Bên cạnh đó, không ít CQTHTT và người tiến hành tố tụng chưa tuân thủ nghiêm qui định của BLTTHS về trình tự thủ tục HCBC, không gửi giấy triệu tập bị can để hỏi cung mà triệu tập qua đi
Trang 1VÕ MINH ĐẠT
HỎI CUNG BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 2HỎI CUNG BỊ CAN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật Hình sự & Luật Tố tụng hình sự
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng
dẫn của Tiến sĩ Võ Thị Kim Oanh Những thông tin, tài liệu trong Luận văn được
thu thập một cách khách quan, trung thực, số liệu minh chứng có nguồn gốc rõ ràng Không sao chép của bất kỳ công trình khoa học nào khác
Với khả năng nghiên cứu có hạn, trình độ lý luận khoa học pháp lý còn nhiều hạn chế nên quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong được quí thầy, cô đóng góp để tác giả hoàn thiện hơn trong thực tiển áp dụng pháp luật của bản thân
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Người viết
Võ Minh Đạt
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- CQĐT Cơ quan điều tra
- CQTHTT Cơ quan tiến hành tố tụng
- CAND Công an nhân dân
- CATG Công an Tiển Giang
- KTVA Khởi tố vụ án
- KTBC Khởi tố bị can
- KHXH&NV Khoa học xã hội và nhân văn
- NCTN Người chưa thành niên
- TTHS Tố tụng hình sự
- VKSNDTC Viện kiểm sát Nhân dân Tối cao
- VKSND Viện kiểm sát nhân dân
- VBQPPL Văn bản Quy phạm pháp luật
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TRIỆU TẬP BỊ CAN THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 6
1.1 Qui định của pháp luật tố tụng hình sự về triệu tập bị can 6
1.2 Thực tiển áp dụng pháp luật về triệu tập bị can 13
1.3 Nguyên nhân hạn chế 21
1.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về triệu tập bị can 21
Kết luận chương 1 23
CHƯƠNG 2 SỐ LẦN VÀ THỜI GIAN HỎI CUNG BỊ CAN 24
2.1 Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về số lần và thời gian hỏi cung bị can 24
2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về số lần hỏi cung bị can và thời gian hỏi cung bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 29
2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về số lần hỏi cung và thời gian HCBC trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 36
Kết luận chương 2 37
KẾT LUẬN 38 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đề ra nhiều chủ trương cải cách mạnh
mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia giám sát của nhân dân đối với hoạt động
tư pháp Quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo trong TTHS đã được Đảng và Nhà nước quan tâm thể hiện rõ qua Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị “bảo đảm và tôn trọng dân chủ, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”1; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.”2 Nghị quyết số 48-
NQ/TW ngày 24/5/2005 xác định “cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân”3 Chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc quyền và lợi ích hợp pháp của bị can qua việc cụ thể hóa bằng pháp luật hình sự và TTHS
Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 tiếp tục ghi nhận “Mọi người
có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự
và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối
xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”4
Điều tra trong TTHS là giai đoạn đầu tiên có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết VAHS Trong giai đoạn này, CQĐT được áp dụng các biện pháp điều tra
để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội Các hoạt động điều tra trong giai đoạn này ảnh hưởng và liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng nói chung và bị can nói riêng Để giải quyết VAHS được nhanh chóng, kịp thời xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can nói riêng, CQTHTT, người tiến hành tố tụng phải triệt để tuân thủ các qui định của BLTTHS
1 Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
2
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
3 Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
4
Điều 20 Hiến pháp năm 2013;
Trang 7HCBC là một trong những biện pháp điều tra theo qui định của BLTTHS, có vai trò, vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động điều tra VAHS Thông qua công tác HCBC giúp CQĐT làm rõ được nguyên nhân, điều kiện, động cơ, mục đích phạm tội làm rõ sự thật khách quan của vụ án; mở rộng điều tra, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm HCBC là hoạt động mang tính phức tạp, nhạy cảm; để thu thập được những chứng cứ có giá trị chứng minh, ngoài việc tiến hành theo trình tự, thủ tục theo qui định của BLTTHS, cơ quan tiến hành tố tụng còn sử dụng các biện pháp nghiệp vụ tác động trực tiếp đến tâm lý bị can trong quá trình hỏi cung BLTTHS năm 2015 đã qui định về trình tự, thủ tục HCBC tương đối chặt chẽ, hợp lý, đảm bảo tính khách quan trong việc thu thập chứng cứ chứng minh từ hoạt động HCBC; đồng thời đảm bảo quyền con người của bị can, chống bức cung, nhục hình
Tuy nhiên, thực tiển áp dụng pháp luật còn bộc lộ nhiều hạn chế Hoạt động triệu tập bị can trong giai đoạn chuẩn bị hỏi cung và việc giới hạn số lần hỏi cung, thời gian tiến hành hỏi cung vẫn còn tùy tiện, không thống nhất, chưa đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của bị can dẫn đến việc giải quyết một số VAHS đạt hiệu quả không cao Bên cạnh đó, không ít CQTHTT và người tiến hành tố tụng chưa tuân thủ nghiêm qui định của BLTTHS về trình tự thủ tục HCBC, không gửi giấy triệu tập bị can để hỏi cung mà triệu tập qua điện thoại, nội dung làm việc ghi trên giấy triệu tập còn mang tính chung chung…; thời gian hỏi cung kéo dài, thực hiện hỏi cung nhiều lần trong ngày… dẫn đến quyền, lợi ích của bị can bị xâm hại Một số qui định của pháp luật tố tụng còn vướng mắc, bất cập, chưa qui định cụ thể số lần hỏi cung, giới hạn thời gian hỏi cung và chưa cụ thể hóa các trường hợp cần thiết phải hỏi cung ban đêm, dẫn đến tình trạng lợi dụng việc hỏi cung ban đêm ép bị can phải hoạt động liên tục trái với qui luật sinh hoạt nhằm truy bức, ép cung bị can Dẫn đến oan, sai, vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của các CQTHTT, chưa đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình cải cách tư pháp ở nước
Việt Nam Vì vậy học viên chọn đề tài “Hỏi cung bị can theo Luật Tố tụng hình sự việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho khóa học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Theo tìm hiểu của tác giả cho đến thời điểm hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về HCBC ở những mức độ và phạm vi nghiên cứu khác nhau như:
- Khóa luận cử nhân luật “Hỏi cung trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Nguyễn Trương Thùy Linh, Đại học Luật TPHCM (2012)
Trang 8- Khóa luận cử nhân luật “Hỏi cung trong tố tụng hình sự Việt Nam” của
Nguyễn Minh Tuấn, Trường ĐH Luật TPHCM (năm 2012)
- Luận văn thạc sĩ “Hỏi cung bị can là người chưa thành niên trong tố tụng
hình sự Việt nam” của Hồ Ngọc Quân, Trường ĐH Luật TPHCM (năm 2017)
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu khác đề cập đến vấn đề HCBC
như: “Giáo trình Luật Tố tụng hình sự” của Trường ĐH Luật TPHCM; BLTTHS năm 2003; BLTTHS năm 2015; Sách chuyên khảo: “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003” do tác giả Võ Khánh Vinh chủ biên…
Các công trình nghiên cứu và nội dung của sách, bài viết nêu trên đã mang lại nhiều kết quả có giá trị Tuy nhiên các công trình nêu trên ở nhiều mức độ khác nhau chỉ đề cập vấn đề với tính chất bình luận chung các qui định của pháp luật về HCBC, chủ thể, thẩm quyền, trình tự, thủ tục HCBC hoặc chỉ giới hạn nghiên cứu chuyên sâu
về vấn đề HCBC đối với một tội danh cụ thể, một góc cạnh chuyên sâu, bao quát về trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành HCBC là NCTN trong TTHS Việt Nam, cũng như việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là NCTN trong hoạt động HCBC.…chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể qui định về triệu tập bị can, giới hạn số lần hỏi cung và thời gian HCBC, cũng như chưa phân tích những bất cập, hạn chế trong qui định về triệu tập bị can và giới hạn số lần hỏi cung, thời gian HCBC Mặc khác, việc triệu tập bị can và giới hạn số lần hỏi cung, thời gian tiến hành HCBC có ý nghĩa rất quan trọng đối với biện pháp HCBC, góp phần đảm bảo thu thập chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, đảm bảo giá trị chứng minh; tránh tình trạng truy bức, ép cung xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can BLTTHS năm 2015 5 đã sửa đổi, bổ sung khắc phục hạn chế của BLTTHS năm 2003
về triệu tập bị can, giới hạn số lần, thời gian HCBC nhưng các qui định vẫn mang tính chung chung, chưa cụ thể, chưa rỏ ràng; còn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định Trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu, tiếp tục nghiên cứu sâu quy định của pháp luật TTHS về “Triệu tập bị can” và “số lần hỏi cung và thời gian HCBC” đối chiếu với thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua đối với hai hoạt động này để đánh giá một cách có hệ thống, toàn diện, đầy đủ hơn; từ đó đề xuất một
số giải pháp để góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất lượng của ĐTV trong hoạt động HCBC ở giai đoạn điều tra VAHS
5
Điều 182, Điều 183, Điều 421 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trang 93 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích này thì luận văn có nhiệm vụ sau: Nêu
các quy định của pháp luật về triệu tập bị can và số lần hỏi cung, thời gian HCBC trong giai đoạn điều tra VAHS; nghiên cứu, đánh giá về mặt thực tiễn áp dụng pháp luật đối với hai vần đề ngày, đánh giá những vướng mắc, bất cập trong thời gian qua, xác định rõ các nguyên nhân, hạn chế Từ đó, nêu các giải pháp để hoàn thiện
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động hỏi cung bị can trong giai đoạn điều
tra VAHS theo qui định của Luật Tố tụng hình sự Việt Nam
- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: HCBC trong giai đoạn điều tra VAHS có
nhiều nội dung, trong phạm vi của luận văn này tác giả chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung có nhiều vướng mắc, hạn chế trong thực tiển áp dụng pháp luật về vấn đề “Triệu tập bị can” và “Số lần và thời gian hỏi cung bị can” trong giai đoạn điều tra VAHS Mốc thời gian khảo sát, nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2017
