiện này, đây là bằng chứng cho việc nội luật hóa các ĐƯQT về QCN mà Việt Nam là thành viên, nội
dung nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các QCN, QCD về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Việc ghi nhận QIL là QCN trong pháp luật quốc
tế đã có từ rất lâu, các quôc gia trên thế giới đã nội luật hóa vào pháp luật quốc gia mình hay sự mặc nhiên thừa nhận tại các quy định pháp luật của nước ta Do vậy,
để có thể bảo đảm tốt nhất về QCN cho người bị buộc tội trong lĩnh vực TTHS, cũng như nội luật hóa các văn bản pháp lý quốc tế có quy định về QCN, QIL mà Việt Nam là thành viên thì nước ta cần ghi nhận QIL vào pháp luật nước mình Việc làm này không chỉ thể hiện sự tiến bộ về mặt pháp luật mà nó còn thể hiện sự tôn trọng của nước ta khi tham gia vào pháp luật thế giới thông qua các công ước, nghị định thư,…
Thứ hai, việc ghi nhận QIL sẽ giảm bớt oan sai, bức cung, nhục hình và giúp
cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện nhanh chống và chính xác Khi một người đang tự do nhưng lại bị buộc tội, chắc chắn tâm lí của những người này
sẽ có sự xáo trộn rất nhiều, việc lấy lời khai ngay lúc đó do các cơ quan có thẩm
Trang 33quyền thực hiện thì rất dễ xảy ra các hiện tượng như mớm cung, bức cung, nhục hình dẫn đến án oan sai Đối với lĩnh vực hình sự, án oan sai nó ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới cuộc sống của một con người Hiện nay, khi mà Việt Nam trở thành thành viên của Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử
tàn ác, vô nhân đọa hoặc hạ nhục 1984 Tại điều 2 công ước có quy định rõ: “1 Mỗi
Quốc gia thành viên phải thực hiện các biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, hoặc các biện pháp hiệu quả khác để ngăn chặn các hành vi tra tấn trên bất cứ khu vực lãnh thổ nào thuộc quyền tài phán của mình 2 Không có bất kỳ hoàn cảnh ngoại lệ nào, cho dù là trong tình trạng chiến tranh, hoặc đang bị đe doạ bởi chiến tranh, mất ổn định chính trị trong nước hoặc bất kỳ tình trạng khẩn cấp nào có thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn 3 Mệnh lệnh của quan chức hay của
cơ quan có thẩm quyền cấp trên không thể được viện dẫn để biện minh cho việc tra tấn.” Hơn hết vào ngày 12 tháng 11 năm 2013, Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 68
đã bầu 14 nước thành viên mới của Hội đồng nhân quyền cho nhiệm kỳ 2014 –
2016 Việt Nam đã trúng cử với số phiếu cao nhất trong 14 nước trúng cử, đạt 184 ủng hộ trên 193 nước bỏ phiếu Đây là sự kiện có ý nghĩa lớn lao về nhiều mặt Có
lẽ đã đến lúc chúng ta cần quy định chế định QIL vào trong pháp luật TTHS của nước nhà để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc suy đoán vô tội, bên cạnh đó cho thấy nước ta đã thực hiện tốt các cam kết với quốc tế về QCN, trên hết thể hiện đúng với vai trò là thành viên của hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc Việc ghi nhận QIL góp phần hạn chế tiêu cực trong áp dụng pháp luật Tiêu cực trong TTHS nó đem lại hậu quả nặng nề và ảnh hưởng tới số phận của một con người rất nghiêm trọng Nếu hoạt động TTHS xảy ra tiêu cực thì hậu quả để lại rất lớn chắc chắn khó tránh khỏi Hỏi cung, lấy lời khai đối với NBBT rất quan trọng, vì là bất bình đẳng trong mối quan hệ ngay từ giai đoạn này, nên nếu không áp dụng QIL cho người bị buộc tội thì chắc chắn hoạt động lấy lời khai xảy ra bức cung, nhục hình, mớm cung
