Khái niệm kinh doanh
Để hiểu rõ sự cần thiết và bản chất pháp lý của đăng ký kinh doanh, cần bắt đầu từ việc phân tích khái niệm kinh doanh Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy vai trò quan trọng của quyền tự do kinh doanh trong các hoạt động thương mại.
Khái niệm kinh doanh được tiếp cận dưới góc độ kinh tế và pháp luật
Kinh doanh, từ góc độ kinh tế, là một phạm trù liên quan đến sản xuất hàng hóa, bao gồm các hình thức, phương pháp và biện pháp tổ chức hoạt động kinh tế, phản ánh mối quan hệ giữa con người trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng của cải xã hội Mục tiêu của kinh doanh là tạo ra giá trị lớn hơn giá trị ban đầu Kinh doanh có nhiều kiểu và lĩnh vực khác nhau, như kinh doanh trong nền sản xuất hàng hóa, kinh tế thị trường, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa, cũng như trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và vận tải.
Mục tiêu cuối cùng của kinh doanh là gia tăng giá trị vật chất cho xã hội, trong khi đối với từng doanh nghiệp, lợi nhuận chính là yếu tố quyết định.
Theo quy định pháp luật, khái niệm kinh doanh được đề cập trong nhiều văn bản pháp lý, bắt đầu từ Luật Công ty năm 1990, trong đó kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ với mục đích sinh lợi Khái niệm này tiếp tục được xác nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 và được định nghĩa lại trong Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Kinh doanh là quá trình thực hiện các công đoạn đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi Không cần phải thực hiện tất cả các công đoạn, chỉ cần một hoạt động có mục đích sinh lợi là đủ Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ "kinh doanh", "thương mại" cũng được sử dụng rộng rãi nhưng chưa có định nghĩa chính thức trong luật Luật Thương mại năm 2005 không định nghĩa rõ ràng "thương mại" hay "kinh doanh", nhưng quy định rằng hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư và các hoạt động khác Mục tiêu cuối cùng của cả kinh doanh và thương mại vẫn là lợi nhuận.
Trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại được xem là hai khái niệm độc lập nhưng song song tồn tại Theo Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội Đồng thẩm phán Tòa án tối cao, mục đích lợi nhuận của cá nhân và tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại phản ánh mong muốn của họ trong việc thu được lợi ích kinh tế.
13 Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt
Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 11
14 Điều 3 Luật Công ty năm 1990
15 Khoản 2 Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999
16 Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh ngiệp năm 2005
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động kinh doanh, thương mại được định nghĩa là các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác Lợi nhuận từ những hoạt động này không nhất thiết phải được thu được ngay, mà có thể là tiềm năng từ các hoạt động kinh doanh, thương mại Ngoài ra, hoạt động kinh doanh, thương mại còn bao gồm cả những hoạt động không trực tiếp theo đăng ký kinh doanh nhưng góp phần thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại.
Từ những phân tích, nhận xét khái niệm ở các văn bản luật nêu trên, khái niệm kinh doanh có những dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau 19 :
Kinh doanh là một hoạt động nghề nghiệp chính của nhiều cá nhân, nhóm người và tổ chức trong xã hội, giúp họ kiếm sống Hoạt động này diễn ra một cách thường xuyên, liên tục, ổn định và có tính lâu dài.
Kinh doanh là hoạt động diễn ra trên thị trường, thể hiện mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh và xã hội thông qua các hoạt động mua bán, trao đổi và tiêu dùng Những mối quan hệ này phản ánh sự tương tác giữa hàng hóa và tiền tệ.
Mục đích chính của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, điều này giúp phân biệt hành vi kinh doanh với các hoạt động khác Khi xác định mục tiêu sinh lợi, ý định thu lợi nhuận là tiêu chí quyết định, trong khi việc đạt được lợi nhuận hay cách sử dụng lợi nhuận không phải là yếu tố quyết định.
