Các công ước quốc tế nói chung và Công ước đa dạng sinh học nói riêng cùng hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam nói chung và Luật Đa dạng sinh học nói riêng đã phần nào đảm bảo các khí
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
NGUYỄN KIM THANH XUÂN
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO VỆ
ĐA DẠNG SINH HỌC
Ở VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Chuyên ngành Luật Thương mại
TP HCM – 2011
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO VỆ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan: Khóa luận “Khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Võ Trung Tín; các thông tin, số liệu trong bài viết là trung thực
Tác giả xin hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với lời cam đoan trên
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Kim Thanh Xuân
Trang 418/2004/TT-Nghị định 23/2006/NĐ-CP thi hành Luật Bảo
vệ và Phát triển rừng
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật
rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm
Nghị định số 32/2006/NĐ-CP
Nghị định 82/2006/NĐ-CP về quản lý hoạt
động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập
nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh
trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật,
thực vật hoang dã, nguy cấp, quý, hiếm
Nghị định số 82/2006/NĐ-CP
Quyết định 07/2007/QĐ-BNN thành lập cơ
quan quản lý Công ước về buôn bán quốc tế các
loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Quyết định số BNN
07/2007/QĐ-Nghị định 57/2008/NĐ-CP về quản lý các khu
bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc
gia và quốc tế
Nghị định số 57/2008/NĐ-CP
Quyết định 82/2008/QĐ-BNN về việc công bố
Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy
cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ,
Quyết định số BNN
Trang 582/2008/QĐ-phục hồi và phát triển
Thông tư 23/2010/TT-BTNMT về điều tra khảo
sát, đánh giá hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ
biển và đất ngập nước vùng ven biển và hải đảo
Thông tư số BTNMT
23/2010/TT-Thông tư 36/2010/TT-BTNMT về định mức
kinh tế - xã hội điều tra khảo sát, đánh giá hệ
sinh thái san hô, hệ sinh thái cỏ biển và đất
ngập nước vùng ven biển và hải đảo
Thông tư số BTNMT
36/2010/TT-Thông tư 59/2010/TT-BNNPTNT ban hành
danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã
thuộc quản lý của Công ước về buôn bán quốc
tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
Thông tư số 59 BNNPTNT
/2010/TT-Quyết định 742/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy
hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến
năm 2020
Quyết định số 742/QĐ-TTg
Nghị định 65/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và
hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa
Trang 6MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU - 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM - 5
1.1 Khái niệm đa dạng sinh học và sự cần thiết phải có các quy định pháp luật về đa dạng sinh học ở Việt Nam 5
1.1.1 Khái niệm đa dạng sinh học 5
1.1.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học 5
1.1.1.2 Giá trị của đa dạng sinh học 7
1.1.2 Sự cần thiết phải có các quy định pháp luật về đa dạng sinh học ở Việt Nam 10
1.1.2.1 Sự đa dạng sinh học ở Việt Nam 10
1.1.2.2 Sự suy thoái đa dạng sinh học và những tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học ở Việt Nam hiện nay 13
1.2 Sơ lược quá trình phát triển các quy định của pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam trong thời gian qua 18
1.2.1 Giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập Công ước về Đa dạng sinh học 18
1.2.2 Giai đoạn từ khi Việt Nam gia nhập Công ước về Đa dạng sinh học đến nay 20
Kết luận chương 1 22
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM - 23
2.1 Các nguyên tắc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam 23
2.1.1 Nguyên tắc bảo tồn đa dạng sinh học là trách nhiệm của Nhà nước và mọi tổ chức, cá nhân 23
2.1.2 Nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn với khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo 24
Trang 72.1.3 Nguyên tắc bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với
bảo tồn chuyển chỗ 25
2.1.4 Nguyên tắc tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân 25
2.1.5 Nguyên tắc bảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gien gây ra đối với đa dạng sinh học 26
2.2 Pháp luật về bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên 27
2.2.1 Quy hoạch khu bảo tồn theo Luật Đa dạng sinh học 27
2.2.2 Quy hoạch khu bảo tồn đất ngập nước tự nhiên 30
2.2.3 Quy hoạch khu bảo tồn biển 32
2.2.4 Quy hoạch khu bảo tồn rừng đặc dụng 33
2.3 Pháp luật về bảo vệ các loài sinh vật 35
2.3.1 Pháp luật về bảo vệ động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm 35
2.3.2 Pháp luật về kiểm soát loài ngoại lai xâm hại 41
2.4 Pháp luật về bảo vệ tài nguyên di truyền 43
2.4.1 Pháp luật về quản lý, tiếp cận và chia sẻ tài nguyên di truyền 44
2.4.2 Pháp luật về bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gien 47
Kết luận chương 2 49
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN - 50
3.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam 50
3.1.1 Nguyên nhân đến từ tính khả thi của luật pháp về bảo tồn trên thực tiễn và sự thiếu vắng những quy định cụ thể 50
3.1.2 Nguyên nhân đến từ sự mâu thuẫn trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học 50
3.1.3 Nguyên nhân đến từ khả năng thực hiện việc quản lý trên thực tế 51
3.1.4 Nguyên nhân đến từ khả năng nhận thức và áp dụng pháp luật của người dân 54
Trang 83.2 Một vài đề xuất đối với pháp luật và thực tiễn bảo vệ đa dạng sinh
học 56
3.2.1 Vấn đề áp dụng pháp luật khi xảy ra mâu thuẫn 56
3.2.2 Vấn đề quy hoạch khu bảo tồn 56
3.2.3 Vấn đề pháp điển hoá việc bảo tồn rạn san hô và thảm cỏ biển 58
3.2.4 Vấn đề quy định việc quản lý đối với các loài nguy cấp, quý, hiếm ở các hệ sinh thái khác ngoài hệ sinh thái rừng 59
3.2.5 Vấn đề liên quan đến việc quản lý, tiếp cận và chia sẻ tài nguyên di truyền 59
3.2.6 Vấn đề liên quan đến bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gien 61
3.2.7 Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ đa dạng sinh học tiến đến đồng quản lý tài nguyên 61
Kết luận chương 3 63
KẾT LUẬN - 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam được ghi nhận là một trong những nước có mức đa dạng sinh học cao với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và cũng là nơi dự trữ nhiều nguồn gien hoang dã có giá trị của thế giới
Tuy nhiên, những năm gần đây, hệ sinh học đa dạng của Việt Nam đang bị suy thoái với tốc độ rất nhanh do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và các hành vi đối xử bất hợp lý của con người tới các nguồn tài nguyên thiên nhiên Diện tích các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần Bên cạnh đó, số loài, nguồn gien hoang dã bị suy giảm, một số loài có nguy cơ tuyệt chủng cao
Trước tình hình đó, Việt Nam đã sớm tham gia Công ước Đa dạng sinh học từ năm
1994 và Luật Đa dạng sinh học đã được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 Các công ước quốc tế nói chung và Công ước đa dạng sinh học nói riêng cùng hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam nói chung và Luật Đa dạng sinh học nói riêng đã phần nào đảm bảo các khía cạnh pháp lý cho hoạt động bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam và cũng đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước ta đối với công tác bảo vệ nguồn đa dạng sinh học hiện có
1.2 Điểm lược tình hình nghiên cứu
Trong thời gian vừa qua, đã có khá nhiều bài viết của một số luật gia, những nhà nghiên cứu luật pháp về lĩnh vực môi trường nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng Song, đối với mảng đa dạng sinh học và pháp luật về đa dạng sinh học thì vẫn chưa hiện hữu nhiều bài nghiên cứu dưới góc độ tổng hợp Điểm qua một vài bài viết như đề tài
“Luật quốc tế về bảo vệ đa dạng sinh học và vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” của tác giả Kim Thị Hạnh trong Hội nghị nghiên cứu của Sinh viên lần thứ 2 năm 1998, luận văn cử nhân “Khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” cuả
Lê Võ Thị Ánh Trinh năm 2005, bài viết “Những khía cạnh pháp lý quốc tế của đa dạng sinh học và sự thể hiện của chúng trong pháp luật Việt Nam” của tác giả Lê Hồng Hạnh trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2 (202) năm 2005 và “Luật Đa dạng sinh học năm 2008: hướng tiếp cận và những nội dung chủ yếu” của tác giả Vũ Thu Hạnh trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12 (260) năm 2009… tác giả nhận thấy dù pháp luật về bảo vệ
đa dạng sinh học đã có bước tiến không nhỏ từ khi Luật Đa dạng sinh học năm 2008 ra
Trang 10đời nhưng các bài viết, các công trình về pháp luật bảo vệ đa dạng sinh học vẫn còn chưa thật phong phú
Xuất phát từ tính cấp thiết của đề tài và nhìn nhận từ thực tiễn nghiên cứu, tác giả
đã chọn đề tài “Khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam” để làm
đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình, nhằm mục đích dựa trên cơ sở những kiến thức đã được học và tình hình áp dụng tìm được trên thực tế, có thể đưa đến người đọc một cái nhìn đầy đủ hơn, mang tính toàn diện hơn về pháp luật bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam, nhất là giai đoạn từ khi Luật Đa dạng sinh học năm 2008 ra đời
