Đứng trước nhu cầu sửa đổi Bộ luật TTHS năm 2003 cũng như góp phần hiện thực hóa những cam kết của Việt Nam trong các Công ước quốc tế về bảo vệ quyền con người, tác giả hy vọng công trì
Trang 1BỊ BUỘC TỘI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 – 2015
GVHD: TS LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015
Trang 2BỊ BUỘC TỘI VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Niên khóa: 2011 – 2015
GVHD: TS LƯƠNG THỊ MỸ QUỲNH
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TP HCM – Năm 2015
Trang 3học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, các quý Thầy, Cô đã giúp tôi trang bị đầy
đủ kiến thức, kỹ năng, tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành khoá luận này
Xin gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Cô Lương Thị Mỹ Quỳnh – giảng viên hướng dẫn trực tiếp của tôi Cô đã luôn tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt quá trình hoàn thiện công trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè của tôi – những người luôn ủng hộ, động viên tôi trong suốt thời gian nghiên cứu khóa luận
Tác giả
Bùi Duy Hải Trân
Trang 4CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN IM
LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 1
1.2 Nền tảng pháp lý của quyền im lặng trong tố tụng hình sự 5
1.2.1 Quyền im lặng và nguyên tắc xét xử công bằng 5
1.2.2 Quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội 7
1.3 Cơ sở pháp lý ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội 9
1.4 Nội dung quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự 17
Kết luận Chương 1 21
CHƯƠNG 2: QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HOA KỲ 22
2.1 Quy định về quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ 22
2.1.1 Khái quát về tố tụng hình sự Hoa Kỳ 22
2.1.2 Cơ sở pháp lý về quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ 24
2.1.3 Nội dung quyền im lặng trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ 27
2.3 Mối liên hệ giữa quyền im lặng và quyền có luật sư bào chữa tại Hoa Kỳ 35
2.4 Thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật về quyền im lặng của người bị buộc tội tại Hoa Kỳ 38
2.4 Ưu – nhược điểm trong việc quy định và thực thi quyền im lặng của người bị buộc tội tại Hoa Kỳ 43
Kết luận Chương 2 49
CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ VIỆC GHI NHẬN QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI 50
Trang 53.2.1 Quyền im lặng là quyền cơ bản của người bị buộc tội 53
3.2.2 Các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành là cơ sở pháp lý cho việc ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội 57
3.2.3 Những điểm đề xuất sửa đổi BLTTHS Việt Nam liên quan đến quyền im lặng của người bị buộc tội 62
3.3 Quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam 66
3.4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và khả năng thực thi quyền im lặng tại Việt Nam 72
3.4.1 Những kiến nghị mang tính định hướng 72
3.4.2 Những kiến nghị cụ thể 74
3.4.3 Một số kiến nghị khác 77
Kết luận Chương 3 80
PHẦN KẾT LUẬN
Trang 6Các từ viết tắt Nội dung giải thích
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát hiện, xử lý tội phạm, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là công việc của bất
kỳ quốc gia nào nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước cũng như các cá nhân trong xã hội đó Con người sinh ra ai cũng có quyền được sống trong một môi trường an toàn, được pháp luật quốc gia mình bảo vệ triệt để quyền con người, quyền công dân Tuy nhiên, ranh giới giữa nhu cầu giải quyết vụ án đúng người, đúng tội và việc đảm bảo quyền con người thường rất mong manh Có giải quyết hài hòa mâu thuẫn này, nền tư pháp hình sự mới trở nên tiến bộ, hoạt động hiệu quả Do đó, quyền con người là vấn đề quan trọng, cần được cân nhắc đảm bảo trong các hoạt động tố tụng hình sự Việc ghi nhận cụ thể những quyền con người cần được ưu tiên đẩy mạnh và đề cao Trong đó, quyền im lặng của người bị buộc tội là một nội dung đáng chú trọng Không ai có thể phủ nhận được những giá trị nhân quyền của quyền
im lặng Đã từ lâu, quyền im lặng được hầu hết các Công ước quốc tế cũng như pháp luật quốc gia quy định cụ thể nhằm để đảm bảo đầy đủ những giá trị cơ bản của con người Về bản chất, quyền im lặng thể hiện đặc quyền không tự buộc tội bản thân khi đứng trước sự cáo buộc về một hành vi phạm tội của nhà nước Đây có thể xem là phản ứng đương nhiên của con người trước các hoạt động khách quan xâm phạm đến quyền lợi của họ Chính vì vậy, các quốc gia ngày càng nỗ lực để xây dựng và phát triển quyền im lặng Thế nhưng, nhìn lại pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, nước ta dường như vẫn chưa tạo lập những nội dung đầy đủ về quyền của người bị buộc tội, các thiết chế đảm bảo quyền vẫn hoạt động rất yếu kém trong thực tiễn Các nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện nay chủ yếu xoay quanh các vấn đề về trách nhiệm, quyền hạn, thẩm quyền của các cơ quan, người tiến hành tố tụng Những quy định pháp luật tố tụng hình sự về quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn còn rất mờ nhạt và chưa thật sự đầy đủ Cơ hội để người bị buộc tội thực thi các quyền của mình trong hoạt động tố tụng cũng hạn chế, không đảm bảo tính công bằng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Chính vì vậy mà tình trạng chủ quan, duy ý chí, tranh thủ các lợi thế về mặt tố tụng
Trang 8của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã dẫn đến ngày càng nhiều những hiện tượng tiêu cực, nghiêm trọng nhất là oan sai diễn ra phổ biến hơn trong thực tế Để khắc phục tình trạng trên, điều kiện tiên quyết vẫn là trang bị cho người bị buộc tội những quyền lợi thiết thực để họ tự bảo vệ chính bản thân mình
Điều này đặt ra nhu cầu học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm lập pháp cũng như áp dụng pháp luật hiệu quả của các quốc gia khác cho Việt Nam Pháp luật tố tụng hình sự nước ta chưa ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội Tại các quốc gia phát triển, đặc biệt có Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, quyền im lặng rất được tôn trọng và đề cao, thể hiện rõ ràng trong chính các văn bản pháp luật hình sự hiện hành Điều này đã mang đến những thành công nổi bật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự cho các nước trên Trong công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, thiết nghĩ Việt Nam nên từng bước quy định và tiến hành đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội Đứng trước nhu cầu sửa đổi Bộ luật TTHS năm 2003 cũng như góp phần hiện thực hóa những cam kết của Việt Nam trong các Công ước quốc tế về bảo vệ quyền con người, tác giả hy vọng công trình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình với đề tài “Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ về quyền im lặng của người bị buộc tội và kinh nghiệm cho Việt Nam” sẽ trở thành một đóng góp hữu ích cho quá trình cải cách tư pháp tại nước ta hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài này là nhằm nghiên cứu, phân tích vai trò của việc đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội trong TTHS Từ đó, đưa ra những kiến nghị phù hợp giúp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam và đẩy mạnh công tác đảm bảo quyền con người của người bị buộc tội trên thực tế Để đạt được những mục tiêu kể trên, tác giả đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
buộc tội trong TTHS
Trang 9(ii) Nghiên cứu kinh nghiệm đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội
theo pháp luật hình sự Hoa Kỳ, quá trình hoàn thiện cũng như những ưu – nhược điểm khi thực hiện quyền im lặng tại Hoa Kỳ
Từ đó, học hỏi kinh nghiệm về việc quy định và thực thi quyền im lặng tại Hoa Kỳ
ứng dụng quyền im lặng của người bị buộc tội trong TTHS Việt Nam
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Công trình nghiên cứu luận văn sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội với những bằng chứng pháp lý có giá trị về mặt lịch sử lẫn lý luận Bên cạnh đó, tác giả sẽ tập trung nghiên cứu một cách cụ thể quyền im lặng trong pháp luật hình sự của Hoa Kỳ - quốc gia có những thành tích nổi trội về việc đảm bảo quyền cơ bản này của người bị buộc tội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hiện nay có thể xem là đại diện điển hình cho mô hình tố tụng tranh trụng
về quyền im lặng Mặc dù có những khác biệt khá rõ rệt trong lịch sử phát triển và
tư duy lập pháp, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể tiếp thu những tinh hoa phù hợp nhất với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam hiện tại
Nước ta hiện chưa có bất kỳ quy định nào về quyền im lặng của người bị buộc tội, do đó việc phân tích các khuyết điểm, thiếu sót trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam, đồng thời tìm hiểu thực trạng bảo vệ quyền của người bị buộc tội, sẽ giúp đưa ra những nhìn nhận xác đáng, tạo cơ hội cho việc quy định quyền im lặng được triển khai trên thực tế Tác giả hy vọng rằng, với đối tượng nghiên cứu cụ thể, phạm vi nghiên cứu đa dạng, công trình luận văn này sẽ mang đến một góc nhìn toàn diện về quyền im lặng cho tất cả mọi người trước thềm sửa đổi Bộ luật TTHS năm 2003
Trang 104 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả sẽ tìm hiểu, tiếp cận những nền tảng lý luận tiến bộ về quyền im lặng của người bị buộc tội ở phạm vi trong nước và thế giới, đặc biệt là trong pháp luật hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Trong quá trình nghiên cứu, tác giả dự định
sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của ngành luật học Thông qua những phương pháp nghiên cứu chính như phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu
lý thuyết và thực tế; tác giả muốn làm rõ hơn nhu cầu cần thiết xây dựng quy định
“Quyền im lặng của người bị buộc tội”, đồng thời đưa ra đánh giá, nhận xét chân thực, thuyết phục về thực tiễn áp dụng quyền này tại Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Với những mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra, tác giả hy vọng, khi đề tài được nghiên cứu thành công sẽ đem lại khả năng ứng dụng cao, giải quyết những thực trạng tiêu cực còn tồn đọng, góp phần bảo vệ quyền của người bị buộc tội, cũng như góp một tiếng nói tích cực trong việc hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến quyền im lặng trong pháp luật hình sự Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả mong rằng sẽ mang đến một góc nhìn chân thực và sâu sắc hơn khi tìm hiểu về việc đảm bảo quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật hình sự Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Từ đó, rút ra được những kinh nghiệm đáng quý cho Việt Nam, làm nền tảng xây dựng các quy định pháp luật, góp phần bảo vệ chặt chẽ quyền của người bị buộc tội trong bối cảnh hiện nay Đồng thời, kết quả thành công của công trình nghiên cứu hy vọng sẽ trở thành một nguồn tham khảo bổ ích cho sinh viên, giảng viên và những ai quan tâm
6 Kết cấu Luận văn
Bên cạnh lời mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cuả công trình nghiên cứu luận văn được cấu trúc thành ba chương bao gồm:
Trang 11 Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
sự Hoa Kỳ
ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội
Trang 12CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN IM LẶNG
CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Tư tưởng về quyền im lặng được hình thành từ rất lâu đời trong lịch sử phát triển của nhân loại nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích của NBBT Quyền im lặng được xây dựng trên nguyên tắc cơ bản “đặc quyền không tự buộc
quyền im lặng thông qua lời cảnh báo Miranda – xuất phát từ một án lệ điển hình Miranda kiện Arizona tại Hoa Kỳ vào năm 1966 Tuy nhiên, sự ra đời của quyền im lặng không bắt nguồn từ đây, vụ án này chỉ củng cố giá trị tồn tại của quyền im lặng của NBBT về một tội phạm (một quyền vốn dĩ đã được ghi nhận khá lâu trong lịch
sử TTHS thế giới) Theo hệ thống Thông luật, quyền im lặng ra đời từ rất sớm tại
Anh vào khoảng giữa thế kỷ thứ 17, bắt nguồn từ nguyên tắc “Nemo tenetur se
ipsum accusare” (Không ai bị ép phải tự buộc tội bản thân)2 Sự phát triển của quyền im lặng là một trong những đóng góp quan trọng cho hệ thống Thông luật của nước Anh Quyền im lặng ra đời nhằm giúp người bị cáo buộc đã thực hiện một tội phạm chống đối phương pháp tra hỏi của Tòa án Anh lúc bấy giờ Chính quyền Anh dùng Tòa án cung đình (Courts of Star Chamber) và Tòa án giáo hội (Court of
với giáo hội Khi những người chống đối bị bắt giữ, họ bị buộc thực hiện lời thề “ex
officio” và phải trả lời trung thực tất cả các câu hỏi được đưa ra, mà không có bất kỳ
cảnh báo trước nào về những lời cáo buộc hay các bằng chứng tích lũy được nhằm chống lại họ Cuộc thẩm vấn ngày càng đi sâu hơn đến vấn đề riêng tư của những
1 Nguyên tắc được quy định tại Tu chính án thứ V của Hiến pháp Hoa Kỳ, nguyên văn như sau: “no person
shall be compelled in any criminal case to be a witness against himself.”