Khái niệm kinh doanh và thương mại được hình thành dựa trên lý thuyết về quyền tự do kinh doanh Trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các chủ thể là một yêu cầu thiết yếu trong nền kinh tế thị trường, do sự tồn tại của nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng với các quy luật giá trị và cạnh tranh.
Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội Đồng thẩm phán Tòa án tối cao cung cấp hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần “Những quy định chung” của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc đảm bảo quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường không chỉ phù hợp với xu thế phát triển của xã hội mà còn thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo trong các hoạt động kinh tế.
Kinh doanh gắn liền với quyền tự do, như John Locke đã khẳng định, mục đích của pháp luật là bảo vệ và phát triển tự do Tự do, theo Montesquieu, là thể hiện ý chí của bản thân, và ngày nay, tự do kinh doanh được công nhận là quyền cơ bản của con người, xuất phát từ mưu cầu hạnh phúc và mong muốn làm giàu Quyền tự do kinh doanh là phần quan trọng trong hệ thống các quyền tự do của công dân, có ý nghĩa đặc biệt vì hoạt động kinh tế quyết định các hoạt động khác trong xã hội Do đó, quyền tự do kinh doanh là nhu cầu thiết yếu cho sự phát triển kinh tế và xã hội.
Trong khoa học pháp lý, quyền tự do kinh doanh có thể được hiểu theo nghĩa chủ quan và nghĩa khách quan
Quyền tự do kinh doanh, từ góc độ quyền chủ thể, được hiểu là khả năng hành động có ý thức của cá nhân trong hoạt động sản xuất kinh doanh Quyền này bao gồm khả năng tự do đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp, lựa chọn mô hình sản xuất, chọn đối tác trong quan hệ kinh tế, cạnh tranh và giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh Những khả năng này là thuộc tính tự nhiên của các chủ thể, không phải do Nhà nước ban tặng Tuy nhiên, để những khả năng này trở thành hiện thực, cần có sự thể chế hóa bằng pháp luật từ Nhà nước, khi đó mới trở thành “thực quyền”.
Đăng ký kinh doanh và giá trị pháp lý của việc đăng ký kinh doanh 13 1.3 Hợp đồng thương mại dưới hình thức pháp lý của hoạt động kinh
Khái niệm hợp đồng thương mại
Nhiều tác giả quốc tế đã nghiên cứu về khái niệm hợp đồng, trong đó định nghĩa sớm nhất và được chấp nhận rộng rãi là của học giả người Pháp Pothier trong tác phẩm của ông.
Hợp đồng, theo định nghĩa trong “Traité des obligations” năm 1761, là sự thỏa thuận giữa hai hoặc một bên cam kết với bên kia để chuyển giao một vật hoặc thực hiện một công việc Định nghĩa này tương đồng với các Bộ luật dân sự hiện đại, bao gồm Bộ luật dân sự Pháp, nơi hợp đồng được mô tả là sự thỏa thuận giữa các bên về việc chuyển giao tài sản hoặc thực hiện công việc Điều 1378 của Bộ luật dân sự năm 1994 tại Bang Québec (Canada) cũng khẳng định hợp đồng là sự thống nhất ý chí, trong đó các bên thực hiện cam kết vì lợi ích của nhau Cả hai định nghĩa đều nhấn mạnh bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận hoặc thống nhất ý chí giữa các bên.
Nội dung định nghĩa hợp đồng chỉ nêu rõ chức năng của nó mà chưa nhấn mạnh dấu hiệu đặc trưng thứ hai, đó là việc tạo ra hiệu lực ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ giữa các bên Theo Điều 2 của Luật Hợp đồng Trung Quốc, điều này được quy định rõ ràng.
Theo quy định tại Điều 1999, hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa các chủ thể bình đẳng nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Các thỏa thuận này có thể liên quan đến các lĩnh vực như hôn nhân, nhận con nuôi, giám hộ, và cần tuân thủ quy định của các luật khác Nhìn chung, định nghĩa về hợp đồng ở nhiều quốc gia có sự tương đồng, thể hiện sự thống nhất ý chí và tính ràng buộc giữa các bên tham gia.
Hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại có những khác biệt do đặc điểm của chủ thể và mục đích của quan hệ pháp luật Bộ luật dân sự năm 2005 định nghĩa hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Định nghĩa này được coi là hợp lý và thuyết phục nhất tại Việt Nam, vì nó ngắn gọn, chính xác và phản ánh đúng bản chất của thuật ngữ "hợp đồng", đồng thời thể hiện rõ vai trò của hợp đồng như một căn cứ pháp lý trong việc phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên Hầu hết các luật gia đều đồng tình với định nghĩa này, ngoại trừ phần ‘dân sự’ kèm theo.
Bộ luật dân sự năm 2005 đã khẳng định về phạm vi điều chỉnh bao gồm các
38 Lê Minh Hùng (2010), tlđd 7, tr.12
Chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự rất đa dạng, bao gồm cả cá nhân và tổ chức, và để tham gia vào quan hệ này, các chủ thể cần có tư cách chủ thể được xác định bởi năng lực pháp luật và năng lực hành vi Trong khi đó, trong quan hệ pháp luật thương mại, ít nhất một bên phải là thương nhân Hơn nữa, việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại có sự khác biệt, trong đó tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 25 Bộ luật.
Tranh chấp kinh doanh thương mại có thể được giải quyết tại Trọng tài thương mại hoặc Tòa án theo thỏa thuận của các bên, theo quy định tại Điều 29 BLTTDS Thời gian giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án là 4 tháng, trong khi tranh chấp kinh doanh thương mại là 2 tháng, theo Điều 179 BLTTDS Việc xác định sai nội dung hợp đồng là thương mại hay dân sự không ảnh hưởng đến quyết định của Tòa án Nếu cấp sơ thẩm xác định sai loại hợp đồng, Tòa chuyên trách có quyền hủy án và yêu cầu xét xử lại theo đúng quy định của BLTTDS.
40 Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005
Theo Lê Minh Hùng (2010), việc sử dụng hai từ “dân sự” trong định nghĩa hợp đồng tại Điều 388 Bộ luật dân sự là không cần thiết Điều này làm hạn chế phạm vi áp dụng của Bộ luật dân sự đối với các loại hợp đồng khác nhau, bao gồm hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh doanh và hợp đồng thương mại.
Luật thương mại năm 2005 không định nghĩa rõ ràng về hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, nhưng theo Bộ luật dân sự năm 2005, quyền và nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng dân sự bao gồm cả các quyền và nghĩa vụ từ quan hệ kinh doanh, thương mại Do đó, hợp đồng thương mại được xem là một hình thức cụ thể của hợp đồng dân sự Hợp đồng thương mại được hiểu là sự thỏa thuận tự nguyện và thống nhất ý chí giữa các bên để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý trong hoạt động thương mại.
Các hoạt động thương mại ở đây được xác lập theo Luật Thương mại năm
Luật thương mại năm 2005 quy định về các hoạt động thương mại diễn ra trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các giao dịch ngoài lãnh thổ nếu các bên thỏa thuận áp dụng luật này hoặc luật nước ngoài mà Việt Nam là thành viên Ngoài ra, luật cũng áp dụng cho các hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân tại Việt Nam, nếu bên đó chọn áp dụng luật này.
Hợp đồng thương mại là một loại hợp đồng dân sự nhưng có những đặc điểm riêng biệt, khác với hợp đồng dân sự thông thường Theo quy định hiện hành, hợp đồng thương mại có thể được xác định dựa trên một số tiêu chí pháp lý chủ yếu.