5 Phương pháp nghiên cứu: để phục vụ cho việc nghiên cứu, tác giả sử
dụng phương pháp phân tích, đánh giá các qui định của BLTTHS, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách tư pháp, các văn bản qui phạm pháp luật dưới luật Ngoài ra trong luận văn học viên còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu thông thường như phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp, phương pháp chuyên gia để hoàn thành luận văn của mình
6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài
- Dự kiến kết quả nghiên cứu: Đề tài góp phần hoàn thiện nội dung Điều
182, Điều 183 và Điều 421 BLTTHS năm 2015; Liên ngành Tư pháp Trung ương
có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự thống nhất; hoàn thiện quy
Trang 10định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động triệu tập bị can và số lần hỏi cung, thời gian HCBC trong pháp luật TTHS Việt Nam
Địa chỉ ứng dụng: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho ĐTV Cơ quan
CSĐT vận dụng khi thực hiện nhiệm vụ Ngoài ra còn có thể sử dụng kết quả nghiên cứu đề tài để tham khảo, sử dụng trong việc giảng dạy luật
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương với cơ cấu như sau:
- Chương I: Triệu tập bị can
- Chương II: Số lần hỏi cung và thời gian hỏi cung bị can
Trang 11CHƯƠNG 1 TRIỆU TẬP BỊ CAN THEO QUI ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Qui định của pháp luật tố tụng hình sự về triệu tập bị can
- Khái niệm chung về triệu tập bị can
+ Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý “Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự”,6 còn theo từ điển Tiếng Việt “Bị can là người phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội đã bị khởi tố hình sự”7 Theo Khoản 1, Điều 60, BLTTHS năm
2015 thì“ Bị can là người hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự Quyền và nghĩa
vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này” Khi có đủ căn cứ để xác định một
người hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội, CQĐT ra quyết định KTBC Quyết định KTBC của CQĐT phải được VKS cùng cấp phê chuẩn, theo đó tư cách bị can chỉ được hình thành từ khi CQĐT ra quyết định KTBC và quyết định đó phải được VKS cùng cấp phê chuẩn Bởi vì, theo nguyên tắc suy
đoán vô tội của BLTTHS “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”8, bị can chưa bị coi là người có tội mà bị can
là người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra, truy tố9 và người bị buộc tội được coi
là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật10 Từ đó có thể định nghĩa: “bị can là người hoặc pháp nhân thương mại bị khởi tố hình sự và tham gia hoạt động tố tụng
kể từ khi có quyết định KTBC”
+ Việc xác định thời điểm hình thành và chấm dứt tư cách bị can có ý nghĩa hết sức quan trọng, tư cách của những người tham gia tố tụng trong VAHS như: người bị tạm giữ, bị can, bị cáo… gắn liền với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
họ, cũng như việc áp dụng trình tự, thủ tục triệu tập hỏi cung hoặc lấy lời khai
+ Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm KHXH&NV thì “Triệu tập là gọi, mời đến một địa điểm tập trung nào đó, (thường để hội họp, làm việc…), triệu tập
6 Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Tư pháp & NXB Từ điển bách khoa
7 Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương (2005), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm khoa học xã
hội và nhân văn, Nxb văn hóa Sài Gòn, tr.99
Trang 12đại hội, giấy triệu tập” 11 Theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam “Triệu tập bị can là hoạt động tố tụng hình sự của điều tra viên hoặc kiểm sát viên nhằm đảm bảo sự có mặt của bị can để tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố”12 Như vậy
có thể định nghĩa “Triệu tập bị can trong giai đoạn điều tra VAHS là việc cơ quan điều tra ban hành văn bản theo đúng trình tự, thủ tục luật định nhằm triệu tập bị can đến một địa điểm cụ thể để tiến hành các hoạt động điều tra như hỏi cung bị can, đối chất ”
- Đặc điểm, ý nghĩa triệu tập bị can
+ Triệu tập bị can trong giai đoạn điều tra VAHS là hoạt động thuộc thẩm quyền của CQĐT mà cụ thể do ĐTV, thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT thực hiện nhằm yêu cầu bị can có mặt tại nơi được triệu tập để tiến hành các hoạt động TTHS nhất định như: HCBC, đối chất… Các cơ quan khác trong CAND được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không có thẩm quyền triệu tập bị can
+ Giấy triệu tập bị can là biểu mẫu tố tụng hình sự được sử dụng thống nhất cho CQĐT trong hoạt động điều tra VAHS và chỉ sử dụng để triệu tập một chủ thể
nhất định là “Bị can” Việc ban hành, tống đạt giấy triệu tập bị can phải tuân thủ
theo trình tự, thủ tục được qui định tại Điều 182, BLTTHS năm 2015
+ Triệu tập bị can là một trong những khâu quan trọng trong công tác chuẩn
bị hỏi cung của ĐTV, góp phần làm rỏ sự thật khách quan của vụ án
+ Việc chấp hành pháp luật về triệu tập bị can không những góp phần giúp ĐTV có sự chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động hỏi cung, đảm bảo tâm lý cho bị can thực hiện quyền khai báo của mình mà còn tránh thông cung giữa các bị can
“Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau.”13
và đảm bảo quyền được biết về việc triệu tập HCBC để họ có sự chuẩn
bị trong thực hiện quyền “tự bào chữa, nhờ người bào chữa”14, trong đó bao gồm
cả bị can là người dưới 18 tuổi, theo nguyên tắc “người bị bắt, tạm giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”15, ngăn ngừa hành vi bức cung, nhục hình của ĐTV trong quá trình HCBC
11 Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương (2005), tlđd (7) tr 1223
12 Viện chiến lược và khoa học Bộ Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công an Nhân dân Việt Nam, Nhà
Trang 13* Thẩm quyền triệu tập bị can
“Khi triệu tập bị can, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập…” 16 Theo qui định trên, thì chủ thể có quyền triệu tập bị can là ĐTV được phân công điều tra VAHS Điều tra viên là người được bổ nhiệm để làm nhiệm vụ Điều tra hình sự17 Quyền triệu tập bị can của ĐTV xuất phát từ quyền hỏi cung bị can của ĐTV được qui định tại điểm d, khoản 1, Điều 37, BLTTHS năm 2015 Khi được phân công
điều tra VAHS, ĐTV có quyền “triệu tập và hỏi cung bị can”
BLTTHS năm 2015 đã kế thừa những nội dung cơ bản về thẩm quyền triệu tập bị can của BLTTHS năm 2003 Tuy nhiên để đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ trong thực tiển áp dụng BLTTHS năm 2003, BCA đã ban hành Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12/01/2006 hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Điều 35, BLTTHS năm 2003 và Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/7/2014 của BCA qui định về công tác điều tra hình sự trong CAND, theo đó qui định:
- Chỉ có “ĐTV được phân công thụ lý chính vụ án được ký giấy triệu tập bị can tại ngoại để hỏi cung… theo kế hoạch đã được Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra được phân công chỉ đạo điều tra vụ án duyệt …” và “ ký phiếu trích xuất bị can đang bị tạm giam… để thực hiện các biện pháp điều tra như hỏi cung, đối chất…”18 Như vậy, trong giai đoạn điều tra VAHS “triệu tập và hỏi cung bị can” là một trong những nhiệm vụ, quyền hạn chính của ĐTV và đặt dưới
sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT chỉ đạo vụ án
- Mặt khác, “Giấy triệu tập là biểu mẫu TTHS được sử dụng trong hoạt động TTHS nên chỉ CQĐT hoặc cơ quan khác trong CAND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới được sử dụng ” 19 Với qui định này, một lần nữa xác định tư cách pháp lý về thẩm quyền ban hành giấy triệu tập bị can của CQĐT, chỉ có CQĐT mới có thẩm quyền ban hành giấy triệu tập bị can, cơ quan khác trong CAND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ có thẩm quyền ban hành giấy triệu tập hoặc giấy mời đối với các chủ thể tham gia tố tụng khác như: người làm chứng, người bị hại
- Về trách nhiệm “Điều tra viên phải có trách nhiệm sử dụng các biểu mẫu
tố tụng hình sự đúng mục đích, đúng đối tượng, giữ gìn cẩn thận; không được đóng dấu khống chỉ vào biểu mẫu tố tụng hình sự hoặc cho người khác sử dụng biểu mẫu
16
Khoản 1, Điều 182, BLTTHS năm 2015
17 Khoản 1, Điều 45, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015
18 Khoản 1.1, khoản 1.2, mục 1, Thông tư số 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12/01/2006
19
Khoản 1.4, mục 1, Thông tư 01/2006/TT-BCA(C11) ngày 12/01/2006
Trang 14tố tụng hình sự”20 Qui định này một lần nữa xác định trách nhiệm và nghĩa vụ ĐTV phải thực hiện, tránh việc lạm dụng giấy triệu tập bị can để gọi hỏi những vấn
đề không liên quan đến vụ án vì động cơ vụ lợi cá nhân xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, ĐTV tuyệt đối không ký, đóng dấu khống chỉ hoặc cho người không có trách nhiệm mượn để sử dụng có thể dẫn đến hậu quả pháp lý không thể lường trước được
BLTTHS năm 2015 đã có thiếu sót khi không pháp điển hóa qui định về thẩm quyền triệu tập bị can của các thông tư nêu trên; đồng thời cũng chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện thống nhất về thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của ĐTV
về triệu tập bị can Do đó quá trình áp dụng thực tế sẽ không tránh khỏi sự tùy tiện
- Khoản 1, Điều 182, BLTTHS năm 2015, về cơ bản kế thừa toàn bộ nội dung qui định của khoản 1, Điều 129, BLTTHS năm 2003; đồng thời sửa đổi, bổ
sung theo hướng thay thế thuật ngữ “lý do chính đáng” bằng cụm từ “lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” Với việc sửa đổi bổ sung này, nhà làm luật đã pháp điển hóa qui định về “ lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” tại điểm 5.1, khoản 5, mục 1, Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP của
Hội đồng thẩm phán hướng dẫn thi hành một số điều của Phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của BLTTHS 2003 vào điều luật; bên cạnh đó còn bổ sung qui định giấy
triệu tập phải ghi rỏ“ thời gian làm việc” Việc sửa đổi, bổ sung này đã tạo sự đồng
bộ, thống nhất về nội dung giữa các ngành luật, rút ngắn quá trình giải thích luật, tạo sự rỏ ràng, thống nhất trong nhận thức của những người áp dụng pháp luật
- Tùy từng giai đoạn giải quyết VAHS, các CQTHTT cụ thể hóa về mặt hình thức giấy triệu tập bằng các quyết định chuyên ngành để điều chỉnh Trong giai đoạn điều tra, BCA ban hành mẫu số 194 giấy triệu tập bị can21
theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14/12/2017 “Qui định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra
20 Khoản 1, Điều 41, Thông tư số 28/2014/TT-BCA ngày 07/7/2014 của BCA
21
Xem phụ lục số 01 mẫu giấy triệu tập bị can số 194
Trang 15hình sự” sử dụng thống nhất cho Cơ quan điều tra các cấp Mẫu giấy triệu tập do BCA ban hành cơ bản đảm bảo nội dung qui định tại khoản 1, Điều 182, BLTTHS năm
2015, tuy nhiên vẫn chưa bổ sung nội dung “Thời gian làm việc” vào giấy triệu tập,
đây là thiếu sót cần bổ sung kịp thời để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật Bên cạnh đó, về nội dung, hình thức của giấy triệu tập bị can đã được pháp luật tố tụng năm
2003 cụ thể hóa bằng các qui định tại khoản 1.4, mục 1, Thông tư số 01/2006/TT-BCA của BCA nhưng chưa được bổ sung vào BLTTHS năm 2015, cụ thể:
+ Giấy triệu tập bị can tại ngoại đến CQĐT để làm việc chỉ có giá trị làm việc trong một lần Trong quá trình điều tra vụ án, ĐTV không chỉ tiến hành hỏi cung 01 lần, tại một địa điểm nhất định mà tùy từng trường hợp có thể thực hiện hỏi cung nhiều lần với nội dung hỏi cung, thời gian hỏi cung của mỗi lần khác nhau, ở những địa điểm khác nhau như: trụ sở CQĐT, UBND xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc của bị can Vì vậy, nội dung của mỗi giấy triệu tập bị can tại ngoại sẽ ấn định một nội dung làm việc cụ thể, thời gian, địa điểm triệu tập nhất định Mặt khác, nhằm đảm bảo tôn trọng các quyền lợi ích hợp pháp cho bị can như: bị can có sự an tâm về tâm lý, mời người bào chữa cùng tham gia buổi làm việc, đưa ra lời khai đúng với diễn biến khách quan của vụ việc…Do đó, việc qui định giấy triệu tập bị can tại ngoại chỉ có giá trị sử dụng trong một lần là hoàn toàn hợp lý và đúng qui định của pháp luật, thể hiện giá trị sử dụng của giấy triệu tập bị can trong mỗi lần sẽ khác nhau
+ Nghiêm cấm ĐTV gọi điện thoại hoặc thông qua người khác để yêu cầu người được triệu tập đến làm việc mà không có giấy triệu tập hoặc giấy mời Trước khi triệu tập thì ĐTV phải tính toán về thời gian, về việc đi lại của người được triệu tập để tránh gây phiền hà về thời gian hoặc đi lại nhiều lần của bị can Nếu bị can ở quá xa trụ
sở của CQĐT thì có thể triệu tập hoặc mời họ đến trụ sở Công an nơi ở hoặc nơi làm việc của họ để lấy lời khai hoặc báo cáo đề xuất Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT được phân công chỉ đạo điều tra vụ án thực hiện việc ủy thác điều tra
“Giấy triệu tập bị can được gửi cho chính quyền địa phương xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can…” 22
Trang 16bảo việc chấp hành pháp luật của ĐTV trong quá trình tống đạt giấy triệu tập bị can,
“Điều tra viên không được đưa giấy triệu tập cho bị can tại ngoại, người bị hại, người làm chứng hoặc người có liên quan trong vụ án để chuyển cho bị can tại ngoại”23
Giấy triệu tập bị can tại ngoại không gửi trực tiếp cho bị can mà “phải gửi cho UBND xã, phường, thị trấn (qua Công an xã, phường, thị trấn) nơi người bị triệu tập cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi quản lý người bị triệu tập để các cơ quan này chuyển đến cho họ”24 Với qui định này, nhà làm luật đã dự trù và loại trừ khả năng bị can tìm cách đối phó, không có mặt theo giấy triệu tập mà viện lý do không nhận được giấy triệu tập, gây khó khăn cho quá trình điều tra; đồng thời đảm bảo trong mọi trường hợp bị can đều nhận được giấy triệu tập của CQĐT Bởi vì với chức năng, quyền hạn của mình các cơ quan, tổ chức có thể xác định chính xác bị can đang ở đâu để chuyển giao giấy triệu tập của CQĐT cho bị can Để đáp ứng yêu
cầu công tác điều tra “Trường hợp cần thiết và được sự đồng ý của Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Điều tra viên được đi cùng với đại diện
cơ quan, chính quyền địa phương để chuyển Giấy triệu tập”25
- BLTTHS năm 2015 thiếu sót khi chưa bổ sung các qui định của Thông tư
số 28/2014/TT-BCA, do đó cần sớm ban hành văn bản dưới luật để bổ sung nhằm đảm bảo thống nhất áp dụng thực tiển trong thời gian tới
Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập, đồng thời cũng là quyền lợi của bị can Do đó, bản thân họ phải biết được có sự tồn tại của loại giấy tờ pháp
lý tố tụng này “Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận và ghi rõ giờ, ngày nhận Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập có ký nhận của
bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can; nếu bị can không ký nhận thì lập biên bản
về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập bị can; nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho người thân thích của bị can có đủ năng lực hành vi dân sự để ký xác nhận và chuyển cho bị can” 26
- Khoản 2, Điều 182, BLTTHS năm 2015 tiếp tục bổ sung thay thế nội
dung“người đã thành niên trong gia đình” bằng cụm từ “người thân thích của bị can
có đủ năng lực hành vi dân sự” Bởi vì “người đã thành niên trong gia đình” là qui
định mang tính chung chung, theo đó người đã thành niên bao gồm cả người có năng lực và không có năng lực hành vi dân sự Trường hợp họ không có năng lực hoặc hạn
23
Khoản 3, Điều 35, Thông tư số 28/2014/TT-BCA
24 Khoản 2, Điều 35, Thông tư số 28/2014/TT-BCA
25 Khoản 3, Điều 35, Thông tư số 28/2014/TT-BCA
26
Khoản 2, Điều 182, BLTTHS 2015
Trang 17chế năng lực hành vi dân sự thì việc họ ký nhận giấy triệu tập bị can không có ý nghĩa và không có giá trị pháp lý, khi ký nhận họ hoàn toàn không ý thức được bản thân đang làm gì và việc ký nhận nhưng không chuyển giao, không thông báo lại cho
bị can sẽ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can như thế nào Việc sửa đổi, bổ sung nội hàm qui định nêu trên là tiến bộ, nhân văn, và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của bị can, tạo sự chặt chẽ, dễ hiểu trong áp dụng pháp luật
- Pháp luật cũng chấp nhận cho “người thân thích của bị can có đủ năng lực hành vi dân sự” nhận thay giấy triệu tập cho bị can trong trường hợp vì lý do nào
đó mà bị can không có mặt tại nơi cư trú khi cơ quan chức năng tống đạt giấy triệu tập và sự xác nhận của họ được xem là bị can đã biết mình được CQĐT triệu tập, do
đó họ phải có trách nhiệm thông báo, chuyển lại giấy triệu tập cho bị can Nếu bị can không được giao giấy triệu tập thì bị can không phải chịu trách nhiệm về sự vắng mặt của mình Vì vậy, CQĐT phải kiểm tra bị can đã được giao giấy triệu tập hay chưa và lý do bị can vắng mặt
Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập đúng thời gian, địa điểm được nêu
trong giấy triệu tập “…Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan hoặc có biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải”27
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ramột cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép; Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền hoặc nghĩa vụ dân sự của mình28
Nếu không vì hai trường hợp nêu trên mà bị can có biểu hiện trốn tránh, ĐTV có quyền áp dụng biện pháp áp giải đối với bị can; nếu bỏ trốn thì bị truy nã29
BLTHS năm 2015 đã bỏ nội dung qui định “Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông qua Ban giám thị trại tạm giam” Theo đó trình tự, thủ tục trích xuất
bị can đang bị tạm giam được qui định cụ thể, chi tiết tại Khoản 5, Điều 20 “Thực
hiện trích xuất người bị tạm giữ, người bị tạm giam” của Luật Thi hành tạm giữ,
tạm giam số 94/2015/QH13, ngày 25/11/2015 Qui định này đảm bảo tính thống nhất, tránh chồng chéo, trùng lắp nội dung qui định giữa các bộ luật và luật chuyên
Trang 18ngành, đảm bảo quyền con người, quyền công dân, bảo đảm các quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam có tính khả thi Việc trích xuất bị can đang tạm giam để hỏi cung được thực hiện thống nhất theo biểu mẫu số 176 phiếu trích xuất ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA30
Đối với người dưới 18 tuổi, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, nhà
làm luật qui định“Khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ ”31
Như vậy cùng với việc tống đạt giấy triệu tập bị can CQĐT cũng phải có trách nhiệm thông báo cho người bào chữa, người đại diện hợp pháp của họ biết về giấy triệu tập bị can để họ tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong quá trình hỏi cung Tuy nhiên luật chưa qui định cụ thể về thời gian “phải thông báo trước” là bao lâu, do đó cần sớm ban hành văn bản dưới luật để qui định về việc này
1.2 Thực tiển áp dụng pháp luật về triệu tập bị can
Qua đúc kết, rút kinh nghiệm từ công tác điều tra VAHS của chính học viên
và trên cơ sở nghiên cứu 20 hồ sơ VAHS với 50 giấy triệu tập bị can của Cơ quan CSĐT cấp tỉnh, cấp huyện của các địa phương: CATG, CAH.Châu Thành, CATP
Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang; CAH.Tân Hiệp, Kiên Giang; CAQ.Phú Nhuận, TP.HCM Nghiên cứu thủ tục trích xuất hỏi cung bị can của Trại tạm giam CATG, Bến Tre, Nhà tạm giữ CAH.Cao Lãnh, Đồng Tháp; kết quả khảo sát 120 phạm nhân đang chấp hành án tại các trại: Trại tạm giam CATG, Trại giam Mỹ Phước, Trại giam Phước Hòa - BCA và các bài viết trên mạng internet từ năm 2012 đến nay cho thấy thực trạng công tác triệu tập bị can trong giai đoạn điều tra VAHS như sau:
Kết quả đạt được
Thời gian qua, CQĐT, ĐTV đã tuân thủ qui định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục triệu tập bị can, đảm bảo giá trị pháp lý của giấy triệu tập bị can về hình thức và nội dung ban hành ĐTV đã phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương nơi bị can cư trú, thực hiện tốt công tác kiểm tra đảm bảo trong mọi trường hợp bị can nhận giấy triệu tập kịp thời, chính xác, có mặt đúng thời gian qui định; việc thực hiện trình tự, thủ tục trích xuất bị can đang bị tạm giam để hỏi cung đúng qui định, kịp thời, các trại tạm giam, nhà tạm giữ đã thực hiện đúng qui định
về trích xuất bị can giao cho ĐTV thực hiện hỏi cung
30 Xem phụ lục số 2 mẫu Phiếu yêu cầu trích xuất số 176
31
Khoản 1, Điều 421, BLTTHS 2015
Trang 19Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm đạt được, hoạt động triệu tập bị can tại ngoại và trích xuất bị can đang tạm giam để thực hiện HCBC vẫn còn bộc lộ những bất cập, thiếu sót, thậm chí có trường hợp vi phạm trong hoạt động tố tụng về trình tự, thủ tục ban hành, tống đạt giấy triệu tập bị can, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
và lợi ích hợp pháp của bị can, cụ thể:
Thứ nhất, nội dung ghi trên giấy triệu tập bị can chưa đúng qui định của pháp luật:
- Trong một vụ án, ĐTV triệu tập bị can tại ngoại để hỏi cung nhiều lần thì mỗi lần triệu tập ĐTV phải gửi giấy triệu tập và ghi theo dõi số lần triệu tập vào giấy triệu tập Tuy nhiên trên thực tế, còn tồn tại trường hợp ĐTV triệu tập bị can hỏi cung nhiều lần nhưng số lần triệu tập ghi trên giấy triệu tập không theo số thứ tự tăng dần mà chỉ ghi chung là “lần thứ 1” Điển hình:
+ Cơ quan CSĐT CATP Mỹ Tho gửi Giấy triệu tập hỏi cung bị can Châu Thái Bảo hai lần: lần thứ I, số 53 ngày 25/12/2012, lần thứ II số 60, ngày 09/01/2013 Nhưng trên 02 giấy triệu tập đều ghi triệu tập bị can “Lần thứ I”32
+ Cơ quan CSĐT CAH Châu Thành triệu tập để hỏi cung bị can Võ Văn Tiến, Giấy triệu tập bị can lần I số 15, ngày 19/10/2013, triệu tập lần II số 20 ngày 05/11/2013; Bị can Lâm Văn Còn: Giấy triệu tập lần I số 39, ngày 01/11/2017, triệu tập lần II số 40, ngày 07/11/2017; Bị can Bùi Nguyễn Nhựt Trường, Giấy triệu tập bị can lần I số 45, ngày 10/10/2017, triệu tập lần II số 59, ngày 19/11/2017; Bị can Võ Duy Khánh: Giấy triệu tập lần I số 66 ngày 08/9/2017, triệu tập lần II số 90, ngày 09/12/2017; Bị can Đào Khánh Dương: Giấy triệu tập lần I số 39, ngày 06/12/2017, triệu tập lần II số 49, ngày 19/12/201733
Tuy nhiên số lần triệu tập ghi trên các giấy triệu tập đều là “Lần I” mà không theo thứ tự từng lần triệu tập bị can
- Một số trường hợp bị can có địa chỉ cư trú cách xa CQĐT hàng trăm cây số nhưng thời gian ĐTV phát hành giấy triệu tập và thời gian mời làm việc quá ngắn
có khi cách 03 ngày, thậm chí cách 02 ngày kể từ ngày phát hành giấy triệu tập bị can Điều này cho thấy ĐTV đã không tính toán đến khoảng thời gian chuyển thư qua bưu điện, đến chính quyền địa phương và đến tay bị can; đây là việc làm vi phạm thủ tục tống đạt giấy triệu tập và không thể đảm bảo cho bị can thực hiện
32 Xem phụ lục số 3
33
Xem phụ lục số 04, 05, 06, 07, 08
Trang 20nghĩa vụ có mặt đúng thời gian ghi trên giấy triệu tập và quyền nhờ người bào chữa của mình hoặc chuẩn bị trước về mặt tâm lý để làm việc với ĐTV Điển hình:
+ Ngày 24/12/2017, Cơ quan CSĐT CAH.Tân Hiệp, Kiên Giang phát hành Giấy triệu tập số 01, triệu tập bị can Nguyễn Thị Hà, chổ ở: 257D, khu phố 3, phường 8, TP.Bến Tre, thời gian bị can phải có mặt làm việc là 8h00 ngày 27/12/201734 Ngày 23/12/2017 phát hành Giấy triệu tập số 02, triệu tập bị can Đào Thị Kim Hằng, chổ ở: ấp Tây Khánh, xã Mỹ Hòa, TP Long xuyên, An Giang, thời gian bị can phải có mặt làm việc là lúc 9h30 ngày 25/12/201735
+ Ngày 08/11/2017, Cơ quan CSĐT CAH.Châu Thành, Tiền Giang phát hành Giấy triệu tập bị can Lâm Thái Hòa số 91, chổ ở: 31/7, Cao Văn Lầu, phường 1, Quận 6, TP.HCM, thời gian bị can phải có mặt làm việc là 08h00 ngày 10/11/201736
+ Ngày 20/10/2017, Cơ quan CSĐT CATP Mỹ Tho, Tiền Giang phát hành Giấy triệu tập bị can Nguyễn Thị Hoài Anh lần I số 03, chổ ở: 13/12, Trần Văn Hoàng, phường 9, Quận Tân Bình, TP.HCM, thời gian bị can phải có mặt làm việc
là 09h00 ngày 23/10/2017 Giấy triệu tập lần II số 04 ngày 26/11/2017, thời gian bị can phải có mặt làm việc lúc 7h30 ngày 28/11/201737
Qua trao đổi trực tiếp với các ĐTV ký các giấy triệu tâp nêu trên, họ xác định các giấy triệu tập được gửi qua đường bưu điện và trong thực tế bị can không thể có mặt theo ngày, giờ ghi trên giấy triệu tập vì khi họ nhận được giấy triệu tập thì đã quá thời gian qui định ghi trên giấy triệu tập nên có trường hợp họ điện thoại cho ĐTV để xin hẹn lại ngày khác; có trường hợp bị can không có mặt, ĐTV điện thoại
và được chính quyền địa phương cho biết chưa nhận được giấy triệu tập nên ĐTV dời ngày triệu tập và đề nghị chính quyền địa phương thông báo cho bị can biết
- ĐTV ghi nội dung làm việc chưa cụ thể, không rõ ràng như: để làm việc, để làm rỏ một số nội dung, để phục vụ công tác điều tra vụ án Trong khi đó ngoài hỏi cung thì việc triệu tập bị can còn nhằm thực hiện các hoạt động điều tra khác như: đối chất, thực nghiệm điều tra, nhận dạng…Việc ghi nội dung triệu tập không rỏ ràng đã gây khó khăn cho bị can trong chuẩn bị nội dung để đưa ra lời khai đúng, cũng như tạo khó khăn cho người bào chữa trong việc tư vấn pháp luật cũng như bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị can Điển hình:
Trang 21+ Cơ quan CSĐT CAT.Tiền Giang phát hành các Giấy triệu tập bị can số 16,18, 21, đối với Lê Thị Hồng Nho; Cơ quan CSĐT CAH.Tân Hiệp, Kiên Giang phát hành giấy triệu tập bị can số 07, đối với bị can Phan Thị Chợt Nội ghi trên
giấy triệu tập“để làm rõ một số nội dung có liên quan”38
+ Giấy triệu tập số 77, 78 đối với bị can Mai Thị Thùy Dung; số 79 đối với
Lê Văn Sơn (Cơ quan CSĐT CAT.Tiền Giang) Giấy triệu tập số 47 đối với bị can Bùi Văn Hớn (Cơ quan CSĐT CATG) Giấy triệu tập số 77 đối với bị can Nguyễn Trung Thành; (Cơ quan CSĐT CAH.Châu Thành, Tiền Giang) Giấy triệu tập số
45, 60 đối với bị can Nguyễn Thị Kim Tuyền; số 30, 38 đối với bị can Bùi Duy Đại
(Cơ quan CSĐT CAQ Phú Nhuận, TP.HCM) nội dung ghi trên giấy triệu tập “để làm việc”; “làm việc bị can” 39 Giấy triệu tập số 06 đối với bị can Trương Văn
Phúc (Cơ quan CSĐT CAH.Tân Hiệp, Kiên Giang), nội dung ghi trên giấy triệu tập
“để phục vụ điều tra”40
- Còn có trường hợp ĐTV đã cẩu thả, không kiểm tra lại nội dung ghi trên giấy triệu tập bị can trước khi phát hành, dẫn đến không đảm bảo giá trị pháp lý của giấy triệu tập và vi phạm trình tự thủ tục pháp luật Điển hình vụ việc được đăng
trên trang web: http://www.tintuc.net/phap-luat ngày 26/3/2014 tiêu đề “Điều tra viên và bị can …là một?”41 theo đó một bạn đọc ở TP.Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh phản ánh: “Ngày 12/8/2013, Cơ quan CSĐT C47 gửi giấy triệu tập một bị can tại khu Niềm Xá, phường Kinh Bắc, TP.Bắc Ninh để nhận bản Kết luật điều tra vụ án mà
cơ quan này đang thụ lý Điều lạ lùng là Giấy triệu tập đề tên bị can Nguyễn Văn Trú, nhưng địa chỉ nhận giấy triệu tập mà phóng viên chuyên mục Góc nhìn thẳng xác minh thì không hề có ai mang tên Nguyễn Văn Trú Tìm hiểu hồ sơ vụ án có 8
bị can trong diện bị đưa ra xét xử, phòng viên cũng không tìm thấy bị can nào có tên Nguyễn Văn Trú Mặt khác, trong giấy triệu tập bị can thể hiện người ký giấy triệu tập trùng tên với bị can được triệu tập” Đây là một sai sót không đáng có mà hoàn toàn có thể không xảy ra nếu ĐTV tuân thủ nghiêm nguyên tắc tỉ mĩ, chính xác,
thận trọng trong quá trình bàn hành giấy triệu tập
Trang 22http://www.tintuc.net/phap-luat/dieu-tra-vien-va-bi-can-la-Thứ hai, chưa thực hiện đúng qui định về tống đạt giấy triệu tập
- Khảo sát 100 phạm nhân được CQĐT cho tại ngoại trong quá trình điều tra42, có 40 phạm nhân xác định CQĐT sử dụng điện thoại để triệu tập mà không ban hành giấy triệu tập, trong đó: có 10 trường hợp xác định CQĐT chỉ gửi giấy triệu tập trong lần đầu làm việc, từ lần thứ hai triệu tập qua điện thoại, còn lại 30 trường hợp xác định trong các lần hỏi cung CQĐT triệu tập họ qua điện thoại43
- Qua trao đổi với ĐTV Cơ quan CSĐT CATG, CATP.Mỹ Tho, CAH.Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, CAH.Tân Hiệp, Kiên Giang, CA quận Phú Nhuận, TP.HCM được biết: ĐTV đều nhận thức được việc pháp luật không cho phép triệu tập bị can qua điện thoại nhưng với lý do nhanh và thuận tiện nên ĐTV vẫn sử dụng điện thoại triệu tập bị can để hỏi cung
- Việc triệu tập bị can để hỏi cung qua điện thoại là vi phạm pháp luật Tuy nhiên, thực tiển thực hiện công tác điều tra tố tụng của tác giả trong thời gian qua cho thấy, có những bị can có nhiều nơi cư trú hoặc tìm tránh né không đến làm việc nên ĐTV phải điện thoại để xác định nơi cư trú của bị can nhằm gửi giấy triệu tập hay để kiểm tra xem bị can đã nhận được giấy triệu tập hay chưa Bên cạnh đó, theo kết quả phân tích số liệu thể hiện trong luận văn thạc sỹ do tác giả Hồ Ngọc Quân44thực hiện cho thấy, từ năm 2010 đến 2014 trên địa bàn TPHCM có 3.713 bị can là người chưa thành niên, trong đó có 1.564 bị can thuộc diện lang thang, không nơi
cư trú Chính vì vậy gây khó khăn trong quá trình triệu tập bị can nhằm thực hiện các hoạt động tố tụng nói chung và HCBC nói riêng Vì vậy, cần qui định cho phép ĐTV sử dụng điện thoại trong quá trình triệu tập bị can nhưng chỉ nhằm mục đích
hổ trợ kiểm tra thông tin của bị can chứ không phải để triệu tập bị can
Trong thực tế, có trường hợp sau khi tống đạt giấy triệu tập CQĐT không kiểm tra việc bị can đã nhận được giấy triệu tập hay chưa, từ đó đã có những sai lầm trong ban hành các quyết định tố tụng tiếp theo xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bị can Điển hình vụ việc đăng trên báo pháp luật online ngày 24/5/2016
với tiêu đề “Khó hiểu chuyện bắt người khuyết tật rồi thả ở TP.HCM đăng trên báo pháp luật online ngày 24/5/2016”45, cụ thể:
42 Xem phụ lục 17, phiếu khảo sát lấy ý kiến phạm nhân
43 Xem phần 1, phụ lục số 18, tổng hợp kết quả khảo sát thu thập ý kiến phạm nhân về một số vấn đề liên quan đến hoạt động hỏi cung bị can trong Tố tụng hình sự Việt Nam
44
Hồ Ngọc Quân (2017), Hỏi cung bị can là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt nam, Luận văn
thạc sỹ luật, Trường Đại học luật Tp Hồ Chí Minh, tr 39
45 Bài viết đăng trên báo pháp luật online ngày 24/5/2016, trang web chuyen-bat-nguoi-khuyet-tat-roi-tha-o-tp-ho-chi-minh-275374.html và bài viết “đình chỉ điều tra vụ án chống
Trang 23http://baophapluat.vn/xet-xu/kho-hieu-+ Tối 29/12/2014, Công an phường 4, quận Gò Vấp nhận được tin báo có sự việc đánh nhau giữa bà Nguyễn Thị Chưa - SN 1960, hộ khẩu thường trú tại 5/3 Đinh Tiên Hoàng, phường Phú Hòa, TP.Huế (tạm trú tại Phường 4, quận Gò Vấp)
và bà Lê Thị Kim Ngân tại nhà bà Chưa, nên Trưởng Công an phường đã cử 3 cán
bộ là Nguyễn Văn Tỉnh, Phạm Trần Nhật Nam, Đinh Hoàng Việt mặc trang phục cảnh sát đến hiện trường Anh Nam và anh Tỉnh đến trước lập biên bản sự việc nhưng bị cáo Chưa không chịu ký Khi anh Việt đang thuyết phục thì bà Chưa giật
tờ biên bản từ tay anh Nam, chạy sang tiệm photo gần đó để photo Anh Việt đi theo yêu cầu chủ tiệm không được photo, đồng thời đưa tay định lấy tờ biên bản thì bà Chưa giật lại được, vò thành cục Anh Việt giơ tay định lấy lại tờ biên bản thì bị bà Chưa cắn hai cái vào tay, dùng bút bi đâm vào người Tòa cấp sơ thẩm xét xử tuyên
bà Chưa 01 năm cải tạo không giam giữ về tội chống người thi hành công vụ