2 “Noone is obliged to accuse himself”, từ John H Langbein (1994), “The Historical Origins of Privilege against self-incrimination at Common Law”, Faculty Scholarship Seires, tr.550
3 Tòa án cung đình (Courts of Star Chamber) và Tòa án giáo hội (Court of High Commission) là hai Tòa án công bình được thiết lập tại Anh trong khoảng thời gian từ năm 1487 – 1641 Những TA này sử dụng phương thức tra khảo để tìm ra sự thật trong các vụ án hình sự Do đó, CTV không phải gánh lấy trách nhiệm tìm ra chứng cứ buộc tội mà chỉ cần áp dụng các phương thức điều tra nhằm đe dọa, lấy lời khai của NBBT
Trang 13người bị bắt giữ và thậm chí là được thiết kế nhằm tìm hiểu về những đồng phạm khác có liên quan đến vụ án Làn sóng phẫn nộ chống lại việc bức cung, nhục hình,
ép buộc khai báo khi không có luật sư bào chữa hoặc luật sư chỉ có quyền bào chữa hạn chế ngày càng dâng cao Những cuộc tấn công bởi Nghị viện của Oliver Cromwell không chỉ hướng đến quyền hành pháp của Vua Charles I, mà còn dẫn
dựng nguyên tắc “nemo tenetur” – không ai bị buộc phải tự buộc tội mình Đến thế
kỷ thứ 18, pháp luật Anh thống nhất công nhận rằng, tất cả những lời khai thu thập được do bị ép buộc hoặc dùng nhục hình trước hay tại phiên tòa đều không có giá trị chứng cứ chống lại NBBT
Sự xóa bỏ các thiết chế TA vốn khét tiếng bất công và tàn bạo tại Anh đã hình thành nên đặc quyền không tự buộc tội mình, tạo tiền đề cho những quy định
về bảo vệ quyền con người tại Tu chính án thứ V của Hiến pháp Hoa Kỳ (được phê
thành quyền con người cơ bản của công dân Hoa Kỳ, cụ thể hóa thành quyền im lặng của NBBT Quyền im lặng ra đời từ rất lâu tại Hoa Kỳ, vào khoảng cuối thế
kỷ thứ 18 Theo Giáo sư Luật người Hoa Kỳ Anna C Conley, áp dụng quyền im lặng không nhằm tránh oan sai, mà xuất phát từ tình hình chính trị tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ Hoa Kỳ vốn là thuộc địa của Anh, chính quyền Anh áp dụng những chính sách đô hộ bất công và độc tài lên đất nước Hoa Kỳ, trong đó có cả thói quen tra khảo tội phạm vô cùng tàn bạo lẫn khắc nghiệt Khi giành được độc lập, Hoa Kỳ quyết tâm xây dựng một bản Hiến pháp đảm bảo đầy đủ quyền con người, trong đó
có quyền im lặng không tự chống lại mình, quyền tôn trọng riêng tư về nhà ở cũng như các giấy tờ liên quan đến nhân thân, nhằm tránh mắc phải những sai lầm trong
4
Mark Berger (1991), “The Self-Incrimination Debate”, Criminal Justice, (5) , tr.8
5 Tu chính án thứ V Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rõ: “Không người nào bị buộc phải trả lời về một tội có mức
án tử hình hoặc một trọng tội nào khác, nếu không có một cáo trạng do một đại bồi thẩm đoàn đưa ra, ngoại trừ các trường hợp xảy ra trong lục quân, hải quân hoặc trong hàng ngũ dân quân khi đang thi hành công vụ trong thời chiến hoặc khi có nguy hiểm cho quần chúng; không người nào phải bị xử hai lần cho cùng một tội có thể đưa đến tử hình hoặc giam cầm; và trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng không phải bị ép buộc làm nhân chứng chống lại chính mình, không thể bị tước đoạt sinh mạng, tự do, hoặc tài sản, nếu không trải qua một quá trình xét xử theo đúng thủ tục quy định của pháp luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng cho mục đích công cộng nếu không được bồi thường thỏa đáng.”
Trang 14pháp luật của Hoàng gia Anh trước đây6 Từ đây, các phán quyết của TA tối cao sau những lần xét xử lại càng nâng cao vị thế của quyền im lặng trong tư pháp hình
sự tại Hoa Kỳ Chẳng hạn như trong án lệ Escobedo v State of Illinois, TA đã nêu
rõ, NBBT có quyền im lặng trước những cáo buộc của cơ quan cảnh sát TA cũng khẳng định cụ thể hơn qua án lệ Crooker v California, NBBT hoàn toàn biết được quyền im lặng của mình mà không cần lời cảnh báo nào từ phía cơ quan cảnh sát Trong vụ Malloy v Hogan, TA tối cao yêu cầu NTHTT phải đặc biệt tôn trọng quyền im lặng của NBBT Tuy nhiên, tất cả những phán quyết trên của TA vẫn chưa thật sự thể hiện rõ một thiết chế bảo đảm chặt chẽ quyền im lặng trong thực tế xét xử Mãi cho đến khi xuất hiện vụ án Miranda v Arizona, lời cảnh báo Miranda cùng những phán quyết của TA tối cao mới minh chứng rõ điều này Chánh án Earl Warren viết trong phán quyết rằng, một người bị bắt giữ phải được thông báo rõ ràng về quyền im lặng trước khi tiến hành thẩm vấn, bất kỳ điều gì họ nói ra đều có thể được dùng làm bằng chứng chống lại họ trước tòa Người đó phải được thông báo về quyền có luật sư tư vấn hoặc nếu không đủ khả năng để thuê luật sư, họ hoàn toàn có quyền được chỉ định luật sư bên cạnh mình trong các buổi thẩm vấn Như vậy, nội dung quan trọng mà án lệ Miranda mang đến cho tư pháp hình sự Hoa Kỳ chính là việc nhấn mạnh sự nhất thiết cần có lời cảnh báo về quyền im lặng trước khi thẩm vấn, để nghi phạm nhận thức rõ ràng về quyền này (một đặc quyền tồn tại theo Tu chính án thứ V thể hiện bằng việc duy trì sự im lặng) Đồng tình với quan điểm trên, Chánh án TA tối cao Rehnquist cũng đã trình bày ý kiến đằng sau
vụ án Miranda như sau: “Vụ án Miranda đã đặt ra yêu cầu thông báo quyền im lặng cho nghi phạm và đảm bảo nghi phạm thực hiện tốt quyền này bằng chính sự tôn trọng của cơ quan cảnh sát” Bên cạnh đó, án lệ Miranda cũng thể hiện một nội dung không kém phần quan trọng khi cho phép NBBT được quyền dừng cuộc thẩm
Có thể thấy rằng, quyền im lặng “là một trụ cột không thể thiếu cho hệ thống tranh
Trang 15tụng”8 Đối với hệ thống Dân luật, quyền im lặng cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người Tuy nhiên, theo các học giả của mô hình TTHS thẩm vấn, quyền im lặng lại bắt nguồn từ quyền suy đoán vô tội, nguyên tắc “ai buộc tội, người đó phải chứng minh” của Luật La Mã cổ đại Đến cuối thế kỷ thứ
19, đầu thế kỷ thứ 20, quyền im lặng mới ngày càng được chú trọng và đề cao
Do đặc thù của hoạt động TTHS mà quyền im lặng được đặt ra Nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy rằng, NBBT luôn bị đặt vào tình thế bất lợi hơn
so với bên buộc tội Sự hoang mang, sợ hãi, tâm lý không ổn định, các bệnh lý cá nhân bộc phát đều khiến lời khai của NBBT trở nên không thật sự chính xác Ngoài
ra, NBBT luôn bị hạn chế về mặt kiến thức pháp luật cũng như trình độ, kỹ thuật xét hỏi Họ không thể chủ động bảo vệ bản thân khỏi những thủ đoạn thẩm vấn trái pháp luật từ phía cơ quan có thẩm quyền Do vậy, duy trì sự im lặng là cách tốt nhất để đảm bảo những quyền con người cần thiết khi vướng vào vòng lao lý của NBBT Như vậy, dù cho quyền im lặng có được Hiến định hay không, pháp luật có trao quyền im lặng cho NBBT hay không thì đây vẫn là quyền năng cơ bản của họ Quyền im lặng đã trở thành một nhân tố trọng yếu của bất kỳ quá trình TTHS nào,
Quyền im lặng còn góp phần nâng cao vai trò chứng minh tội phạm của CQĐT Đây có thể xem là những nhân tố thúc đẩy sự ra đời của quyền im lặng trong bối cảnh giải quyết các
vụ án hình sự
Như vậy, quyền im lặng là một tất yếu khách quan của thực tiễn pháp lý, ngăn chặn các hành vi sử dụng bạo lực nhằm ép NBBT khai báo hay nhận tội Không những thế, xuất phát từ đặc điểm của hoạt động tố tụng và mục tiêu giải quyết vụ án công minh, chính xác mà quyền im lặng cũng được đặt ra Quyền im lặng là quyền của NBBT khi đang bị giam cầm để xét hỏi về các tình tiết liên quan đến vụ án NBBT có quyền giữ im lặng hoặc được phép từ chối, không nhất thiết
8 Shmuel Leshem (2009), “The benefits of a Right to silence for the innocent”, USC Center in Law, Economics and Organization Research Paper No C11-19, USC Legal Studies Research Paper No.11-26, tr.1
9 Larry Laudan (2006), Truth, Error and Criminal Law - An essay in Legal Epistemolgy, NXB Cambridge
Studies in Philosophy and Law, tr.151
Trang 16phải trả lời các câu hỏi của cơ quan có thẩm quyền Ban đầu, quyền im lặng chỉ có hiệu lực cho đến khi có luật sư đại diện của NBBT Về sau, quyền im lặng được phát triển với một nội hàm rộng lớn hơn, quyền này của NBBT được áp dụng cho tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự Có thể thấy, quyền im lặng ngày càng thực hiện hiệu quả sứ mệnh cao cả nhằm tôn vinh những giá trị cơ bản của con người và xứng đáng được ghi nhận nhiều hơn tại các quốc gia trên thế giới
1.2 Nền tảng pháp lý của quyền im lặng trong tố tụng hình sự
1.2.1 Quyền im lặng và nguyên tắc xét xử công bằng
Theo hệ thống Thông luật, nguyên tắc xét xử công bằng (Principle of Right
to Fair Trial) là nền tảng quan trọng cho sự ra đời của quyền im lặng Nguyên tắc này được xây dựng từ học thuyết Tố tụng công bằng (Due Process of Law) và đang được phát triển trong pháp luật hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới Yêu cầu về
