Hai đạo luật nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta, ghi nhận và tạo điều kiện ban đầu rất cần thiết cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT -
TRƯƠNG THẾ MINH
LUẬT DOANH NGHIỆP MỘT BƯỚC PHÁT TRIỂN QUAN TRỌNG TRONG VIỆC THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC TỰ DO KINH DOANH
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH
2000
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TỰ DO KINH DOANH Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ , NHỮNG VẤN ĐỀ TRỌNG TÀI
MÃ SỐ : 5.05.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TIẾN SĨ DƯƠNG ĐĂNG HUỆ
TP HỒ CHÍ MINH
2000
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TRƯƠNG THẾ MINH
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài
Tự do kinh doanh là vấn đề quan trọng đã được nêu trong Điều 57 Hiến pháp 1992: "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" và trong các đường lối, chính sách đổi mới về kinh tế của Đảng ta
Ngày 21.12.1990, Quốc hội khóa VIII của nước ta đã thông qua hai đạo luật quan trọng: Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Hai đạo luật nêu trên đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước
ta, ghi nhận và tạo điều kiện ban đầu rất cần thiết cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh của các nhà đầu tư, là cột mốc quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới nền kinh tế, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong thời gian qua, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân đã có tác dụng tích cực, có đóng góp quan trọng vào quá trình cải cách và phát triển kinh tế ở nước ta Tuy vậy nội dung của hai luật nói trên đã không còn phù hợp với những thay đổi của tình hình kinh tế, xã hội và đường lối chính sách của Đảng ta về phát triển kinh tế trong giai đoạn mới
Ngày 12/6/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Doanh nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2000 Đây là một sự kiện pháp lý quan trọng vì nó ghi nhận nhiều đổi mới cả về chất và lượng so với Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân trước đây, trong đó điểm quan trọng nhất là Luật Doanh nghiệp đã tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và trọn vẹn nhất từ trước đến nay trong việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở nước ta Nội dung của Luật Doanh nghiệp là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư, của hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước và đội ngũ viên chức Nhà nước và giới luật gia trong việc tìm hiểu và nghiên cứu xem Luật Doanh
Trang 5nghiệp đảm bảo nguyên tắc tự do kinh doanh đến đâu? Sự bình đẳng trước pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế như thế nào? Có bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không? Chức năng quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp ra sao? Tác động của Luật Doanh nghiệp vào đời sống kinh tế-xã hội như thế nào?
Chính vì những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài "Luật Doanh nghiệp - Một bước phát triển quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở Việt Nam"
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Do Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước ta, tại kỳ họp thứ 5, khóa X, thông qua ngày 12/6/1999, và có hiệu lực từ ngày 01/01/2000 nên thời gian qua chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về Luật Doanh nghiệp, như cuốn
"Tìm hiểu Luật Doanh nghiệp" của các tác giả như Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Ngọc Điệp, Phan Đình Khánh, Nguyễn Văn Minh; cuốn "Luật Kinh doanh" của các tác giả Nguyễn Thị Khế, Bùi Thị Khuyên, NXB Thống kê
1999
Ngoài ra, còn có các bài báo đăng rải rác ở các tạp chí Luật học, Nhà nước và Pháp luật, Dân chủ và pháp luật như các bài: "Tư cách pháp lý của các chủ thể tham gia Công ty đối vốn theo Luật Doanh nghiệp năm 1999" của tác giả Lê Thị Châu đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3/2000 , bài
"Một vài khía cạnh pháp lý về chế độ trách nhiệm của Công ty hợp danh" của tác giả Bùi Nguyên Khánh đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/1998
; bài "Về những điểm mới của Luật Doanh nghiệp" của tác giả Trần Đình Hảo đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8/1999, và một số luận văn tốt nghiệp đại học luật
Trang 6Nhìn chung, các công trình khoa học nghiên cứu về Luật Doanh nghiệp còn quá ít, và cho đến nay giới luật học vẫn chưa nghiên cứu một cách đầy đủ về Luật Doanh nghiệp và những tiến bộ của nó Tóm lại, sự quan tâm của chúng ta là chưa ngang tầm với vị trí, vai trò và ý nghĩa của Luật Doanh nghiệp đối với đời sống kinh tế ở nước ta
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn nhằm nghiên cứu, đánh giá, chứng minh sự cần thiết và quá trình thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở nước ta, chứng minh Luật Doanh nghiệp là một bước phát triển quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Nguyên tắc tự do kinh doanh được thể chế hóa trong toàn bộ hệ thống pháp luật kinh tế Việt Nam
Ví dụ : Khi nói đến tự do kinh doanh là phải nói đến quyền tự do ký kết hợp đồng kinh tế mà quyền tự do ký kết hợp đồng kinh tế đã được đề cập trong Pháp lệnh về hợp đồng kinh tế
Hoặc khi nói đến tự do kinh doanh tức là nhà đầu tư được tự do lựa chọn
cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế Điều này đã được quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Nghị định 116/CP của Chính phủ
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả không nghiên cứu mối quan hệ giữa tự do kinh doanh với toàn bộ hệ thống pháp luật kinh tế, mà chỉ tập trung nghiên cứu bước phát triển quan trọng của việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở Việt Nam trong Luật Doanh nghiệp mà thôi
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp khoa học chủ yếu mà tác giả áp dụng trong quá trình nghiên cứu là các phương pháp: phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp, kết hợp lý luận với thực tiễn Trong những phương pháp này thì tác giả sử dụng phương pháp so sánh là chủ yếu nhất nhằm so sánh những quy định trong Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân với các quy định trong Luật Doanh nghiệp để từ đó phân tích, chứng minh Luật Doanh nghiệp là một bước phát triển quan trọng trong việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở Việt Nam
5 Điểm mới và ý nghĩa của luận văn
5.1 Điểm mới
Lần đầu tiên, tự do kinh doanh được nghiên cứu trên ba giác độ: thứ nhất là, tự do kinh doanh với tư cách là một quyền của con người; thứ hai là, với tư cách là một chế định pháp luật và thứ ba, với tư cách là một nguyên tắc quản lý kinh tế
Điểm mới thứ hai của luận văn là ở chỗ, thông qua việc trình bày 12 điểm mới đã được Quốc hội ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp, luận văn đã khẳng định được nhận định rằng, Luật Doanh nghiệp là một bước phát triển rất lớn, rất quan trọng trong việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở Việt Nam
5.2 Ý nghĩa
Luận văn là một công trình có ý nghĩa trên nhiều phương diện và giúp cho nhiều đối tượng trong việc tìm hiểu vị trí, vai trò của nguyên tắc tự do kinh doanh cũng như việc pháp luật kinh tế nói chung và Luật Doanh nghiệp nói riêng đã tạo môi trường pháp lý đầy đủ như thế nào cho việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh ở nước ta