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Với đề tài này, mục đích mà tác giả đặt ra là: có thể tìm hiểu và đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành một cách toàn diện hơn, đối chiếu những quy định pháp luật hiện hành với nhau, thông qua đó tìm thấy những vướng mắc của quy định pháp luật, phân tích những hạn chế bất cập trong thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần xây dựng những quy định pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học sao cho ngày càng phù hợp hơn với tình hình thực tế của Việt Nam cũng như quy định của các điều ước quốc tế
2.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nói trên đề tài có nhiệm vụ:
Nhìn nhận sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh trong vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học
Hệ thống hóa một số quy định pháp luật về công tác quản lý ba hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam; công tác quản lý và khai thác đối với động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, việc gây nuôi động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, kiểm soát loài ngoại lai xâm hại; việc quản lý, tiếp cận
và chia sẻ tài nguyên di truyền, vấn đề bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gien
Phân tích cơ sở pháp lý và những bất cập trong các quy định pháp luật lĩnh vực này ở Việt Nam
Trên cơ sở thực trạng áp dụng, tác giả có những nhận định về mặt tiến bộ
và hạn chế trong quy định pháp luật về vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam và từ đó, kiến nghị một vài phương hướng hoàn thiện
Trang 113 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đa dạng sinh học là một phạm trù rất rộng, các khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng rất phong phú Do đó, trong phạm vi hiểu biết còn nhiều hạn hẹp của mình, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cụ thể sau:
3.1 Về mặt lý luận
Tác giả làm rõ khái niệm đa dạng sinh học cùng các giá trị của đa dạng sinh học, từ
đó cho thấy sự cần thiết phải có pháp luật điều chỉnh việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam; mặt khác, điểm sơ lược qua quá trình phát triển các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ đa dạng sinh học
Bên cạnh đó, trong khả năng của mình, tác giả cố gắng làm rõ quy định pháp luật Việt Nam trong việc bảo tồn ba hệ sinh thái tiêu biểu là hệ sinh thái tự nhiên trên các vùng đất ngập nước tự nhiên, hệ sinh thái tự nhiên trên biển và hệ sinh thái rừng đặc dụng; trong việc quản lý và khai thác động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, gây nuôi động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, kiểm soát loài ngoại lai xâm hại; trong việc quản lý, tiếp cận và chia sẻ tài nguyên di truyền, vấn đề bản quyền tri thức truyền thống về nguồn gien
3.2 Về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật
Từ nhận thức về mặt lý luận trên, bài viết có sự đối chiếu với thực trạng áp dụng pháp luật để tìm ra những điểm cần hoàn thiện và đề xuất những kiến nghị cho pháp luật
về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam trong tương lai
4 CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng:
Phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp luận duy vật lịch sử của triết học Marx – Lenin
Và các phương pháp nghiên cứu cụ thể:
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp so sánh
Trong trường hợp cần thiết, tác giả cũng sử dụng cả phương pháp liệt kê, trích dẫn,
ví dụ như: liệt kê một vài quy định của pháp luật, viện dẫn ý kiến của một tác giả hay một nhà nghiên cứu
Trang 125 ĐÓNG GÓP CỦA KHÓA LUẬN VÀ BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Đóng góp của khóa luận
Thông qua nghiên cứu, tác giả phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản cũng như thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học Đồng thời, cung cấp cho người đọc những ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu luật học cũng như ý kiến của tác già trong mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu, chia sẻ, hoàn thiện pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam
Đề tài bảo vệ đa dạng sinh học dưới góc độ pháp luật hãy còn tương đối mới và dù tác giả đã rất cố gắng nhưng do kiến thức lý luận và thông tin về thực tiễn áp dụng chưa thật sâu sắc nên không tránh khỏi những sai sót, hạn chế Tuy nhiên, đề tài vẫn có giá trị tham khảo, cung cấp thông tin thiết thực đối với những ai muốn tìm hiểu về khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam
5.2 Bố cục của đề tài
Cùng với phần mở đầu và kết luận, nội dung của bài viết được chia làm ba chương: Chương I trình bày khái quát chung về pháp luật đa dạng sinh học ở Việt Nam Chương II trình bày pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam
Chương III trình bày thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam và hướng hoàn thiện
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC Ở
VIỆT NAM
1.1 Khái niệm đa dạng sinh học và sự cần thiết phải có các quy định pháp luật về đa dạng sinh học ở Việt Nam
1.1.1.1 Định nghĩa đa dạng sinh học
Có quan điểm cho rằng thuật ngữ “ĐDSH” (biodiversity, biological diversity) lần đầu tiên được định nghĩa bởi Norse and McManus (1980), bao hàm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật) Định nghĩa này là định nghĩa được dùng trong Công ước về ĐDSH với mong muốn tìm ra cách thức xử sự phù hợp nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên trước tình cảnh môi trường tự nhiên đang bị phá hoại một cách nhanh chóng1
Ngoài ra, còn có một số các khái niệm khác về ĐDSH:
- Dictionary of Environmental Law2 định nghĩa: ĐDSH là một thuật ngữ được dùng
để diễn tả chung về sự đa dạng và tính biến thiên của tự nhiên Nó bao gồm ba mức độ cơ bản trong tổ chức của các hệ thống đang tồn tại như: di truyền, loài và
hệ sinh thái
- Theo Biodiversity3, ĐDSH được hiểu như là “thiên nhiên có ích” – một tập hợp gồm các loài và tài nguyên di truyền mà con người sử dụng vì lợi ích của chính họ dù tập hợp đó có nguồn gốc từ môi trường tự nhiên hay đã được thuần hoá Trong ngữ cảnh này, ĐDSH trở thành một dạng tài nguyên tự nhiên, lệ thuộc vào sức mạnh điều chỉnh của thị trường và những nguồn lợi tiềm ẩn mang tính quan trọng đối với những quốc gia đang sở hữu nguồn tài nguyên di truyền
Trang 14- Tổ chức Nông Lương của Liên Hiệp Quốc (FAO)4 cho rằng: ĐDSH là khái niệm miêu tả sự đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp
- Chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP)5 quan niệm: ĐDSH là sự đa dạng của sự sống trên trái đất, nó bao gồm tất cả các sinh vật, các loài và dân cư;
sự biến thiên gien trong số này; và tập hợp phức tạp của chúng trong các cộng đồng và các hệ sinh thái ĐDSH cũng đề cập đến mối tương quan bên trong của các gien, các loài và các hệ sinh thái; và cả sự tương tác của chúng đối với môi trường
- Quan điểm về ĐDSH của các tác giả trong Biodiversity in Environmental
phát từ khái niệm ĐDSH trong Công ước về ĐDSH khi cho rằng ĐDSH là sự biến thiên giữa các sinh vật sống từ mọi nguồn như hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, hệ sinh thái biển cùng các dạng mặt nước khác và tập hợp sinh thái của các thành phần này; ĐDSH bao gồm sự đa dạng loài, giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái Tham khảo các định nghĩa trên trong sự đối sánh với khái niệm ĐDSH tại Công ước
về ĐDSH7: “ĐDSH có nghĩa là tính (đa dạng) biến thiên giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên cạn, biển, các hệ sinh thái thuỷ vực khác và các tập hợp sinh thái mà chúng là một phần Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh học” và tại Luật ĐDSH năm 20088 của Việt Nam: “ĐDSH là sự phong phú về gien, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên”, ta có thể hiểu như sau:
ĐDSH là một phạm trù diễn tả sự phong phú của sinh vật có từ tất cả các nguồn
trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dưới nước khác và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo thành ĐDSH bao gồm sự phong phú và đa dạng về: di truyền (hay còn gọi là gien), loài sinh vật và hệ sinh thái Tiếp tục tìm hiểu về thuật ngữ đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái, ta nhận thấy:
Trang 15- Đa dạng di truyền là tất cả các gien di truyền khác nhau của tất cả các sinh
vật bao gồm thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật9 Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau; có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể10
- Đa dạng loài là số lượng và sự đa dạng của các loài được tìm thấy tại một
khu vực nhất định tại một vùng nào đó; là tất cả sự khác biệt trong một hay nhiều quần thể của một loài cũng như đối với quần thể của các loài khác nhau11 Nói cách khác, đa dạng loài là tất cả các loài khác nhau, cũng như sự khác biệt trong và giữa các loài khác nhau12
- Đa dạng hệ sinh thái là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xã sinh vật và mọi
quá trình sinh thái khác nhau, cũng như sự biến đổi trong từng hệ sinh thái13,14
Trên cơ sở cách hiểu về ĐDSH trình bày ở trên, ta tìm hiểu thế nào là bảo vệ ĐDSH Theo Từ điển Hán Việt Từ Nguyên15, “bảo vệ” nghĩa là giữ gìn, che chở Từ điển tiếng Việt phổ thông16 và Từ điển tiếng Việt 200617 định nghĩa “bảo vệ” là “chống lại mọi sự xâm phạm để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn” Theo Từ điển tiếng Việt
200818 thì “bảo vệ” là “che chở, giữ gìn để được nguyên vẹn” Qua đó, ta thấy rằng khái niệm “bảo vệ” được dùng để chỉ những hoạt động với mục đích giữ cho một vật, một hiện trạng có thể tồn tại trong hiện tại và tương lai Vì vậy, bảo vệ ĐDSH là những hoạt động của con người nhằm hướng đến mục đích giữ cho ĐDSH có thể tiếp tục tồn tại cả trong hiện tại lẫn tương lai
Trang 161.1.1.2 Giá trị của đa dạng sinh học
Vai trò của ĐDSH được thể hiện thông qua giá trị trực tiếp (các lợi ích có thể định luợng được) và giá trị gián tiếp (các lợi ích khó có thể định lượng) của nó19