tố tụng công bằng là tiêu chí tiên quyết nhằm hoàn thiện pháp luật TTHS và đảm bảo triệt để các quyền cơ bản của NBBT Quyền được xét xử công bằng được quy định tại nhiều văn bản pháp lý quốc tế như Điều 14, Điều 16 Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) năm 1966; Điều 5, Điều 6 Công ước châu
Âu về Nhân quyền; Điều 3, 8, 9 và 10 Công ước châu Mỹ về quyền con người năm 1969,… Tính công bằng biểu hiện ở hai nội dung: (1) là mọi thủ tục tố tụng được tiến hành công bằng, (2) các bên trong quá trình tố tụng phải được đối xử công
giữa một bên là CQTHTT và một bên là NBBT Khi tham gia tố tụng, không bên nào được hưởng những điều kiện thuận lợi hơn so với bên còn lại, chính vì vậy mà quyền im lặng được đặt ra, giúp hạn chế sự lấn át trong việc lấy lời khai của các CQTHTT Có thể thấy rằng, một trong những yêu cầu nhằm đảm bảo nguyên tắc này chính là quyền im lặng và đặc quyền không tự buộc tội (dù theo pháp luật hình
10 Lương Thị Mỹ Quỳnh (2013), Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kỳ,
NXB Chính trị Quốc gia, tr.35
Trang 17sự của một số nước, các kết luận bất lợi vẫn được đặt ra dựa trên sự im lặng này)11 Nếu việc cho lời khai trở thành một nghĩa vụ của NBBT từ khi anh ta bị bắt giữ, họ
sẽ hầu như mất đi những lợi thế căn bản ngay trong vị trí tố tụng của mình Lúc này,
cả hai nội dung của nguyên tắc xét xử công bằng đều bị vi phạm Thứ nhất, các thủ tục tố tụng không được tiến hành một cách bình đẳng Việc tự do trình bày ý kiến của NBBT cũng như hoạt động thu thập thông tin về vụ án của CQTHTT sẽ có những chênh lệch nhất định Nhận xét một cách khách quan, khi NBBT không được phép giữ im lặng, không được tự do cung cấp lời khai, họ sẽ liên tục bị khai thác về các bằng chứng phạm tội (dù họ biết nó mang đến những ảnh hưởng bất lợi cho bản thân) Vậy thì, công bằng có được đề cao hay chưa? Thứ hai, liệu các bên trong quá trình tố tụng có được đối xử công bằng, khi mà người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo luôn rơi vào tình thế tự buộc tội do phải trả lời các câu hỏi điều tra của CQTHTT?
Một trong những nội dung quan trọng khác của nguyên tắc này chính là việc chống lại sự tự buộc tội Tại điểm g, Khoản 3, Điều 14 về xét xử công bằng của
Công ước ICCPR đã nêu rõ: “Không ai bị buộc phải khai báo nhằm chống lại mình
hoặc thú tội” Bất kỳ hành vi cưỡng bức nào về mặt thể chất hay tinh thần, trực tiếp
hay gián tiếp, dù là trước hay tại phiên tòa nhằm ép NBBT đưa ra những lời khai chống lại mình hay thú tội đều bị cấm Tất cả những bằng chứng thu thập được từ các hành vi trái pháp luật này đều không có giá trị chứng minh TA hoàn toàn có thể xem đây là biểu hiện của tra tấn hay cưỡng bức (theo quy định tại Điều 15 Công ước chống tra tấn và Điều 10 Công ước liên Mỹ về các hành vi tra tấn) Bên cạnh
đó, sự im lặng của NBBT không được dùng để chứng minh tội phạm hoặc rút ra bất
một trong những thành tố quan trọng kế thừa nguyên tắc xét xử công bằng Vì vậy, quyền được xét xử công bằng sẽ bị xem là vi phạm, nếu bị cáo bị kết tội chỉ dựa trên
11
“Article 6 Right to a fair hearing”, trang mạng của tổ chức thành viên đảm bảo các quyền tự do và cơ bản của con người tại Anh mang tên Liberty, [https://www.liberty-human-rights.org.uk/human-rights/what-are- human-rights/human-rights-act/article-6-right-fair-hearing] (truy cập ngày 01/05/2015)
12 Lawyers Committee for Human Rights (2000), “What is a fair trial?”, Basic Guide to Legal Standards and Practice, tr.19
Trang 18những giả thiết bất lợi xuất phát từ quyền im lặng của họ13 Nguyên tắc xét xử công bằng đã tạo ra những cơ sở pháp lý vững chắc giúp quyền im lặng được thực thi hiệu quả Ngược lại, bảo đảm tốt quyền im lặng, nguyên tắc này sẽ có cơ hội thể hiện đầy đủ vai trò của mình trong các hoạt động TTHS
1.2.2 Quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội
Có thể thấy rằng, quyền im lặng không chỉ đơn thuần thể hiện đặc quyền không tự chống lại mình mà còn là sự tổng hợp của nhiều nguyên tắc khác nhau
Innocence) Nguyên tắc này được rất nhiều quốc gia trên thế giới công nhận, trở thành một trong những nguyên tắc mang tính nền tảng của luật TTHS và được ghi nhận tại nhiều văn bản pháp lý quan trọng Đoạn 2 Điều 6 Công ước châu Âu về
Nhân quyền có nêu rõ: “Người bị buộc tội có quyền được suy đoán vô tội cho đến
khi chứng minh được hành vi phạm tội của họ theo quy định của pháp luật” Quyền
im lặng bắt nguồn từ đặc quyền không tự buộc tội chính mình, đồng nghĩa với việc,
để tìm ra sự thật vụ án, CQTHTT cần tăng cường vai trò trong công tác điều tra, truy tìm chứng cứ phạm tội Trong khi đó, nguyên tắc suy đoán vô tội bảo đảm người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo không bị coi là có tội khi lỗi của họ chưa được CQTHTT chứng minh theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định và chưa có
điều kiện tiên quyết đảm bảo quá trình tố tụng được công bằng Nếu quyền im lặng không được chú trọng, NTHTT có thể tranh thủ kẽ hở của pháp luật, khống chế NBBT nhằm khai thác thông tin từ họ, đánh mất giá trị của nguyên tắc suy đoán vô tội trong TTHS NBBT không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình, họ không bị buộc phải đưa ra lời khai hoặc các chứng cứ mà họ có; việc từ chối không
15 Nguyễn Thành Long (2011), Nguyên tắc suy đoán vô tội trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB Chính
trị Quốc gia, tr.33
Trang 19tham gia vào quá trình chứng minh không dẫn đến những hậu quả tiêu cực đối với
họ, được xem là những nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội CQTHTT không được sử dụng nhục hình, ép cung hay mớm cung đối với NBBT Họ có quyền giữ im lặng, được suy đoán vô tội và không ai được phép đặt ra những giả thiết bất lợi dựa vào sự im lặng của họ Những quan điểm mà TA châu Âu đưa ra trong việc giải quyết vụ án “Saunders v United Kingdom” phần nào chỉ rõ mối quan hệ giữa quyền im lặng với trách nhiệm xác minh vụ án của bên công tố (một nội dung cơ bản thể hiện nguyên tắc suy đoán vô tội) Theo đó, bên công tố sẽ là chủ thể có nghĩa vụ đi tìm bằng chứng buộc tội bằng các phương pháp không mang tính chất ép buộc hay xem thường những đòi hỏi về quyền lợi của NBBT Như vậy, quyền im lặng sẽ có mối liên hệ rất mật thiết với nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại đoạn 2 Điều 6 Công ước này Thế nhưng những quy tắc mà TA châu Âu đã
đề ra thường không đề cập nhiều đến nguyên tắc suy đoán vô tội với tư cách là nền tảng cho quyền im lặng, mà nguyên tắc xét xử công bằng (nội duy được quy định tại
Khoản 2 Điều 14 BLTTHS Liên bang Nga năm 2001 quy định về suy đoán
vô tội như sau: “Người bị tình nghi hoặc bị can không có nghĩa vụ chứng minh sự
vô tội của mình Vấn đề chứng minh tội phạm và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo
vệ cho người bị tình nghi hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buộc tội” Không
chỉ được công nhận trong phạm vi các Công ước quốc tế, luật TTHS của các nước cũng dần dần ghi nhận những nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội, tạo
cơ sở đảm bảo thực thi quyền im lặng trên thực tế Ngược lại, nếu quyền im lặng được tôn trọng thì nguyên tắc suy đoán vô tội được vận dụng hiệu quả hơn Có thể thấy rằng, quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội đều có vai trò, vị trí nhất định và có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau, tạo thế trọng cân bằng cho NBBT khi tham gia tố tụng Tóm lại, việc không ghi nhận quyền im lặng sẽ đặt
16
Mark Berger, Tlđd, tr.344, 345
Trang 20ra các khoảng trống pháp lý, tạo cơ hội cho CQTHTT vận dụng sai nguyên tắc suy
, dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực về sau
Như vậy, quyền im lặng ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu giải quyết các vấn nạn tiêu cực của quá trình tố tụng như bức cung, dùng nhục hình, đảm bảo đề cao quyền con người mà còn là phương tiện pháp lý quan trọng, củng cố việc thực thi các nguyên tắc nền tảng của TTHS
1.3 Cơ sở pháp lý ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội
Có thể thấy rằng, quyền im lặng là một quyền cơ bản của con người, được hình thành từ rất lâu đời và ngày càng được quan tâm phát triển không chỉ ở quy mô quốc gia mà còn lan rộng ra khắp thế giới Quyền im lặng tuy không được đề cập trực tiếp trong các Công ước quốc tế, nhưng vẫn được gián tiếp quy định thông qua một số nguyên tắc như suy đoán vô tội, xét xử công bằng hay đặc quyền không tự buộc tội Chẳng hạn như tại Khoản 1, Điều 11 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm
1948 khẳng định nội dung như sau: “Bị cáo về một tội hình sự được suy đoán là vô
tội cho đến khi có đủ bằng chứng phạm pháp trong một phiên xử công khai với đầy
đủ bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ” Như vậy, để đảm bảo được nguyên tắc
này, quyền im lặng là một điều kiện cần được cân nhắc đảm bảo Tại Điều 15 Công
ước chống tra tấn của Liên Hợp Quốc cũng quy định rõ: “Các quốc gia thành viên
phải đảm bảo rằng, bất kỳ lời khai nào thu thập được là kết quả của các hành vi tra tấn đều không được sử dụng làm bằng chứng trong các quá trình tố tụng, trừ khi nó được dùng làm bằng chứng để chống lại người có hành vi tra tấn” Công ước quốc
tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 bảo vệ quyền không bị buộc làm nhân chứng chống lại mình của NBBT, trở thành một nội dung được Hiến định tại
nhiều quốc gia Tại Khoản 2, Điều 14 Công ước này có nêu rõ: “Người bị buộc tội
về một tội phạm hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi tội của người đó được chứng minh theo pháp luật” Đồng thời, điểm g, Khoản 3, Điều 14 Công ước
17 Đồng Nhân, “Quyền im lặng”, báo Thanh Niên, lang-566963.html] (truy cập ngày 01/05/2015)
Trang 21[http://www.thanhnien.com.vn/chao-buoi-sang/quyen-im-này cũng khẳng định mạnh mẽ: “Không ai bị ép buộc phải chứng minh chống lại
mình hoặc buộc tự thú là mình có tội” Quyền im lặng tuy không được quy định
trực tiếp trong các điều khoản của Công ước ICCPR nhưng luôn được xem xét đánh giá thông qua việc thực thi Công ước này của các quốc gia thành viên Cụ thể, trong Kết luận khuyến nghị về báo cáo thực hiện ICCPR của Pháp vào năm 2008, Ủy ban
Nhân quyền nêu rõ: “bất kỳ ai bị bắt giữ về một cáo buộc hình sự cần được thông
báo về quyền im lặng trong quá trình thẩm vấn của cảnh sát, phù hợp với Điều 14, đoạn 3(g) của Công ước ICCPR” Bên cạnh đó, một số khuyến cáo của Ủy ban
Nhân quyền trong việc thực thi Công ước ICCPR của các nước thành viên cũng cho thấy tầm quan trọng của việc thực thi quyền im lặng Trong Kết luận khuyến nghị
với báo cáo của Algeria vào năm 2007 có đoạn nêu rõ: “quyền giữ im lặng nên được
giải thích rõ ràng trong BLTTHS và được áp dụng trong thực tế”, đối với báo cáo
của Ireland vào năm 2008, Ủy ban Nhân quyền cũng khuyến cáo rằng: “nên sửa đổi
lập pháp để đảm bảo không có những kết luận bất lợi từ sự im lặng của bị cáo” và
được rằng, quyền im lặng là quyền con người mang tính quốc tế mà pháp luật hình
sự của tất cả các quốc gia thành viên đều phải tôn trọng Điểm iv, Khoản 2, Điều 40
của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1989 cũng ghi nhận: “Không
trẻ em nào bị ép buộc phải làm chứng hoặc nhận tội; được thẩm vấn hoặc nhờ người thẩm vấn những người làm chứng chống lại mình…” Tại điểm g, Khoản 1,
Điều 67 Quy chế Rome và Tòa án hình sự quốc tế về quyền của NBBT, quyền im
lặng được quy định cụ thể như sau: “Không ai bị buộc phải khai báo hoặc thú tội
Người bị buộc tội được quyền im lặng và sự im lặng đó không bị xem là căn cứ để đánh giá sự có tội hay vô tội của mình.” Thông qua việc quy định các nguyên tắc
nền tảng, đồng thời được giải thích cụ thể trong các bản luận giải của Ủy ban Nhân quyền, quyền im lặng ngày càng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong pháp luật hình sự của các quốc gia trên thế giới
18 Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm (2015), “Quyền im lặng trong pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (03), tr 29
Trang 22Ở cấp độ khu vực, Điều 6 Công ước Châu Âu về Nhân quyền tuy không thể hiện cụ thể bằng ngôn từ nêu rõ quyền im lặng, nhưng TA Nhân quyền Châu Âu đã giải thích quyền im lặng là một nhân tố quan trọng nhằm xác định quyền được xét
khẳng định tại điểm g, Khoản 2, Điều 8 về quyền được xét xử công bằng: “Không
ai bị buộc làm nhân chứng chống lại mình hoặc phải thú tội.” Tại điểm b, Khoản 1,
Điều 7 Hiến chương châu Phi về con người và quyền con người được thông qua bởi
tổ chức Liên minh châu Phi cũng đã đề cập rõ: “Mỗi cá nhân đều được suy đoán vô
tội cho đến khi bị kết án bởi một bản án có hiệu lực pháp luật từ tòa án”
Ở một số quốc gia, quyền im lặng còn trở thành một quyền Hiến định, được tôn trọng bảo vệ mạnh mẽ Một trong những bản Hiến pháp có giá trị lâu đời, khẳng định vai trò quan trọng của quyền im lặng đó chính là Hiến pháp Hoa Kỳ Tu chính
án thứ V Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng: “Không một người nào phải trả lời về
trọng tội hay một tội xấu xa khác, nếu không có cáo trạng do một đại bồi thẩm đoàn đưa ra; không một người nào bị buộc phải tự làm chứng chống lại mình trong một
vụ án hình sự” Kế đến, quyền im lặng còn được quy định đầy đủ, rõ ràng bằng
ngôn từ chuẩn xác tại Điều 35 Hiến pháp Nam Phi Cụ thể, tại Khoản 1 Điều 35
Hiến pháp nước này nêu rõ: “(1) Người bị bắt vì cáo buộc phạm tội có quyền giữ im
lặng; (2) Được thông báo về quyền được im lặng và hậu quả của việc không giữ im lặng; (3) Không bị buộc phải đưa ra hoặc chấp nhận lời khai nào có thể được sử dụng để chống lại mình” Tại Khoản 3 Điều này, Hiến pháp Nam Phi cũng công
nhận một số quyền dành cho người bị cáo buộc phạm tội như sau: “Được suy đoán
vô tội, được giữ im lặng và không phải thú tội trong suốt quá trình tố tụng” Có thể
thấy, Nam Phi đã thể hiện một quan điểm lập pháp vô cùng tiến bộ khi quy định chính xác bằng ngôn từ rõ ràng quyền im lặng của NBBT Đây là một ghi nhận đáng trân trọng mà các quốc gia trong quá trình hội nhập pháp luật cần quan tâm
học hỏi Hiến pháp Liên bang Nga đã quy định những nội dung như sau: “Người bị
19 Mark Berger (2006), “Europeanizing self-incrimination: The right to remain silent in the European Court
of Human Rights”, European Legal Studies Center, Columbia University
Trang 23buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh tội của mình” (Khoản 2 Điều 49),
“Các tình tiết gây nghi ngờ được giải thích có lợi cho người bị buộc tội” (Khoản 3 Điều 49) hay “Không một ai có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ chống lại mình,
vợ hoặc chồng mình, những người thân của mình do pháp luật liên bang xác định”
NBBT khỏi việc bị buộc làm nhân chứng chống lại mình Điều 38 Hiến pháp Nhật
Bản quy định hết sức cụ thể rằng: “Không ai bị bắt buộc khai trái sự thật Những
lời thú tội vì ép buộc, tra tấn, đe dọa hay do thời gian giam cầm lâu không được coi
là bằng chứng Không ai bị kết án hay trừng phạt nếu chứng cứ buộc tội chỉ dựa trên lời thừa nhận của bản thân bị cáo” Khoản 2 Điều 12 Hiến pháp Hàn Quốc có
nêu rõ: “Không có công dân nào bị tra tấn hoặc bị bắt buộc phải làm chứng chống
lại mình trong các vụ án hình sự”, Khoản 7 Điều này cũng nhấn mạnh: “Trong trường hợp việc nhận tội được coi là trái với ý chí của bị cáo do bị tra tấn, bạo lực,
đe dọa, bắt giữ kéo dài vô lý, gian lận hoặc hành động tương tự, hoặc trong trường hợp lời nhận tội là bằng chứng duy nhất chống lại bị đơn trong một phiên tòa chính thức, lời thú nhận đó sẽ không được thừa nhận là chứng cứ phạm tội, bị cáo cũng không bị trừng phạt vì lời thú nhận này” Điều 18 Hiến pháp Argentina cũng quy
định: “Không ai bị ép buộc đưa ra chứng cứ chống lại mình” Khoản 3 Điều 42
Hiến pháp Ba Lan cũng đảm bảo chặt chẽ nguyên tắc suy đoán vô tội, đặt nền tảng kiên cố cho quyền im lặng được thực thi
Không chỉ được quy định trong các Công ước có giá trị toàn cầu, được đề cao tôn trọng trong các bản Hiến pháp danh giá của mỗi quốc gia, các nước vẫn không ngừng phát triển và hoàn thiện quyền im lặng trong pháp luật hình sự của nước mình Chương 7, Chương 11.c và Chương 13 Hiến chương về các quyền và sự
tự do của Canada, và điểm d, Điều 25 Bộ quyền cơ bản của công dân (Bill of Rights) của New Zealand năm 1990 số 109 đều đảm bảo quyền không bị buộc làm nhân chứng chống lại mình hay phải thú tội Vương quốc Anh được xem là đại diện điển hình cho hệ thống Thông luật trong quá trình hình thành và phát triển quyền im
20
Nguyên văn là “Noone accused of any offence shall be compelled to be witness against himself”
Trang 24lặng Những quy định pháp luật liên quan đến quyền im lặng thực chất được sửa đổi, bổ sung tại Bắc Ireland trong Trật tự các bằng chứng hình sự vào năm 1988 cũng như tại Anh và xứ Wales trong Luật Tư pháp Hình sự và Trật tự công cộng năm 1994 (tại các phần 34, 35, 36 và 37) Điểm đặc biệt trong quy định về quyền im lặng của các văn bản này, chính là sự cho phép TA hay bồi thẩm đoàn được rút ra bất kỳ kết luận nào từ sự im lặng trong bốn trường hợp cụ thể sau: (1) khi NBBT không đề cập về một sự thật lúc được thẩm vấn nhưng lại dùng thông tin đó để biện