Trang 86 Cơ cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu với 3 chương cùng với lời nói đầu, kết luận chung và danh mục các tài liệu tham khảo
+ Lời nói đầu trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục đích, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và điểm mới, ý nghĩa của luận văn
+ Chương 1 : Lý luận về nguyên tắc tự do kinh doanh
+ Chương 2 : Thực trạng pháp luật về quyền tự do kinh doanh trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp
+ Chương 3 : Điểm mới của Luật Doanh nghiệp về quyền tự do kinh doanh
Trang 9CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC TỰ DO KINH DOANH
1.1 Khái niệm nguyên tắc tự do kinh doanh
Nguyên tắc của một ngành luật là những tư tưởng cơ bản, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện các quy phạm pháp luật Nguyên tắc của Luật Kinh tế là những tư tưởng cơ bản, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện các quy phạm pháp luật kinh tế
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi xây dựng pháp luật kinh tế trong giai đoạn nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN hiện nay là nguyên tắc tự do kinh doanh Đây là nguyên tắc pháp lý cơ bản, quan trọng nhất của Luật Kinh tế trong giai đoạn hiện nay của nước ta
Nguyên tắc tự do kinh doanh hay nói một cách đầy đủ là nguyên tắc bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh là đòi hỏi tất yếu, phù hợp với nền kinh tế thị trường Điều 57 của Hiến pháp 1992- đạo luật cơ bản của Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ghi nhận "Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" Tiếp theo đó, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân và hiện nay là Luật Doanh nghiệp đã cụ thể quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
Tự do kinh doanh là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị trường, luôn tồn tại và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường
Dưới góc độ kinh tế, tự do kinh doanh là một nhu cầu tất yếu bắt nguồn từ yêu cầu khách quan có tính quy luật của nền kinh tế thị trường, là sản phẩm của sự phát triển bình thường quan hệ hàng hóa, tiền tệ
Trang 10Dưới góc độ chính trị, tự do kinh doanh được hiểu là một trong những quyền tự do, dân chủ của công dân
Dưới góc độ pháp lý, tự do kinh doanh là quyền của chủ thể, tức là cá nhân hoặc pháp nhân đương nhiên được quyền tự do kinh doanh, tự do lựa chọn ngành nghề, quy mô, hình thức kinh doanh đồng thời Nhà nước có nghĩa vụ ban hành các quy phạm pháp luật bảo đảm và tạo điều kiện cho cá nhân hoặc pháp nhân được thực hiện quyền chủ thể của mình
Do đó quyền tự do kinh doanh có thể được nghiên cứu như là một quyền công dân; như là một chế định pháp luật và như là một nguyên tắc quản lý kinh tế
1.2 Đặc điểm của nguyên tắc tự do kinh doanh
1.2.1 Là một phần của nội dung quyền con người
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những quyền, nghĩa vụ được quy định trong Hiến pháp Những quyền này thường được xuất phát từ quyền con người: được sống, được tự do, được mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm
Một trong những quyền cơ bản của công dân theo Hiến pháp của Nước CHXHCNVN năm 1992 là các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội Công dân Việt Nam có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, có quyền sở hữu những thu nhập hợp pháp, những của cải để dành, tư liệu sản xuất, vốn là những tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Tổ chức và cá nhân có quyền thành lập doanh nghiệp, không bị hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có thể liên doanh với cá nhân, tổ chức kinh tế nước ngoài theo quy định của pháp luật Tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo hộ, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp
Trang 11luật Điều 57- Hiến pháp của nước CHXHCNVN năm 1992 đã khẳng định:
"Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật" Khoản 1- Điều 2- Nghị định 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/02/2000 một lần nữa đã tái khẳng định: "Thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật là quyền của công dân và tổ chức được Nhà nước bảo hộ"
1.2.2 Là một chế định pháp luật
Nguyên tắc tự do kinh doanh khi xem xét dưới góc độ pháp luật là tổng hợp các quy định pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành theo một trình tự thủ tục quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp có quyền được tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm
Quyền tự do kinh doanh bao gồm các quy định pháp luật điều chỉnh những vấn đề cơ bản sau đây:
Thứ nhất, là hệ thống các quy phạm pháp luật về kinh tế tạo điều kiện thực hiện quyền tự do kinh doanh
Trong thời kế hoạch hóa tập trung, các công ty, xí nghiệp, hợp tác xã chỉ được ký kết hợp đồng kinh tế theo chỉ tiêu pháp lệnh và phải được cơ quan nhà nước phê duyệt hợp đồng trước khi thực hiện Hiện nay, một trong những cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện thực hiện quyền tự do kinh doanh là Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 29/5/1989 Việc quy định về hợp đồng kinh tế đã tạo cho các chủ thể kinh doanh được tự do ký kết hợp đồng kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh Nếu không được tự do ký kết hợp đồng thì sẽ không thể có quyền tự do kinh doanh
Thứ hai, là quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp quy định những quyền và những nghĩa vụ của doanh nghiệp như các quyền về tài sản, về liên doanh liên kết mở rộng thị
Trang 12trường, về kinh doanh xuất nhập khẩu, về huy động vốn, về tuyển dụng lao động và các nghĩa vụ hoạt động đúng ngành nghề đã đăng ký, kê khai thuế, lập sổä kế toán và báo cáo, bảo đảm chất lượng hàng hóa
Thứ ba, là các biện pháp chế tài trong quá trình sản xuất kinh doanh Đây cũng là một yếu tố nhằm đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh cũng là đảm bảo một phần của quyền tự do kinh doanh Những biện pháp chế tài gồm chế tài hành chính trong các lĩnh vực như thuế, an ninh trật tự , chế tài dân sự như phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, bồi thường thiệt hại , chế tài hình sự như các tội buôn lậu, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm
Thứ tư, là các đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp
Điều 9- Luật Doanh nghiệp quy định những tổ chức và cá nhân sau đây không được thành lập và quản lý doanh nghiệp:
1- Các cơ quan nhà nước, đơn vị trực thuộc lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản của Nhà nước và công quỹ để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
2- Cán bộ,công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ,công chức 3- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan đơn vị thuộc Công an nhân dân
4- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp nhà nước trừ những người được cử làm đại diện để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác
5- Người chưa thành niên, người thành viên bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự
Trang 136- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật
7- Chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, Giám đốc (Tổng giám đốc), Chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản không được quyền thành lập doanh nghiệp
8- Tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam
Các tổ chức này chịu sự điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài
Thứ năm, là quy định các ngành nghề bị cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện
Khoản 2 Điều 6 Luật Doanh nghiệp và Điều 03 - Nghị định 03/2000/CP của Chính phủ ngày 03/02/2000 quy định các ngành nghề bị cấm kinh doanh, đó là kinh doanh vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng và phương tiện kỹ thuật quân sự chuyên dùng của các lực lượng vũ trang; chất nổ, chất độc, chất phóng xạ; chất ma tuý; mại dâm, dịch vụ tổ chức mại dâm, buôn bán phụ nữ, trẻ em; dịch vụ tổ chức đánh bạc, gá bạc; các hoá chất có tính độc hại mạnh; các hiện vật thuộc di tích lịch sử, văn hoá, bảo tàng; các sản phẩm văn hoá phản động, đồi trụy, mê tín, dị đoan hoặc có hại đến giáo dục nhân cách; các loại pháo; thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy định và các loại động vật, thực vật quý hiếm khác cần được bảo vệ; đồ chơi có hại cho giáo dục nhân cách, sức khoẻ của trẻ em hoặc ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Trang 14Ngoài ra, pháp luật còn quy định những ngành nghề khi kinh doanh phải đáp ứng những điều kiện về Giấy phép kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh
1.2.3 Là một trong những nguyên tắc quản lý kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp được tự chủ trong tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp được tự do ký kết hợp đồng , tự do lựa chọn thị trường và đối tác, tự do định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình, tự do đầu tư ở mọi lãnh vực nếu pháp luật không cấm Nhà nước chỉ quản lý điều hành nền kinh tế bằng các chiến lược, chính sách kinh tế mang tính vĩ mô Trong cơ chế thị trường pháp luật phải đảm bảo quyền tự do và tự chủ trong kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và Nhà nước chỉ quản lý nền kinh tế bằng phương pháp kinh tế mà hạn chế tối đa phương pháp mệnh lệnh hành chính
Các phương pháp kinh tế mở rộng quyền hành động cho các cá nhân và các doanh nghiệp, đồng thời cũng tăng trách nhiệm kinh tế của họ Điều đó giúp cho Nhà nước giảm được nhiều việc điều hành, kiểm tra, đôn đốc chi li, vụn vặt mang tính chất sự vụ hành chánh, nâng cao ý thức kỷ luật tự giác của con người và của mọi doanh nghiệp
Ngoài ra, Nhà nước phải có những quy định đảm bảo cho các chủ thể kinh doanh thực hiện trên thực tế quyền tự do kinh doanh của mình khi thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời, các chủ thể kinh doanh phải chấp hành đúng và đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình thành lập, đăng ký kinh doanh và hoạt động
Trang 15sản xuất kinh doanh kể cả những nghĩa vụ của doanh nghiệp do pháp luật quy định
1.3 Ý nghĩa của nguyên tắc tư do kinh doanh
1.3.1 Về chính trị
Hiến pháp năm 1992 đã nâng cao và chú trọng vào các quyền cuả công dân so với các Hiến pháp trước đây , trong đó bao gồm quyền tự do kinh doanh Điều 57 Hiến pháp năm 1992 quy định công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định pháp luật , đây cũng là một phần của quyền con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa Hiến pháp, đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất quy định về quyền tự do kinh doanh cuả công dân , đã thể hiện bản chất của Nhà nước ta làø Nhà nước "của dân, do dân và vì dân", bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật Đây là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.3.2 Về pháp lý
Tự do kinh doanh là cơ sở pháp lý bảo đảm cho nhà đầu tư có quyền sản xuất kinh doanh ở tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm khi đã đáp ứng đầy đủ những điều kiện do luật định Tự do kinh doanh còn nhằm thực hiện và nâng cao hơn nữa hiệu lực quản lý Nhà nước bằng pháp luật Nhà nước khuyến khích, hướng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp và nhân dân đầu tư và phát triển có hiệu quả, phù hợp với định hướng, kế hoạch của Nhà nước Tự do kinh doanh nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện đúng quy định pháp luật do cơ quan nhà nước cĩ thẩm quyền ban hành Tự do kinh doanh nhằm mục đích tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh theo pháp luật, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền chủ thể của mình
1.3.3 Về kinh tế
Trang 16Một trong những động lực phát triển kinh tế là tự do kinh doanh , điều này tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế được tự do đầu tư vốn sản xuất kinh doanh, thu hút mạnh mẽ tất cả các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế khác nhau Hiến pháp quy định quyền tự do kinh doanh tạo điều kiện pháp lý cho tất cả mọi công dân và doanh nghiệp đầu tư vốn và tài sản vào kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm Các loại hình doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều bình đẳng trước pháp luật , cùng cạnh tranh lành mạnh trên thị trường làm đa dạng, phong phú thêm mặt hàng, nâng cao chất lượngg sản phẩm , giá cả hợp lý hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động Đó là ý nghĩa kinh tế của quyền tự do kinh doanh
1.4 Điều kiện đảm bảo thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh
1.4.1 Đặc điểm của nền kinh tế
Quyền tự do kinh doanh có được phát triển hay không, một phần tùy thuộc vào tính chất của nền kinh tế Trước đây nền kinh tế nước ta được xây dựng và phát triển dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, tồn tại dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, trong đó sở hữu toàn dân giữ vai trò chủ đạo Chế độ sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất không được chấp nhận Phù hợp với cơ cấu kinh tế này là cơ chế quản lý hành chính bao cấp Theo cơ chế này, nền kinh tế phải được tổ chức và quản lý theo phương pháp kế hoạch hóa tập trung cao độ và đòi hỏi phải có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Nhà nước bắt buộc các đơn vị kinh tế có liên quan phải ký kết hợp đồng kinh tế và khi các đơn vị kinh tế ký kết hợp đồng kinh tế phải dựa vào chỉ tiêu pháp lệnh Tính kế hoạch đã biến những hợp đồng kinh tế trở thành
Trang 17công cụ đắc lực để xây dựng và thực hiện kế hoạch Nhà nước Do tính chất của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ nên quyền tự do kinh doanh cũng không xuất hiện trong cơ chế kinh tế này
Ngày nay, nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do đó tính chất của nền kinh tế cũng có những đặc trưng riêng, đó là:
a/ Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà chỉ tạo môi trường pháp lý để các doanh nghiệp hoạt động Khi có
vi phạm thì trừng phạt để bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh, thông thoáng
b/ Hoạt động kinh doanh (sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất cho ai ) đều là công việc của các nhà kinh doanh Công cụ tác động vào các hoạt động kinh doanh đó không phải là kế hoạch của Nhà nước mà là nhu cầu của xã hội, mà là thị trường Kinh tế thị trường là kinh tế mà ở đó thị trường quyết định sản xuất
c/ Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa đa hình thức sở hữu đối với tư liệu sản xuất, đa thành phần kinh tế và đa lợi ích, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật
d/ Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế cạnh tranh, lấy cạnh tranh làm động lực phát triển Các doanh nghiệp cạnh tranh để tồn tại và phát triển và doanh nghiệp nào không chịu nổi cơ chế đó thì phải bị phá sản