dẫn tới oan sai là điều không thể tránh khỏi được Uỷ ban chống tra tấn lưu ý các
quốc gia cần phải ghi nhận trách nhiệm của cảnh sát điều tra trong việc thông báo cho bất cứ người bị tạm giam tạm giữ nào sai khi bị bắt về QIL và quyền đề nghị
Trang 34Luật sư bào chữa 18 ủy ban cũng khuyến cáo không được thẩm vấn người bị tình nghi trong tình trạng bị khủng hoảng về tinh thần (stress positions) Để làm rõ điều ngày, Uỷ ban cũng chỉ ra một số hình thức gây hoảng sợ phải có trong hoạt động thẩm vấn cần được coi là hành vie đối xử tàn ác, vô nhân đạo và phải bị cấm: làm nhục tình dục, tát nước, cùm xích hoặc gây hoảng sợ bằng chó nghiệp vụ Khi Việt
Nam trở thành thành viên của Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục năm 1984, thì việc nội luật hóa các quy định của pháp luật quốc tế trong đó có QIL vào pháp luật TTHS là chuyện cần phải làm sớm, có như vậy các tiêu cực không đáng có sẽ hạn chế diễn ra hơn
Thứ ba, việc ghi nhận QIL là nhằm mục đích thống nhất pháp luật.Như tác giả
đã khẳng định QIL chính là QCN của NBBT, có mối quan hệ mật thiết với các quyền khác trong TTHS.Thực hiện nhiệm vụ thừa nhận QIL chính là việc thực hiện triệt để quy định của pháp luật về quyền suy đoán vô tội Việc quy định trực tiếp QIL chỉ là bước đi cụ thể hóa các quy định mang tính nguyên tắc của BLTTHS nước ta để đảm bảo QCN trong lĩnh vực TTHS, đồng thời cũng không phá vỡ các khuôn khổ TTHS hiện có Bên cạnh đó QIL có mối quan hệ mật thiết với quyền có người bào chữa(NBC), vấn đề bảo đảm quyền được thông tin và tiếp cận nhanh chóng với NBC Uỷ ban chống tra tấn đã đề xuất các quốc gia cần phải bảo đảm trong hệ thống văn bản luật lẫn thực tiễn áp dụng rằng người bị tạm giữ hay tạm giam phải được khẩn trương thông báo về các quyền của mình và được tiếp xúc với NBC Trong một thời gian một vài giờ đồng hồ đầu sau khi một người bị bắt, nếu
Đã đến lúc QIL cần được ghi nhận trong pháp luật TTHS Việt Nam, không phải đơn thuần là do nước ta chưa ghi nhận nên bây giờ cần phải ghi nhận, mà xuất phát
Trang 35từ nhiệm vụ thống nhất pháp luật và nội luật hóa các pháp luật quốc tế về nhân quyền mà nước ta là thành viên
Thứ tư việc ghi nhận QIL thể hiện sự công bằng xã hội Xã hội ngày càng tiến
bộ, vấn đề hoàn thiện nội dung pháp luật để đảm bảo QCN trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS là một trong những vấn đề mà các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm TTHS là một lĩnh vực pháp luật công, mọi hoạt động của TTHS
là nhằm đảm bảo tốt nhất về an ninh chính trị của từng quốc gia, do đó mà mối quan
hệ của TTHS nó đặc biệt hơn so với tố tụng dân sự, lao động, thương mại, … mối quan hệ mang tính chất bất bình đẳng khi một bên là một những người THTT, mang trong mình quyền lực nhà nước và một bên là NBBT Từ bản thân các chủ thể mang cho mình một “thân phận” khác nhau, nên rất dễ dấn tới bất bình đẳng, dễ dẫn tới bị xâm phạm Nếu đằng sau những người THTT có sự “hậu thuẫn” của Nhà nước như nhà tù, công an Còn người bị buộc tội đang rơi vào tình trạng hoảng loạn về mặt tâm lý mà không có sự tư vấn kịp thời của một người mà họ cho là tin cậy nhất thì chắc chắn khi hỏi cung việc mớm cung, oan sai, … chắc chắn là điều không thể tránh khỏi được Để đảm bảo sự công bằng xã hội, đặc biệt đảm bảo công bằng xã hội trong lĩnh vực TTHS khi mà cả thế giới đang hướng tới sự bảo vệ QCN ngày càng đặc biệt thì vấn đề đưa ra nên quy định QIL cho NBBT vào trong pháp luật TTHS lúc này là hết sức cần thiết