hộ trước tòa (dù có đầy đủ lý do hợp lý để anh ta có thể cung cấp sự thật này khi được xét hỏi), (2) khi NBBT từ chối tuyên thệ hoặc trả lời bất kỳ câu hỏi nào tại phiên tòa, (3) khi NBBT không giải thích được về các đối tượng, vật chứng hay dấu tích tìm được trên cơ thể, trên áo quần hoặc trên tài sản của họ vào thời điểm bị bắt giữ và (4) khi NBBT không giải thích được sự hiện diện của mình tại một hiện trường cụ thể trong vụ án Bên cạnh đó, Luật Tư pháp Hình sự và Trật tự công cộng năm 1994 cũng đặt ra ba trường hợp ngoại lệ: (1) không được rút ra bất kỳ kết luận bất lợi nào nhằm chống lại bị cáo là trẻ em hoặc người đang có các vấn đề về thể chất hay tinh thần, (2) bị cáo không thể bị kết tội khi chỉ dựa vào những kết luận bất lợi xuất phát từ sự im lặng của họ và (3) không khai báo không dẫn đến việc bị truy
tố hình sự về tội xem thường TA cũng như CQTHTT Sự điều chỉnh đáng chú ý này trong pháp luật Anh về quyền im lặng đã dấy lên những cuộc tranh luận vô cùng gay gắt Một số ý kiến cho rằng, sự thay đổi này đã dịch chuyển trách nhiệm chứng minh sang NBBT, làm mất đi hoàn toàn giá trị của quyền im lặng Một khi sự im lặng của mình có thể làm căn cứ cho các kết luận bất lợi, NBBT phải chịu một sức
ép rất lớn trong việc cung cấp lời khai (mặc dù, họ hoàn toàn có quyền được tự do trong vấn đề này) Trái lại, một số quan điểm đồng tình rằng, việc thay đổi này hoàn toàn có thể vận hành trong sự linh hoạt của quá trình tố tụng mà vẫn đảm bảo được quyền im lặng của NBBT
TA châu Âu vẫn chấp nhận việc sử dụng những kết luận bất lợi rút ra từ quyền im lặng như một phần trong hệ thống tư pháp vốn chặt chẽ của nước Anh (án
lệ Murray v United Kingdom) Yêu cầu cung cấp những thông tin về nhân thân
Trang 25cũng không bị xem là vi phạm Điều 6 Công ước châu Âu về Nhân quyền21 TA nhân quyền châu Âu yêu cầu các TA Anh cần cân bằng quyền im lặng với việc rút
ra các suy đoán bất lợi từ đây Qua vụ án Condron v.United Kingdom, TA nhân quyền châu Âu cho rằng, sẽ được xem là vi phạm Điều 6 Công ước châu Âu về Nhân quyền khi không cảnh báo trước về một kết luận bất lợi sẽ được rút ra từ sự
im lặng của NBBT Trong vụ Averill, việc rút ra kết luận bất lợi khi NBBT từ chối trả lời thẩm vấn cần thiết được giới hạn trong những nội dung nhất định Và với việc thông qua Luật Nhân quyền năm 1998, các án lệ của TA châu Âu đã phần nào tác động đến công tác xét xử của các Tòa phúc thẩm tại Anh trong việc xem trọng
Saunders v.United Kingdom và Kansal v.R đã cho thấy một khía cạnh khác của quyền im lặng Sự vi phạm quyền không tự buộc tội của nghi phạm, không chỉ đơn thuần là hành vi ép buộc lấy lời khai trong các giai đoạn TTHS Hơn thế nữa, cũng
bị xem là vi phạm nếu CQTHTT sử dụng một lời khai thu thập được do bị ép buộc trong hoạt động tố tụng phi hình sự, nhưng sau đó lời khai này được dùng để chống
Pháp luật nước Úc về quyền im lặng cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ pháp luật Anh Nước Úc không quy định quyền im lặng trong Hiến pháp như một số quốc gia
mà được quy định theo từng bang và phối hợp với luật của nhà nước Tại Điều 122 Luật Thi hành luật (quyền và trách nhiệm) năm 2002, trước khi tiến hành thẩm vấn, CQĐT phải khuyến cáo rõ với người bị hỏi rằng, họ không bị buộc phải trả lời các câu hỏi, việc đưa câu trả lời có thể được dùng làm bằng chứng chống lại họ sau
im lặng của NBBT Tuy nhiên, các phán quyết của TA trong án lệ Weissensteiner v.R lại mang đến những thay đổi đầu tiên trong việc áp dụng quyền im lặng tại
Trang 26[http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/van-Úc25 Luật sửa đổi, bổ sung Luật bằng chứng năm 2013 đã được bang New South Wales thông qua, trong đó, điển hình là những điều chỉnh về quyền im lặng (dù đã
có luật sư) khi một người bị xét hỏi về các tội trạng có mức án từ 5 năm tù trở lên Với nội dung này, những kết luận bất lợi sẽ được phép rút ra từ sự im lặng của NBBT, do người này không đề cập về một sự thật lúc được thẩm vấn nhưng lại dùng thông tin đó để biện hộ trước tòa (mặc dù anh ta có thể cung cấp sự thật này khi được xét hỏi) Tuy nhiên, quy định này vẫn có hai trường hợp ngoại lệ: (1) không áp dụng khi tại thời điểm xét hỏi, bị cáo dưới 18 tuổi hoặc không thể hiểu được bản chất cũng như tầm quan trọng của lời khuyến cáo, (2) không áp dụng khi
sự từ chối trả lời của NBBT lại trở thành bằng chứng duy nhất kết tội họ Sự thay đổi này cũng kéo theo những điều chỉnh trong Luật TTHS năm 2013 của Úc, đặt ra vấn đề cung cấp thông tin cho nhau giữa NBBT và CQĐT Nội dung được thông
Ở Đức, Luật tố tụng StPO quy định, trước khi lấy lời khai, NTHTT phải thông báo cho NBBT về sự tự do lựa chọn khai báo hoặc không đối với cáo buộc từ phía nhà nước Ngoài ra, trước khi mở đầu phiên tòa, bị cáo phải được thông báo về
tại Đức, quyền im lặng lại hiếm khi được tôn trọng đầy đủ Pháp luật nước này cho rằng, lời khai của NBBT sẽ ngăn chặn tội phạm tiếp diễn và giúp cho hoạt động điều tra dễ dàng hơn Sự im lặng, kiên quyết từ chối hay nhất định không giải thích
là các căn cứ hợp lý cho việc kết tội tại các TA Đức Việc cung cấp lời khai của NBBT sẽ giúp đẩy nhanh quá trình tìm kiếm tội phạm Theo một nghiên cứu cho thấy, có 41% NBBT cung cấp đầy đủ lời khai và khoảng 26% chỉ tiết lộ một nửa thông tin họ biết trong các vụ án hình sự Việc cung cấp đầy đủ lời khai đã giảm đi 50% thời gian xét xử tại tòa Theo đó, thời gian trung bình để xét xử tại các TA ở
Trang 27Đức thường là một ngày hoặc thậm chí là một phần ba ngày28 Pháp và Đức đều áp dụng mô hình tố tụng thẩm vấn Tại Pháp, việc rút ra các kết luận bất lợi từ sự im lặng của NBBT không bị cấm Do vậy, cách tiếp cận về quyền im lặng của Pháp và Đức là như nhau, tính chất ưu tiên của quyền im lặng sẽ bị hạn chế nhất định Pháp luật các nước này cho rằng, lời khai của NBBT không chỉ tiết kiệm thời gian, hạn chế các giả thiết đặt ra trong quá trình phá án mà còn giúp TP có được các quyết định chính xác
Ở các nước châu Á, quyền im lặng vẫn được chú trọng đề cao thông qua các văn bản pháp luật hình sự khác nhau BLHS của Ấn Độ cũng cho phép NBBT được quyền im lặng trong suốt quá trình thẩm vấn (đoạn 2, Điều 161) hay tại TA (đoạn 3, Điều 313) Đặc biệt, đoạn 1 Điều 313 Bộ luật này quy định, việc im lặng của NBBT không dẫn đến bất kỳ kết luận nào từ các bên trong HĐXX, không ai được đặt suy đoán về bản thân NBBT hoặc người có liên quan khác trong cùng một vụ án Trong một quyết định của TA tối cao ở vụ án Maharashtra v Ashok Chotelal Shukla, sự
im lặng của NBBT khi bị thẩm vấn không dẫn đến kết luận rằng anh ta có tội Điều
24 của Luật Chứng cứ ở Ấn Độ (Indian Evidence Act) đã loại bỏ hiệu lực của các chứng cứ có được từ sự ép buộc của CQĐT
Tại Điều 311 BLTTHS của Nhật Bản có nêu rõ: “(1) Bị cáo có thể im lặng
hoặc từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào trong suốt quá trình xét xử, (2) Khi bị cáo tự nguyện phát biểu thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa có thể hỏi họ bất cứ lúc nào về những vấn đề cần thiết” Điều 83 và Điều 84 BLTTHS Thái Lan (đã được sửa đổi
bởi Luật Sửa đổi BLTTHS 2004) ghi nhận rằng, nhân viên cảnh sát tiến hành các vụ bắt giữ phải thông báo cho người bị bắt về quyền im lặng Cụ thể, Điều 83 quy
định: “Trong trường hợp bắt giữ được thực hiện bởi một sỹ quan phải thông báo
cho người bị bắt tội danh, xuất trình cho ông/ bà ta một lệnh bắt nếu có và nói với người này ràng ông/ bà ta có quyền giữ im lặng, bất cứ điều gì ông/ bà nói có thể
và sẽ được sử dụng làm bằng chứng trong một phiên tòa, và ông/ bà ta cũng có quyền gặp gỡ và tham vấn với một luật sư…” Khoản 1 Điều 84 BLTTHS Thái Lan
28
Preksha Malik, Tlđd
Trang 28cũng quy định chi tiết thủ tục lấy lời khai tại cơ quan cảnh sát như sau: “Trong
trường hợp việc bắt giữ được thực hiện bởi một công dân, viên chức hành chính; cảnh sát tiếp nhận người bị bắt phải lập hồ sơ về tên, nghề nghiệp và địa chỉ của công dân, bao gồm cả các thông tin và hoàn cảnh dẫn đến việc bắt giữ, và yêu cầu công dân ký Biên bản này Nhân viên sau đó sẽ thông báo cho người bị bắt về tội danh và căn cứ bắt, và nói rằng ông/ bà có quyền giữ im lặng và bất cứ điều gì họ nói có thể sẽ được sử dụng làm bằng chứng trong một phiên tòa”29 BLTTHS Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ban hành vào năm 1979 quy định tại Điều 43 như sau:
“Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên theo trình tự, thủ tục quy định trong luật,
