Sự e ngại của các thương nhân không chỉ nằm ở chỗ logistics là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, để được cung ứng dịch vụ cho khách hàng thương nhân phải đáp ứng điều k
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
ĐINH THỊ THÙY LINH
MIỄN TRÁCH NHIỆM VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
Trang 3Lời cam đoan
“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Văn Hùng, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.”
Sinh viên
Đinh Thị Thùy Linh
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
hóa bằng đường biển, 1978 Công ước Vacsava 1929 Công ước về thống nhất một số quy tắc liên quan đến
vận chuyển hàng không quốc tế 1929
14/6/2005
ngày 15 tháng 6 năm 2004 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 48/2014/QH13 ngày 17 tháng 6 năm 2014
66/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 61/2014/QH13 ngày 21 tháng 11 năm 2014
thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
dịch vụ logistics
một số nội dung của Luật Bưu chính
Trang 5NĐ 87/2009/NĐ-CP Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức
TT 22/2018/TT-BGTVT Thông tư 22/2018/TT-BGTVT quy định về vận tải
hàng hóa trên đường sắt quốc gia và đướng sắt chuyên dùng có nối ray với đường sắt quốc gia
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS 5
1.1 Định nghĩa và đặc điểm của dịch vụ logistics 5
1.1.1 Định nghĩa 5
1.1.2 Đặc điểm 7
1.2 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 8
1.2.1 Khái niệm 8
1.2.2 Đặc điểm 9
1.3 Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm 11
1.3.1 Miễn trách nhiệm 11
1.3.2 Giới hạn trách nhiệm 12
1.3.3 Ý nghĩa của quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM, GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 17
2.1 Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics theo quy định của pháp luật Việt Nam 17
2.1.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm chung đối với hoạt động thương mại 17 2.1.2 Nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics 22
2.1.3 Các trường hợp miễn trách nhiệm riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics 23
2.2 Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics 36
2.2.1 Nguyên tắc chung 36
2.2.2 Mức giới hạn 36
Trang 72.2.3 Trường hợp không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm 44 2.3 Một số đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics 45 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50 KẾT LUẬN CHUNG 51 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8ĐỀ TÀI: MIỄN TRÁCH NHIỆM VÀ GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA
THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa ngày càng trở nên mạnh mẽ làm cho nền kinh tế thế giới ngày càng mở rộng và phát triển năng động, kéo theo đó là nhu cầu giao thương giữa các quốc gia ngày càng mạnh mẽ, hoạt động luân chuyển hàng hóa ngày càng được thúc đẩy, đặt ra yêu cầu phát triển và hoàn thiện hơn nữa đối với các hoạt động dịch chuyển lưu thông hàng hóa, dịch vụ không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là giữa các quốc gia, trên phạm vi quốc tế
Logistics với vị trí và vai trò quan trọng gắn liền với hàng hóa từ khâu sản xuất, đến khâu lưu thông và phân phối là một trong những công cụ hàng đầu được dùng
để đáp ứng yêu cầu phát triển đó Dịch vụ logistics giúp giải quyết một cách có hiệu quả các vấn đề liên quan đến đầu vào lẫn đầu ra của doanh nghiệp, góp phần cắt giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh Do đó để thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh tế cần mở rộng phạm vi, nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng dịch vụ logistics của các thương nhân, khuyến khích các thương nhân tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ để
mở rộng nguồn cung đáp ứng được nhu cầu của hoạt động kinh doanh sản xuất
Sự phát triển của dịch vụ logistics phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về cơ sở vật chất, sự phát triển của khoa học, công nghệ, về kinh nghiệm quản lý… trong đó một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ là chính sách pháp luật Sự hoàn thiện về chính sách pháp luật là một trong những điều kiện cơ bản để khuyến khích hoặc cản trở các thương nhân tham gia vào cũng như mở rộng hoặc thu hẹp hoạt động thương mại nói chung, cung ứng dịch vụ logistics nói riêng Sự e ngại của các thương nhân không chỉ nằm ở chỗ logistics là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, để được cung ứng dịch vụ cho khách hàng thương nhân phải đáp ứng điều kiện đối với từng hoạt động tương ứng, mà sự e ngại còn xuất phát từ tương quan giữa những lợi ích mà họ có thể nhận được so với những nghĩa vụ, trách nhiệm mà
họ có thể phải gánh chịu Dễ dàng nhận thấy khoản thù lao mà thương nhân nhận được so với giá trị hàng hóa là đối tượng mà dịch vụ tác động, và cũng là những đối tượng mà thương nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường cho khách hàng khi xảy ra tổn thất là nhỏ hơn rất nhiều, thêm vào đó dịch vụ logistics lại là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, thương nhân có thể phải chịu trách nhiệm với những thiệt hại rất lớn
Trang 9trong bất cứ trường hợp nào khiến thương nhân không muốn mạo hiểm tham gia cung ứng dịch vụ
Chính vì thế quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm được đặt ra
để nhằm bảo vệ quyền lợi của thương nhân trước những rủi ro không thể lường trước, là một sự bảo đảm để thương nhân yên tâm tham gia cũng như mở rộng phạm
vi cung ứng dịch vụ của mình, tạo ra sự cân bằng về mặt quyền lợi giữa các chủ thể Tuy nhiên, các quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong hệ thống pháp luật còn nằm rải rác ở các văn bản khác nhau tùy theo từng dịch vụ cụ thể mà thương nhân cung cấp gây khó khăn cho các chủ thể trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Ngoài ra những quy định này còn mang tính chất chung chung, chưa rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu, còn nhiều bất cập, không phù hợp với điều kiện thực tiễn gây khó khăn trong việc
áp dụng cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh
Việc nghiên cứu, phân tích về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giúp cho các thương nhân nhìn nhận được một cách khái quát các trường hợp áp dụng cũng như điều kiện để được hưởng quyền, từ đó bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của mình cũng như chủ động hơn trong việc thực hiện các nghĩa vụ Ngoài ra đây còn là cơ sở để thấy được những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng, cũng như những giải pháp khắc phục và hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh chế định này
Nhận thấy tính cấp thiết của việc nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, tác giả lựa chọn đề tài “Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics”, thông qua đó tác giả mong muốn phân tích, đưa ra quan điểm về những vấn đề còn bất cập liên quan đến miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong pháp luật Việt Nam trên cơ sở tham khảo các quy định tiến bộ của các điều ước quốc tế, đề xuất một số giải pháp giải quyết các vấn đề pháp lý có liên quan