Giá trị trực tiếp
ĐDSH thể hiện giá trị trực tiếp của mình thông qua việc cung cấp nguồn thực phẩm, nhiên liệu, dược liệu cho con người và có thể trở thành sản phẩm thương mại được mua bán trên thị trường trong nước và quốc tế
Giá trị sử dụng trực tiếp và quan trọng nhất của các loài là dùng làm thức ăn Một
số lượng tương đối lớn các loài thực vật có thể được dùng làm thực phẩm và rất nhiều loài động vật có thể ăn được Một số loài, chủ yếu là động vật có vú được sử dụng trong chăn nuôi, cung cấp sức kéo, thịt và các sản phẩm từ sữa Ví dụ như: Đối với các loài thực vật, ta thấy rằng, về cơ bản, ba loại cây trồng lúa mì, ngô và lúa nước chiếm hơn hai phần ba các yêu cầu của dân số trên toàn thế giới Đối với các loài động vật, cá là minh chứng cụ thể cho vai trò cung cấp thức ăn cho con người Thông qua việc phát triển nuôi trồng thủy sản, kỹ thuật, cá và các sản phẩm từ cá đã trở thành nguồn protein lớn trên thế giới
Giá trị tiếp theo của ĐDSH là cung cấp nguồn nhiên liệu cho xã hội loài người
Ngay từ thuở ban sơ, gỗ rừng đã được sử dụng làm chất đốt, cung cấp nhiệt lượng cho hoạt động của con người Ngoài ra, con người cũng sử dụng than đá, dầu mỏ, các loại khí
tự nhiên làm nguồn nhiên liệu quan trọng cho cuộc sống hằng ngày
Đồng thời, ĐDSH cũng là nguồn dược liệu quý giá mà quả đất mang lại cho con
người Các loại dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên giữ vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu Phần đông dân số các nước đang phát triển trông cậy vào dược phẩm truyền thống trong việc chăm sóc sức khoẻ; và sự phụ thuộc này không hề giảm đi kể cả khi có mặt các loại tây dược Khoảng 120 hoá chất được chiết xuất thành dạng tinh khiết từ 90 loài sinh vật đang được dùng trong y học trên toàn thế giới, khá nhiều loại trong số đó không thể sản xuất nhân tạo được20
Trang 17Ngoài ra, hoạt động trao đổi, mua bán gỗ, sợi, cao su, tơ tằm và các mặt hàng trang
trí đã chứng minh vai trò thương mại của ĐDSH
Hằng năm, Việt Nam khai thác khoảng 1,3 - 1,4 triệu m3 gỗ và các lâm sản khác (song, mây, tre nứa và củi) cho mục đích kinh tế Bên cạnh đó, có khoảng 2300 loài thực vật và một số loài động vật hoang dã được khai thác làm dược liệu, thức ăn cho người và gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp và thủ công nghiệp Các sản phẩm từ ĐDSH được trao đổi mậu dịch với các nước láng giềng ngày càng tăng21
Nguồn lợi thủy sản biển của Việt Nam được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Cùng với nguồn lợi cá biển, biển Việt Nam hiện hữu nhiều loại đặc sản khác có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, mực, hải sâm, rong biển… Riêng cá biển đã phát hiện hơn 2.000 loài khác nhau, trong đó trên 100 loài có giá trị kinh tế cao với tổng trữ lượng hải sản khoảng 3 – 4 triệu tấn, khả năng cho phép khai thác 1,5 – 1,8 triệu tấn/năm22
Giá trị gián tiếp
Giá trị gián tiếp của ĐDSH tập trung ở khía cạnh xã hội và khía cạnh sinh thái
Xét đến giá trị xã hội, sinh vật trong quá trình tiến hoá đã tồn tại và phát triển một
cách bền vững và hài hoà với nhau, tạo nên một thiên nhiên đa dạng, phong phú và hấp dẫn, làm nền tảng cho cảm hứng về thẩm mỹ, nghệ thuật và văn hóa của con người Nhiều loài thực vật và động vật được xem là biểu tượng của văn hoá và thẩm mỹ như hình tượng hoa sen tượng trưng cho sự thuần khiết thanh tao, hình tượng con cò tôn vinh người phụ nữ tảo tần sớm hôm, hình tượng rùa Hồ Gươm đại diện cho chiến thắng của dân tộc trước quân xâm lược từ lâu đã khắc sâu vào tâm linh của người dân Việt Nam
Vượt trên giá trị xã hội, giá trị sinh thái càng khẳng định tầm quan trọng của
ĐDSH đối với đời sống của con người Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống cho
cả trái đất và con người: đảm bảo cho sự chu chuyển khí O2 và các nguyên tố dinh dưỡng khác trên toàn hành tinh, duy trì tính ổn định và sự màu mỡ của đất nói riêng hay của hành tinh nói chung… Các hệ sinh thái bị suy thoái thì tính ổn định và sự mềm dẻo, linh động của sinh quyển cũng bị thương tổn
Ở Việt Nam, rừng Tây Bắc nói riêng và hệ thống rừng trên cạn nói chung góp phần làm giảm tác hại của lũ lụt, hạn hán, hạn chế sự xói mòn đất, điều tiết dòng chảy, loại trừ các cặn bã làm cho dòng chảy trở nên trong và sạch Vai trò điều hoà dòng chảy vô cùng
21
Mục 1 phần I Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam ban hành theo Quyết định 845-TTg năm 1995 phê duyệt
"Kế hoạch hành động bảo vệ ĐDSH của Việt Nam"
22
Đỗ Văn Sen (2009), “Một số ý kiến về phát triển kinh tế nông, lâm, thủy sản vùng ven biển”, Tạp chí Tài nguyên
và Môi trường, (số 17 (79)), tr 30
Trang 18quan trọng đối với sinh hoạt hằng ngày cũng như hoạt động sản xuất và thuỷ điện của con người
Bên cạnh đó, rừng ngập mặn có vai trò rất quan trọng trong sinh thái, được ví như lá chắn bảo vệ vùng cửa sông, cửa biển nhằm chống xói lở, hạn chế tác hại của gió bão, ổn định bờ biển và mở rộng đất liền Ngoài việc làm bãi đẻ và là nơi sinh sống cho nhiều loài sinh vật, rừng ngập mặn còn được ví như một nhà máy lọc sinh học khổng lồ, không chỉ hấp thụ khí CO2 từ hoạt động công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày mà còn sinh ra một lượng lớn khí O2, giúp cho bầu không khí trở nên trong lành
Được bao bọc bởi biển Đông, đối với Việt Nam, rạn san hô và thảm cỏ biển giữ vai trò cực kỳ quan trọng Rạn san hô phân phối ở ven các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có tác dụng lớn trong việc che chắn, chống xói lở bờ biển, hải đảo Sự nguyên vẹn của các rạn san hô đã giúp Việt Nam tiết kiệm nhiều kinh phí trong việc xây dựng các công trình chống xói lở ven biển Tương tự như rạn san hô, các bãi cỏ biển ở thềm lục địa làm giảm cường độ phá hoại của sóng, là nơi nuôi dưỡng, cung cấp thức ăn và duy trì cuộc sống cho hàng vạn loài sinh vật biển
Như vậy, việc ĐDSH giúp duy trì một chuỗi thức ăn, cung cấp nhiên liệu, là một nguồn vô tận các cây thuốc quý; giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá, xã hội và thẩm mỹ, duy trì cân bằng sinh thái đã chứng minh rằng giá trị của nó không chỉ đơn thuần dừng lại ở các con số, số liệu giản đơn trên các báo cáo, nghiên cứu Con người vốn dĩ không thể tách rời khỏi sự tương tác với ĐDSH mà phải dựa vào đa dạng của sinh vật để tồn tại Do đó, thực tế đã đặt ra yêu cầu: cần có các quy định pháp luật cụ thể để có thể điều chỉnh lĩnh vực ĐDSH bằng sức mạnh quyền lực nhà nước nhằm bảo vệ các giá trị mà ĐDSH mang lại cho con người
1.1.2.1 Sự đa dạng sinh học ở Việt Nam
Đánh giá chung
Nằm ở Đông Nam châu Á với diện tích khoảng 330.541 km2, Việt Nam là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao trên thế giới (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Chiến lược quốc gia quản lý hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam 2002 - 2010) Đặc điểm về vị trí địa lý, khí hậu của Việt Nam đã góp phần tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái và các loài sinh vật Về mặt địa sinh học, Việt Nam là giao điểm của các hệ động, thực vật thuộc vùng Ấn Độ - Miến Điện, Nam Trung Quốc và Inđo - Malaysia Các đặc điểm trên đã giúp nơi đây trở thành một trong những khu vực có tính ĐDSH cao của
Trang 19thế giới, với khoảng 10% số loài sinh vật, trong khi chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (2002), Báo cáo quốc gia về các khu bảo tồn và Phát triển kinh tế)23
Sự đa dạng các hệ sinh thái
Hệ sinh thái ở Việt Nam có thể phân thành ba dạng chính: hệ sinh thái trên cạn (đặc trưng là hệ sinh thái rừng, chiếm hơn 36% diện tích tự nhiên), hệ sinh thái đất ngập nước (dưới 30 dạng đất ngập nước tự nhiên ven biển và nội địa, 9 loại dạng ngập nước nhân tạo) và hệ sinh thái biển (với khoảng 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình)24
i Hệ sinh thái rừng
Hệ sinh thái rừng tự nhiên ở nước ta có nhiều kiểu tiêu biểu như: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao… Trong đó, đáng chú ý là các khu vực
có hệ sinh thái rừng đặc dụng tự nhiên vừa mang tính đại diện cho các hệ sinh thái rừng
tự nhiên nhiệt đới nhưng lại có những nét đặc thù của Việt Nam Các khu rừng đặc dụng
tự nhiên là nơi sinh sống của nhiều loài hoang dã đặc hữu, có giá trị cần được bảo vệ (Tổng quan về ĐDSH ở Việt Nam, Báo cáo được tổng hợp từ các tài liệu do nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế chuẩn bị phục vụ xây dựng dự án Luật ĐDSH)25
ii Hệ sinh thái tự nhiên trên biển
Bờ biển dài 3.260 km cùng vùng đặc quyền kinh tế biển khoảng 1 triệu km2 với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, đã tạo nên hệ sinh thái biển giàu có về ĐDSH Ta đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật cư trú trong 6 vùng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó phải kể đến các hệ sinh thái cỏ biển với hơn 15 loài cỏ biển, hệ sinh thái rạn san
hô có diện tích khoảng 1.122km2 với hơn 310 loài san hô là nơi cư ngụ của hơn 2000 loài sinh vật biển (Tổng quan về ĐDSH ở Việt Nam, Báo cáo được tổng hợp từ các tài liệu do nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế chuẩn bị phục vụ xây dựng dự án Luật ĐDSH)26
Dựa theo hệ thống phân loại của Công ước Ramsar, Việt Nam có hơn 30 kiểu đất ngập nước tự nhiên (11 kiểu đất ngập nước ven biển và 19 kiểu đất ngập nước nội địa), là nơi tập trung các loài động vật, thực vật phong phú Đất ngập nước không chỉ là nơi cư
23
Nguyễn Huy Dũng, Vũ Văn Dũng (2008), “Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam – Mối liên hệ với phát triển bền vững và
biến đổi khí hậu”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 17 (133)), tr 12