Thứ năm, việc ghi nhận QIL là cơ sở bảo đảm cho các nguyên tắc cơ bản được
thực thi một cách đầy đủ và thống nhất trong đó có các nguyên tắc như: nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc xác định sự thật
vụ án QIL gắn liền với quyền suy đoán vô tội, chỉ khi có quyền có NBC thì NBC mới đảm bảo QIL cho NBBT QIL, quyền có NBC, quyền được suy đoán vô tội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Chính vì vậy cần sớm ghi nhận QIL để đảm bảo cho các nguyên tắc này được thi hành đúng nghĩa trên thực tế
Trang 36Thứ sáu, việc ghi nhận QIL có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính
khách quan trong hoạt động chứng minh và trách nhiệm chứng minh của người THTT
đó chính là thể hiện sự văn minh , tính dân chủ của Nhà nước Ghi nhận thêm một quyền, mà chính là quyền dành cho NBBT chính là thể hiện tính nhân văn sâu sắc, thể hiện sự công bằng trong xã hội, khi những người bị xem là lầm lỡ cũng được QCN này Với mục đích khi ghi nhận một chế định nào đó vào văn bản pháp luật của mỗi một quốc gia, người ta luôn nhìn nhận dưới nhiều gốc độ để xem liệu chế định này khi đưa vào luật thì có mục đích như thế nào cho bộ mặt nước đó Theo tác giả đối với QIL mục đích của QIL chính là để thực hiện tốt một cách trọn vẹn và đầy đủ nguyên tắc giả định vô tội được pháp luật các quốc gia và các ĐƯQT về bảo
vệ QCN trong đó có QIL mà quốc gia đã cam kết thực hiện Với sự ghi nhận QIL từ thế kỷ XVI tại Anh, phát triển rực rỡ vào thế kỷ XIX cho tới nay Một lần nữa khẳng định QIL là QCN QIL là quyền của NBBT Sự xuất hiện của QIL kéo dài từ lúc bị bắt cho tới lúc xét xử Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm QIL là cơ quan THTT Việc ghi nhận QIL có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong việc bảo đảm QCN và nội luật hóa các quy định quốc tế vào pháp luật quốc gia
Trang 37CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU QUYỀN IM LẶNG TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NHẬT BẢN
2.1 Khái quát chung về mô hình tố tụng hình sự ở Nhật Bản
Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình TTHS Nhật Bản là kết quả của quá trình học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm của nhiều nước khác nhau nhưng chủ yếu vẫn về mặt hình thức Tuy nhiên cho dù thế nào đi chăng nữa nó vẫn giữ được cái riêng vốn có của Nhật Bản trong xây dựng mô hình pháp luật Lịch sử ghi nhận quá trình phát triển của mô hình TTHS Nhật Bản trải qua 4 giai đoạn chính như sau:
Giai đoạn thứ I
Từ xưa, ở thế kỷ VII Nhật Bản chịu sự tác động của mô hình cai trị nhà Đường, Nhật Bản cũng cố gắng để xây dựng một chính quyền trung ương tập quyền dựa trên một hệ thống pháp luật hoàn toàn bị đứng đầu là Thiên Hoàng Tuy nhiên đến thế kỷ thứ X, chính quyền trung ương suy yếu đi Nhìn chung trong giai đoạn đầu của nền Tư pháp Nhật Bản không có gì nổi bật, một mô hình TTHS chỉ mới bắt đầu manh nha