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến dịch vụ logistics và vấn đề miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có một số đề tài tiêu biểu của các tác giả sau:
Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM)
Trang 10- Nguyễn Thị Bàng (2009), Dịch vụ logistics lý luận và thực tiễn, Luận văn cử nhân, Trường đại học Luật TP.HCM
giới hạn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, Luận văn cử nhân, Trường đại học Luật TP.HCM
Luận văn cử nhân, Trường đại học Luật TP.HCM
logistics, Luận văn cử nhân, Trường đại học Luật TP.HCM
Vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics hoặc chỉ là một trong những khía cạnh nhỏ được nghiên cứu trong các công trình trên một cách khái quát, mang tính nguyên tắc hoặc được phân tích nghiên cứu trên cơ sở một số quy định cũ, các quy định này nay đã hết hiệu lực và
đã được sửa đổi bổ sung bằng các quy định mới Hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được điều chỉnh trong các văn bản mới đang có hiệu lực
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là giải quyết các vấn đề
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics qua đó lý giải được nguyên nhân cũng như ý nghĩa của việc trao cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics quyền hạn này
quyền, giới hạn hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của Luật thương mại
cụ thể thuộc dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng
tế có liên quan từ đó rút ra được những ưu điểm cũng như bất cập, thiếu sót còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam và đề xuất những giải pháp bổ sung, giải quyết những vấn đề pháp lý về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
4 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
dịch vụ logistics; các quy định pháp luật về miễn trách nhiệm và giới hạn trách
Trang 11nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong hệ thống pháp luật Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ giới hạn ở những quy định về dịch vụ logistics trong Luật Thương mại 2005 (LTM 2005), các văn bản hướng dẫn, những quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan như pháp luật về vận tải, giao nhận, chuyển phát… có điều chỉnh đối với vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Ngoài ra có tham khảo nội dung có liên quan trong các công ước quốc tế như Công ước của Liên Hiệp Quốc về chuyên chở hàng hóa bằng đường biển 1978 (Công ước Hamburg), Công ước về thống nhất một số quy tắc liên quan đến vận chuyển hàng không quốc tế (Công ước Vacsava 1929), Công ước bưu chính thế giới, Hiệp định khung ASEAN
về vận tải đa phương thức để làm sáng tỏ vấn đề, trong đó ngoài công ước Hamburg, Việt Nam đã là thành viên của các công ước còn lại
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Khóa luận được thực hiện trên cơ sở vận dụng kết hợp các phương pháp liệt kê,
so sánh, phân tích, tổng hợp, đối chiếu… nhằm làm sáng tỏ nội dung các vấn đề cần nghiên cứu
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận gồm các phần: phần mở đầu; phần nội dung chính; phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Trong đó phần nội dung chính gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về dịch vụ logistics
Chương 2: Pháp luật Việt Nam về miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và một số đề xuất hoàn thiện pháp luật
Trang 12
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ
LOGISTICS 1.1 Định nghĩa và đặc điểm của dịch vụ logistics
1.1.1 Định nghĩa
Dịch vụ logistics sớm đã không còn xa lạ đối với nền kinh tế quốc tế, cũng như nền kinh tế các quốc gia, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này
Hiệp định thương mại và dịch vụ GATS của WTO đưa ra định nghĩa “logistics
là chuỗi cung ứng dịch vụ, gồm lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự dịch chuyển và lưu kho hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng Dịch vụ logistics truyền thống gồm dịch vụ vận tải kho bãi, giao nhận, các dịch vụ giá trị gia tăng của bên thứ ba (theo yêu cầu của khách hàng)”1 Định nghĩa này thể hiện nội hàm của dịch vụ logistics dưới dạng liệt kê các hoạt động cho thấy tính tích hợp của dịch vụ logistics, không phải chỉ là một hoạt động đơn lẻ mà là một chuỗi cung ứng dịch vụ từ lập kế hoạch đến việc thực hiện, kiểm soát hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ
Dưới góc độ quản trị chuỗi cung ứng có thể tham khảo định nghĩa logistics trong tài liệu giảng dạy của World Maritime University 1997 như sau: “logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ
từ định nghĩa này cho thấy được vai trò và mục đích của dịch vụ logistics không tác động trực tiếp đến hàng hóa mà chỉ thực hiện việc chu chuyển hàng hóa từ khi còn
là yếu tố đầu vào cho đến khi trở thành sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng
Tại Việt Nam có thể tham khảo quan điểm của PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân
“logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí và thời điểm vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng đến tay người tiêu dùng cuối
Trang 13cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”3 Hoặc theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân “dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện các hoạt động giao nhận kết hợp với dịch vụ vận tải và một hay nhiều dịch vụ hỗ trợ khác liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận của khách hàng để hưởng thù lao.”4
Như vậy mặc dù còn thể hiện định nghĩa về dịch vụ logistics ở những khía cạnh khác nhau nhưng các quan điểm đều thống nhất dịch vụ logistics là một chuỗi các hoạt động kết hợp, có liên quan mật thiết với nhau và thực hiện, kiểm soát việc chu chuyển, lưu thông hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam thuật ngữ logistics được đề cập đến lần đầu tiên trong LTM 2005 Cụ thể tại Điều 233 LTM 2005 quy định dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao Dịch vụ logistics được phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc Như vậy, khác với các quan điểm nêu trên, các nhà lập pháp Việt Nam cho rằng dịch vụ logistics không nhất thiết phải là một chuỗi các công việc mà thương nhân
có thể tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác đều được coi là cung ứng dịch vụ logistics Quy định này nhìn chung không phù hợp với thông lệ quốc tế Tuy nhiên nhìn nhận trong điều kiện thực tế kinh doanh dịch vụ logistics hiện nay ở Việt Nam phát triển muộn hơn so với các nước khác, các chủ thể cung ứng dịch vụ mới chỉ là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có đủ khả năng về nguồn vốn, cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện để cung cấp một cách đầy đủ và toàn diện chuỗi dịch vụ như các doanh nghiệp nước ngoài, do đó các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm một phần nhỏ trong thị trường logistics Quy định trên lại là phù hợp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ chỉ đủ điều kiện thực hiện một hoặc một số các hoạt động thuộc chuỗi dịch vụ logistics được tham gia cung ứng dịch vụ cho khách hàng, được hưởng quy chế pháp lý cùng những quyền lợi như những nhà cung ứng lớn, cũng như khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào thị trường logistics và từng bước phát triển Tuy nhiên về lâu dài, trong quá trình hội nhập ngày càng sâu