Trong một nền kinh tế như vậy thì không thể không có tự do kinh doanh Nói cách khác, tự do kinh doanh là sản phẩm tất yếu của kinh tế thị trường đồng thời là đặc điểm nổi bật của nó Tuy nhiên, kinh tế thị trường có các mô hình khác nhau Ở Mỹ có mô hình thị trường tự do Ở Châu Âu có mô
Trang 18hình kinh tế thị trường - xã hội Tuy là kinh tế thị trường nhưng mức độ tự do của 2 loại mô hình này là có khác nhau Ở Mỹ, sự tự do được ghi nhận ở mức độ cao hơn các nước Tây Âu Vì vậy, có thể nói rằng, tự do kinh doanh được quy định trước hết là do tính chất của nền kinh tế (kinh tế kế hoạch hóa hay kinh tế thị trường) và sau đó là còn do mô hình của từng loại hình kinh tế thị trường nữa Ở Việt Nam có kinh tế thị trường nhưng lại được quản lý theo định hướng XHCN, do đó, mức độ tự do kinh doanh ở Việt Nam là không giống như ở các nước có kinh tế thị trường phát triển theo hướng TBCN
Do tính chất của nền kinh tế thị trường là như vậy nên quyền tự do kinh doanh cũng xuất hiện theo như là một sản phẩm tất yếu, một điều kiện không thể thiếu được
1.4.2 Mức độ phát triển của nền kinh tế
Mặc dù mang tính chất là nền kinh tế thị trường, nhưng vào những năm 1986-2000, chúng ta chỉ mới bắt đầu xây dựng nền kinh tế thị trường nên trong giai đoạn này , quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh cũng chưa được luật hóa một cách cụ thể Doanh nghiệp muốn tiến hành bất cứ việc gì từ việc thành lập, đến bổ sung vốn, bổ sung chức năng kinh doanh, lựa chọn ngành, nghề, quy mô kinh doanh hay lựa chọn hình thức đầu tư thì doanh nghiệp vẫn phải "xin" phép Nhà nước và doanh nghiệp chỉ được tiến hành khi được Nhà nước "cho" phép
Ngày nay, sau 15 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường của nước ta đã được khẳng định, đang phát triển và đạt được một số thành tựu đáng kể, do đó, quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh càng phải được luật hóa một cách cụ thể, rõ ràng đồng thời Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật phải đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được thực hiện trọn vẹn trên thực tế
Trang 19Trên cơ sở này mà Nhà nước đã sửa đổi Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành năm 1990 và thay thế bằng Luật Doanh nghiệp nhằm không những thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh mà còn nâng quyền này lên một cầm cao mới, phù hợp với bước phát triển mới của nền kinh tế nước nhà
Tóm lại, khi nền kinh tế phát triển đến một trình độ mới thì quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh cũng phải được nâng tầm để phù hợp với trình độ phát triển kinh tế mới đó
1.4.3 Điều kiện xã hội
Trong một đất nước mà nhận thức của nhân dân, nhận thức xã hội ngày càng được nâng cao thì nhân dân ngày càng đòi hỏi Nhà nước phải tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện quyền của mình bao gồm rất nhiều quyền trong đó có quyền tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh không thể có được khi mà trình độ dân trí trong xã hội còn nghèo nàn, thấp kém và lạc hậu Điều đó giải thích tại sao cũng là kinh tế thị trường, nhưng mức độ tự do trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta trong các giai đoạn khác nhau là không giống nhau Khi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường (trước năm 2000) nhận thức của chúng ta về nền kinh tế này còn hạn hẹp, khả năng làm chủ của chúng ta đối với các hoạt động kinh tế còn hạn chế do đó Nhà nước không thể mở toang cánh cửa cho tự do kinh doanh Vì vậy, trong thời gian này, nguyên tắc tự do kinh doanh đã được khẳng định nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện Ngày nay, sau 15 năm cải cách, hệ thống pháp luật của Nhà nước đã có những cải cách và tiến bộ quan trọng, nhận thức của nhân dân về kinh tế thị trường cũng khác do đó chúng ta mới có đủ điều kiện để mở rộng hơn nữa quyền tự do
Trang 20kinh doanh như một quyền cơ bản của công dân Việc ban hành Luật Doanh nghiệp với nội dung mới của nó đã chứng tỏ điều này
Tóm lại, quyền tự do kinh doanh là một quyền công dân, một chế định pháp luật và là một nguyên tắc quản lý kinh tế Nó mang ý nghĩa quan trọng trên các mặt kinh tế, chính trị, pháp lý Tuy nhiên, sự phát triển của quyền tự
do kinh doanh còn phụ thuộc vào tính chất của nền kinh tế, trình độ phát triển của nền kinh tế và trình độ dân trí
Trang 21CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
TRƯỚC KHI BAN HÀNH LUẬT DOANH NGHIỆP
Sau Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần IV năm 1986 về đổi mới, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành Hai luật này là những luật đầu tiên tạo hành lang pháp lý cho việcï phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam, góp phần chuyển đổi sang nền kinh tế nhiều thành phần
2.1 Những ưu điểm cơ bản
2.1.1 Hiến pháp quy định về quyền tự do kinh doanh
Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp, nước ta chỉ có một số ít tổ hợp hoặc công tư hợp doanh Công ty trong thời kỳ này là các đơn vị kinh tế quốc doanh chuyên hoạt động thương nghiệp dịch vụ như công
ty quốc doanh ăn uống, công ty quốc doanh bách hóa hoặc các đơn vị kinh tế quốc doanh chuyên hoạt động sản xuất như công ty quốc doanh đánh cá, công
ty quốc doanh thủy sản Toàn bộ hoạt động của các công ty quốc doanh phải theo kế hoạch của Nhà nước đặt ra Ngoài công ty quốc doanh của Nhà nước, trên thị trường không có công ty của tư nhân làm chủ Đại hội lần IV của Đảng Cộng sản năm 1986 chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường với
đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hưữ Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân, tạo hành lang pháp lý cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển Hiến pháp 1992 khẳng định sự bảo đảm của Nhà nước đối với hình thức kinh tế này trên cơ sở bảo đảm quyền tự do kinh doanh, tự do hợp đồng, tự do lựa chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, tự do liên doanh liên kết với các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Điều 4 - Luật Công ty, điều 3 - Luật Doanh nghiệp tư nhân và sau này là Điều 57 Hiến pháp năm 1992 đã khuyến khích và đảm bảo cho công dân
Trang 22đầu tư vào hoạt động kinh doanh, mọi cá nhân, tổ chức được quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh cuả mình theo quy định pháp luật
2.1.2 Các đảm bảo thực hiện quyền tự do kinh doanh
Trước năm 1986, Nhà nước bảo hộ đối với thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ (Điều 27 - Hiến pháp 1980) Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường thì công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58 Hiến pháp 1992); kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh (Điều 21 Hiến pháp 1992)
Tính đến hết năm 1998, trên toàn quốc có khoảng 260 công ty cổ phần với tổng số vốn điều lệ là 4.300 tỷ; 10.481 công ty TNHH với tổng số vốn điều lệ là 10.136 tỷ, 25.169 doanh nghiệp tư nhân với tổng số vốn điều là là 4.900 tỷ đồng
Quy định về loại hình doanh nghiệp tư nhân trong Luật Doanh nghiệp tư nhân và loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần trong Luật Công ty tạo tiền đề phát triển những loại hình doanh nghiệp mới nữa nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khu vực kinh tế tư nhân