hệ thống pháp luật bất thành văn) ở Anh – Mỹ rất xa lạ với Nhật Bản, do đó việc tiếp cận và nghiên cứu hệ thống pháp luật Pháp Năm 1873, Nhật Bản mời giáo sư Boissonade từ Trường Đại học Tổng hợp Paris giúp cho việc soạn thảo các bộ luật nội dung và tố tụng cả dân sự và TTHS Nhờ sự giúp đỡ này, kết quả Nhật Bản đã ban hành Bộ luật hướng dẫn hình sự vào năm 1880, có hiệu lực vào tháng 01 năm
Trang 381882, theo đó chế định Công tố viên theo mô hình của Pháp du nhập vào Nhật Bản Công tố viên thực hiện truy tố tội phạm, phù hợp với việc phân loại tội phạm theo quy định của pháp luật, với mục đích chứng minh tội phạm và áp dụng hình phạt thích hợp với kẻ phạm tội Trong thời gian sau đó, hệ thống tư pháp Nhật Bản bắt đầu bị ảnh hưởng của Đức Năm 1890, Luật tổ chức Tòa án được ban hành dựa trên
dự thảo của người Đức tên là Rudorff, theo đó xác định, Công tố viên cũng có quyền giám sát hoạt động của Thẩm phán, đại diện cho quyền lợi công trước Tòa án (độc quyền truy tố), và đây là nền móng để phát triển hệ thống công tố Nhật Bản Vào năm 1893, Nhật Bản xây dựng Hiến pháp mới dựa trên Hiến pháp Đức và ban hành Bộ luật TTHS cũng dựa theo mô hình của Đức Đến năm 1922, BLTTHS sửa đổi được ban hành và có hiệu lực năm 1924, BLTTHS này được áp dụng đến Đại chiến thế giới thứ II với mô hình TTHS chuyển từ mô hình của Pháp sang mô hình Đức, theo đó mô hình tranh tụng được chuyển theo mô hình của Đức quan tòa là người chủ tọa, dẫn dắt cuộc họp, giải quyết tranh luận
Giai đoạnt thứ III
Từ năm 1945, lúc này chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản chuyển sang chính thể quân chủ nghị viện và chịu ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ Với sự can thiệp của Hoa Kỳ, một loạt cải cách xã hội được tiến hành, trong đó quan trọng nhất là việc ban hành Hiến pháp mới với những quy định tiến bộ về bảo đảm quyền cơ bản của
công dân trong TTHS: “Khi bắt giữ, khám xét, thu giữ phải có lệnh; bị can, bị cáo
có quyền được mời Luật sư, quyền giữ im lặng không khai báo” QIL ở Nhật Bản
xuất hiện từ đó Hiến pháp mới dẫn đến sự ra đời của BLTTHS mới (Luật số 131 ngày 10/7/1948, có hiệu lực từ năm 1949 và được áp dụng cho đến nay BLTTHS mới trong soạn thảo có sự giúp đỡ tích cực từ phía Hoa Kỳ và phản ảnh rõ quan điểm pháp luật tố tụng Hoa Kỳ, thể hiện trong các quy định về nguyên tắc tranh tụng, điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ, hạn chế việc chấp nhận chứng cứ gián tiếp Trong quá trình tố tụng Thẩm phán đóng vai trò trọng tài, vai trò chính trong tố tụng được dành cho đại diện của bên buộc tội và bên bào chữa
Trang 39Tóm lại, với kết cấu của BLTTHS Nhật Bản cho thấy TTHS Nhật Bản theo
mô hình tố tụng bán tranh tụng có nguồn gốc sâu xa từ nguyên tắc tranh tụng của pháp luật Hoa Kỳ, thể hiện rõ qua việc chuyển từ nguyên tắc thẩm quyền sang áp dụng nguyên tắc đương sự, việc thay đổi quan hệ giữa tư pháp và kiểm sát trong vận dụng tư pháp hình sự bằng các quy định như: đảm bảo tính độc lập của Tòa án, Tòa án không được xem tài liệu của cơ quan điều tra Hoạt động điều tra do cơ quan công tố và cảnh sát tiến hành, việc xem xét quyết định trong quá trình điều tra giao cho Thẩm phán Vai trò tích cực trong tố tụng thuộc về Thẩm phán trước đây được trao cho Công tố viên và Luật sư bào chữa Công tố viên chuyển cáo trạng cho Thẩm phán và chuẩn bị tài liệu, chứng cứ tranh luận với Luật sư trước Tòa Luật sư