3
PGS.TS Đoàn Thị Hồng Vân (2006), Giáo trình logistics, chương trình đào tạo từ xa qua truyền
hình- truyền thanh- mạng internet
4
Nguyễn Thị Hồng Vân, tlđd (3), tr 45
Trang 14rộng vào kinh tế thế giới, luật thương mại cũng nên có sự thay đổi về khái niệm này cho phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của các quốc gia, mở rộng phạm vi dịch vụ logistics
1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất dịch vụ logistics là một hoạt động thương mại do đó nó mang đặc điểm của một hoạt động thương mại là nhằm mục đích sinh lợi Theo đó thương nhân có nghĩa vụ tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc thuộc dịch vụ logistics theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao và các chi phí hợp lý khác Khoản chi phí và thù lao mà thương nhân cung ứng dịch vụ nhận được thường nhỏ hơn so với giá trị hàng hóa - đối tượng chịu sự tác động của dịch vụ
Thứ hai, nội dung của dịch vụ logistics bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau liên quan đến việc dịch chuyển và kiểm soát hàng hóa từ nơi sản xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng Các hoạt động này có thể là nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng và các dịch vụ liên quan đến hàng hóa… đặc điểm này cho thấy dịch vụ logistics là sự phát triển và hoàn thiện của dịch vụ giao nhận hàng hóa Nhà cung ứng dịch vụ logistics sẽ cung cấp cho khách hàng một dịch vụ hoặc trọn gói bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau để di chuyển hàng hóa từ địa điểm này đến địa điểm khác, từ chủ thể này đến chủ thể khác Bên cạnh các dịch vụ chủ yếu
là vận tải, kho bãi, giao nhận thương nhân còn thực hiện các dịch vụ mang tính chất gia tăng giá trị cho hàng hóa như đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, kiểm tra và phân tích kỹ thuật, tư vấn cho khách hàng…
Thứ ba chủ thể của dịch vụ logistics bao gồm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng Trong đó khách hàng là người sử dụng dịch vụ logistics và thanh toán thù lao cho thương nhân Mối quan hệ giữa khách hàng và thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được xác lập thông qua hợp đồng dịch vụ LTM 2005 không có quy định cụ thể về hình thức hợp đồng dịch vụ logistics, theo quy định về hình thức hợp đồng dịch vụ nói chung thì hợp đồng dịch vụ có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên các dịch vụ cụ thể trong dịch vụ logistics được điều chỉnh bởi pháp luật chuyên ngành nên cần phải căn cứ vào các quy định này để xác định hình thức hợp đồng trong từng trường hợp
cụ thể Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. 5
5
Khoản 2 Điều 74 Luật Thương mại 2005
Trang 15Thứ tư logistics là một loại hình dịch vụ có độ rủi ro cao đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Dịch vụ logistics không tác động đến chất lượng của hàng hóa mà chỉ thực hiện việc “tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”6, do đó “thương nhân kinh doanh dịch vụ này không thể can thiệp vào chất lượng của hàng hóa là đối tượng tác động của dịch vụ”7 Mặt khác, trong quá trình cung ứng dịch vụ thương nhân có nghĩa vụ tuân thủ và thực hiện theo những chỉ dẫn của khách hàng, trừ trường hợp có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng thì được thực hiện khác nhưng phải thông báo cho khách hàng, tức thương nhân không có toàn quyền trong việc xử lý những tình huống phát sinh trong quá trình cung ứng dịch vụ, nói cách khác là nó không hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Bên cạnh đó, trong các hoạt động logistics thì hoạt động vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không) chiếm vai trò chủ yếu, quan trọng, tuy nhiên hoạt động vận tải lại chịu sự tác động rất lớn từ các yếu
tố khách quan nhất là yếu tố về thời tiết, địa hình mà thương nhân không thể kiểm soát được Những tai nạn và rủi ro là rất dễ xảy ra trên các tuyến đường vận chuyển
và một khi tai nạn xảy ra thường dẫn đến thiệt hại là rất lớn Ngoài ra thương nhân logistics thường không tự mình thực hiện các công việc cụ thể mà có thể thuê các bên thứ ba (các nhà vận chuyển, đại lý…) những người này là những người trực tiếp quản lý và kiểm soát hàng hóa trong quá trình dịch chuyển, đây cũng có thể là một trong những yếu tố tiềm ẩn rủi ro đối với thương nhân
Như vậy rủi ro đối với hoạt động của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
có thể đến từ ba nguồn: bản thân hàng hóa là đối tượng được vận chuyển, bên thứ
ba là chủ thể được thuê lại để thực hiện các hoạt động cụ thể và rủi ro đến từ các yếu tố khách quan thuộc về tự nhiên và xã hội
1.2 Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
1.2.1 Khái niệm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 234 LTM 2005 thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật Nghị định 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics (NĐ 163/2017/NĐ-CP) không có quy định về khái niệm thương nhân kinh
Trường đại học Luật Tp.HCM (2013), Giáo trình Pháp luật về Thương mại hàng hóa và dịch vụ,
Nhà xuất bản Hồng Đức- Hội luật gia Việt Nam, tr 190
Trang 16doanh dịch vụ logistics Có thể tham khảo khái niệm này được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 140/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics (NĐ 140/2007/NĐ-CP) như sau: thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó
Như vậy có thể hiểu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp
có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện dịch vụ logistics cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó
Xét nội dung của dịch vụ logistics là thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao nên để cung ứng được dịch vụ này cần phải có công cụ, phương tiện, thiết bị đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật cũng như đội ngũ nhân viên để thực hiện các công việc đã thỏa thuận Do đó các thương nhân là doanh nghiệp có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch, đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh có thể đáp ứng được các điều kiện này
Thứ hai thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Luật
Trang 17đầu tư 2014, dịch vụ logistics là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, do đó muốn cung ứng dịch vụ thương nhân phải đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics và đáp ứng những điều kiện nhất định Mặt khác, nội dung của dịch vụ logistics là một chuỗi các hoạt động khác nhau, theo quy định của pháp luật hiện hành nhiều hoạt động của dịch vụ logistics là các dịch vụ thuộc các ngành nghề kinh doanh có điều kiện như kinh doanh vận tải biển, kinh doanh vận tải hàng không, kinh doanh vận tải đường thủy, kinh doanh dịch vụ bưu chính, kinh doanh dịch vụ làm thủ tục hải quan… do đó đều đòi hỏi thương nhân cung ứng dịch vụ phải đáp ứng những điều kiện nhất định để đảm bảo khả năng cung ứng cũng như chất lượng của dịch vụ được cung ứng cho khách hàng
Theo quy định tại NĐ 163/2017/NĐ-CP thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn
bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử Ngoài những điều kiện trên, nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics còn phải đáp ứng một số điều kiện như về hình thức đầu tư, tỉ lệ vốn góp, những dịch vụ không được cung cấp, điều kiện về nguồn nhân sự…tùy theo từng hoạt động cụ thể mà thương nhân kinh doanh Các quy định này nhằm đáp ứng những cam kết của Việt Nam khi tham gia vào các tổ chức, các hiệp định quốc tế, đồng thời cũng nhằm bảo vệ, tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp Việt Nam và đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Thứ ba, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ LTM
2005 không đặt ra điều kiện thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải tự mình thực hiện toàn bộ các công đoạn của dịch vụ mà có thể thuê lại thương nhân khác Như vậy, thương nhân có thể tự mình thực hiện toàn bộ hoặc thực hiện một phần và thuê thương nhân khác thực hiện một phần hoặc thuê thương nhân khác thực hiện toàn bộ các công đoạn của dịch vụ cung cấp cho khách hàng Đây là một điểm phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh dịch
vụ logistics, khi không có đủ điều kiện về quy mô, công cụ, phương tiện để thực hiện toàn bộ các công đoạn có thể thuê lại các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics khác, tạo nên một chuỗi cung ứng toàn diện cho khách hàng, thực hiện việc tập trung, kết hợp nguồn lực giữa các doanh nghiệp, đồng thời tạo thuận lợi cho
Trang 18khách hàng khi sử dụng dịch vụ logistics chỉ cần xác lập giao dịch với một nhà cung ứng dịch vụ là đã có thể được cung cấp dịch vụ một cách đầy đủ, trọn vẹn
1.3 Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm
1.3.1 Miễn trách nhiệm
LTM 2005 cũng như luật chuyên ngành không đưa ra khái niệm miễn trách nhiệm mà chỉ quy định về những trường hợp cũng như những nghĩa vụ để thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được hưởng quyền này Từ những quy định này
có thể hiểu miễn trách nhiệm là trường hợp mà thương nhân không phải chịu những hậu quả bất lợi vì những tổn thất đối với hàng hoá hay những hành vi vi phạm của mình phát sinh trong các trường hợp mà pháp luật quy định
Về mặt nguyên tắc khi tổn thất hàng hóa phát sinh hay khi có hành vi vi phạm xảy ra thương nhân là bên cung ứng dịch vụ hoặc bên có hành vi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bên khách hàng, tuy nhiên trong một số trường hợp khi đáp ứng điều kiện mà pháp luật đặt ra thương nhân sẽ được miễn trách nhiệm này, thể hiện tinh thần thiện chí, hợp tác, chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, tạo ra vị thế bình đẳng về quyền lợi giữa các bên
Về vấn đề này Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định bên có nghĩa vụ mà
vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền Tuy nhiên bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nói chung trong hai trường hợp, thứ nhất là trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện do sự kiện bất khả kháng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác; trường hợp thứ hai khi bên có nghĩa vụ chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền thì bên vi phạm nghĩa vụ cũng được miễn trách nhiệm dân sự Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm thì bên vi phạm nghĩa vụ cũng được miễn trách nhiệm khi các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Ngoài ra để điều chỉnh hợp đồng vận chuyển tài sản BLDS 2015 còn quy định trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Như vậy khi thuộc các trường hợp này và đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định, bên vi phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của mình
LTM 2005 cũng quy định những trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi
vi phạm áp dụng chung cho các thương nhân, đó là những trường hợp xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận; xảy ra sự kiện bất khả kháng; hành
vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia; hành vi vi phạm của một bên
Trang 19do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng Thêm vào đó, do những đặc điểm đã phân tích ở trên mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics còn được miễn trách nhiệm về những tổn thất hàng hóa phát sinh trong một số trường hợp riêng biệt được quy định tại Điều 237 LTM 2005 như khi tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền; tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền; tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá; tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải; thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận; sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà
án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng
Ngoài ra chế định miễn trách nhiệm còn được quy định trong các luật chuyên ngành như Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006 được sửa đổi, bổ sung năm
2014 (Luật HKDDVN), Bộ luật Hàng hải 2015 (BLHH 2015), Luật Bưu Chính 2010… về những trường hợp được miễn trách nhiệm trong các lĩnh vực cụ thể Do
đó để xem xét về quyền được miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics trong những trường hợp nhất định thì không chỉ căn cứ vào các quy định của LTM 2005 mà còn cần phải xem xét trong các văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh với từng dịch vụ tương ứng mà thương nhân cung cấp cho khách hàng
1.3.2 Giới hạn trách nhiệm
Theo quy định của BLDS 2015 về mặt nguyên tắc một chủ thể vi phạm nghĩa
vụ theo hợp đồng sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể Ngoài ra người có quyền còn có thể yêu cầu bồi thường cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại, yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không
Trang 20hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lắp với mức bồi thường thiệt hại cho
Như vậy theo quy định của BLDS 2015 khi có hành vi vi phạm hợp đồng, trong trường hợp không có thỏa thuận khác, ngoài những tổn thất tài sản bên vi phạm có thể phải bồi thường những tổn thất khác gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, tổn thất về tinh thần, khoản thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra bên bị vi phạm được hưởng do hợp đồng mang lại, các chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng BLDS 2015 còn quy định thêm trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ
hơn tổn thất hàng hóa trên thực tế, tuy nhiên bên vi phạm chỉ phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình
Trong khi đó LTM 2005 quy định bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm Do đó, trong trường hợp thương nhân hoạt động thương mại nói chung có hành vi vi phạm gây thiệt hại cho khách hàng sẽ phải bồi thường một khoản lớn hơn giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp do hành vi vi phạm, vì phải bồi thường thêm một khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng Trong đó khoản lợi trực tiếp mà bên bị phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm “là khoản lợi mà bên bị vi phạm chưa có trên thực tế, nhưng nếu không xảy ra hành vi vi phạm và căn cứ theo mục đích mà bên bị vi phạm đặt ra đối với hợp đồng đó cũng như các mối quan hệ hợp đồng mà bên bị vi phạm đã hoặc có thể thiết lập với bên thứ ba thì khoản lợi đó là có thể đạt được.”10 Quy định giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong LTM 2005 là một trong những trường hợp ngoại lệ của những quy định trên Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 NĐ 163/2017/NĐ-CP giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics theo quy định tại Nghị định này Và theo quy định
Trang 21tại Điều 238 LTM 2005 trừ trường hợp có thoả thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hoá
Như vậy, xét về phạm vi bồi thường thiệt hại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ phải chịu trách nhiệm đối với toàn bộ tổn thất hàng hóa, trong khi thương nhân hoạt động thương mại nói chung ngoài giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp bên vi phạm còn phải bồi thường khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm và bên vi phạm theo quy định của BLDS
2015 ngoài những khoản bồi thường này còn phải chịu trách nhiệm với những tổn thất khác gồm chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút, tổn thất về tinh thần, các chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng
1.3.3 Ý nghĩa của quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
Quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh logistics có những ý nghĩa đối với các chủ thể tham gia quan hệ cung ứng dịch vụ logistics cũng như đối với nền kinh tế như sau:
Thứ nhất, là cơ sở để bảo vệ quyền của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trước những rủi ro không thể lường trước, xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau Như đã phân tích ở trên, hoạt động logistics là một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, những đối tượng là hàng hóa thường có số lượng lớn, do đó một khi rủi
ro xảy ra thường dẫn đến thiệt hại rất lớn, có khi lớn hơn rất nhiều so với mức thù lao mà các thương nhân nhận được từ việc thực hiện dịch vụ Điều này có thể dẫn đến tâm lý e ngại dè dặt của các thương nhân khi lựa chọn và tiến hành cung ứng dịch vụ logistics, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, với nguồn vốn còn hạn chế Quy định về những trường hợp được miễn, giới hạn trách nhiệm có thể góp phần xóa bỏ tâm lý này, tạo động lực cho các thương nhân mạnh dạn hơn trong việc tham gia đầu tư, kinh doanh, góp phần phát triển nền kinh tế, đồng thời góp phần thu hút các thương nhân nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực còn nhiều tiềm năng phát triển này Bên cạnh đó, quy định giới hạn mức bồi thường thiệt hại còn góp phần đảm bảo cho các doanh nghiệp có khả năng chi trả bồi thường thiệt hại và tiếp tục duy trì hoạt động Trong trường hợp khách hàng muốn được bồi thường toàn bộ thiệt hại thì các bên có thể thỏa thuận, và pháp luật tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên Hơn nữa chỉ trong một số trường hợp luật định và khi đáp ứng được những
Trang 22điều kiện nhất định thương nhân mới được hưởng quyền miễn trách nhiệm, giới hạn trách nhiệm nên đây không phải là một điều luật tạo điều kiện để bên vi phạm lợi dụng trốn tránh nghĩa vụ Tuy nhiên, khách hàng cũng cần phải xem xét thỏa thuận với bên cung ứng dịch vụ một cách cẩn trọng để bảo vệ tốt hơn quyền lợi của mình tránh những tranh chấp có thể phát sinh sau này
Thứ hai, quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm tạo ra sự công bằng về quyền lợi giữa bên cung ứng dịch vụ và khách hàng Phần lớn những trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân là những trường hợp không có hành vi vi phạm như tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền, tổn thất là do khuyết tật của hàng hóa, tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền… hoặc có hành vi vi phạm nhưng không do lỗi của thương nhân mà là do sự tác động của những yếu tố khách quan, không thể kiểm soát được như sự thay đổi của chính sách pháp luật, những tình huống bất khả kháng Trong những trường hợp này thương nhân đã thực hiện đúng nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, tổn thất xảy ra là ngoài ý muốn, hành vi vi phạm là không thể tránh được Ngoài ra, bên cung ứng dịch vụ còn “chịu ảnh hưởng nhiều từ những yếu tố khách quan và lệ thuộc nhiều vào chỉ dẫn của khách hàng cũng như không thể kiểm soát được các vấn đề liên quan đến chất lượng bên trong của hàng
công bằng đối với những nhà cung ứng dịch vụ logistics Hơn nữa thương nhân logistics không chỉ đơn thuần là người thực hiện công tác hậu cần cho khách hàng
mà dịch vụ họ cung cấp còn tham gia, hỗ trợ cho quá trình sản xuất diễn ra một cách thuận lợi, giúp cho doanh nghiệp giảm chi phí cuối cùng tạo ra sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh, chính vì vậy quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm cho thương nhân thể hiện sự tin tưởng của khách hàng, sẵn sàng chia sẻ rủi
ro, cùng hài hòa lợi ích trong mối quan hệ với thương nhân logistics
Thứ ba, quy định về miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là một quy định tiến bộ, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, thể hiện tinh thần hợp tác, thiện chí, cùng nhau chia sẻ gánh nặng rủi ro phát sinh trong những tình huống không mong muốn giữa thương nhân cung ứng dịch vụ và khách hàng, tạo nên mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa các bên trong quan hệ cung ứng dịch vụ logistics
11
Đại học Luật TP.HCM, tlđd (9), tr 196
Trang 23KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung chương 1 khái quát về định nghĩa, đặc điểm dịch vụ logistics, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cũng như đặc điểm và ý nghĩa của quy định miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics Dịch vụ logistics là một chuỗi các hoạt động mà thương nhân thực hiện theo yêu cầu của khách hàng, gắn liền với hàng hóa bắt đầu từ nguồn cung cấp nguyên liệu đến quá trình sản xuất và trong suốt quá trình lưu thông đến tay người tiêu dùng Từ các đặc điểm cho thấy dịch vụ logistics là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, do đó quy định về giới hạn trách nhiệm và miễn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là một quy định cần thiết và có nhiều ý nghĩa đối với thương nhân cung ứng dịch vụ cũng như đối với nền kinh tế nói chung, là một sự ưu đãi mà pháp luật thương mại dành cho các thương nhân kinh doanh dịch vụ đặc thù này So với các quy định về trách nhiệm của bên vi phạm nghĩa vụ theo BLDS 2015, của thương nhân nói chung theo quy định tại Điều 294 LTM, thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics được miễn trách nhiệm trong nhiều trường hợp hơn, được hưởng mức giới hạn trách nhiệm thấp hơn rất nhiều
Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là chủ thể được hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm phải là những doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và đáp ứng được các điều kiện về đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với từng dịch vụ cụ thể trong chuỗi dịch vụ logistics Và để được hưởng quyền miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải thuộc các trường hợp mà LTM 2005 và pháp luật chuyên ngành quy định tương ứng với dịch vụ mà thương nhân cung cấp cho khách hàng, đáp ứng thêm một số điều kiện nhất định Các trường hợp và điều kiện cụ thể này sẽ được phân tích làm rõ trong phạm vi nội dung chương 2
Trang 24CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM, GIỚI HẠN TRÁCH NHIỆM CỦA THƯƠNG NHÂN KINH DOANH DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
2.1 Miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics theo quy định của pháp luật Việt Nam
Hiện nay trong hệ thống pháp luật chuyên ngành chỉ có các quy định điều chỉnh vấn đề miễn trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch
vụ logistics đối với các dịch vụ: dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển; dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa; dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt; dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ; dịch vụ vận tải hàng không; dịch vụ vận tải đa phương thức; dịch
vụ chuyển phát Còn các dịch vụ khác thuộc dịch vụ logistics như: dịch vụ xếp dỡ, dịch vụ phân tích và kiểm định hàng hóa, dịch vụ kho bãi, dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan… hiện vẫn chưa có các quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành nên theo nguyên tắc sẽ áp dụng quy định của LTM 2005
2.1.1 Các trường hợp miễn trách nhiệm chung đối với hoạt động thương mại
Theo quy định của pháp luật khi thương nhân có hành vi vi phạm, tức đã không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả
hậu quả tất yếu là thương nhân phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình Tuy nhiên trong một số trường hợp hành vi vi phạm này xuất phát từ những nguyên nhân mà các bên đã lường trước được hoặc bên có hành vi vi phạm không thể tránh khỏi hành vi vi phạm dù đã thực hiện mọi biện pháp trong giới hạn cho phép với sự
nỗ lực thiện chí Do đó pháp luật thương mại đặt ra quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm của thương nhân nói chung, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói riêng để tạo sự cân bằng lợi ích, chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể
Điều chỉnh đối với các dịch vụ logistics, hiện nay phần lớn pháp luật chuyên ngành chỉ quy định các trường hợp miễn trách nhiệm cho thương nhân đối với tổn thất, mất mát hàng hóa, đối với vấn đề miễn trách nhiệm trong trường hợp thương nhân có hành vi vi phạm chỉ được quy định trong LTM 2005 Do đó khi xem xét
12
Khoản 12 Điều 3 LTM 2005
Trang 25miễn trách nhiệm cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics trong trường hợp có hành vi vi phạm sẽ áp dụng các quy định tại Điều 294 LTM 2005 Bao gồm các trường hợp miễn trách nhiệm sau:
Căn cứ miễn trách nhiệm này dựa trên nguyên tắc tự do tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại, khi các bên thỏa thuận với nhau về việc miễn trách nhiệm của thương nhân thì có thể hiểu khách hàng đã chấp nhận hành vi vi phạm của thương nhân, từ bỏ quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của mình và nếu khách hàng là bên bị vi phạm đã không yêu cầu bên kia phải bù đắp cho mình thì pháp luật cũng không có căn cứ để yêu cầu thương nhân phải bồi thường, việc bồi thường trong trường hợp này không đạt được mục đích khi đặt ra quy định, đồng thời còn tạo thêm gánh nặng không cần thiết cho bên vi phạm
Điều kiện để thỏa thuận này được nhà nước tôn trọng và bảo hộ là các bên phải
tự do, tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cưỡng ép, đe dọa ngăn cản bên nào; đồng thời không được trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội Thêm vào đó xét về mặt ngữ nghĩa, thời điểm các bên thỏa thuận có thể là khi giao kết hợp đồng, khi thực hiện hợp đồng nhưng phải là trước khi trường hợp được miễn trách nhiệm xảy ra trên thực tế Về hình thức của thỏa thuận, LTM
2005 không đặt ra quy định do đó thỏa thuận này có thể bằng văn bản hoặc không bằng văn bản, có thể thỏa thuận trong hợp đồng, phụ lục hợp đồng hoặc hình thức khác
LTM 2005 cũng như các văn bản hướng dẫn không có quy định về sự kiện bất khả kháng Về nguyên tắc sẽ áp dụng sự kiện bất khả kháng theo quy định của Bộ luật dân sự BLDS 2015 quy định sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép
Trong trường hợp này, quyền lợi của khách hàng bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm của thương nhân, nhưng hành vi vi phạm này lại phát sinh do sự kiện bất khả kháng, tức quyền lợi của khách hàng không được đảm bảo là do các sự kiện khách quan, không thể lường trước, không thể khắc phục được, nên thương nhân được miễn trách nhiệm
Điều 237 LTM 2005 chỉ quy định khi xảy ra sự kiện bất khả kháng thì bên vi phạm được miễn trách nhiệm, không quy định rõ ràng về mối quan hệ giữa sự kiện
Trang 26bất khả kháng và hành vi vi phạm Các quy định trong BLDS 2015 có liên quan đến
sự kiện bất khả kháng đều quy định theo hướng “trừ trường hợp bất khả kháng”,
“do sự kiện bất khả kháng”, “xảy ra trong trường hợp bất khả kháng” thông qua đó
có thể thấy được mối quan hệ giữa sự kiện bất khả kháng với hành vi vi phạm/thiệt hại xảy ra, trong đó sự kiện bất khả kháng xảy ra trước thiệt hại, và là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, hành vi vi phạm Mặt khác, khác với BLDS 2015 quy định sự kiện bất khả kháng là một căn cứ tùy nghi (trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật
có quy định khác), LTM 2005 quy định đây là một căn cứ luật định Như vậy nếu theo quy định của BLDS 2015 các bên có thể thỏa thuận bên vi phạm không được miễn trách nhiệm trong trường hợp hành vi vi phạm xảy ra do sự kiện bất khả kháng, còn theo quy định của LTM 2005 thì thỏa thuận này sẽ không có hiệu lực vì
nó trái với quy định của pháp luật, khi thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chứng minh được hành vi vi phạm là do sự kiện bất khả kháng sẽ đương nhiên được quyền miễn trách nhiệm
LTM 2005 không quy định về các tiêu chí để xác định sự kiện bất khả kháng cũng như những trường hợp nào thì được coi là sự kiện bất khả kháng nên phải viện dẫn các quy định trong BLDS 2015, tuy nhiên định nghĩa này lại nằm trong quy định về thời hiệu, không được thể hiện là cách hiểu được áp dụng chung, do đó BLDS 2015 nên quy định riêng một điều khoản về sự kiện bất khả kháng để áp dụng chung trong mọi trường hợp, hoặc Luật thương mại (LTM) có quy định riêng
về khái niệm này
Về mặt nguyên tắc yếu tố lỗi không được xem là căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 303 LTM 2005 Tuy nhiên yếu tố này lại được xem xét là một trong những căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm LTM 2005 không quy định lỗi ở đây là cố ý hay lỗi vô ý Dựa vào nguyên tắc áp dụng Luật thương mại và pháp luật liên quan, trong trường hợp này có thể viện dẫn quy định của BLDS 2015 để xem xét yếu tố lỗi khi có hành vi vi phạm, theo đó lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý, tương tự yếu tố lỗi trong quy định này cũng bao gồm cả lỗi cố ý và lỗi vô ý Trong đó lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Trang 27Theo căn cứ miễn trách nhiệm này thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chỉ được miễn trách nhiệm nếu lỗi hoàn toàn do bên khách hàng, bên thương nhân không có lỗi trong hành vi vi phạm Nói cách khác, trường hợp bên thương nhân có một phần lỗi, bên khách hàng có một phần lỗi thì bên thương nhân cũng không được miễn trách nhiệm theo căn cứ này Quy định này còn nhiều vướng mắc, chưa
có sự phân định trách nhiệm của các bên đối với phần lỗi của mình trong trường hợp mỗi bên đều có một phần lỗi dẫn đến hành vi vi phạm
Về căn cứ miễn trách nhiệm này có thể tham khảo tình huống thực tiễn sau:
“Bản án số: 140 /2018/KDTM-PT về tranh chấp hợp đồng vận chuyển tài sản Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà thép tiền chế Z Việt Nam (Công ty Z), bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn giao nhận vận tải A (Công ty A) Ngày 1/9/2013 công ty A và công ty Z ký hợp đồng vận chuyển và giao nhận hàng hóa No.AAL/ZSV-2012/2013 thỏa thuận vận chuyển bằng vận tải đường biển đối với lô hàng tới Jakarta, Indonesia Ngày 29/5/2013 hai bên trao đổi qua email báo giá việc vận chuyển 08 kiện hàng cho khách ở Indonesia thông qua dịch vụ vận chuyển bên thứ 3 là công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và truyền thông Quốc tế M (công
ty M) vì Công ty A không có dịch vụ chuyển trực tiếp hàng hóa sang Indonesia, công ty Z đã đồng ý Sau đó, công ty A được Công ty M thông báo hàng đã chuyển tới Indonesia nhưng không giao cho khách hàng được vì lô hàng không có giấy phép nhập khẩu vào Indonesia Việc hàng không có giấy phép nhập khẩu Công ty A
đã được thông báo từ trước khi lô hàng được gửi đi qua email của công ty Z gửi Do không giao được hàng theo cam kết, Công ty Z đã phải mua hàng tương tự tại Indonesia để giao tới khách hàng với giá trị lô hàng là 42.700.000Rp Công ty Z yêu cầu Công ty A hoàn trả chi phí dịch vụ vận chuyển đã thanh toán 269.765.664đ và
số tiền 42.700.000Rp
Tại bản án số 02/2018/KDTM-ST ngày 07/02/2018 của Tòa án nhân dân quận Hai
Bà Trưng đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện Công ty Z, buộc Công ty A phải thanh toán trả Công ty Z số tiền vận chuyển hàng hóa và số tiền giá trị lô hàng thay thế là: 173.090.276đ Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 12/02/2018 Công
ty A có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm
Tại bản án phúc thẩm, TAND TP.Hà Nội nhận định theo hợp đồng nguyên tắc thì bên thuê vận chuyển phải đưa hồ sơ về hàng hóa để bên nhận vận chuyển hàng đến được nơi nhận Tuy nhiên bên nhận vận chuyển không đưa ra yêu cầu cụ thể này và cam kết đưa đến tay khách hàng nên thỏa thuận này có lỗi của cả hai bên.Việc vận chuyển hàng hóa không đạt được mục đích giao hàng cho người mua thì thiệt hại là
Trang 28khoản chi phí cước phí vận chuyển, lỗi này thuộc cả hai bên nên cùng phải chịu, về thiệt hại này bên thuê vận chuyển đã bỏ ra là 266.765.664 đồng mỗi bên phải chịu
½ là 133.382.831 đồng Hậu quả do bên thuê vận chuyển bỏ ra để mua hàng thay thế giao cho khách hàng thuộc lỗi của bên thuê vận chuyển vì lý do không giao được cho khách hàng là do hàng thiếu thủ tục nhập khẩu không thuộc lỗi của bên vận chuyển nên bên vận chuyển không phải chịu nghĩa vụ về khoản này
Trong trường hợp này, theo nhận định của Tòa phúc thẩm, người vận chuyển chỉ có lỗi dẫn đến việc vận chuyển hàng hóa không đạt được mục đích giao hàng cho người mua vì không đưa ra yêu cầu cụ thể về hồ sơ hàng hóa để vận chuyển hàng đến được nơi nhận và cam kết đưa đến tay khách hàng, do đó người vận chuyển chỉ phải chịu trách nhiệm đối với khoản chi phí cước phí vận chuyển Và do người thuê vận chuyển cũng có lỗi do đã không thực hiện nghĩa vụ đưa hồ sơ về hàng hóa để bên nhận vận chuyển hàng đến được nơi nhận, nên người vận chuyển chỉ phải chịu ½ khoản chi phí này Đối với hậu quả do bên thuê vận chuyển bỏ ra để mua hàng thay thế giao cho khách hàng không thuộc lỗi của bên vận chuyển nên bên vận chuyển không phải chịu nghĩa vụ về khoản này Như vậy bên vận chuyển chỉ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do lỗi của mình gây ra, và khoản bồi thường thiệt hại là tương đương với phần lỗi của bên vận chuyển Hay nói cách khác, bên vận chuyển được miễn một phần trách nhiệm tương ứng với phần thiệt hại do lỗi của khách hàng
Về pháp luật áp dụng Tòa viện dẫn Điều 302, 303 LTM 2005 tuy nhiên đây là những quy định cơ bản về bồi thường thiệt hại, hơn nữa Điều 303 không quy định yếu tố lỗi là căn cứ để xem xét trách nhiệm bồi thường thiệt hại, Tòa án áp dụng Điều 308 BLDS 2015 để làm căn cứ tính lỗi, tuy nhiên Điều 308 chỉ quy định bên
vi phạm phải chịu trách nhiệm khi có lỗi và định nghĩa lỗi cố ý và vô ý không có sự phân định trách nhiệm của các bên đối với phần lỗi của mình Do đó để giải quyết các tình huống tương tự về sau rõ ràng, có căn cứ, LTM nên bổ sung thêm quy định
về việc thương nhân cung ứng dịch vụ được miễn trách nhiệm tương ứng với thiệt hại do lỗi của khách hàng gây ra
nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết trước được vào thời điểm giao kết hợp đồng
Cũng như các cá nhân tổ chức khác, các chủ thể của quan hệ cung ứng dịch vụ logistics chịu sự điều chỉnh bởi hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm
Trang 29với hành vi vi phạm do sự tác động của các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Để trở thành căn cứ miễn trừ trách nhiệm, việc thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi vi phạm và hành vi vi phạm nghĩa vụ trong trường hợp này là không thể khác được Trường hợp thương nhân có khả năng khắc phục, tránh được trở ngại
mà quyết định của cơ quan quản lý nhà nước đem lại để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình thì thương nhân không được quyền miễn trừ trách nhiệm Ngoài ra để được hưởng quyền miễn trách nhiệm dựa trên căn cứ này, đặt ra điều kiện các bên bao gồm khách hàng và thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng, tức là dựa vào những yếu tố tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên không biết và không thể biết về quyết định của cơ quan nhà nước cũng như việc thực hiện quyết định này sẽ dẫn đến hành vi vi phạm
2.1.2 Nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics
Hiện nay LTM 2005 chỉ quy định về những nghĩa vụ mà thương nhân phải thực hiện để được hưởng quyền miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm, còn trường hợp miễn trách nhiệm với những tổn thất, mất mát hàng hóa LTM 2005 không quy định về những nghĩa vụ này Để được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm, thương nhân phải thực hiện các nghĩa vụ như sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm trường hợp miễn trách nhiệm của mình Tùy từng trường hợp miễn trách nhiệm mà nội dung chứng minh
là khác nhau Ví dụ: trường hợp xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận thương nhân phải chứng minh sự tồn tại, tính hợp pháp cũng như hiệu lực của thỏa thuận này tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, chứng minh trường hợp xảy ra trên thực tế thuộc trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận Trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng thương nhân phải chứng minh sự tồn tại của sự kiện bất khả kháng, nói cách khác là chứng minh sự kiện đã xảy ra là một sự kiện đáp ứng các điều kiện để được xem là một sự kiện bất khả kháng, đồng thời chứng minh mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và sự kiện bất khả kháng… Thứ hai, nghĩa vụ thông báo và xác nhận trường hợp miễn trách nhiệm
Về mặt hình thức Điều 295 LTM 2005 quy định thương nhân phải thông báo bằng văn bản.Về mặt nội dung thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics cần phải thông báo với khách hàng hai nội dung: trường hợp được miễn trách nhiệm, những hậu quả có thể xảy ra và trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt Về thời điểm, đối với nội dung thứ hai luật quy định rõ ràng khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt Còn đối với nội dung thứ nhất Điều 295 LTM 2005 chỉ quy định thông báo ngay cho bên kia Hậu quả khi thương nhân không thông báo hoặc thông báo không
Trang 30kịp thời cho khách hàng thì phải bồi thường thiệt hại Việc quy định về hậu quả này
ở vế sau của khoản 2, dẫn đến cách hiểu bồi thường thiệt hại ở đây chỉ là đối với những thiệt hại phát sinh từ việc không thông báo hoặc thông báo không kịp thời về
sự chấm dứt của các trường hợp miễn trách nhiệm Dựa trên câu chữ của quy định này cho thấy, đây không phải là một nghĩa vụ bắt buộc để hưởng quyền miễn trách nhiệm, nói cách khác hậu quả của việc không thực hiện nghĩa vụ không làm thương nhân mất đi quyền miễn trách nhiệm
2.1.3 Các trường hợp miễn trách nhiệm riêng cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
2.1.3.1 Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền
Tương tự như căn cứ miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm đã phân tích, yếu tố lỗi ở đây bao gồm cả lỗi cố ý và vô ý Điều luật chỉ quy định thương nhân được miễn trách nhiệm khi tổn thất do lỗi của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền mà chưa phân định rõ trách nhiệm của các bên trong trường hợp thương nhân có một phần lỗi, khách hàng có một phần lỗi
Pháp luật chuyên ngành quy định về căn cứ miễn trách nhiệm này đối với từng dịch vụ cụ thể như sau:
Các quy định của pháp luật chuyên ngành điều chỉnh đối với dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển, dịch vụ vận tải đa phương thức đều quy định tương tự LTM
2005, tuy nhiên tùy từng dịch vụ khác nhau mà pháp luật quy định các chủ thể có lỗi khác nhau như theo quy định của Luật giao thông đường thủy nội địa số 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật GTĐTNĐ) chủ thể có lỗi có thể là người thuê vận tải, người nhận hàng, người áp tải hàng hóa trong khi BLHH 2015 quy định chủ thể có lỗi bao gồm người giao hàng, chủ sở hữu hàng, đại lý hoặc đại diện của họ; Nghị định 87/2009/NĐ-CP về vận tải đa phương thức (NĐ 87/2009/NĐ-CP) lại quy định chủ thể có lỗi là người gửi hàng, người nhận hàng, người được người gửi hàng, người nhận hàng ủy quyền hoặc đại lý của họ Khác với các quy định trên, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt không quy định một cách trực tiếp về trường hợp miễn trách nhiệm này
Đối với dịch vụ chuyển phát và dịch vụ vận tải đường hàng không: theo quy định tại Luật HKDDVN và Luật Bưu chính 2010 thì thương nhân cung ứng dịch vụ được miễn một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa tương ứng với mức độ thiệt hại do lỗi của khách hàng Tức thương nhân chỉ phải
Trang 31bồi thường thiệt hại tương ứng đối với phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra Luật HKDDVN không chỉ miễn trách nhiệm cho thương nhân đối với phần thiệt hại do lỗi của người gửi mà còn đối với phần thiệt hại do lỗi của người nhận hàng hóa, người áp tải được người gửi hàng hoặc người nhận hàng cử đi kèm hàng hóa Tuy nhiên thương nhân cung ứng dịch vụ vận tải hàng không phải chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại Như vậy quy định này đã phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên đối với phần thiệt hại do lỗi của mình
2.1.3.2 Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng ủy quyền
Theo quy định của LTM 2005 trong quá trình thực hiện hợp đồng thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có nghĩa vụ phải tuân theo chỉ dẫn của khách hàng Khách hàng là người chi phối đến hoạt động mà thương nhân thực hiện, hay nói cách khác thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không có toàn quyền trong việc quyết định đối với những tình huống phát sinh do đó khi thực hiện theo những chỉ dẫn này dẫn đến tổn thất hàng hóa xảy ra thì thương nhân không phải chịu trách nhiệm
Dựa theo căn cứ miễn trách nhiệm này thì chỉ cần thương nhân thực hiện đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc người được khách hàng ủy quyền thì sẽ được miễn trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa Quy định này có thể làm phát sinh trường hợp thương nhân bất chấp tổn thất mà thực hiện theo những chỉ dẫn của khách hàng như khi có lý do chính đáng vì lợi ích của khách hàng phải thực hiện khác với chỉ dẫn để tránh tổn thất nhưng thương nhân không thông báo cũng không thực hiện; hoặc khi nhận được chỉ dẫn của khách hàng, thương nhân biết hoặc có cơ
sở để biết về những tổn thất có thể xảy ra khi thực hiện theo chỉ dẫn đó, nhưng vẫn thực hiện dẫn đến tổn thất hàng hóa Để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng LTM nên quy định theo hướng trường hợp thương nhân biết được hoặc dự đoán được chỉ dẫn của khách hàng có thể làm phát sinh tổn thất hàng hóa, đặt ra trách nhiệm thương nhân phải thông báo cho khách hàng, nếu khách hàng vẫn yêu cầu thực hiện thì khi tổn thất xảy ra thương nhân sẽ không phải gánh chịu trách nhiệm Trường hợp thương nhân biết nhưng không thông báo cũng như không xin ý kiến của khách hàng thì thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm với tổn thất xảy ra
Pháp luật chuyên ngành điều chỉnh đối với những dịch vụ cụ thể không có quy định
về căn cứ miễn trách nhiệm này