Trang 20trú, nơi đến của nhiều loài hoang dã quan trọng, đặc biệt là các loài chim nước mà còn là nơi đẻ trứng, sinh sản của nhiều loài hoang dã (Tổng quan về ĐDSH ở Việt Nam, Báo cáo được tổng hợp từ các tài liệu do nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế chuẩn bị phục vụ xây dựng dự án Luật ĐDSH)27
hô và nhiều loài động vật không xương sống khác (Tổng quan về ĐDSH ở Việt Nam, Báo cáo được tổng hợp từ các tài liệu do nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế chuẩn
bị phục vụ xây dựng dự án Luật ĐDSH) 28
Sự đa dạng về nguồn gien
Việt Nam được xem là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và cũng
là trung tâm thuần hoá vật nuôi nổi tiếng của thế giới Hiện nay, trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam đang sử dụng 16 nhóm các loài cây trồng với tổng số trên 800 loài cây trồng cùng hàng nghìn giống khác nhau Ngân hàng gien cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.207 giống của 115 loài cây trồng Một bộ phận quan trọng của số giống này là nguồn gien bản địa với nhiều đặc tính quý và duy nhất chỉ có ở Việt Nam29
Hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam
Đầu tiên là hệ thống các khu bảo tồn đất ngập nước Theo thống kê, Việt Nam có trên 10 triệu ha đất ngập nước Năm 2001, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay
là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã đề xuất 68 vùng đất ngập nước có giá trị ĐDSH và môi trường ở Việt Nam, bao gồm các hồ chứa nước tự nhiên và nhân tạo, các đầm, phá,
Trang 21cửa sông, các sân chim, các khu rừng ngập nước, các trảng cỏ ngập nước theo mùa, trong
đó có 17 khu thuộc hệ thống các khu rừng đặc dụng đã được Thủ tướng Chính phủ xác lập30
Thứ đến là hệ thống các khu bảo tồn biển Ngày 26/05/2010, Thủ tướng Chính phủ
đã ký Quyết định số 742/QĐ-TTg về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 Quy hoạch được thực hiện thông qua hai giai đoạn: 2010 –
2015 và 2016 – 2020 Theo đó, trong giai đoạn 2010 – 2015, Việt Nam sẽ thiết lập và đưa vào hoạt động 16 khu bảo tồn biển (Đảo Trần, Cô Tô, Bạch Long Vĩ, Cát Bà, Hòn Mê, Cồn Cỏ, Hải Vân - Sơn Trà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Nam Yết, Vịnh Nha Trang, Núi Chúa, Phú Quý, Hòn Cau, Côn Đảo, Phú Quốc); đến năm 2015 có ít nhất 0,24% diện tích vùng biển Việt Nam nằm trong các khu bảo tồn biển và khoảng 30% diện tích của từng khu bảo tồn biển được bảo vệ nghiêm ngặt Ở giai đoạn 2016 - 2020 mục tiêu được đặt ra
là nghiên cứu, đề xuất quy hoạch phát triển mở rộng hệ thống khu bảo tồn biển; điều tra, khảo sát, thiết lập và đưa vào hoạt động một số khu bảo tồn biển mới
Cuối cùng là hệ thống các khu bảo tồn rừng đặc dụng Trong 128 khu bảo tồn rừng đặc dụng hiện nay có 30 vườn quốc gia, 48 khu dự trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn loài - sinh cảnh, 38 khu bảo vệ cảnh quan, với tổng diện tích 2.400.092 ha, chiếm gần 7,24% diện tích tự nhiên trên đất liền của cả nước Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, một số khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học cũng đã được thống kê trong hệ thống rừng đặc dụng.31
1.1.2.2 Sự suy thoái đa dạng sinh học và những tác động tiêu cực đến đa dạng sinh
học ở Việt Nam hiện nay
Sự suy thoái ĐDSH ở Việt Nam
Dưới tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau, ĐDSH của Việt Nam hiện đang bị suy thoái trầm trọng Diện tích rừng, hệ sinh thái có ĐDSH cao nhất, đã giảm từ 72% (1909), 43% (năm 1941) xuống 28% (1995) Tuy trong những năm gần đây, với nhiều cố gắng của nhà nước và cộng đồng, diện tích che phủ của rừng đã được nâng lên từ 33,2%
Nguyễn Huy Dũng, Vũ Văn Dũng, “Bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam – Mối liên hệ với phát triển bền vững và biến đổi
khí hậu”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, (số 17 (133)), tr 13
Trang 22(2000), 35,8% (2003) đến 39,1% (2009) nhưng rừng tự nhiên vẫn có xu hướng giảm sút, chỉ còn khoảng dưới 10%32
Các hoạt động của con người cũng đe doạ đến sự tồn tại của những rạn san hô vùng ven biển Việt Nam Trong đó, 50% số rạn được xếp ở mức đe doạ cao, 17% ở mức rất cao Kết quả nghiên cứu, giám sát cho thấy các rạn san hô đang diễn biến theo chiều hướng xấu và phần nhiều đã biểu hiện xu hướng suy thoái Số rạn san hô trong tình trạng xấu hoặc rất xấu tăng lên theo thời gian từ 14,8% (1994 – 1997) đến 50% (2000 – 2003)… Số rạn san hô chất lượng tốt giảm từ 33,3% (1994 – 1997) xuống 11,6 % (2004 – 2007)33
Hơn 60 năm qua, rừng ngập mặn nước ta bị tàn phá rất nhiều do khai thác gỗ, chất đốt; làm hồ nuôi tôm, cua, cá; làm đất nông nghiệp, đường sá, nhà cửa Rừng ngập mặn
bị tàn phá đã làm suy giảm nghiêm trọng nguồn tài nguyên sinh học, nguồn lợi thuỷ hải sản, đẩy mạnh sự xâm nhập của nước mặn vào đất liền, thúc đẩy quá trình xói lở, gây ô nhiễm đất và nguồn nước PGS-TS Nguyễn Chu Hồi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho biết, cả nước hiện chỉ còn khoảng trên 155.290 ha rừng ngập mặn, giảm 100.000 ha so với trước năm 1990 và vẫn tiếp tục giảm nhanh Tốc độ mất rừng ngập mặn do các hoạt động sản xuất trong giai đoạn 1985 – 2000 vào khoảng 15.000 ha/năm34
Các kết quả điều tra cũng cho thấy do nơi cư trú bị tàn phá, do nguồn nước bị cạn kiệt và do khai thác quá mức (nhất là nạn săn bắt) nên các giống loài động vật và thực vật
ở nước ta đang bị suy thoái Việt Nam ghi nhận có hơn 400 loài động vật, hơn 450 loài thực vật bị đe dọa tuyệt chủng, trong đó có Tê Giác một sừng, Sao La, Voọc mũi hếch, Voọc Cát Bà, Cá Cóc, Bò Biển, v.v… Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước hàng đầu Thế giới về số loài thú, nhóm 20 nước hàng đầu về số loài chim, nhóm 30 nước hàng đầu
về số loài thực vật và lưỡng cư bị đe dọa tuyệt chủng (Tổng quan về ĐDSH ở Việt Nam, Báo cáo được tổng hợp từ các tài liệu do nhóm chuyên gia trong nước và quốc tế chuẩn
bị phục vụ xây dựng dự án Luật ĐDSH)35
32
bi%E1%BA%BFn-d%E1%BB%95i-khi-h%E1%BA%ADu-va-phat-tri%E1%BB%83n-b%E1%BB%81n-
Trang 23Ngoài ra, nhiều giống cây trồng và vật nuôi như: lúa, đậu tương, ngô, cây ăn quả, các loài cá bản địa cũng đang mất dần Đây được xem là một tổn thất lớn trên các phương diện: kinh tế, khoa học, môi trường và xã hội
Tác động tiêu cực đến ĐDSH ở Việt Nam
Thực tế hiện hữu nhiều nhân tố tác động đến ĐDSH Việt Nam, dẫn đến sự suy thoái của ĐDSH Trong đó, hầu hết các tác động đều có nguyên nhân đến từ phía con người, tiêu biểu là những tác động sau:
iv Sự gia tăng dân số không ngừng Dân số loài người tăng dần qua mỗi năm song song với việc các loài đang bị diệt vong với tốc độ nhanh nhất được biết tới trong lịch sử và khí hậu đang thay đổi ngày càng nhanh hơn so với trước đây Những tác động có tính huỷ diệt đến cùng lúc từ phía những người nghèo khó trên bước đường mưu sinh và từ phía những người giàu có có nhu cầu sử dụng nhiều tài nguyên đang dần phá vỡ sự cân bằng vốn dĩ đã tồn tại từ lâu giữa nhu cầu tiêu thụ tài nguyên của con người và khả năng đáp ứng của trái đất
Tổng số dân của Việt Nam vào 0 giờ ngày 01/04/2009 là 85.789.573 người Với số dân trên, Việt Nam là nước đông dân thứ ba ở Ðông Nam Á (sau Indonesia và Philippines) và đứng thứ mười ba trên thế giới Sau mười năm, dân số nước ta tăng thêm khoảng 9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng khoảng 947 nghìn người36
Sự gia tăng dân số Việt Nam trong những năm qua dẫn đến nhu cầu đối với các giá trị mà ĐDSH đem đến ngày càng tăng Hậu quả của nhu cầu tăng là các hoạt động khai thác, sử dụng các hệ sinh thái, các loài và nguồn gien không ngừng tăng mạnh, dẫn đến
sự mâu thuẫn giữa việc đáp ứng nhu cầu của số dân với việc bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam
v Tình trạng khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên
Dù hiện nay việc xuất khẩu gỗ cây, khai thác tại những khu vực quan trọng, khai thác một số loài nhất định đã bị hạn chế nhiều nhưng thực tế cho thấy hoạt động khai thác
gỗ và các lâm sản khác ngoài gỗ vẫn còn là một mối đe doạ lớn đối với ĐDSH nói chung
Ở khu vực có dân cư sinh sống, chất lượng và sản lượng rừng ngày càng giảm và rừng nhiều vùng bị xé lẻ, trở nên nhỏ hơn, tách biệt với nhau dẫn đến việc chúng không còn khả năng hỗ trợ cho việc sinh sống, phát triển của các loài như ban đầu Không chỉ đối với rừng mà cả nguồn tài nguyên thủy sản cũng bị đe doạ Nạn đánh bắt cá quá mức vẫn đang diễn ra hằng ngày Hơn nữa, phương thức đánh bắt không được áp dụng một cách
36
http://www.na.gov.vn/htx/VietNamese/?Newid=%2740463%27#gbF6JuN8TLFH
Trang 24có lựa chọn, thậm chí mang tính tàn phá như bẫy cá, dùng lưới mắt quá nhỏ, sử dụng chất
nổ và có nơi dùng cả chất độc
Ở Việt Nam, việc khai thác quá mức đã ảnh huởng nghiêm trọng đến ĐDSH nói chung Một ví dụ cụ thể là nạn khai thác san hô ở ven biển miền Trung suốt những năm qua San hô được khai thác dưới hai dạng: khai thác san hô chết (hay đá vôi san hô) và khai thác đá vôi còn sống Việc khai thác đá vôi san hô bất hợp lý để sản xuất vôi, xi măng, kè hồ nuôi tôm… đã làm mất môi trường sống của nhiều loài sinh vật dưới đáy biển và làm xói lở rạn san hô Ngoài ra, tình trạng khai thác san hô còn sống làm đồ mỹ nghệ (Khánh Hoà, Bình Thuận…) đã làm giảm đáng kể độ che phủ của rạn cũng như số loài san hô Mặt khác, do môi trường là một thể thống nhất nên việc khai thác thành tố này của môi trường cũng sẽ ảnh hưởng đến những thành tố còn lại, chẳng hạn như: tình trạng tàn phá rừng trên đất liền kéo theo lượng nước ngọt và bùn đất trôi ra biển cũng góp phần làm suy thoái nhiều rạn san hô Bên cạnh đó, phương thức khai thác cũng ảnh hưởng rất nhiều đối với ĐDSH, ví dụ như tình trạng khai thác huỷ diệt bằng chất nổ, chất độc từng rất phổ biến ở các tỉnh miền Trung như Nghệ an, Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Ninh Thuận Việc khai thác sinh vật trên rạn san hô bằng thuốc nổ không những huỷ diệt tất cả những gì có trong lòng đại dương, gây