Không phải Nhà nước đặt ra các quy phạm pháp luật là buộc các chủ thể thực hiện mà tạo điều kiện cho các chủ thể được tự do lựa chọn để tham gia đầy đủ vào các quan hệ kinh tế, nhằm phục vụ mục đích kinh doanh của mình Nếu không có sự điều chỉnh các quan hệ kể trên thì tất yếu sẽ dẫn đến
Trang 23các tác động xấu đến kinh tế xã hội và làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
Tất cả những quy định trong hệ thống pháp luật kinh tế cũng chính là sự đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp khi đã tham gia kinh doanh
2.1.3 Các biện pháp chế tài trong kinh doanh ngày càng hoàn thiện
Nền kinh tế thị trường, ngoài những ưu điểm, những mặt tích cực của nó, còn bộc lộ một số nhược điểm, trong đó có nhược điểm chính là các chủ thể kinh doanh chạy theo lợi nhuận bằng bất cứ biện pháp, phương thức nào Do đó, pháp luật phải có những hình thức can thiệp, chế tài khác nhau tùy theo mức độ của hành vi vi phạm nhằm tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ lợi ích chính đáng của bên bị vi phạm, tạo điều kiện phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
Theo pháp luật hiện hành, Nhà nước áp dụng các biện pháp chế tài như sau đối với các hành vi vi phạm trong kinh doanh
Chế tài dân sự (Chế tài tài sản):
Theo quy định của pháp luật thì trách nhiệm dân sự có 2 loại:
- Phạt vi phạm hợp đồng
- Bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng và trách nhiệm hợp đồng
Phạt vi phạm hợp đồng là việc bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải nộp một khoản tiền cho bên có quyền bị vi phạm; mức phạt vi phạm có thể là một khoản tiền nhất định hoặc được tính theo tỷ lệ phần trăm của giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm nhưng mức cao nhất không quá 5 %
Bồi thường thiệt hại là một nghĩa vụ dân sự, trong đó thể hiện quá trình dịch chuyển lợi ích vật chất từ chủ thể này sang chủ thể khác Khoản lợi ích
Trang 24mà người có hành vi trái pháp luật phải bồi thường bao giờ cũng được xác định thành một khoản vật chất và phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước [ 18 , 16-17 ]
Chế tài hành chính :
Theo quy định của pháp luật, hành vi vi phạm pháp luật hành chánh là hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm phạm các qui tắc quản lý nhà nước, nhưng mức độ nguy hiểm thấp hơn tội phạm
Biện pháp xử lý vi phạm hành chính là việc áp dụng chế tài có tính chất trừng phạt, gây cho đối tượng bị áp dụng thiệt hại về vật chất như: phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm, hoặc thiệt hại về tinh thần như: tước quyền sử dụng giấy phép, cấm kinh doanh, thu hồi giấy phép, tạm thời đình chỉ hoạt động, giải thể, sát nhập [ 27, 8-9 ]
Các biện pháp chế tài hành chính được áp dụng cho các chủ thể kinh doanh trong các lĩnh vực: Quản lý và sử dụng đất đai, nhà ở, môi trường, quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ và kiểm dịch thực vật, lao động, thương mại, y tế, hải quan, văn hóa, thuế, trật tự an toàn giao thông đường bộ, an toàn giao thông đô thị, trật tự an toàn giao thông đường sắt, trật tự an toàn giao thông đường thủy nội địa, quốc phòng, an ninh trật tự, ngân hàng
Chế tài hình sự :
Hình phạt trong Bộ luật hình sự không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu
Trang 25tranh chống và phòng ngừa tội phạm (Điều 27 Bộ luật hình sự của Nước CHXNCN Việt Nam)
Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung gồm các hình thức: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình, cấm đảm nhiệm những chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế, tước một số quyền công dân, tịch thu tài sản
2.1.4 Đổi mới về phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình kinh tế mới đã và đang xuất hiện, các chủ thể kinh doanh thiết lập những mối quan hệ kinh tế rất đa dạng và phức tạp, không phải lúc nào các quan hệ kinh tế được thiết lập cũng được các bên tham gia thực hiện chính xác và đầy đủ Khi xảy ra vi phạm thì tất yếu sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên vi phạm Khi xảy ra vi phạm, pháp luật phải là công cụ quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh đảm bảo lợi ích của Nhà nước và của cộng đồng
Khi nền kinh tế theo cơ chế thị trường càng phát triển, các quan hệ kinh doanh ngày càng đa dạng và phong phú thì sẽ càng xuất hiện nhiều dạng tranh chấp kinh tế mới phức tạp hơn Mà tranh chấp kinh tế nào cũng vậy, chúng cần phải được giải quyết thỏa đáng, nhanh chóng, kịp thời, có như vậy mới bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của chủ thể kinh doanh và tạo môi trường kinh doanh lành mạnh
Theo quy định hiện hành, tại Việt Nam đang tồn tại 02 hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế, đó là hệ thống Tòa kinh tế trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao và hệ thống Trọng tài kinh tế
Trang 26Trọng tài kinh tế Nhà nước trước đây không đáp ứng được đòi hỏi của việc giải quyết tranh chấp kinh tế trong cơ chế mới Ngày 28/12/1993, Quốc hội đã thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, với sự quy định thêm một Tòa chuyên trách mới: Tòa kinh tế Việc thành lập Tòa án kinh tế vừa đảm bảo tính hiệu quả, tính hệ thống, vừa đảm bảo tổ chức bộ máy gọn, nhẹ và sự thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân
Tuy nhiên, thủ tục tố tụng của cơ quan Tòa án bao giờ cũng cứng nhắc và phức tạp, tốn kém về mặt thời gian, người tiến hành tố tụng có thể không hiểu biết đầy đủ về kinh doanh, tín dụng, công nghệ … và bản thân các chủ thể kinh doanh khi có xảy ra tranh chấp đều muốn được giải quyết nhanh, gọn, có hiệu quả, tránh kéo dài vụ việc gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh đồng thời khi Nhà nước chủ trương thực hiện tự do kinh doanh, điều đó cũng có nghĩa là các bên được tự do lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp Vì thế Nhà nước đã quy định 02 loại cơ quan Trọng tài để giải quyết tranh chấp, đó là Trọng tài kinh tế theo Nghị định 116/CP của Chính phủ ngày 05/09/1994 và Trung tâm Trọng tài quốc tế được thành lập theo Quyết định 204/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/04/1993 trên cơ sở hợp nhất Hội đồng Trọng tài Ngoại thương và Hội đồng Trọng tài hàng hải và được đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, với tư cách là một tổ chức Trọng tài phi Chính phủ
Nhằm đảm bảo cho các chủ thể kinh doanh thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình, Nhà nước đã thành lập cơ quan tài phán mới, đó là Tòa hành chính nằm trong hệ thống Tòa án nhân dân nhằm giải quyết, xét xử các hành
vi của cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh trong việc cấp giấy phép, thu hồi giấy phép
Trang 27kinh doanh, trong việc quản lý đất đai, trưng dụng, trưng mua tài sản, tịch thu tài sản, thu thuế, truy thu thuế, thu phí, lệ phí, và các hành vi hành chính khác theo quy định của pháp luật
2.2 Những hạn chế của quy định pháp luật về thực hiện quyền tự do kinh doanh
Ngoài những uư điểm , những mặt tích cực như đã nêu trên thì hệ thống pháp luật này cũng còn nhiều hạn chế Đó là :
2.2.1 Phải xin phép thành lập doanh nghiệp
Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân quy định nhà đầu tư muốn thành lập doanh nghiệp phải tiến hành hai thủ tục là xin phép thành lập và đăng ký kinh doanh Việc đăng ký để được kinh doanh là điều bình thường , phổ biền tại các nước Tuy nhiên, điểm khác là trước khi đăng ký kinh doanh, các nhà đầu tư phải xin phép thành lập doanh nghiệp tại Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh Trình tự thành lập , thủ tục , giấy tờ hết sức phức tạp , hình thức không rõ ràng, thời gian tốn kém và kéo dài là một trong các yếu tố làm mất