Hợp đồng thương mại chủ yếu được ký kết giữa các bên là thương nhân, hoặc ít nhất một bên phải là thương nhân Một số loại hợp đồng, như hợp đồng đại diện cho thương nhân và hợp đồng đại lý, yêu cầu tất cả các bên tham gia phải là thương nhân.
42 Điều 1 Bộ luật dân sự năm 2005
Theo Điều 1 Luật Thương mại năm 2005, thương mại bao gồm các hợp đồng dịch vụ quảng cáo và những hợp đồng chỉ yêu cầu ít nhất một bên là thương nhân, như hợp đồng bảo hiểm và hợp đồng tín dụng Luật này định nghĩa thương nhân là tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Hợp đồng thương mại có thể được thiết lập theo nhiều hình thức khác nhau, bao gồm thỏa thuận bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể của các bên Tuy nhiên, trong một số trường hợp, pháp luật yêu cầu hợp đồng phải được lập bằng văn bản, như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, hợp đồng dịch vụ quảng cáo, và hợp đồng tín dụng Theo Khoản 15 Điều 3 của Luật Thương mại năm 2005, các bên có thể sử dụng các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản, chẳng hạn như điện báo, telex, fax, hoặc thông điệp dữ liệu.
Mục đích chính của các bên trong hợp đồng kinh doanh thương mại là đạt được lợi nhuận Nếu hợp đồng được ký kết bởi các bên không nhằm mục đích lợi nhuận, Luật Thương mại vẫn có thể áp dụng nếu bên không lợi nhuận lựa chọn Lợi nhuận không chỉ là đặc trưng cơ bản của các giao dịch thương mại mà còn là yếu tố phân biệt hợp đồng thương mại với các loại hợp đồng khác Do đó, việc ký kết hợp đồng thương mại chủ yếu nhằm hướng tới lợi nhuận, xác định lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của các bên tham gia hợp đồng.
Về nội dung hợp đồng thương mại
Các vấn đề pháp lý về hiệu lực hợp đồng thương mại
Tự do ý chí là nguyên tắc cốt lõi của hợp đồng, đặc biệt quan trọng đối với các chủ thể kinh doanh Quyền tự do hợp đồng cho phép các doanh nghiệp hoạt động một cách chủ động và sáng tạo, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh Về lý thuyết, quyền tự do hợp đồng không chỉ là một phần thiết yếu của quyền tự do kinh doanh mà còn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, ảnh hưởng lớn đến quyền tự do của các doanh nghiệp Tuy nhiên, sự tự do trong việc thỏa thuận các điều khoản hợp đồng vẫn phải tuân thủ các quy định pháp luật hiện hành.
49 Mai Hồng Quỳ (2012), tlđd 22, tr 198
50 Bùi Ngọc Cường (2004), tlđd 13, tr 109
Luật Thương mại không định nghĩa rõ ràng về hợp đồng thương mại cũng như không quy định cụ thể về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng hay các trường hợp hợp đồng thương mại bị tuyên bố vô hiệu Do đó, hợp đồng thương mại được hiểu là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự, và các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại sẽ được áp dụng theo Bộ luật dân sự.
Một hợp đồng chỉ có giá trị bắt buộc với các bên khi nó có hiệu lực pháp luật Hiệu lực của hợp đồng là yếu tố quyết định sự tồn tại và tính ràng buộc của nó đối với các bên liên quan.
Hiệu lực hợp đồng được coi là "hơi thở" hay "linh hồn" của sự sống trong mối quan hệ giữa các bên Một hợp đồng không có hiệu lực đồng nghĩa với việc không tồn tại quan hệ hợp đồng Hiệu lực hợp đồng mang giá trị pháp lý, tương tự như quy định của pháp luật, và có tính cưỡng chế, buộc các bên phải tôn trọng và thực hiện đầy đủ các cam kết Nó không chỉ tạo ra quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia mà còn ràng buộc họ phải nghiêm túc thực thi những quyền và nghĩa vụ đó.
Hiện nay, pháp luật chưa có định nghĩa cụ thể về hiệu lực hợp đồng, ngoại trừ quy định tại Điều 4 Bộ luật dân sự năm 2005, nêu rõ rằng "cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được tôn trọng bởi cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác".
Bộ luật dân sự năm 2005 quy định rằng hợp đồng dân sự có hiệu lực từ thời điểm giao kết nếu không có thỏa thuận hoặc quy định pháp luật nào khác Điều này có nghĩa là một hợp đồng được coi là hợp pháp khi nội dung và hình thức của nó tuân thủ các quy định của pháp luật Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ phân tích các điều kiện để hợp đồng thương mại có hiệu lực, cũng như những trường hợp không có hiệu lực liên quan đến vấn đề đăng ký kinh doanh.
Về nội dung của hợp đồng
51 Lê Minh Hùng (2010), tlđd 7, tr 16-19
Nội dung hợp đồng là tổng hợp các điều khoản mà các bên thỏa thuận, và để hợp đồng có hiệu lực, cần đáp ứng các điều kiện theo Bộ luật dân sự năm 2005 Các điều kiện này bao gồm chủ thể hợp đồng hợp pháp, mục đích và nội dung không vi phạm pháp luật hoặc đạo đức xã hội, và sự tự nguyện của các bên tham gia giao dịch Hợp đồng thương mại sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu không đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 122, và các trường hợp vô hiệu cụ thể được nêu từ Điều 128 đến Điều 133, bao gồm vi phạm pháp luật, giả tạo, hoặc giao dịch của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi.
Cụ thể hơn, các điều kiện để hợp đồng thương mại có hiệu lực về nội dung và không thuộc hợp đồng vô hiệu được hiểu như sau:
Thứ nhất, năng lực chủ thể hợp đồng
Một trong những điều kiện quan trọng để hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng thương mại, có hiệu lực là các bên tham gia phải có năng lực chủ thể.
Chủ thể của hợp đồng là những cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào việc xác lập và thực hiện hợp đồng, có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ đó Để tham gia hợp đồng thương mại, các chủ thể cần có năng lực pháp lý để thực hiện nghĩa vụ Trong thực tiễn kinh doanh, các chủ thể này chủ yếu là thương nhân hoặc bên không phải là thương nhân.
52 Khoản 1 Điều 410 Bộ luật dân sự năm 2005
Theo quy định pháp luật, thương nhân được định nghĩa bao gồm các tổ chức kinh tế hợp pháp và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên và đã đăng ký kinh doanh.
Năng lực chủ thể của cá nhân được thể hiện qua năng lực hành vi dân sự, được quy định bởi Bộ luật dân sự như khả năng xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự Năng lực hành vi dân sự của cá nhân được xác định dựa trên sự phù hợp giữa khả năng nhận thức, kiểm soát và làm chủ hành vi với các hành vi đã thực hiện Có nhiều mức độ năng lực hành vi dân sự, bao gồm: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có năng lực hành vi dân sự nhưng chưa đầy đủ, người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hành vi dân sự và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Người thành niên từ đủ mười tám tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có quyền tự xác lập và thực hiện hợp đồng Ngược lại, người chưa thành niên từ sáu đến dưới mười tám tuổi cần sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật khi thực hiện hợp đồng, trừ những giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với độ tuổi Đặc biệt, người từ mười lăm đến chưa đủ mười tám tuổi có tài sản riêng có thể tự thực hiện giao dịch mà không cần sự đồng ý, trừ khi pháp luật có quy định khác Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật thực hiện, và trong trường hợp Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, giao dịch cũng phải do người đại diện thực hiện.
54 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005:
1 Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh
2 Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm
3 Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ
4 Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước có thời hạn về hoạt động thương mại đối với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc tại một số địa bàn để bảo đảm lợi ích quốc gia Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóa, dịch vụ, địa bàn độc quyền Nhà nước
55 Điều 17 Bộ luật dân sự năm 2005