ô nhiễm môi trường mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sự phục hồi, phát triển của san hô37
vi Tình trạng du canh, khai hoang và di dân
Du canh là một trong những nguyên nhân thường dẫn đến cháy rừng Trong số 9 triệu ha rừng của nước ta thì có khoảng 56% thuộc diện rừng dễ cháy vào mùa khô; và hàng năm, rừng nước ta cháy mất khoảng 20 - 30 ngàn ha, thậm chí có năm lên đến 100 ngàn ha rừng Mất rừng đã gây thất thoát không nhỏ cho ĐDSH38
Ngoài ra, việc di dân, khai hoang lấy đất canh tác nông nghiệp cũng làm giảm dần diện tích các hệ sinh thái rừng
vii Ô nhiễm môi trường biển đến từ dầu lan và các chất thải của con
người
Ô nhiễm dầu được coi là hiểm họa lớn nhất đối với môi trường biển Mức dầu do hoạt động khai thác dầu khí và giao thông vận tải biển lẫn trong nước biển ven bờ từ 0,4 - 1,0 mg/lít đã vượt quá mức cho phép nhiều lần Tỉnh Quảng Ninh cũng phải gánh chịu
37
Bùi Minh Quang (2009), “Rạn san hô và rừng ngập mặn: tài nguyên cần được bảo vệ”, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, (số 17 (79)), tr 28
38
Mục 2 phần I Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam ban hành theo Quyết định 845-TTg năm 1995 phê duyệt
"Kế hoạch hành động bảo vệ ĐDSH của Việt Nam"
Trang 25tình trạng lắng bùn nghiêm trọng ở vùng nước ven biển do hoạt động khai thác than và đất sét Hàng triệu tấn bùn cát do nạo vét các cảng (cảng Hải Phòng nạo vét 3 - 5 triệu tấn/năm) thường tạo ra bùn lắng ở cửa sông và ven biển có lẫn dầu và các độc tố, gây hại cho các hệ sinh thái ven biển và sinh vật biển39
Bên cạnh đấy, chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp… chưa qua xử lý được thải tràn vào môi trường gây ảnh hưởng không nhỏ đến ĐDSH Thông qua một vài số liệu cụ thể về chất thải ở đồng bằng Sông Cửu Long40, ta nhận thấy hằng năm, nguồn nước trên các sông ngòi, kênh rạch ở đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung đang phải “gồng mình” gánh chịu một khối lượng lớn các chất thải, chất độc hại từ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt của con người, tạo nên áp lực nhiều mặt đến
ô nhiễm môi trường và sức khỏe của nhân dân
viii Hoạt động sản xuất, lao động của con người Một vài số liệu thống kê41 cho thấy quá trình xây dựng các ao hồ nuôi trồng thuỷ sản dọc bờ biển, khai hoang lấn biển làm đồng muối hay canh tác nông nghiệp, xây dựng khu dân cư thường dẫn đến làm giảm diện tích vùng thuỷ triều, tăng độ chua phèn, thay đổi quá trình bùn lắng làm rất nhiều đầm lầy bị phá hủy, giảm sút nghiêm trọng Việc khai thác cát, đá cho xây dựng và các khoáng sản khác ở quy mô lớn là nguyên nhân gây
ra xói mòn vùng ven biển, làm nghèo nước và tác động đến các thành phần của hệ sinh thái biển
ix Sự du nhập của sinh vật ngoại lai Quản lý sinh vật ngoại lai hiện đang là bài toán khó được đặt ra cho các quốc gia trên thế giới Được biết, các chuyên gia của quốc tế đã xác định 100 loài sinh vật ngoại
39
Mục 2 phần I Kế hoạch hành động ĐDSH của Việt Nam ban hành theo Quyết định 845-TTg năm 1995 phê duyệt
"Kế hoạch hành động bảo vệ ĐDSH của Việt Nam"
40
http://www.monre.gov.vn/v35/default.aspx?tabid=428&cateID=24&id=70135&code=B22GX70135: Tổng lượng nước thải sinh hoạt ở nông thôn khoảng 38,3 triệu m3/năm; rác thải sinh hoạt là 12,7 triệu m3/năm; chất thải trong giết mổ gia súc gia cầm 199.100 tấn/năm; chất thải rắn công nghiệp nguy hại 2.000 tấn/năm; tổng lượng nước thải sản xuất công nghiệp 47,2 triệu m3/năm; chất thải y tế 3.800 tấn/năm; chất thải nguy hại 1.500-2.400 tấn/năm; chất thải nuôi trồng thủy sản 456 triệu m3/năm; lượng phân bón hóa học được sử dụng hàng năm trên 2 triệu tấn; 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật và các chế phẩm nuôi trồng thủy sản Và hầu hết các chất thải này chưa được xử lý triệt
để, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường xung quanh
Trang 26lai nguy hiểm nhất đe dọa hệ sinh thái toàn cầu và chia ra gồm 8 loài vi sinh vật, 4 loài thực vật thủy sinh và 32 loài cây trên cạn, 9 động vật dưới nước và 17 loài trên cạn thuộc
họ không có xương sống (14 loài côn trùng; 2 loại sên đất và 1 loài sán flatworm), 3 loài lưỡng cư, 8 loài cá, 3 loài chim, 2 loài bò sát và 14 loài động vật có vú42
Cho đến trước những năm 1990 – trước thời điểm dịch ốc bươu vàng bùng phát – vấn đề quản lý sinh vật ngoại lai ít được chú ý ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu về sinh vật ngoại lai xâm hại ở Việt Nam bước đầu đã xác định được một số loài nguy hiểm, như
ốc bươu vàng, hải ly, cá trê phi…43
Giống loài ngoại lai tác động không nhỏ đến ĐDSH ở môi trường bản điạ Chúng
có thể sẽ cạnh tranh nguồn thức ăn của những loài bản địa, có thể mang vi khuẩn gây bệnh cho sinh vật bản địa và cho con người Không chỉ là ảnh hưởng tức thời mà sinh vật ngoại lai còn có thể để lại hậu quả lâu dài thông qua quá trình sinh sản nhanh chóng mang tính hàng loạt, đe dọa đến môi trường sống của sinh vật bản địa và làm rối loạn cân bằng sinh thái nơi đó
x Việc “chạy theo” yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Sự cạnh tranh gay gắt giữa cung và cầu của nền kinh tế đã tác động mạnh đến những nhà cung cấp nông sản Thị trường thúc đẩy những nhà nông nghiệp, những người nông dân sử dụng những giống mới, loài mới có năng suất và chất lượng phù hợp với nhu cầu của khách hàng Quá trình này tạo thành nỗi đe doạ đối với những giống, loài canh tác truyền thống Hậu quả là những giống loài truyền thống có nhiều tính trạng di truyền quý dần dần bị lãng quên do không đáp ứng được nhu cầu trước mắt của thị trường Tóm lại, việc xác định các tác động tiêu cực đến quá trình suy thoái ĐDSH ở Việt Nam sẽ giúp ta nhìn nhận đúng hơn hoạt động điều chỉnh của quy định pháp luật hiện nay, từ đó tìm ra hướng giải quyết ngày càng phù hợp hơn
Trang 271.2 Sơ lược quá trình phát triển các quy định của pháp luật về bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam trong thời gian qua
Ở Việt Nam, các quy định về bảo vệ ĐDSH được hình thành từ khá sớm, tiêu biểu
là Sắc lệnh 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng Sắc lệnh này có thể được xem là văn bản pháp luật đầu tiên đề cập đến vấn đề này
Những năm 1960 – 1993, tuy nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành để điều chỉnh hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và chưa có sự tách biệt đối với vấn đề bảo
vệ ĐDSH; song, thông qua việc đề cập đến một vài thành phần cụ thể của ĐDSH mà chủ yếu là tài nguyên rừng và tài nguyên thủy sản, nhà nước Việt Nam thể hiện rõ nét mối quan tâm của mình đối với việc bảo vệ ĐDSH, ví dụ như:
Chỉ thị 134-TTg năm 1960 về việc cấm bắn voi do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành nêu rõ vai trò của voi trong đời sống hằng ngày của con người cũng như nguy cơ đàn voi
bị tuyệt diệt ở Việt Nam bước đầu thể hiện sự chú trọng của Việt Nam trong công tác bảo tồn các loài thú quý, hiếm
Nghị định 39-CP năm 1963 quy định về Điều lệ tạm thời về săn, bắt chim, thú rừng
đã được Hội đồng Chính phủ ban hành với mục đích “bảo vệ và phát triển những loại có ích, hiếm và quý, đồng thời khai thác hợp lý tài nguyên về chim, thú rừng” Thông qua
đó, Nghị định khẳng định tư tưởng chung của nhà nước lúc bấy giờ là “chim, thú rừng là một nguồn tài nguyên phong phú của nước ta, có giá trị về kinh tế và khoa học”, từ đó nhận định đây là tài sản chung mà tất cả mọi người đều có nhiệm vụ bảo vệ cũng như làm cho ngày càng dồi dào
Thông tư 114–TTg–NN năm 1964 quy định và hướng dẫn bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở vùng nước ngọt, nước lợ và nước mặn ven bờ biển do Thủ tướng Chính phủ ban hành đã ghi nhận việc cấm đánh bắt, khai thác nguồn lợi thuỷ sản bằng các phương pháp như dùng các loại chất nổ44, dùng các chất độc như là cơi, lá và quả thàn mát, quả sú vẹt, khô dầu sổ, vôi, thuốc DDT, thuốc 666… để đầu độc cá trên các sông, suối, hồ chứa nước45, cấm đánh bắt, khai thác trong các thời gian cụ thể: trong mùa sinh sản hoặc tại các địa điểm cụ thể như ở khu vực dự trữ46…
Trang 28Thông tư 3984-LN/KL năm 1977 hướng dẫn việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm luật lệ về bảo vệ rừng do Bộ Lâm nghiệp ban hành đã quy định trách nhiệm hành chính đối với hành vi phá hại rừng và tàng trữ, mua bán, vận chuyển và sử dụng trái phép lâm sản47 Trong khoảng thời gian tiếp theo, trách nhiệm hành chính tiếp tục được nhắc đến với loại văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn - Nghị định – thông qua Nghị định 14-
CP năm 1992 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ rừng (sau được thay thế bởi Nghị định 77-CP năm 1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định 139/2004/NĐ-CP
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản)
Chỉ thị 6-BTS/CT năm 1984 về một số vấn đề cấp bách bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản
do Bộ Thuỷ sản ban hành quy định chi tiết các vấn đề như ở các sông và kênh rạch vùng biển cần giảm bớt số lượng các miệng đáy, đăng và các nghề như te, xiệp, chắn dọn, đối với nghề lưới đáy quy định kích thước ở đụt lưới: 2a = 15 - 16 mm (đối với đáy sông và cửa sông), 2a = 18 mm (đối với đáy biển hàng khơi)48; bảo vệ đàn tôm con49…
Thông tư 2-TT/LB năm 1986 về công tác bảo vệ rừng và quản lý vật tư lâm sản do liên Bộ Lâm nghiệp - Nội vụ ban hành nêu rõ quan điểm kiên quyết chặn đứng tình trạng phá rừng trái phép nhằm ngăn chặn việc tài nguyên rừng bị giảm sút, môi trường sinh thái
bị tác động xấu về nhiều mặt
Đáng chú ý là trong hai năm 1989 và 1991, nhà nước đã thể hiện rõ mong muốn bảo