có quyền bình đẳng trong việc đề xuất tài liệu và tranh luận với Công tố viên tại phiên Tòa Tòa án đóng vai trò vị trí trung lập, lắng nghe tranh luận và đưa ra kết luận về các chứng cứ rồi tuyên án Trong khi đó, theo BLTTHS Nhật Bản thì cho dù
bị cáo có nhận tội hay không, phiên tòa vẫn diễn ra bình thường theo nguyên tắc tranh tụng và sau đó Thẩm phán quyết định hình phạt Trước khi xét xử, Công tố viên chỉ chuyển cho Tòa án bản cáo trạng, không chuyển hồ sơ vụ án Hồ sơ vụ án chỉ chuyển cho Thẩm phán khi bắt đầu phiên tòa Trong thực tiễn, các bên tranh tụng sẽ chuẩn bị tài liệu, chứng cứ rất cẩn thận trước khi đưa ra Tòa Việc xem xét
và tranh luận về các chứng cứ, tài liệu một cách côn khai trong phiên tòa tạo điều kiện cho Thẩm phán xét xử công bằng và khách quan Quan hệ giữa cơ quan tư pháp cảnh sát – công tố - Tòa án đã có sự thay đổi Theo BLTTHS hiện hành thì cơ quan Công tố và cảnh sát đều có quyền điều tra, có mối quan hệ phối hợp, hợp tác, không phải quan hệ trên – dưới Vai trò của Công tố viên được tăng cường theo nguyên tắc tranh tụng Cơ quan công tố có trách nhiệm lập cáo trạng, đưa ra chứng
cứ để chứng minh sự buộc tội Tòa án chỉ xét xử, không điều tra như trước đây
Trang 40 Giai đoạn thứ IV
Từ những năm 2000 cho đến nay Nhật Bản đã có những nổ lực để cải cách tư pháp về TTHS Năm 1999, Hội đồng tư vấn cải cách chế độ tư pháp đặt dưới chính phủ được thành lập đã kiến nghị kiện toàn và tăng tốc việc xét xử hình sự và hoàn thiện chế độ người dân tham gia vào thủ tục phiên tòa hình sự (hội thẩm nhân dân), thực hiện xét xử với trọng tâm là lập luận Năm 2004 ban hành Luật sửa đổi phần 1 BLTTHS và hiện nay đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi BLTTHS với mục đích hoàn thiện các thủ tục tố tụng trước phiên tòa và kiện toàn việc công khai chứng cứ tại phiên tòa trên cơ sở quan điểm cải cách tư pháp và giải quyết những yêu cầu thực tiễn20
Tóm lại, pháp luật TTHS Nhật Bản theo mô hình TTHS bán tranh trụng thiên về tranh tụng Nghĩa vụ chứng minh tội phạm là do các cơ quan THTT thực hiện Vai trò của Thẩm phán rất quan trọng trong việc đảm bảo QIL cho NBBT (tác giả sẽ phân tích cụ thể ở phần 2), trong xét xử Thẩm phán luôn thể hiện sự độc lập, làm vị trí trọng tài trong phiên xét xử Ở Nhật vai trò của Luật sư là bào chữa cho NBBT, bên cạnh đó Luật sư được xếp ngang hàng với bên buộc tội, đây là đặc điểm nổi bật của mô hình TTHS bán tranh tụng QIL ở Nhật Bản đã ghi nhận tại khoản 3, Điều
291 Bộ luật TTHS Nhật Bản hiện hành và Điều 38 Hiến pháp Nhật Bản “không ai
bị bắt buộc khai trái sự thật Những lời thú tội vì ép buộc, tra tấn, đe dọa hay do thời gian giam cầm lâu không được coi là bằng chứng Không ai bị kết án hay bị trừng phạt nếu chứng cứ buộc tội chỉ dựa trên lời khai thừa nhận của bản thân bị cáo”.
20 Tô Văn Hòa, năm 2012, Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, NXB Hồng Đức