+ Tháng 9/2015 Tòa phúc thẩm TAND TPHCM đã tuyên hủy án sơ thẩm của TAND quận Gò Vấp, trả hồ sơ để điều tra lại Lúc 22h đêm 12/5/2016, bà Nguyễn Thị Chưa đang chuẩn bị đi ngủ thì bất ngờ thấy nhiều Công an đến nhà Tại đây, bà Chưa được công bố Lệnh truy nã số 04 ngày 29/2/2016 của Công an quận Gò Vấp
do ông Trà Văn Lào ký Sau đó họ đưa bà Chưa vào nhà tạm giữ của Công an TP.Huế Ngày hôm sau bà Chưa bị áp giải về TP HCM theo lệnh của Công an quận
Gò Vấp Theo bà Nguyễn Thị Chưa cho biết: “Vụ án đang được điều tra lại, vì tôi không có chỗ ở tại TP HCM nên được sự cho phép của cơ quan chức năng bà về lại quê hương là TP.Huế để chờ đợi triệu tập của CQĐT, đi đâu, làm gì bà cũng trình báo với cơ quan chức năng, thậm chí còn ghi rõ số điện thoại trong từng lá đơn để thuận tiện trong liên lạc, vậy mà lại bị Công an truy nã vì “không biết ở đâu” Sau khi bị áp giải vào TP.HCM, ngày 15/5/2016 bà Chưa được thả Vẫn chưa hiểu vì sao bị bắt theo lệnh truy nã rồi lại được cho về, bà Chưa trình bày thêm: Trước đó sau khi bà có đơn xin phép và được đồng ý về lại Huế ăn Tết cổ truyền thì ngày 31/1 bà nhận được giấy triệu tập ghi lần thứ 3 của Công an quận Gò Vấp yêu cầu ngày 15/2/2016 bà phải có mặt tại Công an quận để làm việc Tuy nhiên theo bà Chưa, đây là lần thứ nhất bà nhận được giấy triệu tập Sau đó vụ án đã được Cơ quan CSĐT – CA quận Gò Vấp đình chỉ điều tra
- Từ vụ việc trên cho thấy quá trình tống đạt giấy triệu tập bị can, ĐTV đã không tiến hành các biện pháp cần thiết để kiểm tra việc bị can đã nhận giấy triệu
người thi hành công vụ ở Gò Vấp đăng trên trang web: chong-nguoi-thi-hanh-cong-vu-o-go-vap-d37420.html
Trang 24http://www.phapluatplus.vn/dinh-chi-dieu-tra-vu-an-tập hay chưa, trong khi bị can có 02 nơi cư trú là tại TPHCM và tại Huế Nếu khi gửi giấy triệu tập, ĐTV tiến hành kiểm tra tại địa phương nơi cư trú hoặc điện thoại cho bà Chưa để kiểm tra thì đã không xảy ra trường hợp đáng tiếc như trên
Thứ ba, Thủ tục trích xuất bị can đang bị tạm giam để hỏi cung còn thực hiện chưa thống nhất
Thông tư số 01/2006/TT-BCA, BCA ban hành mẫu phiếu yêu cầu trích xuất
bị can46 sử dụng chung cho CQĐT các cấp Quy định này cụ thể hóa về hình thức, thủ tục triệu tập của CQĐT đối với bị can đang bị tạm giam Khi nhận được phiếu yêu cầu trích xuất của ĐTV, BGT trại tạm giam, nhà tạm giữ ban hành lệnh trích xuất bị can từ buồng giam giao cho ĐTV thực hiện hỏi cung; khi nhận bị can, ĐTV phải ghi vào sổ theo dõi về tên bị can, ngày bị bắt, tội danh, ngày, giờ trích xuất hỏi cung, ngày giờ giao trả bị can … trình tự, thủ tục trích xuất bị can ra khỏi buồng giam để giao cho ĐTV tiến hành hỏi cung trong từng giai đoạn thể hiện:
+ Từ năm 2012 đến tháng 6/2016, việc trích xuất bị can thực hiện theo Điều
20, Nghị định số 89/1998/NĐ-CP47, khoản 3, khoản 4, Điều 1, Nghị định số 98/2002/NĐ-CP48, Lệnh trích xuất bị can và sổ theo dõi việc trích xuất HCBC ban hành theo biểu mẫu số TG1249 theo qui định Thông tư số 01/2012/TT-BCA50;
+ Từ ngày 08/6/2016 đến ngày 14/12/2017 thực hiện theo qui định tại khoản
2, Điều 20, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam, lệnh trích xuất và sổ theo dõi ban hành theo mẫu số TG19, TG1551 theo Thông tư số 20/2016/TT-BCA52
Qua trao đổi với ĐTV, cán bộ quản giáo CATG, Bến Tre, Cao lãnh tỉnh Đồng Tháp họ cho biết: mặc dù pháp luật qui định rất chặt chẻ về trình tự thủ tục trích xuất HCBC đang bị tạm giam nhưng trong thực tế từng địa phương lại có cách vận dụng thực hiện khác nhau, cụ thể:
- Đối với Trại tạm giam CATG: khi nhận phiếu trích xuất của ĐTV, BGT trại tạm giam ban hành lệnh trích xuất bị can; cán bộ quản giáo trích xuất và giao bị can cho ĐTV, khi nhận bị can, ĐTV ký nhận vào sổ theo dõi trích xuất Từ ngày
46 Xem phụ lục số 19 Mẫu Phiếu trích xuất bị can
47
Nghị định số 89/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07/11/1998 ban hành quy chế tạm giữ, tạm giam
48 Nghị định số 98/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2002 sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế tạm giữ, tạm giam
49 Xem phụ lục 20, mẫu Lệnh trích xuất; mẫu sổ TG12
50 Thông tư số 01/2012/TT-BCA ngày 03/01/2012 qui định và ban hành các loại biểu mẫu, sổ theo dõi sử dụng trong công tác quản lý tạm giữ, tạm giam
51 Xem phụ lục 21, mẫu Lệnh trích xuất TG19; mẫu sổ TG15
52 Thông tư số 20/2016/TT-BCA ngày 08/6/2016 quy định biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân
Trang 2501/01/2018 đến nay, Trại tạm giam không ban hành lệnh trích xuất mà lập phiếu đề xuất trích xuất trình BGT phê duyệt53, khi nhận và trả bị can làm việc ĐTV ký tên vào sổ “theo dõi lấy lời khai, hỏi cung người bị tạm giữ, người bị tạm giam” theo mẫu số TG15 ban hành theo Thông tư số 20/TT-BCA ngày 08/6/2016 Việc thực hiện của Trại tạm giam CATG tuân thủ qui định của pháp luật đồng thời đảm bảo được chế độ giờ giấc sinh hoạt của bị can, hạn chế thấp nhất trường hợp cán bộ hỏi cung quá giờ sinh hoạt của bị can hoặc lợi dụng truy bức, nhục hình trong hỏi cung
+ Đối với Trại tạm giam CA tỉnh Bến Tre và Nhà tạm giữ CAH Cao Lãnh: khi ĐTV có phiếu trích xuất, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ yêu cầu ĐTV ký nhận vào
sổ theo dõi lấy lời khai, hỏi cung người bị tạm giữ, người bị tạm giam và bàn giao
bị can để ĐTV hỏi cung, không ban hành lệnh trích xuất theo qui định54 Điều này cũng dẫn đến sự tùy tiện trong việc triệu tập bị can để hỏi cung
Thứ tư, các qui định mới của BLTTHS năm 2015 về triệu tập bị can là pháp nhân thương mại chưa cụ thể, rỏ ràng; Biểu mẫu giấy triệu tập mới ban hành theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA chưa đúng nội dung qui định về triệu tập bị can theo qui định tại Điều 182, BLTTHS năm 2015 dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng
- Khoản 3, Điều 440, BLTTHS năm 2015 qui định: “Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân phải có mặt theo giấy triệu tập Trường hợp vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể ra quyết định dẫn giải” Trong khi đó qui định tại
điểm k, điểm l, khoản 1, Điều 4 về giải thích từ ngữ; Điều 127 về Áp giải, dẫn giải; Điều 182 về Triệu tập bị can không qui định đối tượng áp dụng là người đại diện pháp nhân thương mại phạm tội Do đó, trường hợp người đại diện pháp nhân thương mại chống đối, không hợp tác, không chấp hành giấy triệu tập của CQĐT trong quá trình lấy lời khai thì CQĐT không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam hay dẫn giải, áp giải đối với họ
- Khoản 1, Điều 182 về Triệu tập bị can qui định giấy triệu tập bị can phải
ghi rỏ “…thời gian làm việc…” Tuy nhiên nội dung biểu mẫu giấy triệu tập bị can
ban hành theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA thì lại không thể hiện nội dung này
Trang 261.3 Nguyên nhân hạn chế
Thứ nhất, các quy định của pháp luật TTHS về triệu tập bị can còn chưa hoàn
thiện, một số qui định tiến bộ của các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện qui định của BLTTHS năm 2003 chưa được pháp điển hóa vào BLTTHS năm 2015; BLTTHS năm 2015 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, tuy nhiên vẫn kịp thời ban hành văn bản dưới luật để điều chỉnh về vấn đề triệu tập bị can Một số nội dung mới về triệu tập đại diện pháp nhân thương mại phạm tội chưa được hướng dẫn cụ thể Cần phải có sự sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn áp dụng
Thứ hai, mặc dù pháp luật không cho phép ĐTV sử dụng điện thoại để triệu
tập bị can, tuy nhiên vẫn còn một số ĐTV, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao hoặc chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của triệu tập bị can, chỉ chú trọng đến điều kiện thuận lợi, nhanh chóng cho bản thân khi thực hiện mà bỏ qua các qui định của pháp luật; nên vẫn còn trường hợp ĐTV không ban hành giấy triệu tập bị can theo qui định pháp luật mà sử dụng điện thoại để triệu tập bị can Mặt khác, điều này cũng xuất phát từ thực tiển tố tụng như đã trình bày tại nội dung thứ hai phần hạn chế trong thực tiển áp dụng pháp luật (từ trang 17 đến trang 19)
Thứ ba, ĐTV chưa chú trọng đến nguyên tắc đảm bảo thận trọng, khách
quan, tỉ mĩ trong thực hiện hoạt động triệu tập bị can, nội dung ghi giấy triệu tập còn mang cảm tính chủ quan, sơ sài không thực hiện đúng quy định BLTTHS về
triệu tập bị can như: triệu tập để làm việc, để làm việc bị can, để phục vụ điều tra…
Chưa phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để kiểm tra việc bị can đã nhận giấy triệu tập hay chưa, từ đó áp dụng các biện pháp tố tụng tiếp theo không đúng qui định của pháp luật TTHS, như trường hợp bà Nguyễn Thị Chưa đã trình bày phần trên
Thứ tư, Còn có sự chưa thống nhất trong nhận thức pháp luật về trình tự, thủ tục
trích xuất bị can đang bị tạm giam nên mỗi địa phương có cách áp dụng khác nhau
1.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật tố tụng hình sự về triệu tập bị can
Thứ nhất, cần bổ sung nội dung “thời gian làm việc” vào mẫu số 194 ban
hành theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA để phù hợp với nội dung qui định tại Khoản 1, Điều 182, BLTTHS năm 2015
Thứ hai, Cần sửa đổi, bổ sung qui định tại khoản 1, Điều 421 BLTTHS năm 2015 theo hướng:
Trang 27“Khi lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp,… là người dưới
18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước bằng văn
bản về thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại
diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước 24 giờ để họ có mặt
Thứ ba: Cần sửa đổi, bổ sung đối tượng có thể bị áp dụng biện pháp áp giải là người đại diện của pháp nhân thương mại là bị can vào nội dung các điều luật, theo hướng:
- Điều 4 Giải thích từ ngữ
1 Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
“k) Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện của
pháp nhân là bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử”
- Điều 127 Áp giải, dẫn giải Khoản 1 “Áp giải có thể áp dụng đối với người
bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, người đại diện của pháp
nhân là bị can, bị cáo”
- Điều 182 Triệu tập bị can
+ Khoản 1 “Khi triệu tập bị can, người đại diện của pháp nhân là bị can
Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập Giấy triệu tập bị can ghi rõ họ tên, chỗ ở của
bị can ”
+ Khoản 3 “Bị can, người đại diện của pháp nhân là bị can phải có mặt
theo giấy triệu tập Trường hợp thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải”