vệ nguồn tài nguyên rừng và tài nguyên thủy sản thông qua việc ban hành văn bản có hiệu lực pháp lý cao là Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản và Luật Bảo vệ
và Phát triển rừng:
Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành nêu rõ nhà nước thống nhất quản lý việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản bằng cách sử dụng tổng hợp các biện pháp, trong đó có biện pháp pháp luật để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là bảo vệ các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, quý hiếm50 và cấm đánh bắt, tổ chức tiêu thụ các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, quý hiếm hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng trong danh mục các đối tượng được bảo vệ51
Trang 29Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 quy định rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, nguồn gien thực vật, động vật rừng; nghiên cứu khoa học52 và các khu vực bảo tồn nguyên vẹn thuộc các vườn quốc gia, khu rừng bảo tồn thiên nhiên phải được quản lý, bảo vệ nghiêm ngặt53 Sau đó, vào năm 1992, Hội đồng bộ trưởng đã ban hành Nghị định 18-HĐBT năm 1992 quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ đã cung cấp một danh mục cụ thể, rõ ràng tên Việt Nam và tên khoa học các thực vật rừng, động vật rừng cần được bảo vệ
Ngày 28/05/1993, Việt Nam ký Công ước về ĐDSH và ngày 16/11/1994, sau khi Quốc hội phê chuẩn Công ước, nước ta chính thức trở thành thành viên thứ 177 của Công ước ĐDSH Việc tham gia Công ước ĐDSH cũng như một số điều ước quốc tế khác như Công ước Ramsar, CITES, Nghị định thư Cartagena… đã thể hiện sự quan tâm của Việt Nam trong việc hợp sức cùng cộng đồng quốc tế nhằm bảo vệ ĐDSH
Sau khi gia nhập Công ước về ĐDSH, Việt Nam đã tích cực thực hiện quá trình nội luật hoá nhằm tạo điều kiện thực thi các cam kết trong Công ước, trong đó, Kế hoạch hành động ĐDSH là bước đầu tiên trong việc thực hiện cam kết Việt Nam đã xây dựng
và thực hiện Kế hoạch hành động ĐDSH quốc gia lần thứ 1 (giai đoạn 1995 - 2005)54 và lần thứ 2 (giai đoạn 2007 – 2010)55 Sau năm năm thực hiện kế hoạch lần thứ nhất, Việt Nam đã đạt được một vài kết quả sau56:
- Khoảng 50 khu bảo tồn đã được nhà nước duyệt đầu tư xây dựng Mỗi năm ngân sách nhà nước cấp khoảng 20 tỉ đồng cho nhiệm vụ này
- Chính phủ đang xem xét và phê duyệt danh mục các khu bảo tồn (loại
bỏ các khu không còn hoặc không có giá trị nữa, mở rộng một số khu
đã được duyệt và bổ sung thêm một số khu mới) nâng tổng diện tích các khu bảo tồn từ 952.822 ha lên hơn 2 triệu ha
“Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước ĐDSH
và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học” được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/05/2007
56
http://www.nea.gov.vn/VN/quanlymt/baotondadangsh/Gioithieu/Pages/K%E1%BA%BFho%E1%BA%A1chh%C3
%A0nh%C4%91%E1%BB%99ng%C4%91ad%E1%BA%A1ngsinhh%E1%BB%8Dc1.aspx
Trang 30- Hoàn thiện hồ sơ và trình Chính phủ xem xét hệ thống 15 khu bảo tồn biển và 68 khu bảo tồn đất ngập nước có giá trị môi trường và ĐDSH Hiện nay, “Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học” được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg sau hơn
ba năm triển khai đã thể hiện được phần nào công tác bảo tồn, phát triển bền vững nguồn ĐDSH quốc gia
Bên cạnh đó, các khía cạnh pháp lý của việc bảo vệ ĐDSH ngày càng được quan tâm Điều đó được thể hiện lần lượt qua các văn bản pháp luật sau:
Luật Bảo vệ môi trường năm 1993
Luật Tài nguyên nước năm 1998
Luật Thủy sản năm 2003
Nghị định 109/2003/NĐ-CP về quản lý, bảo tồn và phát triển các vùng đất ngập nước
Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004
Pháp lệnh giống vật nuôi năm 2004
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004
Quy chế quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gien, sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gien (kèm theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 212/2005/QĐ-TTg ngày 26/08/2005)
Nghị định 57/2008/NĐ-CP về quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế
Đặc biệt, các hành vi xâm phạm đến môi trường nói chung và ĐDSH nói riêng một cách nghiêm trọng không còn bị điều chỉnh đơn giản bởi các quy phạm pháp luật mang tính cấm đoán đơn thuần mà đã có chế tài hình sự nghiêm khắc điều chỉnh khi Bộ luật Hình Sự 1999 ra đời57
Tiếp đến, việc Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 - thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 - quy định khái quát một số vấn đề cơ bản của bảo vệ ĐDSH: khái niệm ĐDSH, hoạt động bảo vệ ĐDSH, những nguyên tắc những quy định chung về bảo vệ ĐDSH… có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển các quy định cụ thể về ĐDSH sau này
57
Chương XVII Bộ luật Hình sự 1999: Các tội phạm về môi trường
Trang 31Song, dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có những quy định mang tính nguyên tắc, bao trùm và khái quát về bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH nhưng các quy phạm pháp luật về ĐDSH vẫn đang nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp
lý khác nhau và mỗi văn bản lại chỉ đề cập đến một hoặc vài khía cạnh của ĐDSH Do vậy, ta có thể thấy suốt từ năm 1960 đến năm 2008, Việt Nam chưa có một hệ thống pháp luật về ĐDSH với tư cách là một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập tương đối Điều này đã làm hạn chế hiệu lực và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật trên thực tế
Trước nhu cầu đặt ra, vào ngày 13/11/2008, Luật ĐDSH năm 2008 đã được ban hành, có hiệu lực vào 01/07/2009 Từ đây, Việt Nam đã có pháp luật về ĐDSH với tư cách là một lĩnh vực pháp lý cụ thể, độc lập tương đối với hệ thống pháp luật về môi trường Và căn cứ vào Luật ĐDSH hoặc dựa trên tinh thần của Luật ĐDSH, Việt Nam đã ban hành những văn bản như: Nghị định 25/2009/NĐ-CP về quản lý tổng hợp tài nguyên
và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; Nghị định 69/2010/NĐ-CP về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gien; Nghị định 117/2010/NĐ-CP về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng…
Kết luận chương 1
Như vậy, do mang giá trị sử dụng trên nhiều phương diện nên ĐDSH có vai trò rất quan trọng, gắn liền với đời sống của người dânViệt Nam Tuy nhiên, cũng vì chính vai trò quan trọng đó, ĐDSH Việt Nam đã bị con người khai thác, sử dụng quá giới hạn cần thiết, dẫn đến tình trạng ngày một cạn kiệt như hiện nay Chính vì thế, ĐDSH của Việt Nam cần được bảo vệ bởi chính các quy định pháp luật – những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do cơ quan nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh hoạt động bảo vệ ĐDSH và được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Và nhà nước Việt Nam đã thể hiện sự quan tâm đối với hoạt động bảo vệ ĐDSH thông qua việc ban hành những văn bản pháp luật như đã trình bày ở trên suốt những năm qua Song, do bảo vệ ĐDSH là một hoạt động đặc thù nên các quy định pháp luật về bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam cần được nhìn nhận một cách chuyên sâu và không ngừng khắc phục những tồn tại, bất cập để tiếp tục hoàn thiện hơn
Trang 32CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở VIỆT NAM 2.5 Các nguyên tắc bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam
Trước những giá trị mà ĐDSH mang lại cho chúng ta, việc bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam đã được đặt ra từ lâu Và đứng trước thực trạng suy thoái ĐDSH hiện nay, công tác bảo vệ ĐDSH càng được xem là một nhu cầu cấp bách Có thể khẳng định, bên cạnh nhiệm vụ phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường, bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ môi trường được đề cập đến trong Văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với biện pháp chính trị, biện pháp kinh tế, biện pháp khoa học – công nghệ, biện pháp tuyên truyền – giáo dục, biện pháp pháp lý với các đặc trưng như mang tính quy phạm phổ biến, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế và các hoạt động khác của nhà nước được xem như công cụ hữu hiệu trong việc điều chỉnh công tác bảo vệ ĐDSH Trong quá trình lập pháp, các quy phạm pháp luật lần lượt được ban hành theo hướng chỉ đạo của các nguyên tắc pháp lý chung và những nguyên tắc này đã được quy định cụ thể
ở điều 4 Luật ĐDSH năm 2008 Qua đó, ta có thể xác định được những quan điểm chủ đạo của nhà nước ta trong công tác bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam
tổ chức, cá nhân 58
Từ định nghĩa ĐDSH là sự đa dạng về hệ sinh thái, đa dạng về loài và đa dạng gien cùng với giá trị mà ĐDSH mang lại cho con người, nhà nước ta khẳng định việc bảo tồn ĐDSH không chỉ của riêng một cá nhân, một tổ chức hay một thiết chế xã hội nào mà là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, từ nhà nước đến từng tổ chức, cá nhân trong xã hội Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu đối với mọi chủ thể trong xã hội:
- Nhà nước có trách nhiệm ban hành pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ ĐDSH
- Các cá nhân, tổ chức trong xã hội có trách nhiệm tuân thủ các quy định pháp luật đồng thời chủ động trong việc nhận thức và thực hiện việc bảo vệ ĐDSH
Cụ thể hoá ý chí của Công ước về ĐDSH trong việc khẳng định nghĩa vụ bảo vệ ĐDSH thuộc về các quốc gia trên thế giới chứ không chỉ thuộc về một chủ thể riêng biệt
58
Khoản 1 điều 4 Luật ĐDSH
Trang 33nào59, nguyên tắc đã nêu bật lên nghĩa vụ của toàn thể cộng đồng đối với môi trường nói chung và ĐDSH nói riêng – những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của chính con người Chính phủ cũng từng được đề cập đến nghĩa vụ bảo vệ ĐDSH của toàn thể cộng đồng trong Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước nhưng ở góc độ hẹp hơn: Tăng cường sự tham gia bảo tồn các vùng đất ngập nước của cộng đồng dân cư sinh sống trên địa bàn và các khu vực lân cận60