đi cơ hội kinh doanh cuả nhà đầu tư
Hiến pháp 1992, đã quy định " Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật ", nhưng điều đầu tiên , đó là quyền tự do thành lập doanh nghiệp lại bị hạn chế Đây là một trong những quy định đầu tiên và cơ bản gây hạn chế quyền tự do kinh doanh cho công dân mặc dù công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật
2.2.2 Thủ tục hồ sơ thành lập doanh nghiệp phức tạp và không cần thiết
Điều 8, 9 - Luật Doanh nghiệp tư nhân và Điều 14, 15 - Luật Công ty quy định để thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư phải xin phép thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh Hồ sơ xin phép thành lập và hồ sơ đăng
Trang 28ký kinh doanh là cả một khối lượng giấy tờ gồm đơn xin phép thành lập, giấy chứng nhận về vốn, biên bản góp vốn, danh sách góp vốn, hồ sơ về mặt bằng sử dụng làm trụ sở công ty, phương án kinh doanh ban đầu, bản điều lệ, sơ yếu lý lịch, giấy khám sức khỏe, giấy xác nhận không can án, các quyết định nghỉ việc nếu là viên chức Nhà nước Theo Thông tư số 472/PLDSKT của Bộ Tư Pháp ngày 02/05/1993 về việc hướng dẫn thủ tục và thời hạn cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty thì hồ sơ cá nhân của sáng lập viên gồm có sơ yếu lý lịch, trong đó có xác nhận của công an xã, phường, thị trấn về địa chỉ thường trú và việc không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc nếu bị kết án thì đã được xóa án, giấy xác nhận của sáng lập viên về tình trạng thần kinh bình thường, giấy khám sức khỏe, đối với sáng lập viên là tổ chức phải bản sao quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh có chứng nhận của công chứng Nhà nước, nếu sáng lập viên là hợp tác xã phải có nghị quyết của đại hội xã viên Ngoài ra tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh còn quy định nếu sáng lập viên là cá nhân thường trú tại tỉnh khác thì phải có công văn giới thiệu của UBND cấp tỉnh nơi công dân đó có hộ khẩu thường trú về việc đồng ý cho công dân đó góp vốn thành lập doanh nghiệp tại Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh Theo Luật Công ty, thời hạn cấp giấy phép là
60 ngày sau đó doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh trong vòng
180 ngày nhưng trên thực tế để thành lập công ty, nhà đầu tư phải tốn thời gian khoảng 03 đến 04 tháng, chưa kể doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề cần phải có giấy phép hành nghề thì thời gian để thành lập doanh nghiệp càng kéo dài hơn:
Ví dụ : Theo Luật Công ty, để thành lập doanh nghiệp kinh doanh nhà hàng, khách sạn, doanh nghiệp phải có Giấy chứng nhận đảm bảo đủ điều kiện an ninh trật tự, Giấy xác nhận đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy,
Trang 29Giấy phép hành nghề khách sạn, Giấy phép thành lập và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Để có đủ các giấy phép nêu trên, chủ doanh nghiệp phải tốn thời gian khoảng 06 tháng làm mất đi cơ hội kinh doanh
Những quy định này trái với Hiến pháp 1992 đồng thời lại cản trở việc thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh
2.2.3 Vốn pháp định là một trong những điều kiện bắt buộc khi thành lập doanh nghiệp
Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có do pháp luật quy định phù hợp với từng ngành nghề kinh doanh khi nhà đầu tư xin phép thành lập doanh nghiệp Vốn pháp định được quy định trong 18 ngành nghề của doanh nghiệp
tư nhân theo Nghị định số 221/HĐBT và 18 ngành nghề của công ty với mức vốn pháp định cao hơn doanh nghiệp tư nhân theo Nghị định số 222/HĐBT và Nghị định 26/1998/NĐ-CP năm 1998 Mục đích của quy định về vốn pháp định nhằm đảm bảo rủi ro trong hoạt động kinh doanh, là bảo đảm tối thiểu của doanh nghiệp trong mọi giao dịch nhưng trên thực tế quy định này lại không đạt được kết quả như mong muốn và mang tính hình thức vì những lý
do sau:
Thứ nhất, kinh doanh là hoạt động đa dạng, doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu về vốn theo giá cả thị trường nên việc quy định số vốn tối thiểu và cố định cho từng ngành nghề là không hợp lý và không phù hợp thực tiễn thị trường mỗi ngày mỗi biến động Mặt khác, cũng không có cơ sở nào để quy định doanh nghiệp tư nhân kinh doanh thương mại dịch vụ thì vốn pháp định là 250 triệu đồng, mà không phải là con số khác
Thứ hai là, theo quy luật thị trường, doanh nghiệp khi kinh doanh, phải có một số vốn nhất định thì mới có thể thực hiện các giao dịch được Việc quy
Trang 30định vốn pháp định trong từng ngành nghề là không cần thiết vì doanh nghiệp đã tự thu xếp nguồn vốn phục vụ kinh doanh
Thứ ba, vốn pháp định không phát huy được tác dụng như mong muốn, nhà đầu tư có nhiều cách để vô hiệu hóa sự có thật của vốn mà Nhà nước không có biện pháp hữu hiệu nào để ngăn chặn như việc nhà đầu tư vay tiền Ngân hàng để xác nhận vốn, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nhà đầu tư rút tiền trả lại Ngân hàng
Thứ tư, vốn pháp định gây hại cho nhà kinh doanh ít vốn nhưng có nhiệt tình và giỏi tay nghề kinh doanh Vì không đủ vốn pháp định nên họ không thể thành lập doanh nghiệp được, gây hại cho bản thân họ, đồng thời gây hại cho nền kinh tế nói chung, trái với chủ trương huy động mọi nguồn nhân lực để phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước
Thứ năm, thủ tục xác định vốn pháp định gây tốn kém thì giờ và tiền bạc cho nhà đầu tư
Thứ sáu, việc quy định vốn pháp định tạo điều kiện tiêu cực phát sinh từ phía cán bộ, viên chức Nhà nước có thẩm quyền xác nhận vốn
Thứ bảy là , vốn pháp định có thể gây nhầm lẫn đối với các đối tác của công ty, doanh nghiệp tư nhân cũng như chủ nợ không có kinh nghiệm , có thể gây thiệt hại cho lợi ích của họ
Như vậy, vốn pháp định trên thực tế đã là công cụ "lợi bất cập hại" và càng ngày càng trở thành công cụ hạn chế tự do kinh doanh
Nguyên tắc tự do kinh doanh tức là mọi công dân được quyền kinh doanh theo quy định pháp luật Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty quy định khi thành lập doanh nghiệp, nhà đầu tư phải có một số vốn tối thiểu do pháp luật quy định Quy định này vô tình gây cản trở cho mọi công dân khi thành lập doanh nghiệp mặc dù công dân có ý tưởng kinh
Trang 31doanh nhưng không đủ vốn pháp định Quy định này còn gây ra tình trạng vay mượn tiền để chứng minh vốn pháp định, sau khi đi vào hoạt động thì trên thực tế, doanh nghiệp vẫn không đủ vốn pháp định theo quy định
2.2.4 Chưa quy định đầy đủ các loại hình doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế
Trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp, tại Việt Nam có 08 loại hình doanh nghiệp gồm doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, của các tổ chức chính trị-xã hội, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty liên
doanh, công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài
Ngoài ra, Nhà nước còn quy định loại hình cá nhân và nhóm kinh doanh có vốn thấp hơn mức vốn pháp định theo Nghị định 66/HĐBT dành cho những người ít vốn, kinh doanh ở qui mô nhỏ, không thành lập doanh nghiệp
Dựa vào mối quan hệ giữa các thành viên công ty , thì trên thế giới có
02 loại công ty chủ yếu là công ty đối nhân và công ty đối vốn
Luật Công ty năm 1990 chỉ quy định công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần là các loại hình công ty đối vốn còn loại hình công ty đối nhân thì chưa quy định Ngoài doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn nước ngoài, hợp tác xã thì khu vực kinh tế tư nhân chỉ có loại hình công ty đối vốn là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần mà chưa có loại hình công ty đối nhân như các nước trên thế giới
2.2.5 Bất bình đẳng giữa các loại hình doanh nghiệp
Một trong những đặc trưng cuả nền kinh tế thị trường là tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, dù là thành phần kinh tế nhà nước hay tư nhân Nhưng, trên thực tế các quy định vẫn chưa thật sự tạo được môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế nhà nước
Trang 32và kinh tế của tư nhân Do kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo nên các doanh nghiệp của Nhà nước được Nhà nước dành rất nhiều điều kiện thuận lợi trong kinh doanh, gây ra tình trạng bất bình đẳng trong kinh doanh giữa doanh nghiệp của nhà nước và doanh nghiệp của tư nhân trên thị trường Một số lãnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân phải thông qua đầu mối là doanh nghiệp nhà nước Như Nhà nước thành lập một số doanh nghiệp nhà nước có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu nhưng lại không có khả năng về vốn và thị trường, doanh nghiệp tư nhân thường đứng
ra làm trung gian hoặc ủy thác doanh nghiệp nhà nước thực hiện các thương vụ mà thực chất là doanh nghiệp nhà nước, bán chức năng hưởng phí
Một nguyên nhân nữa dẫn đến doanh nghiệp tư nhân núp dưới bóng doanh nghiệp nhà nước vì doanh nghiệp nhà nước được độc quyền trong một số lĩnh vực, chức năng hoạt động kinh doanh như các lĩnh vực khai thác khoáng sản, điện, nước, bưu chính viễn thông Chúng ta chấp nhận cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì chấp nhận cạnh tranh và như vậy phải loại bỏ sự độc quyền vì độc quyền làm phát sinh tiêu cực và trì trệ
Ngoài ra, doanh nghiệp nhà nước có cơ quan chủ quản, có vốn, có cơ chế ưu đãi về vay tín dụng, thuế có sự bảo hộ của Nhà nước trong khi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không ai "quản" ngoài cơ quan thuế hàng tháng đến xem xét để tận thu thuế Chẳng những thế, nhiều Bộ còn dành việc
ưu tiên cấp giấy phép cho các doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ, Ngành mình coi đó như là đặc quyền của ngành vậy Điều này trái với quy định : " Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật " , trái với quan điểm công dân có quyền kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm
Trang 332.2.6 Số lượng giấy phép quá nhiều và không cần thiết
Giấy phép là công cụ không thể thiếu của Nhà nước trong việc quản lý kinh tế- xã hội Giấy phép một mặt nhằm giúp Nhà nước quản lý, kiểm tra các hoạt động trong đời sống xã hội, một mặt nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng
Tại Việt Nam, do ảnh hưởng nhiều năm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp nặng nề nên cơ chế quản lý và chính sách kinh tế của hệ thống quản lý Nhà nước đối với các lọai hình doanh nghiệp chưa đảm bảo tính đồng bộ, nhất quán, khoa học và thực tiễn, cơ chế "xin - cho" với những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp, tiền kiểm thì khó khăn, phiền hà, nhũng nhiễu còn hậu kiểm thì buông lỏng, thả nổi hoặc vi phạm nặng nề vào quyền tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời một bộ phận không nhỏ đội ngũ nhân viên chức bất cập về năng lực, trình độ quản lý và xuống cấp về đạo đức phẩm chất gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính Chính từ những nhược điểm trên của hệ thống quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh nên đã tạo ra vô số giấy phép Có loại giấy phép căn cứ vào luật, nghị định, có tác dụng tích cực trong công tác quản lý Nhà nước nhưng phần lớn các loại giấy phép còn lại khi ban hành mặc dù vẫn ghi là căn cứ vào luật, nghị định nhưng khi kiểm tra lại thì không có căn cứ nào cả Nhóm các giấy phép loại này vừa mang tính hình thức, không cần thiết lại dễ gây ra tiêu cực khi xem xét cấp và gia hạn giấy phép
Việc mỗi ngành tự ban hành giấy phép kinh doanh hoặc điều kiện kinh doanh riêng cho ngành mình dẫn đến tình trạng có quá nhiều rào cản đối với doanh nghiệp khi kinh doanh Điều này, dẫn đến quyền tự do kinh doanh của công dân chưa được đảm bảo thực hiện đầy đủ trong thực tế hay nói cách khác là quyền tự do kinh doanh của công dân chưa được đảm bảo
Trang 34Tuy nhiên, để đảm bảo công dân kinh doanh đúng quy định pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong kinh doanh, cũng cần phải ban hành một số giấy phép kinh doanh hoặc điều kiện kinh doanh trong trường hợp cần thiết như các lĩnh vực y tế, sản xuất …
Tóm lại, Luật Công ty , Luật Doanh nghiệp tư nhân một mặt đã có những quy định tích cực tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển nhưng cũng còn một số hạn chế gây khó khăn, cản trở cho hoạt động kinh doanh như thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh rườm rà, phức tạp bao gồm 02 giai đoạn là xin phép thành lập tại UBND cấp Tỉnh và đang ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế, các thành phần hồ sơ khi thành lập doanh nghiệp quá nhiều và quá phức tạp và không cần thiết, chưa đa dạng loại hình doanh nghiệp cho nhà đầu tư chọn lựa, các quy định về vốn pháp định mang tính hình thức, quy định về giấy phép kinh doanh hoặc điều kiện kinh doanh gây cản trở cho hoạt động kinh doanh
Trên cơ sở tổng kết thi hành Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 và yêu cầu thực tiễn của thị trường , ngày 12/6/1999 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Doanh nghiệp - một đạo luật quan trọng trên cơ sở thống nhất Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân với nội dung hoàn thiện hơn nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta và hiện thực hóa nguyên tắc tự do kinh doanh được quy định trong Hiến pháp
Trang 35CHƯƠNG 3 ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP VỀ QUYỀN TỰ DO KINH DOANH
Luật Doanh nghiệp ra đời là một bước hoàn thiện mới rất quan trọng của pháp luật nước ta đối với quyền tự do kinh doanh của công dân
Làm được điều này là vì Luật Doanh nghiệp đã ghi nhận được một loạt các quy định mới; các quy định này có tác dụng rất lớn trong việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện nguyên tắc tự do kinh doanh
Những quy định mới trong Luật Doanh nghiệp theo tôi, đó là:
3.1 Bổ sung đối tượng có quyền góp vốn
Góp vốn là một hành vi kinh doanh Luật Doanh nghiệp đã tạo điều kiện cho tự do kinh doanh phát triển bằng cách đưa ra nhiều quy định mới về vấn đề này Ví dụ, khác với Luật Công ty 1990 là Luật không làm rõ trong ba hành vi là hành vi góp vốn, hành vi thành lập và hành vi quản lý doanh nghiệp thì cán bộ, công chức được làm và không được làm hành vi gì, Luật Doanh nghiệp đã xử lý vấn đề này bằng cách đưa ra hai điều luật quy định riêng về quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp (Điều 9) và quyền góp vốn (Điều 10) Trừ những trường hợp không được phép được quy định trong các điều luật đó, mọi cá nhân, tổ chức đều có các quyền này
Một nhược điểm nữa của Luật Công ty là chỉ quy định cho công dân Việt Nam mới có quyền góp vốn thành lập công ty (Điều 6) Luật Doanh nghiệp đã khắc phục nhược điểm này bằng cách mở rộng thành phần được góp vốn thông qua việc quy định các tổ chức nước ngoài, người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng có quyền góp vốn vào công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (khoản 2 Điều 10)
Trang 36Luật Công ty cũng không đề cập vấn đề góp vốn của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thông qua người giám hộ Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Dân sự thì những người này có thể thực hiện các hành vi dân sự
vì lợi ích của mình thông qua người giám hộ Góp vốn kinh doanh, suy cho cùng cũng là một hành vi dân sự thông thường, do đó, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cũng có thể thực hiện hành vi này nhưng không phải một cách trực tiếp mà thông qua hành vi pháp lý của người đại diện hợp pháp của mình - người giám hộ Luật Doanh nghiệp đã giải quyết vấn đề này theo hướng đó, tức là bất cứ ai có quyền thiết lập quan hệ dân sự bình thường thì cũng có quyền góp vốn vào công ty bằng những hình thức và cách thức khác nhau
Một trong những khía cạnh của tự do kinh doanh là quyền được xử lý theo ý chí của mình đối với vốn đã góp vào công ty Vì vậy, việc quy định về quyền của người góp vốn vào công ty đối với tài sản của họ cũng là vấn đề mà Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp năm 2000 rất quan tâm giải quyết Tuy nhiên, ở hai Luật này, cách xử lý vấn đề này là không giống nhau Theo Luật Công ty, thì quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty TNHH đối với tài sản của mình đã góp vào công ty bị hạn chế rất gắt gao Điều này thể hiện ở chỗ người góp vốn chỉ có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người ngoài công ty khi được sự đồng ý của số hội viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty TNHH Để đạt được một tỷ lệ vốn đồng ý như vậy thật là điều không dễ Luật Doanh nghiệp đã xử lý vấn đề này một cách linh hoạt và tự do hơn, thể hiện ở chỗ, người muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình ra ngoài công ty không cần phải tìm kiếm sự đồng ý của số hội viên còn lại của công ty Họ chỉ cần phải thông báo cho các thành viên khác biết ý định của mình để những người này thực
Trang 37hiện quyền ưu tiên mua trước Nếu những thành viên này không mua hoặc mua không hết, thì thành viên công ty có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bất cứ ai bên ngoài công ty Một quy định mềm dẻo như vậy rõ ràng là một bước hoàn thiện rất lớn trong việc quy định địa vị pháp lý của các thành viên công ty TNHH, và suy cho cùng là một đảm bảo pháp lý cho việc thực hiện quyền tự do kinh doanh ở nước ta
3.2 Đổi mới thủ tục đăng ký kinh doanh
Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty quy định nhà đầu tư muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh phải xin phép thành lập doanh nghiệp Hồ sơ thành lập phải nộp cho cơ quan Nhà nước bao gồm nhiều loại giấy tờ có xác nhận của các cơ quan khác nhau Điều này , đã gây rất nhiều phiền hà, cản trở cho nhà đầu tư Để khắc phục nhược điểm này, nhằm khuyến khích cho mọi công dân và doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh, Luật Doanh nghiệp không còn quy định thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp như trước đây mà thay bằng thủ tục đăng ký kinh doanh rõ ràng, cụ thể, đơn giản và dễ thực hiện
Luật Doanh nghiệp đã xóa bỏ chế độ xin phép thành lập này là nhằm đề cao quyền tự do kinh doanh của chủ thể kinh doanh
Việc xóa bỏ thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp là một bước cải cách hành chính trong kinh tế nhằm mở rộng quyền kinh doanh của chủ thể Luật Doanh nghiệp xóa bỏ thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp xuất phát từ những lý do sau :
Thứ nhất, thủ tục này là điển hình của cơ chế xin cho, khơng phù hợp với quan điểm đổi mới
Trang 38Thứ hai, thủ tục này tạo điều kiện tiêu cực trong bộ máy các cơ quan liên quan như UBND phường, xã, Công an Phường, xã, bệnh viện, cơ quan Công chứng, Ngân hàng
Thứ ba, thủ tục này làm phát sinh thêm khối lượng công việc ngoài nhiệm vụ chính của các cơ quan như UBND phường, xã, Công an Phường, xã, bệnh viện, cơ quan Công chứng, Ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các nhiệm vụ chính của các cơ quan này
Thứ tư, thủ tục này gây tốn kém rất nhiều thời gian của người dân và mang nặng tính hình thức vì để hoàn thành thủ tục này cần phải hoàn thành chứng nhận của Ủy ban nhân dân phường, xã về lý lịch và hộ khẩu thường trú, xác nhận nhà đầu tư không có tiền án, tiền sự của cơ quan Công an, giấy chứng nhận không bị bệnh tâm thần của người xin phép thành lập doanh nghiệp, chứng nhận của Phòng công chứng về tài sản góp vốn là hiện vật, chứng nhận của Ngân hàng về vốn là tiền mặt gửi tại ngân hàng, xác nhận về địa chỉ trụ sở, phương án kinh doanh ban đầu
Để khắc phục những hạn chế của quy định về thành lập doanh nghiệp tại Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp đã quy định "Người thành lập doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh … Cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh" (Khoản 1 và 2 Điều 12 Luật Doanh nghiệp)
Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân quy định doanh nghiệp sau khi được cấp giấy phép thành lập tại Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thì phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại Trọng tài kinh tế Doanh nghiệp phải hoàn tất thủ tục đăng ký kinh doanh mới được tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu doanh nghiệp kinh doanh những ngành nghề yêu cầu phải có giấy
Trang 39phép hành nghề thì sau khi được cấp giấy phép hành nghề mới được tiến hành đăng ký kinh doanh Hồ sơ đăng ký kinh doanh bao gồm giấy phép thành lập, giấy phép hành nghề, giấy xác nhận về vốn cuả Ngân hàng, giấy chứng nhận vốn cuả cơ quan công chứng, hồ sơ về trụ sở doanh nghiệp, điều lệ, danh sách thành viên Hội đồng quản trị
Nay, theo quy định từ Điều 12 đến Điều 25 Luật Doanh nghiệp và Nghị định số 02/ 2000/ NĐ - CP thì nhà đầu tư khi thành lập doanh nghiệp phải lập và nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh Hồ sơ này bao gồm đơn đăng ký kinh doanh, điều lệ đối với công ty, danh sách thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, danh sách thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, danh sách cổ đông sáng lập đối với công ty cổ phần, đối với doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định đòi hỏi phải có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề thì doanh nghiệp đó chỉ được đăng ký kinh doanh khi có đủ vốn hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
Ngoài các hồ sơ nêu trên, cơ quan đăng ký kinh doanh không có quyền yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ, hồ sơ khác ngoài hồ sơ quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp
Theo quy định mới về đăng ký kinh doanh tại Luật Doanh nghiệp thì không còn thủ tục xin phép thành lập nữa mà thủ tục thành lập và thủ tục đăng ký kinh doanh được gom lại còn một thủ tục là đăng ký kinh doanh Hồ
sơ đăng ký kinh doanh đơn giản hơn rất nhiều so với quy định về đăng ký kinh doanh tại Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Luật Doanh nghiệp bãi bỏ các thủ tục và hồ sơ về chứng nhận vốn pháp định, phương án