Thứ tư, Cần qui định bổ sung cho phép ĐTV được sử dụng điện thoại để
kiểm tra việc bị can đã nhận được giấy triệu tập hay chưa hoặc xác định nơi cư trú của bị can (trường hợp bị can cư trú nhiều nơi)
Thứ năm, BCA cũng như liên ngành trung ương sớm ban hành các VBQPPL
hướng dẫn qui định của BLTTHS năm 2015 về triệu tập bị can để đảm bảo áp dụng thống nhất trong toàn lực lượng CSĐT cả nước; đồng thời qui định về các chế tài xử
lý đối với sai phạm của ĐTV trong thực hiện triệu tập bị can Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan CSĐT cần tăng cường công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch triệu tập HCBC và việc chấp hành pháp luật trong điều tra VAHS của ĐTV
Thứ sáu, BCA, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT các cấp thường
xuyên tổ chức tập huấn chuyên đề về các qui định pháp luật trong công tác điều tra cũng như việc triệu tập bị can ĐTV phải thường xuyên nghiên cứu, cập nhật pháp
Trang 28luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong công tác điều tra, thận trọng, tỉ mĩ, khách quan trong thực hiện nhiệm vụ; không vì áp lực công việc, nhận thức chủ quan mà bỏ qua qui định pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành giấy triệu tập bị can
tự, thủ tục triệu tập bị can; Điều 182, Điều 421, Điều 440 BLTTHS năm 2015 đã khắc phục cơ bản hạn chế, bất cập của BLTTHS năm 2003 về triệu tập bị can Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, theo quan điểm cá nhân những điểm mới này cần được hoàn thiện, đồng thời đồng bộ các giải pháp để việc áp dụng pháp luật được thống nhất
Trang 29CHƯƠNG 2
SỐ LẦN VÀ THỜI GIAN HỎI CUNG BỊ CAN 2.1 Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về số lần và thời gian hỏi cung bị can
- Theo từ điển Tiếng Việt của Trung tâm KHXH&NV thì “Hỏi cung là hỏi
để lấy lời khai bị can” 55 Theo Từ điển Bách khoa CAND Việt Nam “Hỏi cung là hoạt động tố tụng hình sự do Điều tra viên lấy lời khai của bị can về các tình tiết của hành vi phạm tội mà họ đã tham gia thực hiện, để thu thập thông tin chính xác, khách quan, làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh đối với vụ án và bị can”56
- Theo Giáo trình TTHS của Trường Đại học Luật TPHCM “Hỏi cung bị can
là hoạt động điều tra được tiến hành theo trình tự do BLTTHS quy định có sự kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, tác động trực tiếp đến tâm lý của bị can bằng việc đưa ra những câu hỏi nhằm thu được lời khai đúng và đầy đủ của bị can về sự thật của vụ án và những thông tin cần thiết khác phục vụ cho công tác điều tra và xử lý đối với vụ án”57
Trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu nêu trên, tác giả đưa ra khái
niệm HCBC như sau: “HCBC là hoạt động điều tra công khai do ĐTV và những người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, có sự kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, tác động trực tiếp đến tâm lý của bị can bằng việc đưa ra những câu hỏi nhằm mục đích thu thập lời khai của bị can về nội dung vụ
án, hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm, những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắn VAHS và phòng ngừa tội phạm”
*Đặc điểm của hoạt động hỏi cung bị can trong giai đoạn điều tra VAHS
- HCBC là một biện pháp điều tra công khai, được qui định tại Điều 183 – BLTTHS năm 2015, do đó khi tiến hành phải tuân thủ nguyên tắc pháp chế XHCN
- Chủ thể tiến hành hoạt động HCBC là ĐTV Họ là chủ thể thay mặt cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện điều tra VAHS theo qui định pháp luật, được chủ động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình độc lập với các chủ thể khác và chỉ tuân theo pháp luật Chủ thể bị tác động bởi hoạt động HCBC là bị can
- HCBC là một biện pháp điều tra mang tính phức tạp, nhạy cảm; thể hiện ở chỗ, trong quá trình hỏi cung thường xảy ra mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là
55 Nguyễn Kim Thản, Hồ Hải Thụy, Nguyễn Đức Dương (2005), tlđd (7), tr 565
56 Viện chiến lược và khoa học Bộ Công an (2015), tlđd (12), tr 593
57
Trường Đại học Luật TPHCM (2008), Giáo trình Luật tố tụng hình sự, NXB CAND, tr 402
Trang 30ĐTV mong muốn làm rỏ sự thật của vụ án và một bên là bị can luôn luôn tìm cách cản trở quá trình làm rỏ sự thật để trốn tránh TNHS
* Ý nghĩa của hoạt động HCBC
- HCBC nhằm thu thập, mô tả theo trình tự TTHS thật đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của bị can về vụ án, hành vi phạm tội của bị can và đồng phạm Làm rỏ vai trò, vị trí và mức độ phạm tội của từng bị can, thủ đoạn gây án và che giấu tội phạm, động cơ và mục đích phạm tội để lập hồ sơ đề nghị truy tố Phát hiện đồng bọn để kịp thời truy bắt, phát hiện vật chứng còn cất giấu để kịp thời thu giữ, phát hiện những âm mưu và hành động chuẩn bị gây án hay đang gây án để kịp thời ngăn chặn Khai thác mở rộng nhằm làm rỏ, thu thập những tin tức, tài liệu về hoạt động của những tên tội phạm hay ổ nhóm tội phạm khác mà bị can biết
- Làm rỏ nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm và những sơ hở thiếu sót trong hoạt động điều tra để có biện pháp khắc phục ngăn ngừa HCBC còn góp phần bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị buộc tội
Khoản 1, Điều 183, BLTTHS năm 2015 qui định: “Việc hỏi cung bị can do
do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can…” Theo qui
định này, chủ thể có thẩm quyền, trực tiếp tiến hành HCBC là ĐTV, đều này cũng xuất phát từ quyền HCBC của ĐTV được qui định tại điểm d, khoản 1, Điều 37, BLTTHS năm 2015 và trong hoạt động hỏi cung thì bị can là chủ thể bị buộc tội
Về thời gian hỏi cung trong ngày, khoản 3, Điều 183 qui định “Không hỏi cung bị can vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi
rõ lý do vào biên bản” và “…Đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau…” 58
Như vậy, ĐTV phải kết thúc hoạt động HCBC trước 22 giờ, trừ trường hợp không thể trì hoãn được Qui định này nhằm đảm bảo quyền, lợi ích cơ bản của con người, chống bức cung, nhục hình trong hoạt động HCBC Bởi vì việc HCBC vào ban đêm có thể sẽ gây ức chế về mặt tâm lý đối với bị can, đồng thời với mong muốn làm cho bị can nhận tội để nhanh chóng kết thúc vụ án, dễ dẫn đến ĐTV có những hành vi bức cung, nhục hình để đạt được mục đích của mình
Bức cung, nhục hình không chỉ xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của bị can mà còn gây hậu quả nghiêm trọng đến việc xác định sự thật của vụ
án, do vậy BLTTHS nghiêm cấm triệt để các hành vi này là hoàn toàn hợp lý và
“Điều tra viên …bức cung, dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm
58
Khoản 1, Điều 134, BLTTHS 2015
Trang 31hình sự theo qui định của Bộ luật Hình sự”59, tại Điều 373 và Điều 374, BLHS năm
201560 Trong quá trình HCBC, ĐTV phải quán triệt và tuân thủ triệt để quy định
“Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất
kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm”61
BLTTHS năm 2015 chỉ nghiêm cấm hành vi bức cung, nhục hình; còn các hành vi sai phạm khác do ĐTV thực hiện trong HCBC như: móm cung, dụ cung thì chưa qui định Mặc dù hai hành vi này không gây đau đớn về thể xác, tinh thần cho
bị can nhưng nó làm triệt tiêu tính khách quan của hoạt động điều tra và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người Do luật không qui định nên ĐTV thực hiện hành vi móm cung, dụ cung thì không có căn cứ để truy cứu TNHS Để nâng cao trách nhiệm của ĐTV trong hoạt động HCBC, Thông tư số 28/2014/TT-BCA
của BCA đã quy định bổ sung về những việc ĐTV không được làm“ Nghiêm cấm bức cung, mớm cung hoặc dùng nhục hình dưới bất ký hình thức nào” 62 Tuy nhiên nội dung này vẫn chưa được luật hóa vào qui định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự năm 2015 và cũng chưa có văn bản hướng dẫn thay thế Thông
tư số 28/2014/TT-BCA về nội dung này
BLTTHS năm 2015 qui định “không hỏi cung ban đêm” nhưng cũng qui định theo hướng “mở” cho phép việc hỏi cung vào ban đêm “trừ trường hợp không thể trì hoãn được nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản” để giải quyết các trường
hợp đặc biệt trong hoạt động điều tra Qui định này xuất phát từ nhiệm vụ của
BLTTHS là “Đảm bảo phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội…”63
Trường hợp không thể trì hoãn như: “cần phải phục vụ yêu cầu truy bắt người đồng phạm, thu giữ ngay vật chứng, công cụ, phương tiện phạm tội, làm rõ và ngăn chặn kịp thời những hành vi phạm tội của những người đồng phạm của bị can…”64 và trong những trường hợp này nếu không tiến hành hỏi cung ngay CQĐT sẽ không có căn cứ để kịp thời ban hành các quyết định tố tụng đảm bảo công tác điều tra vụ án
Trang 32Ví dụ: Bị can Nguyễn Văn H bị CQĐT tạm giam về tội cướp tài sản Vào lúc 23h00 đêm, H đề nghị gặp ĐTV để khai báo về nơi ẩn náo của đồng bọn và địa điểm cất giấu khẩu súng K54 mà H đã sử dụng thực hiện các vụ cướp tài sản trước
đó Đây là tình huống không thể trì hoãn được và ĐTV phải thực hiện ngay hoạt động HCBC để làm rỏ thu giữ khẩu súng, truy bắt ngay đồng bọn của H và ĐTV phải ghi rõ lý do vào biên bản
Tuy nhiên, nhà làm luật chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể những trường
hợp nào là “Trường hợp không thể trì hoãn được” Việc qui định mang tính chung
chung rất có thể dẫn đến việc tùy tiện áp dụng qui định này trên thực tế, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của bị can và không loại trừ các hành vi bức cung, nhục hình xảy ra trong thời gian hỏi cung ban đêm
Điều 183, BLTTHS năm 2015 qui định về thời điểm bắt đầu hỏi cung, thời điểm hỏi cung trong ngày nhưng không qui định trong một ngày thực hiện HCBC bao nhiêu lần và một lần hỏi cung tiến hành trong bao nhiêu giờ Việc không giới hạn số lần HCBC trong ngày và thời gian một lần hỏi cung là một thiếu sót lớn; do luật không qui định nên ĐTV có thể tiến hành HCBC nhiều lần trong một ngày và hỏi cung liên tục trong nhiều giờ, việc này tùy thuộc vào ý chí chủ quan của ĐTV
Kế thừa qui định của BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung về hoạt động HCBC Tuy nhiên, nhà làm luật vẫn chưa qui định cụ thể giới hạn số lần hỏi cung, thời gian một lần hỏi cung, các trường hợp được hỏi cung vào ban đêm nhưng nhà làm luật đã bổ sung những qui định mới gián tiếp kiểm soát về giới hạn thời gian hỏi cung và số lần hỏi cung trong một ngày, cụ thể:
- Trước khi HCBC, ĐTV bắt buộc phải thông báo bằng văn bản cho KSV, người bào chữa biết về thời gian, địa điểm HCBC Để cụ thể hóa qui định tại khoản
1, Điều 183, BLTTHS 2015, BCA ban hành biểu mẫu số 175 Thông báo về việc tiến hành các hoạt động điều tra như: HCBC, đối chất, nhận dạng65 …kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA Nội dung biểu mẫu bắt buộc CQĐT phải ghi cụ thể thời gian, địa điểm HCBC; thông báo này được thống kê đưa vào hồ sơ VAHS
- “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày lập biên bản về hoạt động điều tra…
mà KSV không trực tiếp kiểm sát… thì CQĐT… có trách nhiệm chuyển biên bản… cho VKS để kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án… Trong thời hạn 03 ngày, VKS đóng bút lục và sao lưu biên bản, tài liệu lưu hồ sơ kiểm sát và bàn giao nguyên trạng tài
65
Xem phụ lục số 24, mẫu thông báo tiến hành các biện pháp điều tra
Trang 33liệu, biên bản đó cho cơ quan điều tra….” 66 Qui định này đảm bảo trong mọi
trường hợp, hoạt động HCBC của ĐTV được kiểm sát chặt chẽ về thời gian, địa điểm Hạn chế việc tùy tiện giới hạn về số lần và thời gian HCBC Và nếu có căn cứ xác định việc điều tra vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp khác khi xét thấy cần thiết thì KSV tiến hành HCBC67
- ĐTV hỏi cung bao nhiêu lần trong ngày thì “Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản” 68 , và“biên bản ghi rõ địa điểm, giờ, ngày, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng…”69
- Việc HCBC tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở CQĐT phải được ghi âm, ghi hình có âm thanh70 Cụ thể hóa qui định này, Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT ngày 01/02/2018 qui định hướng dẫn về trình tự, thủ tục ghi âm, ghi hình có âm thanh71 Trong giai đoạn điều tra kết quả ghi âm, ghi hình có âm thanh được sử dụng để kiểm tra việc chấp hành pháp luật của ĐTV trong quá trình HCBC Đây là một qui định mới, tiến bộ góp phần kiểm soát được số lần HCBC, thời gian HCBC
trong ngày của ĐTV, tránh việc truy bức, bức cung, nhục hình
Mỗi lần hỏi cung được hiểu là quá trình làm việc liên tục giữa ĐTV với bị can, không có sự gián đoạn về thời gian Các qui định nêu trên cũng góp phần hạn chế việc ĐTV tùy tiện giới hạn số lần hỏi cung, thời gian hỏi cung nhằm gây ức chế
về mặt tâm lý hoặc truy bức, dồn ép bị can khai báo không đúng sự thật khách quan của vụ án Tuy nhiên, do luật không qui định cụ thể giới hạn về thời gian hỏi cung,
số lần HCBC trong một ngày và trường hợp cụ thể phải tiến hành hỏi cung vào ban đêm nên trong thực tiển áp dụng sẽ có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau Để chấm dứt tình trạng này thì cần phải luật hóa giới hạn về số lần hỏi cung và thời gian hỏi cung bằng qui định cụ thể vào pháp luật TTHS
Bị can là người dưới 18 tuổi là đối tượng dễ bị tổn thương, cần phải có cơ chế đặc biệt để đảm bảo một cách tốt nhất quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia tố tụng BLTTHS năm 2015 đã có sự tiến bộ vượt bậc khi luật hóa giới hạn về thời
gian hỏi cung, số lần hỏi cung, theo đó: thời gian hỏi cung bị can là người dưới 18
Trang 34tuổi không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp: phạm tội có tổ chức; để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn; ngăn chặn người khác phạm tội; để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án; vụ án có nhiều tình tiết phức tạp 72
2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về số lần hỏi cung bị can
và thời gian hỏi cung bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Qua kinh nghiệm thực tiển thực hiện công tác HCBC chính tác giả; đồng thời trên cơ sở nghiên cứu 100 biên bản HCBC của ĐTV các đơn vị: Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát hình sự thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang; CA huyện Bến Lức, tỉnh Long An; CA Phú Nhuận – TP.HCM; CA Châu Thành – Tiền Giang; CA Tân Hiệp Kiên Giang; kết quả khảo sát 190 phạm nhân đang chấp hành
án tại các trại: Trại tạm giam CATG, Trại giam Mỹ Phước, Trại giam Phước Hòa thuộc BCA và các bài viết trên mạng internet từ năm 2012 đến nay cho thấy thực trạng công tác HCBC của ĐTV trong giai đoạn điều tra VAHS như sau:
* Kết quả đạt được
Trong những năm qua, đa số ĐTV đều nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động HCBC trong quá trình điều tra ĐTV đã chấp hành nghiêm qui định của pháp luật trong công tác HCBC, việc lợi dụng kẻ hở của pháp luật để HCBC nhiều lần trong ngày, mỗi lần hỏi cung kéo dài nhiều giờ và HCBC vào ban đêm một cách tùy tiện nhằm truy bức, buộc bị can phải khai báo đã cơ bản được khắc phục
Qua nghiên cứu 100 biên bản HCBC, tác giả nhận thấy: trong một ngày ĐTV hỏi cung nhiều nhất là 02 lần và thời gian hỏi cung trong một lần ngắn nhất là 01 giờ, nhiều nhất là 04 giờ, không phát hiện có trường hợp HCBC vào ban đêm Bên cạnh đó, tiến hành khảo sát 190 phạm nhân đang chấp hành án về số lần hỏi cung và thời gian hỏi cung mà cơ quan điều tra thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án đối với họ73, kết quả: có 130/190 phạm nhân xác định ĐTV hỏi cung thấp nhất là 01 lần, nhiều nhất là 02 lần trong ngày; có 160/190 phạm nhân xác định không bị ĐTV hỏi cung vào ban đêm
* Hạn chế
Theo dự thảo (lần 6) Báo cáo quốc gia thực thi Công ước của Liên hợp quốc
về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo của BCA thì từ năm 2011 - 2015, TAND đã thụ lý và xét xử sơ thẩm 10 vụ án về tội
72 Khoản 5, Điều 421, BLTTHS năm 2015
73
Xem phần 2 “Kết quả khảo sát nội dung liên quan đến hoạt động hỏi cung bị can”, phụ lục số 17
Trang 35dùng nhục hình, cụ thể: năm 2010 và 2011 là 0 vụ; năm 2012 là 4 vụ, chiếm 0,0061% tổng số vụ được xét xử sơ thẩm; năm 2013 là 1 vụ, chiếm 0,003% số vụ được xét xử sơ thẩm; năm 2014 là 3 vụ, chiếm 0,0045% tổng số vụ án được xét xử
sơ thẩm; năm 2015 là 2 vụ, chiếm 0,0033% tổng số vụ án được xét xử sơ thẩm74
Số liệu trên cho thấy, bên cạnh những thành tựu đã được, tình hình vi phạm pháp luật trong hoạt động TTHS để xảy ra oan sai, bức cung, nhục hình vẫn còn xảy
ra Qua trao đổi với ĐTV CA TP.Mỹ Tho, Cảnh sát kinh tế, Cảnh sát hình sự thuộc
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tiền Giang; CA huyện Bến Lức, tỉnh Long An; CA Phú Nhuận – TP.HCM; CA Châu Thành – Tiền Giang; CA Tân Hiệp Kiên Giang thì vẫn còn trường hợp tùy tiện trong giới hạn số lần hỏi cung, thời gian hỏi cung trong ngày; đặc biệt là đối với những vụ án đồng phạm hoặc các bị can có nhiều tiền án, tiền sự, ngoan cố, không khai nhận hành vi phạm tội thì ĐTV có thể hỏi cung nhiều lần trong ngày, mỗi lần hỏi cung kéo dài hàng giờ liền và nhiều cán
bộ cùng tham gia hỏi cung, thậm chí tiến hành hỏi cung vào ban đêm, hỏi cung ngoài giờ làm việc như: giờ nghỉ trưa, ngày thứ 7…, làm cho bị can mệt mỏi mà khai báo, các trường hợp này ĐTV không lập biên bản trong từng lần hỏi cung; Khi
bị can khai báo đúng sự thật, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thì ĐTV mới tiến hành lập biên bản hỏi cung, do đó trong hồ sơ vụ án không thể hiện các sai phạm nêu trên Thực tế khảo sát 100 biên bản HCBC của các đơn vị nêu trên, tác giả không phát hiện có sự tùy tiện trong giới hạn số lần hỏi cung, thời gian hỏi cung
và việc HCBC vào ban đêm
Tiến hành khảo sát 190 phạm nhân đang chấp hành án tại Trại tạm giam, CATG; Trại giam Mỹ Phước, BCA, Trại giam Phước Hòa, BCA về số lần, thời gian, số lượng ĐTV tiến hành HCBC trong ngày75 Kết quả thể hiện:
- Có 40/190 phạm nhân xác định, ĐTV tiến hành hỏi cung 03 lần/ngày Trong đó, có 05/40 phạm nhân xác định: thời gian hỏi cung từ 01 đến 02 giờ/lần; có 35/40 phạm nhân xác định: thời gian hỏi cung từ 01 đến 04 giờ/lần
- Có 20/190 phạm nhân xác định, ĐTV tiến hành hỏi cung 04 lần/ngày Trong đó: có 03/20 phạm nhân xác định: thời gian hỏi cung từ 01 đến 02 giờ/lần; có 10/20 phạm nhân xác định: thời gian hỏi cung từ 01 đến 03 giờ; có 07/20 phạm nhân xác định: thời gian hỏi cung từ 01 đến 04 giờ/lần
Trang 36- Trong 60/190 phạm nhân xác định ĐTV hỏi cung từ 03 lần đến 04 lần/ngày thì: có 20/60 trường hợp xác định ĐTV lập biên bản trong các lần hỏi cung; 10/60 trường hợp xác định ĐTV lập biên bản hỏi cung 01 lần; 05/60 trường hợp xác định ĐTV lập biên bản hỏi cung 02 lần; 25/60 trường hợp xác định ĐTV không lập biên bản trong các lần hỏi cung
- Trong 190 phạm nhân được lấy ý kiến, có: 70/190 phạm nhân xác định 01 ĐTV hỏi cung; 90/190 phạm nhân xác định có 02 ĐTV tham gia trong 01 lần hỏi cung;
có 30/190 phạm nhân xác định có 03 ĐTV cùng tham gia trong 01 lần hỏi cung
- Trong 190 phạm nhân được khảo sát, có 30/190 phạm nhân xác định ĐTV hỏi cung vào ban đêm
Số liệu khảo sát thực tiển nêu trên cũng đã góp phần minh chứng ý kiến trao đổi của tác giả với ĐTV các đơn vị nêu trên là có cơ sở Mặt khác, qua tổng hợp thông tin trên mạng Internet cho thấy trong thời gian qua đã có nhiều vụ án oan, xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân ĐTV đã tùy tiện trong giới hạn số lần, thời gian, hỏi cung vào ban đêm trái qui định của pháp luật, vi phạm nghiêm trọng thủ tục TTHS Điển hình một số vụ án nổi bật sau:
- Vụ thứ 1 76:
Theo cáo trạng, khoảng đầu năm 2014, Trần Quốc Khánh (sinh ngày 4/11/1997, ngụ ấp An Lộc, xã An Cơ, huyện Châu Thành) quen với N.T.N.T (sinh ngày 1/1/1999, ngụ huyện Hoà Thành) Cả hai nhiều lần điện thoại và gặp nhau ở nội ô Toà thánh Tây Ninh nên có tình cảm yêu thương nhau Ngày 23/3/2014, Khánh điện thoại rủ T đến ấp An Lộc, xã An Cơ dự đám tang cha của người bạn Khoảng 19 giờ, T cùng một người bạn đi taxi đến đám tang Tại đây, nhóm bạn Khánh, trong đó có Từ Minh Thuận, Trương Duy Trường cùng T tổ chức uống rượu Đến 23 giờ, Trường chở T về nhà ngủ chung phòng Trường đòi quan hệ tình dục với T nhưng T không đồng ý Cả hai ngủ đến sáng
Ngày 24/3/2014, cả nhóm dự đám tang và tiếp tục uống rượu Đến 22 giờ, Thuận đưa T về nhà Thuận (đối diện đám tang) ngủ Do trong phòng có người ngủ nên Thuận đưa T ra phía sau nhà và T đến ngủ trên chiếc giường tre cạnh nhà bếp Sau đó, Thuận sang đám tang Đến khoảng 4 giờ, ngày 25/3, Thuận về ngủ chung với T Ngủ được một lúc, Thuận thức dậy, rửa mặt, rồi ngồi trên chiếc xe mô tô gần
76 Bài viết Một vụ hiếp dâm: Toà tuyên bị cáo không phạm tội của tác giả Đức Tiến và Thông tin tiếp theo về
vụ án “hiếp dâm” ở huyện Châu Thành của tác giả Thế nhân đăng trên trang web tuyen-bi-cao-khong-pham-toi-a53086.html ngày 21/3/2015 và ngày 27/5/2015.
Trang 37http://baotayninh.vn/toa-chiếc giường Lúc này, Khánh đến và nói với Thuận là Khánh muốn quan hệ tình dục với T, nhờ Thuận giúp, Thuận đồng ý Sau đó, Khánh chui vào mùng nằm chung với T và kéo mền đắp từ chân tới ngực cho T 5 phút sau, Thuận cũng lên giường nằm chung với Khánh và T Do Khánh có hành vi sờ mó nên T thức dậy, bước xuống giường định đi qua đám tang nhưng Khánh và Thuận kéo lại, sau đó Thuận giúp sức, Khánh quan hệ tình dục với T T phản ứng vung tay, giãy giụa nhưng không phản kháng lại được hành vi của Khánh Sau khi quan hệ xong, cả Khánh, Thuận và T qua dự đám tang bình thường (!?) Một tháng sau, ngày 24/4, gia đình T làm đơn tố cáo Khánh và Thuận có hành vi hiếp dâm Giám định pháp y kết luận màng trinh T bị rách cũ, còn Khánh có độ tuổi khoảng 16 năm 6 tháng đến
17 năm Vì vậy, VKSND huyện Châu Thành truy tố Khánh và Thuận tội “Hiếp dâm trẻ em” được quy định tại Khoản 1 Điều 112 Bộ luật Hình sự
Thẩm vấn tại phiên toà, bị cáo Khánh cho rằng mình không có hành vi hiếp dâm T, còn Thuận cũng khẳng định không giúp Khánh hiếp dâm T Trong khi đó, bị hại T khai trước toà và tại CQĐT hành vi và diễn biến hiếp dâm của Khánh đối với
T có nhiều mâu thuẫn, không trôi chảy, không rõ ràng Tại phiên tòa các luật sư và trợ giúp viên pháp lý tham gia bào chữa cho các bị cáo đã đưa ra nhiều chứng cứ cho rằng CQĐT đã vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng như lấy lời khai bị cáo
Khánh, bị cáo Thuận không có sự chứng kiến của cha mẹ của các bị cáo Bà Lý Thị Ánh Hồng- mẹ của bị cáo Thuận cũng cho biết, bà ngồi chờ phía bên ngoài đến 2 giờ khuya, điều tra viên kêu ký tên thì ký vì nghe nói là con bà khai như vậy Và…
khi bà Hồng ký tên xong thì CA cho con bà về Theo luật sư Phạm Thanh Điền- người bào chữa cho bị cáo Thuận thì chứng cứ thu thập như vậy là không bảo đảm khách quan, vi phạm Điều 304 BLTTHS… Phần luận tội, đại diện VKS cho biết, tuy các bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng căn cứ vào kết quả điều tra, lời khai của các bị cáo, bị hại thì đã có đủ cơ sở xác định các bị cáo phạm tội
Trước khi tuyên án, thẩm phán Ninh Thị Ngọc Cẩm - Chủ toạ phiên toà nhận định: Trên cơ sở hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên toà cũng như xét thấy tại phiên toà, các bị cáo Khánh, Thuận không thừa nhận hành vi hiếp dâm, khi lấy lời khai bị cán bộ điều tra ép cung, hăm doạ; các bản tường trình bị cáo viết cũng trong
tình trạng bị ép buộc… và “Việc lấy lời khai vào ban đêm nhưng không ghi rõ lý do
là không đúng quy định Điều 131 BLTTHS”… Trên cơ sở lập luận trên, Chủ toạ
phiên toà khẳng định, việc điều tra thu thập chứng cứ không đúng thủ tục, trình tự
Trang 38của BLTTHS nên không có giá trị chứng minh trong vụ án… Căn cứ Khoản 2 Điều
107 BLTTHS, Toà tuyên bị cáo Khánh, Thuận không phạm tội hiếp dâm
Ngày 25/5/2015, TAND tỉnh Tây Ninh mở phiên toà hình sự phúc thẩm xem xét kháng nghị của VKSND huyện Châu Thành và kháng cáo của người bị hại đối với 2 bị cáo Trần Quốc Khánh và Từ Minh Thuận Tại toà phúc thẩm, một lần nữa HĐXX phúc nhận định đã chỉ ra hàng loạt sai phạm vi phạm tố tụng nghiêm trọng
trong quá trình điều tra, xét xử sơ thẩm; trong đó HĐXX cấp phúc thẩm đề nghị CQĐT làm rõ lý do tại sao cơ quan này lấy khẩu cung bị cáo Thuận vào ban đêm lúc 23 giờ… HĐXX phúc thẩm đã tuyên huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, giao lại cho Viện KSND huyện Châu Thành điều tra lại theo thủ tục chung
- Vụ thứ 277:
Theo kết luận điều tra của cơ quan CSĐT CA tỉnh Sóc Trăng, vào khoảng 0h ngày 3/8/2012, Lâm Tài Mấu (SN 1974, tên thường gọi là Tài Cột) cùng Trần Đức Minh (Mến) sau khi nhậu say đã đến nhà Phạm Văn Lé (SN 1963, ngụ tại khóm Biển Dưới, phường Vĩnh Phước, TX Vĩnh Châu) chửi bới và đập cửa nhà Thấy vậy, Lé bước ra dùng tay phải tát vào mặt Mấu một cái, còn vợ Lé là Thạch Thị Xem dùng cây ba trắc đánh mấy cái vào chân Mấu Thấy vậy, Minh kéo Mấu ra ngoài đường bê tông và kêu Mấu về nhà nhưng Mấu không chịu Khoảng 15 phút sau, Mấu quay lại nhà Lé tiếp tục chửi rủa
Nghe Mấu chửi, Lé tức giận lấy cây gỗ dùng gài cửa dài khoảng 68cm, dày 2,4cm, rộng 5,5cm, có 4 cạnh, cầm trên tay trái đánh vào vùng đầu của Mấu khiến Mấu té xuống sân Mấu chống tay định ngồi dậy thì bị Lé đánh tiếp một cây nữa vào vùng đầu phía sau làm Mấu nằm bất động Còn vợ Lé dùng cây ba trắc đánh vào chân Mấu Sau 7-8 phút nằm bất động, Mấu tự động đứng dậy đi ra hướng đê biển Minh đi theo sau Mấu khoảng 10m nhưng sau đó không thấy Mấu đâu nên Minh quay về nhà bà nội ở khóm Biển Dưới ngủ Đến 2h45 phút, CA phường Vĩnh Phước nhận tin báo của quần chúng về việc phát hiện Mấu nằm chết trên đường hướng về chợ phường Vĩnh Phước vào khoảng 0h50 phút Vị trí phát hiện tử thi cách nhà Lé khoảng hơn 1,4km Ngày 13/9/2012, Phạm Văn Lến (em ruột Lé) đến
cơ quan công an đầu thú và khai nhận có chứng kiến việc Lé cầm cây đánh vào đầu Mấu Ngày 22/9/2012, CQĐT bắt Phạm Văn Lé Quá trình điều tra, Lé thừa nhận
77 Bài viết Thêm một án oan "lộ diện"? đăng trên trang web https://vnn.online/them-mot-an-oan-lo-dien và bài viết “Sẽ xem xét bồi thường thiệt hại người bị oan sai” đăng trên trang web http://cand.com.vn/Phap- luat/Se-xem-xet-boi-thuong-thiet-hai-nguoi-bi-oan-sai-334983/.
Trang 39hành vi dùng tay đánh vào mặt Mấu, dùng cây gài cửa đánh 2 cái ở vùng đầu bên trái và vùng đầu phía sau của Mấu Riêng bà Thạch Thị Xem chỉ thừa nhận thấy Lé dùng tay đánh vào mặt Mấu một cái, còn mình dùng cây ba trắc đánh vào chân Mấu 2-3 cái, không thừa nhận chứng kiến việc Lé đánh Mấu bằng cây Từ đó, cơ quan CSĐT CA tỉnh Sóc Trăng đã chuyển hồ sơ đến VKSND tỉnh Sóc Trăng và VKSND tỉnh Sóc Trăng quyết định truy tố các bị can Phạm Văn Lé về tội “Giết người”, Phạm Văn Lến và Thạch Thị Xem tội “Không tố giác tội phạm”
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, các luật sư đã chỉ ra 05 sai sót về vi phạm trình tự thủ tục tố tụng khiến vụ án sau 2 năm điều tra phải tạm đình chỉ; trong đó
có sai phạm như “biên bản lấy lời khai các bị can được các ĐTV thực hiện ngoài giờ làm việc, tức là vào ban đêm, thậm chí vào nửa đêm…” Sau 2 phiên tòa xét xử
sơ thẩm vào ngày 21/2/2014 và ngày 1/7/2014, TAND tỉnh Sóc Trăng trả hồ sơ cho CQĐT và cơ quan CSĐT CA tỉnh Sóc Trăng ra quyết định Tạm đình chỉ điều tra vụ
án, tạm đình chỉ điều tra đối với các bị can
* Vụ thứ 378:
Theo cáo trạng của VKSND TP.HCM, Lê Dũng đã cùng các nhân viên và Trần Thị Bích Tuyền (giám đốc công ty TNHH Lam Tuyền và Công ty TNHH Đại Đắc Tài), Hứa Châu (giám đốc Công ty Lâm Kim Ngọc) câu kết khai báo gian dối, lập hồ sơ thuế khống để nhận tiền hoàn thuế 80 tỉ đồng Cùng ra tòa với nhóm bị cáo doanh nghiệp này còn có hàng loạt cán bộ hải quan An Giang và TP.HCM (bị truy tố về các tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành công vụ, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng)… Tại phiên tòa, khi tranh luận, luật sư của các bị cáo đã chỉ ra rất nhiều biên bản lấy lời khai trong giai đoạn điều tra có dấu hiệu vi phạm tố tụng Chẳng hạn chỉ trong một buổi sáng, một ĐTV đã lấy lời khai của ba
bị can ở hai nơi cách nhau đến hơn 270 km… Ngoài ra, ĐTV còn lấy cung ban đêm, lấy cung ngày thứ Bảy mà không giải thích rõ lý do tại sao Chưa kể có những
biên bản thiếu chữ ký của ĐTV, KSV…
Trong phần đối đáp, đại diện VKS giữ quyền công tố tại phiên tòa thừa nhận trong HSVA có những biên bản bị vi phạm tố tụng Hàng trăm bút lục lấy lời khai của các bị can trong giai đoạn điều tra vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng,
78
Bài viết vụ án Lê Dũng cùng đồng bọn can tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đăng trên trang web http://plo.vn/phap-luat/hang-tram-ban-cung-vi-pham-to-tung-xu-ly-sao-663757.html; https://tuoitre.vn/hang- tram-but-luc-vu-xu-cong-chuc-hai-quan-vi-pham-to-tung-1212343.htm;
htps://vozforums.com/showthread.php?t=5489982
Trang 40HĐXX cho rằng một số lời khai không được HĐXX lấy làm căn cứ để luận tội, còn
những bút lục nào có mặt luật sư hoặc KSV thì vẫn được xem xét và có giá trị
Tóm lại: Từ thực tiển áp dụng pháp luật nêu trên cho thấy, việc ĐTV tùy
tiện trong giới hạn thời gian hỏi cung, số lần hỏi cung trong ngày và việc hỏi cung vào ban đêm nhưng không ghi lý do vào biên bản không phải là nguyên nhân chính dẫn đến oan, sai trong TTHS Tuy nhiên, sự tùy tiện này đã tạo cho bị can một sự căng thẳng, ức chế về tâm lý vì phải làm việc liên tục, thậm chí làm việc trái với qui luật sinh hoạt hàng ngày, từ đó đưa ra những lời khai không đúng sự thật; mặt khác việc hỏi cung liên tục, hỏi cung vào ban đêm, ngoài giờ làm việc nhưng không vì một lý do cấp bách phục vụ họat động tố tụng tiếp theo cũng tạo cho ĐTV sự mệt mỏi, căng thẳng, trường hợp không kìm chế được sẽ dẫn đến hệ quả là có những hành vi bức cung, nhục hình xâm phạm đến quyền lợi, ích hợp pháp của bị can
* Nguyên nhân của những hạn chế
Thứ nhất, các quy định của pháp luật TTHS còn chưa hoàn thiện, việc qui
định hỏi cung vào ban đêm còn mang tính chung chung, chưa cụ thể; việc giới hạn
về thời gian hỏi cung và số lần HCBC trong ngày chưa qui định cụ thể trong pháp luật tố tụng hình sự Từ đó, ĐTV đã tùy tiện áp dụng theo suy nghĩ chủ quan, dẫn đến những vi phạm như nêu tại phần hạn chế BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung thể hiện sự tiến bộ vượt bậc khi qui định rõ ràng về giới hạn số lần hỏi cung, thời gian hỏi cung trong ngày đối với người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, luật chưa qui định cụ thể giới hạn số lần hỏi cung, thời gian hỏi cung và các trường hợp tiến hành
hỏi cung vào ban đêm mà vẫn qui định mở “trừ trường hợp không thể trì hoãn được ”, dẫn đến ĐTV có thể tiếp tục tùy tiện áp dụng trong thực tế
Thứ hai, năng lực, trình độ nghiệp vụ của một bộ phận ĐTV còn hạn chế
Mặc dù được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, pháp luật, nghiệp vụ phù hợp với công tác HCBC Tuy nhiên có lúc, có nơi ĐTV chưa có phương pháp phù hợp giáo dục, tác động tâm lý bị can trong quá trình HCBC để bị can tự nhận thức sai phạm mà tự khai báo về hành vi phạm tội của bản thân, mà lợi dụng sơ hở của luật để tạo sức ép tâm lý, làm cho bị can mệt mỏi phải khai báo
Thứ ba, một bộ phận ĐTV chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, nặng thành
tích, xem đối tượng điều tra là tội phạm Mặt khác, áp lực công việc nhiều, việc đánh giá chứng cứ chưa có một quy chuẩn, chủ yếu dựa vào kiến thức, năng lực, kinh nghiệm chủ quan của người tiến hành tố tụng; có quan điểm trọng cung hơn trọng chứng nên sử dụng cách thức hỏi cung nhiều lần, với thời gian kéo dài, hỏi