dạng sinh học; giữa bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý đa dạng sinh học với việc xóa đói, giảm nghèo 61
Nguyên tắc này thể hiện mong muốn tìm kiếm sự hài hoà giữa việc giữ gìn ĐDSH trong hiện tại và cho tương lai với việc đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với ĐDSH, được thể hiện chi tiết qua hai mối quan hệ:
- Thứ nhất là mong muốn tìm kiếm sự hài hoà giữa công tác bảo vệ ĐDSH với việc khai thác, sử dụng ĐDSH
- Thứ hai là mong muốn tìm kiếm sự hài hoà giữa việc bảo tồn, khai thác, sử dụng hợp lý ĐDSH với công tác xoá đói, giảm nghèo
Nguyên tắc này đặt ra yêu cầu: Khi ban hành các quy phạm pháp luật cũng như thi hành trên thực tế, nhà nước luôn phải cân nhắc đến các mối quan hệ trên nhằm tìm ra được phương án, kế hoạch, chính sách phù hợp nhất; làm rõ hơn mối liên kết giữa bảo tồn ĐDSH và công tác xóa đói giảm nghèo tiến đến bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH theo hướng thúc đẩy và hỗ trợ xoá đói, giảm nghèo; giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước với công tác bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên đang có nguy cơ bị phá vỡ, các giống loài đang dần tuyệt chủng do sức ép của sự phát triển Nghị định 109/2003/NĐ-CP cũng từng cân nhắc đến vấn đề này: Kết hợp sử dụng, khai thác với bảo tồn, ưu tiên bảo tồn đối với các vùng đất ngập nước có hệ sinh thái đặc thù, ĐDSH cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia62
Trang 342.1.3 Nguyên tắc bảo tồn tại chỗ là chính, kết hợp bảo tồn tại chỗ với bảo tồn chuyển chỗ 63
Tiếp thu khái niệm bảo tồn tại chỗ (bảo tồn nội vi) và bảo tồn chuyển chỗ (bảo tồn ngoại vi) của Công ước ĐDSH64, Luật ĐDSH đã đưa ra định nghĩa về bảo tồn tại chỗ65 và bảo tồn chuyển chỗ66 Công tác bảo tồn chủ yếu dựa vào bảo tồn tại chỗ do bảo tồn tại chỗ giúp duy trì được trạng thái vốn có của các hệ sinh thái và sinh vật, giúp chúng giữ lại các đặc điểm đặc trưng của mình Tuy nhiên, việc bảo tồn tại chỗ cũng đòi hỏi phải tiêu tốn nhiều công sức để duy trì các khu bảo tồn đủ lớn để loài được bảo tồn có thể tồn tại với số lượng lớn bởi chỉ khi tồn tại với số lượng đủ lớn thì mới có thể duy trì sự đa dạng gien cần thiết cho việc tiếp tục thích nghi và tiến hoá, duy trì sự sống còn của loài Hiện nay, Việt Nam đã thành lập nhiều khu bảo tồn tự nhiên như vườn quốc gia Cúc Phương (Ninh Bình, Hoà Bình, Thanh Hoá), Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), Ba Bể (Bắc Kạn)…
Chính vì lợi ích mà bảo tồn tại chỗ mang lại nên bảo tồn chuyển chỗ được xem là kế sách cuối cùng được dùng đối với các loài sinh vật, khi mà việc bảo tồn tại chỗ trở nên quá khó hoặc bất khả thi Trong việc bảo vệ một loài nguy cấp, bảo tồn chuyển chỗ có thể được áp dụng bằng cách chuyển một phần loài hoang dã, loài cây trồng hoặc vật nuôi đặc hữu đó từ môi trường sống bị đe dọa và đưa đến một chỗ mới, có thể là một khu vực hoang dã hoặc một khu vực có sự chăm sóc của con người Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm
cả những phương pháp cổ điển và phổ biến nhất như các vườn thú, các trang trại bảo tồn, vườn thực vật, vườn cây thuốc Nó cũng bao gồm các phương pháp mới và hiện đại nhất như các phương pháp nuôi cấy, lưu trữ gien trong phòng thí nghiệm
66
Khoản 3 điều 3 Luật ĐDSH: Bảo tồn chuyển chỗ là “bảo tồn loài hoang dã ngoài môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo muà của chúng; bảo tồn loài cây trồng, vật nuôi đặc hữu, có giá trị ngoài môi trường sống, nơi hình thành và phát triển các đặc điểm đặc trưng của chúng; lưu giữ, bảo quản nguồn gien và mẫu vật di truyền trong các cơ sở khoa học và công nghệ hoặc cơ sở lưu giữ, bảo quản nguồn gien và mẫu vật di truyền”
Trang 352.1.4 Nguyên tắc tổ chức, cá nhân hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng đa dạng sinh học phải chia sẻ lợi ích với các bên có liên quan; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của nhà nước với lợi ích của tổ chức, cá nhân 67
Nếu nguyên tắc thứ hai là sự cân bằng giữa ước muốn bảo tồn và nhu cầu của con người đối với ĐDSH thì nguyên tắc này thể hiện sự cố gắng hài hoà, cân bằng lợi ích giữa các nhóm chủ thể trong mối quan hệ với ĐDSH Việt Nam
“Các bên liên quan” và “tổ chức, cá nhân” trong nguyên tắc không được quy định
cụ thể nhưng từ phạm vi điều chỉnh, đối tượng điều chỉnh của Luật ĐDSH68, ta có thể xác định các bên liên quan ở đây là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động trực tiếp hoặc liên quan đến bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH ở Việt Nam Việc chia sẻ lợi ích này cũng được nhắc đến trong một vài điều luật cụ thể như: điều 29 về quyền và trách nhiệm của Ban quản lý, tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn, điều 30 và 31 về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn và tổ chức, cá nhân có hoạt động hợp pháp trong khu bảo tồn…
Như vậy, khi ban hành chính sách, pháp luật, nhà nước cần phải cân nhắc đến việc điều chỉnh lợi ích của các bên liên quan trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trên
cơ sở công bằng và bình đẳng trước pháp luật cũng như giữa các nhóm chủ thể đó với chính nhà nước Bên cạnh đó, các chủ thể khi tiến hành các hoạt động sử dụng, khai thác ĐDSH hợp pháp cũng cần cân nhắc đến việc chia sẻ lợi ích với các bên liên quan
2.1.5 Nguyên tắc bảo đảm quản lý rủi ro do sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gien gây ra đối với đa dạng sinh học 69
Quản lý rủi ro là “việc thực hiện các biện pháp an toàn để ngăn ngừa, xử lý và khắc phục rủi ro đối với ĐDSH trong các hoạt động có liên quan đến sinh vật biến đổi gien và mẫu vật di truyền của sinh vật biến đổi gien”70
Nguyên tắc này được tiếp thu từ Công ước về ĐDSH và Nghị định thư Cartagena về
An toàn sinh học và được cụ thể hoá ở các điều luật tại mục 3 chương V Luật ĐDSH và Nghị định 69/2010/NĐ-CP về An toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gien, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gien Thông qua các quy định về kiểm soát sinh vật biến đổi gien, bao gồm các quy định về báo cáo đánh giá rủi ro; công khai thông tin
Trang 36về mức độ rủi ro và biện pháp quản lý rủi ro; quản lý cơ sở dữ liệu về sinh vật biến đổi gien; nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và khảo nghiệm; sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, xuất khẩu, vận chuyển và lưu giữ; cấp giấy chứng nhận an toàn sinh học…, nguyên tắc nói chung và các quy định cụ thể nói riêng đã xác lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý an toàn sinh học, từ đó tiến đến việc áp dụng trên thực tiễn
Tóm lại, qua các nguyên tắc chung, ta xác định được tư tưởng chỉ đạo của nhà nước trong công tác bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam để rồi từ đó, ta tiến hành nghiên cứu đến các quy phạm pháp luật cụ thể về: bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, bảo vệ các loài sinh vật và bảo vệ tài nguyên di truyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam
2.6 Pháp luật về bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên
Trong quá trình soạn thảo, Luật ĐDSH được xây dựng với tính chất là một luật khung quy định những nguyên tắc, vấn đề chung, trên cơ sở kế thừa và dẫn chiếu các quy định của pháp luật chuyên ngành như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản, Pháp lệnh giống cây trồng, Pháp lệnh giống vật nuôi…và bổ sung, hoàn thiện các quy định khác để bảo đảm tính thống nhất giữa Luật này với các văn bản pháp luật có liên quan trong hệ thống pháp luật chung của quốc gia
Để phân biệt với các khu bảo tồn di tích lịch sử, di tích cách mạng, những nhà lập
pháp đã gọi chung các khu vực dùng để bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên là khu bảo tồn
thiên nhiên71 đồng thời, quy định cụ thể các hệ sinh thái tự nhiên gồm72: hệ sinh thái rừng
tự nhiên; hệ sinh thái tự nhiên trên biển; hệ sinh thái tự nhiên trên các vùng đất ngập nước
tự nhiên, vùng núi đá vôi, vùng đất chưa sử dụng không thuộc các hệ sinh thái tự nhiên trước đó Từ đó, ta có thể xác định hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm: các khu bảo tồn rừng tự nhiên; các khu bảo tồn biển; các khu bảo tồn vùng đất ngập nước tự nhiên, vùng núi đá vôi, vùng đất chưa sử dụng không thuộc các hệ sinh thái tự nhiên trước đó
Tiếp theo, Luật ĐDSH tiến hành phân loại và phân cấp các khu bảo tồn thành:
Vườn quốc gia73: tuy Luật ĐDSH không tiến hành phân cấp vườn quốc gia nhưng từ tên gọi và từ đặc điểm được quy định ở khoản 1 “có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên”, ta có thể suy luận rằng vườn quốc gia tồn tại ở cấp quốc gia mà không tồn tại ở cấp tỉnh Song, do
Trang 37chưa thật sự được quy định rõ ràng trong Luật nên khó tránh những trường hợp trên thực
tế xuất hiện vườn quốc gia cấp tỉnh Do đó, cần có cơ sở pháp lý rõ ràng trong quy định việc phân cấp đối với vườn quốc gia để có thể xác định chính xác địa vị pháp lý của vườn quốc gia khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn Khu dự trữ thiên nhiên74, khu bảo tồn loài – sinh cảnh75 và khu bảo vệ cảnh quan76 đều được phân thành cấp quốc gia và cấp tỉnh căn
cứ vào mức độ ĐDSH, giá trị ĐDSH, quy mô diện tích để từ đó, có chính sách quản lý, đầu tư phù hợp
Về trách nhiệm quản lý khu bảo tồn, căn cứ vào địa giới hành chính và phân cấp
khu bảo tồn, ta có77:
- Khu bảo tồn cấp quốc gia có diện tích thuộc địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên sẽ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý (đối với khu bảo tồn rừng đặc dụng trên cạn, khu bảo tồn biển) và Bộ Tài nguyên