phải thu thập các loại chứng cứ khác nhau chứng minh sự có tội hay vô tội của nghi can, bị cáo và mức độ nghiêm trọng của tội phạm Nghiêm cấm việc bức cung, dùng nhục hình và thu thập chứng cứ bằng các biện pháp như đe dọa, dụ dỗ, lừa gạt và các biện pháp bất hợp pháp khác”30 Có thể thấy, pháp luật của một số quốc gia châu Á tuy chưa quy định cụ thể về quyền im lặng nhưng đã xây dựng những nội dung nhằm bảo vệ nguyên tắc suy đoán vô tội, đặc quyền không tự buộc tội và nguyên tắc trách nhiệm chứng minh của CQTHTT – những nền tảng cơ bản của quyền im lặng
Tóm lại, quyền im lặng đã trở thành một nhu cầu thiết thực cần được đảm bảo của NBBT Một số quốc gia sẽ ghi nhận quyền im lặng với đúng tên gọi của nó trong pháp luật hình sự của nước mình, số khác lại quy định những nội dung nhằm bảo vệ quyền im lặng của NBBT Nhìn chung, quyền im lặng đều đã được công nhận và đang từng bước được hoàn thiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới
1.4 Nội dung quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Quyền im lặng là quyền cơ bản của NBBT, bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền này được đảm bảo bởi các CQTHTT, NTHTT trong
29 Nguyễn Quốc Việt (2014), “Bàn về quyền im lặng trong pháp luật TTHS một số nước trên thế giới”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, (01)
30 Nguyễn Thành Long, Tlđd, tr.89 – 92
Trang 29tất cả các giai đoạn TTHS Tùy từng giai đoạn mà tư cách pháp lý của các chủ thể
có trách nhiệm tôn trọng quyền im lặng của NBBT là khác nhau, có thể là Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV), Công tố viên (CTV), Thẩm phán (TP),…Do đó, không chỉ trong giai đoạn tiền tố tụng mà ngay tại TA khi tiến hành xét xử, NBBT vẫn có quyền giữ im lặng, không ai được phép ép buộc họ trả lời các câu hỏi mang tính cáo buộc trong phiên xét xử
Công dân Mỹ thường gọi quyền Miranda là quyền im lặng, vì lời cảnh báo này tổng hợp những điều kiện cần có để thực thi hiệu quả quyền im lặng trên thực
tế Một lời cảnh báo Miranda hoàn chỉnh bao gồm những nội dung sau: “Anh có quyền giữ im lặng Bất kỳ điều gì anh khai báo đều có thể sử dụng để chống lại anh trước tòa Anh có quyền được nói chuyện với luật sư và có luật sư hiện diện trong quá trình xét hỏi Nếu anh không thể thuê luật sư, anh vẫn được chính phủ cung cấp luật sư trước khi tiến hành xét hỏi Anh có quyền kết thúc cuộc thẩm vấn bất kỳ lúc nào” Cần phân định rõ ràng, quyền im lặng không bao gồm trong nó quyền có luật
sư bào chữa, hai quyền này hoàn toàn khác nhau, chúng hỗ trợ lẫn nhau để bảo đảm tốt nhất quyền của NBBT Và đặc biệt, lời cảnh báo Miranda không thể thay thế cho toàn bộ nội dung của quyền im lặng Quyền im lặng có nghĩa là không nói bất kỳ điều gì, không cung cấp thông tin hay trả lời câu hỏi, được biểu hiện thông qua ba
vấn đề cơ bản sau đây Thứ nhất, NBBT được tự do trình bày lời khai, nêu lên quan
điểm, ý kiến của mình một cách hoàn toàn tự nguyện và không chịu bất kỳ sự
cưỡng chế nào từ phía nhà nước Thứ hai, NBBT được quyền giữ im lặng, được từ
chối trả lời những câu hỏi mang tính chất cáo buộc từ phía cơ quan có thẩm quyền Như vậy, NTHTT không được phép tra hỏi nếu NBBT đã thể hiện ý chí về sự im lặng Việc tiếp tục xét hỏi sau khi NBBT đã từ chối trả lời được xem là một vi phạm nghiêm trọng Cho đến khi có sự hiện diện của luật sư, quyền im lặng vẫn duy trì hiệu lực Cần lưu ý rằng, giá trị của quyền im lặng sẽ kéo dài trong suốt quá trình tố tụng, khi nào một người còn tham gia tố tụng với tư cách là NBBT và đang phải chịu giam giữ để xét hỏi, khi đó quyền im lặng vẫn còn được tôn trọng đảm bảo Sự
có mặt của luật sư không làm mất đi quyền im lặng của NBBT Luật sư có mặt để
Trang 30đảm bảo quá trình thẩm vấn được diễn ra đúng quy định của pháp luật, tránh tình trạng ép cung hay sử dụng nhục hình Sự hiện diện của luật sư giúp NBBT có được những lời khuyên pháp lý hữu ích về các lời khai mà họ sẽ cung cấp cho CQĐT Luật sư có mặt không đồng nghĩa với việc NBBT phải bắt đầu cung cấp lời khai
Thứ ba, khi đang thực hiện thẩm vấn, NBBT được phép dừng cuộc xét hỏi bất kỳ
lúc nào Chấp nhận hợp tác trả lời thẩm vấn không đồng nghĩa với việc NBBT bị tước đoạt quyền im lặng của mình Đến một giai đoạn nào đó, khi cảm thấy lời khai của mình có khả năng buộc tội bản thân, NBBT lại tiếp tục được phép im lặng Tuy nhiên, quyền im lặng không chỉ thể hiện qua các hoạt động tố tụng của NBBT Quyền này sẽ không thật sự trọn vẹn nếu thiếu đi sự tôn trọng từ phía cơ quan nhà nước Người có thẩm quyền phải thông báo quyền im lặng trước khi xét hỏi, đồng thời, không được rút ra bất kỳ kết luận bất lợi nào từ sự im lặng của NBBT Việc thông báo không chỉ giúp NBBT nhận biết quyền của mình mà còn giúp họ tiên liệu
Vậy, khi nào thì một người bắt đầu có quyền im lặng? Quyền im lặng sẽ được đặt ra khi một người rơi vào tình trạng bị giam cầm (in custody) và bị xét hỏi (under interrogation) Hai điều kiện này phải đồng thời xuất hiện mới tạo tiền đề cho việc thực hiện quyền im lặng Tình trạng bị giam cầm được mô tả trong hai
trường hợp Thứ nhất, khi một người bị bắt giữ dưới sự cưỡng chế của cơ quan nhà nước (không quan tâm đến tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội) Thứ hai, khi
một người tuy không bị bắt giữ, nhưng quyền tự do đi lại của họ bị hạn chế bởi cơ quan cảnh sát và có đầy đủ lý do để cho rằng bản thân đang rơi vào tình trạng bị giam cầm Như vậy, dù đang ở nhà, tại công sở hay trên đường phố, miễn có cơ sở
về sự hiện diện của một không gian mang tính giam cầm đặt ra bởi cảnh sát thì điều kiện thứ nhất được thỏa mãn Điều kiện đủ còn lại để thực hiện quyền im lặng trên thực tế, chính là xác định tình trạng bị thẩm vấn hay bị xét hỏi bởi cơ quan nhà
nước Tương tự, có hai trường hợp minh họa cho vấn đề này Thứ nhất, khi CQĐT
31 Ronald Banaszak, Sr (2002), A documentary history - Fair Trial Rights of the accused, NXB Greenwood
Press, tr.154
Trang 31tiến hành thẩm vấn với những câu hỏi nhằm khẳng định tội phạm hoặc tìm kiếm thông tin về tội phạm Tuy nhiên, những câu hỏi nhằm xác định nhân thân của NBBT như tên tuổi, địa chỉ thường trú,…không được xem là các câu hỏi điều tra tội
phạm Thứ hai, sẽ được coi là rơi vào tình trạng bị thẩm vấn khi CQĐT cố ý tạo
nếu thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện trên thì NBBT đã có thể thực hiện quyền
im lặng của mình
Quyền im lặng không chỉ là một nhu cầu thiết yếu đối với bản thân NBBT
mà còn với hoạt động TTHS Sự hiện diện của quyền im lặng đảm bảo quyền con người, nâng cao trách nhiệm của CQTHTT, góp phần xây dựng một môi trường tư pháp hình sự trong sạch và hoạt động hiệu quả
32 Ronaldo V Del Carmen (2010), Criminal Procedure Law and Practice, NXB Wadsworth Cengage
Language, tr.356-360
Trang 32Kết luận Chương 1
Trong Chương 1, tác giả kết luận một số vấn đề sau:
Nền tảng lý luận và pháp lý của quyền im lặng của người bị buộc tội
Xét ở khía cạnh lịch sử hình thành, quyền im lặng giúp ngăn chặn các hành
vi bức cung, dùng nhục hình trong quá trình lấy lời khai NBBT Đồng thời, ghi nhận quyền im lặng còn nhằm đề cao những giá trị cơ bản của con người Về mặt
lý luận, sự ra đời của quyền im lặng đảm bảo tính cân bằng, đối trọng giữa các bên trong quan hệ tố tụng hình sự, khi mà NBBT luôn rơi vào tình trạng yếu thế hơn so với các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước Về mặt pháp lý, bắt nguồn từ những nền tảng quan trọng của TTHS như nguyên tắc xét xử công bằng và suy đoán vô tội, quyền im lặng lại ngày càng khẳng định giá trị của mình trong các hoạt động giải quyết vụ án hình sự
Cơ sở pháp lý ghi nhận quyền im lặng của người bị buộc tội
Quyền im lặng ngày càng được chú trọng và quan tâm phát triển Điều này thể hiện thông qua việc ghi nhận những nội dung tiền đề quan trọng của quyền im lặng trong các Công ước quốc tế cũng như các văn bản pháp lý có giá trị trong khu vực Ở phạm vi các quốc gia, quyền im lặng đã được Hiến định ngày càng chi tiết
và cụ thể hơn Bên cạnh đó, các nước vẫn tiếp tục ghi nhận và hoàn thiện nội dung quyền im lặng của NBBT trong pháp luật TTHS nước mình
Nội dung quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự
Quyền im lặng là quyền cơ bản của NBBT, bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo Quyền này được đảm bảo bởi các CQTHTT, NTHTT trong tất cả các giai đoạn TTHS (không chỉ trong giai đoạn tiền tố tụng mà ngay tại TA khi tiến hành xét xử, NBBT vẫn có quyền giữ im lặng) Quyền im lặng bao gồm ba nội dung lớn: (1) NBBT được tự do trình bày lời khai, (2) NBBT được quyền giữ
im lặng, được từ chối trả lời những câu hỏi mang tính chất cáo buộc từ phía cơ quan có thẩm quyền và (3) NBBT có quyền dừng cuộc thẩm vấn bất kỳ lúc nào
Trang 33CHƯƠNG 2: QUYỀN IM LẶNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HOA KỲ 2.1 Quy định về quyền im lặng của người bị buộc tội trong pháp luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ
2.1.1 Khái quát về tố tụng hình sự Hoa Kỳ
Hệ thống TTHS của Hoa Kỳ đã tạo ra nhiều cơ chế đảm bảo cho việc hình thành và phát triển quyền im lặng của NBBT Nội dung của phần này sẽ khắc họa các đặc điểm tiêu biểu trong TTHS giúp Hoa Kỳ đạt được những thành công đáng
kể trong việc bảo vệ quyền của NBBT, đặc biệt là quyền im lặng Thứ nhất, hệ
thống tố tụng tranh tụng là một điển hình khá nổi bật Vốn là quốc gia theo hệ thống Thông luật, Hoa Kỳ xây dựng cho riêng mình một hệ thống tranh tụng mà ở đó tính công bằng cũng như quyền lợi cơ bản của NBBT là các yếu tố được đảm bảo trên hết Theo mô hình này, tranh tụng luôn là yêu cầu bắt buộc tại các phiên xét xử của
TA Bên buộc tội (đại diện là ĐTV, CTV) và bên gỡ tội (đại diện là luật sư bào chữa và NBBT) đều được cung cấp những cơ hội bình đẳng như nhau trong việc tiếp cận các nguồn chứng cứ, điều tra, nghiên cứu hoặc trình bày quan điểm trước
TP và đoàn bồi thẩm TP không có trách nhiệm phải xem xét hồ sơ, đánh giá chứng
cứ ngay từ đầu hoặc đảm nhiệm trọng trách buộc tội bị cáo tại phiên tòa Theo mô hình này, hoạt động thẩm vấn chéo giữa NBC và CTV thực hiện trước đoàn bồi thẩm được nhấn mạnh rõ rệt Đoàn bồi thẩm cũng như TP dựa trên cuộc tranh tụng tại tòa của các bên để đưa ra phán quyết cuối cùng Như vậy, với mô hình này, NBC
và NBBT luôn được đảm bảo các điều kiện tố tụng công bằng so với bên còn lại Theo cách đó, kết quả của hoạt động tố tụng sẽ trở nên khách quan, chính xác và công minh hơn Tất cả các bên đều đẩy mạnh trách nhiệm của mình trong việc thu thập các bằng chứng buộc tội và gỡ tội mà không được tiến hành các hành vi giảm thiểu cơ hội tiếp cận nguồn lực của đối phương Từ đó, các quyền của NBBT, trong
đó có quyền im lặng sẽ tuyệt đối được đảm bảo, bên buộc tội nếu không nhận được
sự tự nguyện cung cấp lời khai của NBBT sẽ phải tự mình thực hiện việc chứng
minh Thứ hai, mô hình tranh tụng đã trực tiếp đặt ra vai trò quan trọng cho luật sư
Trang 34bào chữa khi tham gia tố tụng Bản chất tranh tụng thúc đẩy sự hiện diện của NBC trong hầu hết các giai đoạn TTHS ở Hoa Kỳ Thực tế, một số NBBT không thể thuê luật sư và có khả năng đối mặt với án phạt tù đều được nhà nước chỉ định luật sư Việc cung cấp dịch vụ đại diện cho NBBT có thu nhập thấp tại Hoa Kỳ được thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau: chương trình bào chữa công, chương trình luật
sư hợp đồng hoặc TP hay quan chức TA có thẩm quyền cử luật sư cho NBBT có
sẽ đối diện với nguy cơ bị thiên lệch và hoạt động kém hiệu quả, dẫn dến một phán quyết không chính xác Như vậy, khi các hoạt động tố tụng của luật sư được đề cao,
họ sẽ có nhiều cơ hội trong việc hỗ trợ NBBT thực hiện tốt quyền im lặng hoặc
phản đối các hành vi có nguy cơ xâm phạm các quyền cơ bản của thân chủ Thứ ba,
nguyên tắc thủ tục công bằng là gốc rễ của TTHS Hoa Kỳ Khái niệm cơ bản này được ghi nhận từ lâu trong các hoạt động tư pháp Hoa Kỳ, biểu hiện cụ thể qua mô hình tranh tụng Bên cạnh đó, nguyên tắc này đã mở ra một phạm vi bảo vệ bao quát nhất cho tất cả các quyền của NBBT trong TTHS, trong đó không thể thiếu quyền
im lặng Trên cơ sở tôn trọng nhu cầu công bằng, NBBT nhất thiết phải được đáp ứng những cơ hội thích hợp để tham gia tố tụng một cách bình đẳng với bên buộc tội từ phía nhà nước Từ đó, tố tụng công bằng được xem là nền tảng vững chắc cho
quyền im lặng được thực thi hiệu quả trong TTHS Cuối cùng, một đặc điểm khác
của hệ thống tranh tụng trong TTHS Hoa Kỳ đó là nguyên tắc suy đoán vô tội Biểu hiện của nguyên tắc này là đảm bảo quyền im lặng của NBBT, không có bất kỳ suy đoán bất lợi nào từ sự im lặng của họ Ngoài ra, những cáo buộc từ phía nhà nước phải được chứng minh rõ ràng, thu thập hợp pháp làm căn cứ cho việc kết tội
Như vậy, TTHS Hoa Kỳ có rất nhiều đặc điểm quan trọng, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện quyền im lặng của NBBT Nghiên cứu khái quát TTHS Hoa Kỳ sẽ mang đến những nhìn nhận rõ hơn về lợi thế của quốc gia này trong việc thực thi quyền im lặng của NBBT Đồng thời, đánh giá được những
33
Lương Thị Mỹ Quỳnh, Tlđd, tr 166
Trang 35vấn đề liên quan đến việc đảm bảo quyền cơ bản này trong các hoạt động TTHS Hoa Kỳ
2.1.2 Cơ sở pháp lý về quyền im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình
sự Hoa Kỳ
Như đã đề cập tài các phần trước, quyền im lặng ra đời vào khoảng cuối thế
kỷ thứ 18, xuất phát từ tình hình chính trị tại Hoa Kỳ lúc bấy giờ Với mong muốn xóa bỏ những chính sách hà khắc, bất công, tàn bạo của chính quyền đô hộ Anh mà sau khi giành được độc lập, Hoa Kỳ đã quyết tâm xây dựng một bản Hiến pháp đảm bảo đầy đủ quyền con người, trong đó có đặc quyền không tự buộc tội Như vậy, quyền im lặng được quy định gián tiếp tại Tu chính án thứ V Hiến pháp Hoa Kỳ và được cụ thể hóa tại án lệ Miranda v.Arizona năm 1966 Sau đó, quyền cơ bản này của NBBT ngày càng được phát triển và hoàn thiện thông qua các phán quyết ở những án lệ điển hình của TA tối cao Hoa Kỳ
Cuộc thảo luận tại TA tối cao trong vụ án Bram v United States cũng đồng tình với quan điểm của hệ thống Thông luật nước Anh ở đầu thế kỷ 19, rằng đặc quyền không tự buộc tội đã bao gồm quyền được im lặng trong suốt quá trình thẩm
chứng chống lại mình trong các vụ án hình sự, cũng như không bị tước đoạt mạng sống, sự tự do và tài sản mà không trải qua một thủ tục tố tụng công bằng” Như
vậy, để nhấn mạnh quan hệ giữa quyền im lặng và những đe dọa từ lời kết tội bất hợp pháp, Tu chính án thứ V đã giới hạn đặc quyền không tự buộc tội trong các vụ
án hình sự Tuy nhiên, giải thích của TA tối cao Hoa Kỳ đã mở rộng phạm vi của đặc quyền này, nó không chỉ áp dụng cho các quá trình TTHS hoặc tiền tố tụng liên quan đến các vấn đề hình sự, bao gồm cả quá trình thẩm vấn của cảnh sát; mà còn được áp dụng cho bất kỳ thủ tục tố tụng nào, dân sự hay hình sự, chính thức hay không chính thức, mà ở đó, câu trả lời của NBBT sẽ chống lại anh ta trong một thủ tục TTHS sau này Pháp luật nghiêm cấm bên công tố căn cứ vào sự từ chối trả lời
34
Michael Avery, Tlđd, tr.577
Trang 36của NBBT để kết tội họ35 Như vậy, lời khai nào có được từ sự ép buộc (không nhất thiết được thu thập thông qua một thủ tục TTHS), dẫn đến tự buộc tội trong các vụ
án hình sự đều không được chấp nhận Quyền im lặng được bảo vệ bởi Tu chính án thứ V, không chỉ tại phiên tòa xét xử mà có thể là trước khi hoặc ngay tại thời điểm
Tu chính án thứ V bảo vệ NBBT khỏi việc đưa ra lời khai hoặc trả lời những câu hỏi có khả năng chống lại họ Lời khai phải được cung cấp bởi nhân chứng sống hoặc thông qua một bản tường trình do chính họ viết ra Tu chính án thứ V không áp dụng đối với vật chứng thu thập được, chẳng hạn như mẫu máu lấy được khi tin rằng nghi phạm
chứng có khả năng chống lại họ, dù trong tình trạng bị ép buộc, vẫn có thể chấp nhận được
Tu chính án thứ XIV cũng quy định như sau: “…Không pháp luật bang nào
được phép tước đi các đặc quyền hoặc quyền miễn trừ của công dân Hoa Kỳ, tước đoạt mạng sống, sự tự do hay tài sản của bất kỳ một ai mà không trải qua các thủ tục tố tụng công bằng, hoặc từ chối quyền được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật”
Như vậy, Tu chính án thứ XIV cũng bảo vệ con người khỏi việc đưa ra những lời khai mang tính ép buộc trong quá trình tố tụng Năm 1964, trong vụ án Malloy v Hogan, TA tối cao đã thiết lập một Điều lệ về quyền không tự buộc tội theo Tu chính án thứ V (hợp thành chặt chẽ với Điều lệ về tố tụng theo Tu chính án thứ XIV) và áp dụng cho toàn bang Theo đó, nghi phạm có quyền giữ im lặng trừ khi anh ta tự nguyện trình bày vụ việc và anh ta sẽ không phải chịu bất kỳ hình phạt nào
35 Dahlia Lithwick, “Where did The Fifth Amendment come from?”, tạp chí Slate, [http://www.slate.com/articles/news_and_politics/explainer/2002/02/where_did_the_fifth_amendment_come _from.html], truy cập ngày 15/05/2015
36
Michael Avery, Tlđd, tr.597
37 “Fifth Amendment: Right to remain silent”, justice/police-powers-and-citizens-rights/fifth-amendment-right-to-remain-silent] (truy cập ngày 15/05/2015)
[http://www.cliffsnotes.com/more-subjects/criminal-38
Michael Avery, Tlđd, tr.578
Trang 37Do phần lớn quy định của Hiến pháp các bang đều được quy định trong Bộ quyền cơ bản của công dân (Bill of Rights), chính vì thế mà đặc quyền không tự buộc tội hay nói cách khác là quyền im lặng, bên cạnh việc được quy định tại các
Tu chính án, còn được cam kết bảo vệ tại Bộ quyền cơ bản của công dân, do đó giữ một ví trị hết sức quan trọng trong pháp luật Hoa Kỳ Hoa Kỳ không có BLTTHS Các phán quyết của TA tối cao Hoa Kỳ được xem là các văn bản nền tảng cho việc quy định và thực thi các quyền con người, trong đó có các quyền của NBBT Chính
vì vậy mà án lệ là một nguồn luật không thể thiếu trong pháp luật hình sự Hoa Kỳ Một án lệ điển hình, giúp quyền im lặng được tôn trọng mạnh mẽ hơn chính là Miranda v.Arizona Vào ngày 13/3/1963, Ernesto Miranda bị bắt tại nhà riêng ở Phoenix, bang Arizona và được áp giải đến đồn cảnh sát để xét hỏi về tội hiếp dâm
và bắt cóc Sau hai giờ đồng hồ thẩm vấn Miranda, cảnh sát đã có được bản viết tay với nội dung thú tội của anh ta Lời thú tội này được TA chấp nhận làm bằng chứng trước tòa Cuối cùng, Miranda bị kết án từ 20 đến 30 năm tù cho hành vi vi phạm của mình Không đồng ý, Miranda tiến hành nộp đơn kháng cáo đến TA tối cao Hoa
Kỳ Sau quá trình tìm hiểu, đa số thành viên của TA tối cao cho rằng, khi bị thẩm vấn, Miranda không hề được thông báo về quyền im lặng và quyền có luật sư bào chữa – những quyền cơ bản của công dân đã được đề cập trong Tu chính án thứ V
và Tu chính án thứ VI Do vậy, biên bản nhận tội của anh ta không có giá trị chứng
cứ Từ đó, kết luận của Chánh án TA tối cao Hoa Kỳ Earl Warren đã trở thành những tiền đề căn bản cho quyền im lặng: “Một người bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền giữ im lặng và bất kỳ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để chống lại người đó trước tòa án Người
đó phải được thông báo rằng, anh ta có quyền tư vấn và có luật sư bên cạnh trong
Có thể thấy rằng, quyền im lặng được đề cập tại rất nhiều phán quyết của TA tối cao trước khi vụ án Miranda v.Arizona xảy ra, nhưng chỉ khi các quyết định của TA tối cao trong vụ án này ra đời, quyền im lặng mới có được một góc nhìn rõ ràng và
39
Nguyễn Quốc Việt, Tlđd
Trang 38cụ thể nhất Trong đó, quyền không bị buộc phải trả lời các hỏi hoặc thú tội nhằm chống lại mình được công nhận, quyền có luật sư của NBBT dù là tự thuê hoặc chỉ định đều được tôn trọng Trên hết là cách thức xác định giá trị của lời khai khi dùng làm bằng chứng trước tòa cũng đã được quan tâm và quy định rõ Judge Trott, cựu Trưởng phòng Hình sự của Sở Tư pháp, đồng thời là Cựu Luật sư Mỹ đến từ Nam California đã khẳng định tầm quan trọng của Tu chính án thứ V trong việc đề cao giá trị của quyền im lặng Ông cho rằng, lời cảnh báo Miranda không đơn thuần chỉ
là sự bảo vệ mang tính tố tụng mà quan trọng hơn hết, nó còn thể hiện một quyền Hiến định trọng yếu – quyền im lặng và không phải trả lời những câu hỏi mang tính buộc tội từ phía cơ quan cảnh sát Lời cảnh báo Miranda không chỉ là công cụ mang
2.1.3 Nội dung quyền im lặng trong tố tụng hình sự Hoa Kỳ
2.1.3.1 Chủ thể của quyền im lặng
Tu chính án thứ V chỉ áp dụng cho cá nhân là con người tự nhiên, không áp dụng đối với các tập đoàn, hiệp hội, tổ chức hoặc công ty Đặc quyền này chỉ dành cho những người có khả năng sẽ phải đưa ra lời khai chống lại mình và/ hoặc luật
sư đại diện của họ Nội dung Tu chính án thứ V không dùng để bảo vệ lời khai buộc tội một người khác, có nghĩa là, một người không được lợi dụng Tu chính án thứ V
để bảo vệ bạn bè hoặc người thân của mình; chỉ áp dụng đối với những lời khai tự buộc tội Bên cạnh đó, nội dung này cũng không bảo vệ các vật chứng như mẫu
bản của NBBT trong TTHS Tại Hoa Kỳ, quyền này được thể hiện cụ thể thông qua lời cảnh báo Miranda CQTHTT, NTHTT có nghĩa vụ phải thông báo quyền cơ bản này trước khi tiến hành thẩm vấn NBBT Theo đó, NBBT được phép thực hiện quyền im lặng dưới bất kỳ hình thức nào, bằng lời nói, hành vi hoặc chỉ đơn thuần
là giữ im lặng Khi NBBT thể hiện quyền im lặng của mình, cuộc thẩm vấn phải
40 Michael Avery, Tlđd, tr.610
41 Nick Thronton, “The Right to remain silent and what it mean”, Fremstad Law Firm, [http://www.fremstadlaw.com/2014/07/remain-silent-means/] (truy cập ngày 15/05/2015)
Trang 39ngay lập tức dừng lại Trong án lệ Michigan v.Mosley vào năm 1975, NBBT dù giữ
im lặng, nhưng sau hai tiếng đồng hồ, anh ta vẫn bị tra hỏi về một vụ án khác sau khi được cảnh báo Miranda một lần nữa Cuộc thẩm vấn lần thứ hai này được xem
là hợp pháp, tuy nhiên, TA vẫn chưa đưa ra một kết luận rõ ràng nào sau án lệ này Nhưng nhìn chung, khi NBBT đã mong muốn giữ im lặng, CQTHTT nếu duy trì thẩm vấn về sau cần thỏa mãn một số điều kiện nhất định: (1) phải ngay lập tức dừng xét hỏi tại lần đầu, (2) đã ngưng đặt câu hỏi hoàn toàn trong một khoảng thời
biệt, không một cơ quan có thẩm quyền nào được xem sự im lặng của NBBT là căn
cứ kết án NBBT có thể từ bỏ quyền im lặng của mình để tiến hành cung cấp lời khai và những gì họ trình bày đều có thể làm bằng chứng hợp pháp chống lại họ trước tòa
Quyền im lặng của NBBT tại Hoa Kỳ được đảm bảo tại tất cả các giai đoạn
tố tụng, miễn là ở đó, một người đang trong tình trạng bị giam cầm và bị thẩm vấn
về các nội dung liên quan đến vụ án mang tính buộc tội họ Thứ nhất, trong giai
đoạn điều tra, ĐTV là chủ thể có nghĩa vụ đảm bảo quyền im lặng của NBBT Sau khi bắt giữ, trước khi thẩm vấn người bị bắt, ĐTV phải thông báo về quyền im lặng cho họ thông qua lời cảnh báo Miranda Việc thông báo này có ý nghĩa rất lớn, không chỉ bảo vệ các quyền lợi cần thiết cho NBBT mà còn đảm bảo giá trị chứng
cứ mà cảnh sát thu thập được sau này Nếu tội phạm đã được thực hiện, CQĐT sẽ
cố gắng xác định danh tính của nghi phạm cũng như thu thập các bằng chứng tiềm năng hỗ trợ cho việc kết tội sau này tại TA Khi có được đầy đủ thông tin đảm bảo cho việc truy tố, ĐTV sẽ chuẩn bị một báo cáo truy tố gửi đến CTV Đối với các hoạt động điều tra tội phạm liên bang, hoạt động điều tra hình sự còn được tiến hành bởi một Đại bồi thẩm đoàn liên bang Tuy nhiên, nghĩa vụ của Đại bồi thẩm đoàn thường là nghe kín lời khai của các nhân chứng trong vụ án, từ đó đưa ra bản cáo trạng làm căn cứ truy tố một người ra trước TA Chính vì thế, việc tiếp cận với NBBT thường hạn chế và do đó, vấn đề bảo đảm quyền im lặng của Đại bồi thẩm
42
Craig M Bradley, A worldwide study Criminal Procedure, NXB Calorina Academic Press (2), tr.536
Trang 40đoàn thường không đặt ra Thứ hai, trong giai đoạn chuyển vụ án sang tòa để chuẩn
bị xét xử, nếu có căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự, CTV sẽ ra quyết định truy
tố Như vậy, trước khi xét xử, bị can phải kịp thời được đưa ra trình diện lần đầu tại một buổi điều trần công khai để TA quyết định về việc tại ngoại, thông báo các quyền của bị can, đặc biệt là quyền im lặng và chỉ định một luật sư nếu người này là người nghèo Trường hợp khởi tố trọng tội, TA sẽ tiến hành một phiên điều trần sơ
bộ nhằm chắc chắn rằng CTV có đầy đủ bằng chứng đảm bảo việc tiếp tục vụ án Như vậy, các bên tham gia tố tụng trong lần trình diện đầu tiên hay phiên điều trần
Nhiệm vụ của những NTHTT trong giai đoạn này, và cả luật sư bào chữa đều phải
tuyệt đối tôn trọng quyền im lặng của bị can Thứ ba, trong giai đoạn xét xử sơ
thẩm, bị cáo sẽ được TP chủ tọa phiên tòa thông báo về các quyền cơ bản của mình, đăc biệt là quyền im lặng sau khi CTV đọc bản cáo trạng Đây là quyền Hiến định của bị cáo, họ được đảm bảo tuyệt đối và được phép từ chối trả lời câu hỏi mang
bị can bị buộc tội và kết án thì Bản án của vụ án hình sự sẽ là bản án chung thẩm,
trừ khi luật sư bào chữa nộp thông báo phúc thẩm lên TA quận Thứ tư, trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm, người đóng vai trò tố tụng chủ yếu thường là CTV và luật sư bào chữa Ở tòa phúc thẩm, vụ án thường được xem xét bởi ba TP Từ đây cho đến khi tòa phúc thẩm ban hành một lệnh cho TA quận nêu lên quyết định giải quyết vụ
án thì bị cáo vẫn có quyền được giữ im lặng, do chưa có một bản án có hiệu lực buộc tội họ
Dựa trên các phán quyết của TA tối cao, nhà nước luôn phải chứng minh rằng NBBT đã từ chối quyền Miranda một cách thông suốt và hoàn toàn tự nguyện Trong đó, có đặc quyền không tự buộc tội và quyền được có luật sư dù là thuê hay được chỉ định từ TA Nói cách khác, NBBT hoàn toàn có thể từ bỏ quyền im lặng của mình một cách có hiểu biết và tự nguyện Một lời từ chối xuất phát từ nhận thức
43 Tô Văn Hòa (2012), Những mô hình TTHS điển hình trên thế giới, NXB Hồng Đức, tr.379 – 389
44 “Criminal defendants’ rights”, Nolo Law for all, rights-during-court-trial-29793.html] (truy cập ngày 25/06/2015)