và Môi trường quản lý (đối với khu bảo tồn vùng đất ngập nước tự nhiên, vùng núi
đá vôi, vùng đất chưa sử dụng; các vùng sinh thái hỗn hợp) Như vậy, các khu bảo tồn do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý phải đáp ứng đủ hai điều kiện sau: thứ nhất, đó phải là khu bảo tồn cấp quốc gia; thứ hai, khu bảo tồn phải có diện tích thuộc địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên
- Khu bảo tồn có toàn bộ diện tích thuộc địa bàn một tỉnh sẽ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý Như vậy, dù là khu bảo tồn cấp tỉnh hay khu bảo tồn cấp quốc gia thì chỉ cần có toàn bộ diện tích thuộc địa bàn một tỉnh sẽ do Uỷ ban nhân dân tỉnh đó quản lý Quy định phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH cho địa phương đã góp phần phát huy tính chủ động, nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ ĐDSH trên địa bàn
và thiết thực đối với thực tiễn
Khác với công tác quản lý đòi hỏi tính cơ động, linh hoạt nên dù là khu bảo tồn cấp quốc gia nhưng toàn bộ diện tích nằm gọn trong một tỉnh sẽ do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
quản lý, việc lập quy hoạch bảo tồn lại đòi hỏi nhiều về kinh phí cũng như tính chuyên
môn Do đó, tác giả nhận thấy rằng đối với các khu bảo tồn cấp quốc gia, ta không nên xác định trách nhiệm lập dự án thuộc về Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh như Luật ĐDSH quy
Trang 38định78 dù trên thực tế, khu bảo tồn đó có toàn bộ diện tích nằm trên địa bàn tỉnh đó vì hiện nay hầu hết các khu vực có ĐDSH cao phần lớn đều thuộc các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nếu xác định đây là trách nhiệm của tỉnh thì sẽ rất khó khả thi Bên cạnh trách nhiệm quản lý của cấp Bộ và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Luật ĐDSH
cũng quy định tổ chức nào phù hợp trở thành Ban quản lý quản lý trực tiếp khu bảo
tồn79 Đối với khu bảo tồn cấp quốc gia, Ban quản lý là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ
về tài chính hoặc đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ về tài chính Khu bảo tồn cấp tỉnh sẽ giao cho Ban quản lý là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ về tài chính hoặc đơn vị
sự nghiệp công lập chưa tự chủ về tài chính hoặc tổ chức được giao quản lý khu bảo tồn theo quy định pháp luật
Việc quy định như vậy đã đáp ứng chủ trương xã hội hóa hoạt động bảo vệ ĐDSH bằng việc cho các tổ chức đủ điều kiện theo quy định của pháp luật tham gia quản lý Các
tổ chức này sẽ hoạt động theo quy chế quản lý khu bảo tồn, quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan Song, trong điều kiện thực tiễn hiện nay, cơ sở vật chất - kỹ thuật của các khu bảo tồn vẫn còn nhiều hạn chế nên vẫn cần thiết phải có sự đầu tư của nhà nước để bảo đảm hoạt động của các Ban quản lý khu bảo tồn Do vậy, để giải quyết các vấn đề trên, đối với khu bảo tồn cấp quốc gia thì Ban quản lý là đơn vị sự nghiệp công; đối với khu bảo tồn cấp tỉnh thì tùy điều kiện thực tiễn mà Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể giao cho Ban quản lý là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc giao cho tổ chức
tự chủ về tài chính có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan quản lý Từ đó, các Ban quản lý có thể chủ động tổ chức kinh doanh, liên doanh cung ứng dịch vụ, sử dụng ĐDSH trong khu bảo tồn tạo thêm nguồn kinh phí cho hoạt động bảo tồn ĐDSH, đảm bảo khả năng thực hiện bảo vệ ĐDSH trên thực tế Như đã trình bày, lược sử quá trình ban hành quy phạm pháp luật nhằm bảo vệ ĐDSH ở Việt Nam ta cho thấy không ít các khu bảo tồn được thành lập theo các văn bản
có trước Luật ĐDSH Vì thế, Luật ĐDSH không quên quy định điều khoản chuyển
tiếp80: những khu bảo tồn đã thành lập theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thuỷ sản (trước khi Luật ĐDSH có hiệu lực) mà đáp ứng các tiêu chí xác lập khu bảo tồn theo quy định của Luật ĐDSH thì không phải ra quyết định thành lập lại Không ra quyết định thành lập lại cũng có nghĩa là giữ nguyên tên gọi và chấp nhận các cách phân loại cũ Theo đó, hệ thống các khu bảo tồn ở Việt Nam sẽ bao gồm rất nhiều loại, gây khó khăn cho việc phân biệt, nhận thức
Trang 39Tại chương về điều khoản thi hành, tiếp theo điều khoản về quy định chuyển tiếp là
điều khoản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Việc quy định Chính phủ “hướng
dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật ĐDSH để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước”81 đã tạo sự linh động cho Chính phủ trong công tác quản lý, tránh xuất hiện tình trạng Luật quy định không đủ, không rõ ràng nhưng Chính phủ không thể điều chỉnh Đây được xem là quy định nhằm nâng cao vai trò của Chính phủ trong điều hành, quản lý đất nước thông qua việc Quốc hội cho phép Chính phủ chủ động hướng dẫn những nội dung khác của luật nếu thấy cần thiết mà không nhất thiết chỉ hướng dẫn những nội dung được giao, hạn chế tình trạng vi phạm nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa khi Chính phủ quy định “vượt mặt” so với phạm vi Quốc hội giao; cũng như khắc phục được tình trạng thiếu quy phạm điều chỉnh, đảm bảo xuyên suốt quá trình áp dụng vào thực tiễn nếu xuất hiện những yêu cầu phải hướng dẫn mà các cơ quan quản lý nhà nước chưa thể lường hết được thì Chính phủ có thể ban hành tiếp các văn bản hướng dẫn thi hành để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
Các vùng đất ngập nước trên thế giới nói chung và ở Đông nam Á nói riêng rất quan trọng đối với ĐDSH, phát triển kinh tế và đời sống của các cộng đồng dân cư Bao lâu nay, các vùng đất ngập nước đã bị xem là đất hoang và bị cải tạo thành các dạng sử dụng đất khác để rồi rất nhiều cùng đất ngập nước quan trọng trong khu vực hiện không được bảo vệ và bị đe dọa nghiêm trọng Nhận thức được tầm quan trọng của đất ngập nước, nhiều quốc gia trong khu vực đã tham gia công ước Ramsar, cam kết sử dụng khôn khéo đất ngập nước, đề cử và bảo tồn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế và Việt Nam cũng không ngoại lệ
Tuy Luật ĐDSH ra đời năm 2008 nhưng đến nay, để điều chỉnh cụ thể việc bảo tồn các vùng đất ngập nước, ta vẫn dùng Nghị định số 109/2003/NĐ-CP và Thông tư số 18/2004/TT-BTNMT mà chưa có văn bản mới được ban hành căn cứ vào Luật ĐDSH
Do ban hành trước năm 2008 nên Nghị định 109/2003/NĐ-CP không tránh khỏi việc có nhiều quy định không phù hợp với Luật ĐDSH
Trước thời điểm có Luật về ĐDSH điều chỉnh lĩnh vực bảo vệ ĐDSH nói chung, có thể nói xét trên phương diện kỹ thuật lập pháp, Nghị định số 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn
và phát triển các vùng đất ngập nước có nhiều quy định khá toàn diện và cụ thể về bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH nói chung, bảo vệ đa dạng hệ sinh thái đất ngập nước nói riêng Chẳng hạn, Nghị định quy định phải tiến hành khoanh vùng bảo vệ các vùng
81
Điều 78 Luật ĐDSH
Trang 40đất ngập nước dưới dạng khu Ramsar, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh82… cũng như đã bước đầu điều chỉnh cả các hoạt động có ảnh hưởng lớn đến ĐDSH, như: hoạt động du lịch sinh thái, hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, canh tác nông nghiệp83… Đây là quy định có giá trị thực tế rất cao vì hiện nay du lịch đang có tác động mạnh mẽ tới môi trường theo chiều hướng xấu, trong khi những khu vực có tính ĐDSH cao và những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế lại luôn là đối tượng hướng tới của các hoạt động tham quan, du lịch; mặt khác, hệ sinh thái tự nhiên trên các vùng đất ngập nước thuận lợi cho hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, canh tác nông nghiệp song những hoạt động đó cũng tác động không nhỏ đến hệ sinh thái này
Nghị định số 109/2003/NĐ-CP gọi chung các khu vực dùng để bảo vệ hệ sinh thái
tự nhiên trên các vùng đất ngập nước là khu bảo tồn đất ngập nước84 Theo đó, căn cứ vào tầm quan trọng của vùng đất ngập nước, ta có các tên gọi cụ thể sau: Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia sẽ được bảo vệ dưới hình thức khu Ramsar, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh; còn các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng đối với cấp tỉnh thì được bảo vệ dưới hình thức khu bảo tồn đất
ngập nước Tuy không có điều khoản quy định cụ thể về việc phân cấp như Luật ĐDSH
nhưng điều 12 Nghị định cho thấy những nhà lập pháp vẫn có ý định phân cấp khu bảo tồn thành cấp quốc gia (có tầm quan trọng đối với quốc gia, quốc tế) và cấp tỉnh
Nếu Luật ĐDSH chủ yếu căn cứ vào địa giới hành chính của khu bảo tồn để phân định trách nhiệm quản lý giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đối với các khu bảo tồn vùng đất ngập nước tự nhiên (dựa theo nội dung và cách trình bày quy định, việc phân định trách nhiệm quản lý được tiến hành đối với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trước, do đó, khu bảo tồn cấp quốc gia nhưng diện tích chỉ nằm trên điạ giới một tỉnh vẫn sẽ do Uỷ ban nhân dân quản lý)85 thì Nghị định số 109/2003/NĐ-CP lại chủ
yếu dựa vào phân cấp của khu bảo tồn để xác định trách nhiệm quản lý giữa Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ thuỷ sản86 và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (dựa theo nội dung và cách trình bày quy định, việc phân định trách nhiệm quản lý được tiến hành đối
Với Nghị định 01/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ của Bộ Thuỷ sản (khoản 8 điều 2) cùng với sự thành lập Tổng cục Thuỷ sản theo Quyết định 05/2010/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuỷ sản trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn