1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động luận tội trong tố tụng hình sự việt nam

120 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó luận tội của Viện kiểm sát tại các phiên toà hình sự có vị trí đặc biệt quan trọng, là sự thể hiện tập trung nhất vai trò công tố của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân bởi lẽ

Trang 1

NGUYỄN VĂN KHOÁT

LUẬN VĂN CAO HỌC

HOẠT ĐỘNG LUẬN TỘI TRONG TỐ TỤNG

HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 2

NGUYỄN VĂN KHOÁT

HOẠT ĐỘNG LUẬN TỘI TRONG TỐ TỤNG

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các nội dung được trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập của bản thân với sự hướng dẫn khoa học của Ts Lê Thành Dương Những thông tin, số liệu trong luận văn là trung thực, chính xác và chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 26 tháng 11 năm 1012

Tác giả

Nguyễn Văn Khoát

Trang 4

STT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ CHỮ VIẾT TẮT

9 Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTC

10 Toà án nhân dân tối cao TANDTC

Trang 5

Biểu 1: Mẫu 136 - Hướng dẫn viết Luận tội

Biểu 2: Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân

Biểu 3: Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh

Biểu 4: Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện

Bảng 1: Bảng thống kê số lượng án hình sự được đưa ra truy tố, xét xử

sơ thẩm trong cả nước từ năm 2008 đến nay

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ LUẬN TỘI

TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 01

1.1 Lý luận chung về luận tội và bản luận tội 01

1.1.1 Khái niệm luận tội 01

1.1.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động luận tội 02

1.1.3 Bản chất, giá trị pháp lý và ý nghĩa của luận tội 04

1.1.4 Khái lược lịch sử của luận tội của Việt Nam 08

1.2 Nội dung và yêu cầu của bản luận tội 15

1.2.1 Nội dung của bản luận tội 15

1.2.2 Yêu cầu của bản luận tội 16

1.3 Kỹ năng xây dựng bản luận tội 22

1.3.1 Kỹ năng xây dựng bản luận tội 22

1.3.2 Kỹ năng trình bày luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm 43

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LUẬN TỘI VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LUẬN TỘI CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ SƠ THẨM 50

2.1 Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 2008 đến nay 50

2.1.1 Thực trạng tổ chức bộ máy, lực lượng các đơn vị thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử ở Viện kiểm sát nhân dân các cấp hiện nay 50

2.1.2 Kết quả công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự sơ thẩm của Viện kiểm sát nhân dân các cấp từ năm 2008 đến nay 65

Trang 7

sự sơ thẩm 68 2.2.2 Những ưu điểm và nguyên nhân đạt được trong hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử vụ án hình sự sơ thẩm 71 2.2.3 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử vụ án hình sự

PHẦN KẾT LUẬN 93 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với việc tiến hành cải cách kinh tế, cải cách hành chính, Đảng và Nhà nước ta đã và đang đẩy mạnh thực hiện việc cải cách tư pháp Đây là mộtyêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế cũng như để đáp ứng tình hình thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nước ta là cần phải tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới Nhằm

để hiện thực hoá công cuộc cải cách tư pháp đã đề ra, ngày 02/01/2002, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian

tới, đã định hướng: “Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng

công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp…Nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, đảm bảo tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác… Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa…” Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị Ban Chấp hành

Trung ương Đảng tiếp tục ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược

Cải cách tư pháp đến năm 2020, đã nhấn mạnh “….Đổi mới việc tổ chức

phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao tính tranh tụng tại các phiên tòa xét

xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”

Thực hiện việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương trên của Đảng và Nhà nước ta, trong thời gian vừa qua pháp luật hình sự, tố tụng hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu của Đảng, Nhà nước trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng cố và duy trì trật tự pháp luật, ổn định xã hội Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không ngừng nâng cao trình độ nghiệp

vụ, năng lực công tác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình

sự Đồng thời, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả 02 Nghị quyết nêu trên của

Bộ chính trị

Trang 9

năm 2002 “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các

hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” Hiện nay ở

nước ta, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà, Kiểm sát viên khi tham gia phiên toà có nhiệm vụ và quyền hạn như đọc cáo trạng, tham gia xét hỏi, thực hiện việc luận tội và phát biểu quan điểm tranh luận, đối đáp với bên bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Ngoài ra, Kiểm sát viên còn

có nhiệm vụ kiểm sát hoạt động xét xử, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng tại phiên toà

Trong đó luận tội của Viện kiểm sát tại các phiên toà hình sự có vị trí đặc biệt quan trọng, là sự thể hiện tập trung nhất vai trò công tố của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân bởi lẽ qua đó thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát

về vụ án: Có tội hay không có tội, tội gì, tính chất mức độ, vai trò trách nhiệm của bị cáo và cả nguyên nhân, điều kiện phạm tội cũng như đường lối xử lý

Do vậy, trong những năm qua Viện kiểm sát đã tập trung trang bị kiến thức cho đội ngũ Kiểm sát viên và các Kiểm sát viên đã vươn lên đảm đương tốt nhiệm vụ của mình

Tuy nhiên, trong thực tế còn không ít phiên toà vai trò mờ nhạt của Kiểm sát viên lại thể hiện thể hiện tập trung nhất ở hoạt động luận tội và tranh luận nên chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp Điều đó đã ảnh hưởng nhất định đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nói chung, chất lượng và hiệu quả hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm nói riêng hiện nay

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thực hành quyền công tố kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự nói chung và thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử nói riêng tại các phiên toà hình sự, nhằm đáp yêu cầu thực tiễn đang đặt ra cũng như yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, có nhiều nội dung cần phải được quan tâm Trong đó, một trong những nội dung trọng tâm cần được Viện kiểm sát các cấp quan tâm và thực hiện

Trang 10

tố tụng công khai, thường có sự tham gia của đầy đủ các bên, nhằm làm sáng

tỏ sự thật khách quan của vụ án, thông qua việc xem xét, đánh giá lại một cách toàn diện các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được về vụ án Qua việc xét hỏi, luận tội, tranh luận và đối đáp giữa các bên tại phiên toà mà hành vi phạm tội, người phạm tội được xác minh cụ thể, đồng thời làm rõ được các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, tính chất, mức độ phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân

sự của bị cáo Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử ra một bản án đúng người, đúng tội đúng pháp luật đối với bị cáo, không làm oan người vô tội và bỏ lọt tội phạm

Chính vì vậy, để nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử vụ án hình sự sơ thẩm việc lựa chọn vấn đề

“Hoạt động luận tội trong tố tụng hình sự Việt Nam” làm đề tài Luận văn

thạc sỹ Luật học là đáp ứng yêu cầu thực tiễn và khách quan hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hoạt động luận tội nếu xét về tiến trình tố tụng thì luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên toà là hành vi pháp lý của Kiểm sát viên mà pháp luật quy định để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo Xét về mục đích, nội hàm của nó thì luận tội là luận cứ, quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước trình bày tại phiên toà về vụ

án hình sự nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, là cơ sở để Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không

để xảy ra oan sai cho người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm Vì vậy đây là vấn đề thu hút các nhà nghiên cứu lý luận và những người hoạt động thực tiễn quan tâm nghiên cứu Việc nghiên cứu đề tài này đã được thể hiện trong nhiều công trình khoa học được công bố trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành và các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng dạy về pháp luật

Có thể nêu ra như sau: Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ

thẩm, NXB Tư pháp, Hà Nội; Nguyễn Đức Mai (2007), Tranh tụng tại phiên

tòa sơ thẩm hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tòa án nhân dân số 17; Võ Thị Hồng Luyến (2011), Một số

Trang 11

01; Nguyễn Đức Mai (2009), Đặc điểm của mô hình tranh tụng và phương

hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam, Tạp chí Tòa án nhân

dân số 23; Nguyễn Mạnh Hà (2009), Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên

trong tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp hiện nay, Tạp chí Kiểm sát số 10; Nguyễn Thế Tùng (2011), Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa Hình sự của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát quân sự, Tạp chí Kiểm sát số 17 ; Nguyễn

Văn An (2011), Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự

tại phiên tòa theo yêu cầu cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát số 7; Trần Duy

Bình (2011), Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh

tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp, Tạp chí Kiểm sát

số 8 và một số công trình khác được nghiên cứu và đăng tải trên các báo, tạp chí khoa học chuyên ngành

Nhìn chung, các công trình nêu trên chủ yếu là các bài viết được đăng trên tạp chí khoa học chuyên ngành như: Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học pháp lý…Các tác giả của các bài viết này đã đặt vấn đề cũng như tiếp cận

và sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nên đã đề cập, đánh giá, xem xét hoạt động luận tội trong tố tụng hình sự ở nhiều góc độ và mức độ chuyên sâu khác nhau theo từng bài viết Riêng có một công trình nghiên cứu

của tác giả Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm,

NXB Tư pháp, Hà Nội Trong nội dung nghiên cứu của đề tài này, tác giả chỉ

có một phần nhỏ nghiên cứu về hoạt động luận tội trong quá trình tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên toà sơ thẩm hình sự

Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử hình sự, cũng như vai trò của bên buộc tội trong quá trình luận tội tại phiên tòa Đặc biệt, điểm mới của Luận văn này là tác giả tiến hành đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các vấn đề như cơ sở pháp lý của luận tội, về nội dung và yêu cầu của bản luận tội, phương thức, kỹ năng luận tội của Kiểm sát viên; các hạn chế, thiếu sót trong hoạt động luận tội của

Trang 12

nghị cụ thể, nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố nói chung và

nâng cao chất lượng hoạt động luận tội nói riêng của Kiểm sát viên tại phiên

tòa hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra hiện nay

3 Mục đích và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Tác giả chọn đề tài này với mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống

và toàn diện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về luận tội

và thực trạng hoạt động luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự Từ

đó, tác giả đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt

động luận tội của Kiểm sát viên khi thực hành quyền công tố tại các phiên tòa

hình sự sơ thẩm Với mục đích nghiên cứu như ở trên, tác giả xác định đối

tượng nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề cơ bản sau đây:

Một là: Phân tích và làm rõ cơ sở lý luận, pháp lý về luận tội và hoạt

động luận tội quy định trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành ở nước ta

Hai là: Phân tích thực trạng hoạt động luận tội của Kiểm sát viên Viện

kiểm sát nhân dân các cấp từ năm 2008 đến hết tháng 6 năm 2012, từ đó rút ra

kết quả đã đạt được, những tồn tại hạn chế cần khắc phục và những nguyên

nhân của những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế Trên cơ sở đó, đề

xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng luận tội, chất lượng

luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách

tư pháp hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, tác giả xác định giới

hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu làm rõ những quy

định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về luận tội và phân tích thực

trạng hoạt động luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Với trọng

tâm nghiên cứu, phân tích kỹ năng xây dựng bản luận tội, kỹ năng luận tội

của Kiểm sát viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm, từ đó đề xuất một số kiến

nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động luận tội của Kiểm sát

viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Trang 13

Ngoài ra trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp thu thập thông tin số liệu, phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, so sánh, phương pháp phỏng vấn trực tiếp các Kiểm sát viên có nhiều năm công tác trong ngành để thu thập và đúc rút thành kinh nghiệm phục vụ cho việc hoàn thành luận văn

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

- Ở một mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được

sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động luận tội nói riêng và thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử nói chung cho đội ngũ Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân các địa phương, đơn vị khi được giao chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà toà xét xử vụ án hình sự sơ thẩm

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, biên soạn các chuyên đề, bài giảng phục vụ giảng dạy các lớp Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát tại Trường Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn được trình bày bố cục trong hai chương, cụ thể như sau:

Chương 1 Những vấn đề lý luận, pháp lý về luận tội trong tố tụng hình

sự Việt Nam

Chương 2 Thực trạng hoạt động luận tội và một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà xét xử vụ

án hình sự sơ thẩm

Trang 14

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ LUẬN TỘI TRONG TỐ

TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Lý luận chung về luận tội

1.1.1 Khái niệm luận tội

Luận tội là thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong lĩnh vực tố tụng hình

sự ở trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, được các nhà nghiên cứu lý luận, những người làm công tác thực tiễn áp dụng pháp luật, những người có liên quan đến vụ án cũng như những người tham dự phiên toà quan tâm Từ những góc độ nghiên cứu khác nhau mà khái niệm luận tội cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

Theo nghĩa chung nhất “Luận tội là phân tích, cân nhắc để xét tội”1 Theo nghĩa pháp lý đơn thuần “Luận tội là phân tích tội trạng, đề nghị

Theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ

luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 thì luận tội được hiểu: Là văn bản

do Viện kiểm sát xây dựng trên cơ sở bản cáo trạng và những tài liệu, chứng

cứ đã được kiểm tra tại phiên toà, ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trong luận tội, Kiểm sát viên đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng đã truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội bị cáo thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội

Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án hình

sự, bản luận tội là một văn bản nghiệp vụ phân tích, đánh giá các chứng cứ trong vụ án hình sự, trên cơ sở đó Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố trình bày quan điểm, thái độ của mình, đề

Trang 15

nghị áp dụng pháp luật cụ thể đối với hành vi phạm tội của bị cáo, qua bản luận tội còn góp phần tuyên truyền giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội Trong phiên toà xét xử vụ án hình sự, khi Kiểm sát viên trình bày luận tội là lúc mở đầu cho giai đoạn tranh luận tại phiên toà Đây là giai đoạn quan trọng thể hiện rõ nét nhất vai trò, bản lĩnh của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân trong suốt quá trình giải quyết vụ án Lời luận tội cũng chính là quan điểm của Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội, người phạm tội, trên cơ sở đó mà những người tham gia tố tụng sẽ thực hiện các quyền tố tụng của bản thân để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Qua phân tích, đánh giá các quan điểm về luận tội trên đây và từ thực tiễn thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ

án hình sự, theo chúng tôi luận tội được hiểu: Là văn bản do Viện kiểm sát

xây dựng trên cơ sở bản cáo trạng và những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà, ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà nhằm phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án, hành vi của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để từ đó xác định tội danh, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác áp dụng đối với người phạm tội

Như vậy, luận tội là một trong những hoạt động thực hành quyền công

tố do Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tại phiên toà hình sự,

là sự buộc tội chính thức của Viện kiểm sát nhân dân đối với bị cáo, thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án hình sự

1.1.2 Cơ sở pháp lý của luận tội

Theo quy định tại Điều 17 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2002 thì khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình

sự, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

- Đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa;

- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm;

- Phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về việc giải quyết vụ

án tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm

Trang 16

Theo quy tại Điều 217 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì về trình tự phát biểu khi tranh luận tại phiên toà như sau:

- Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn

bộ quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không có tội

- Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ

đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà

Theo Điều 23 Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày 17/9/2007

đã quy định về trách nhiệm của Kiểm sát viên trong việc xây dựng và trình bày bản luận tội tại phiên toà như sau:

- Trước khi tham gia phiên toà Kiểm sát viên phải viết bản dự thảo luận tội theo mẫu hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Đối với vụ

án trọng điểm, phức tạp hoặc xét xử lưu động, bản dự thảo luận tội của Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện duyệt và cho ý kiến

- Tại phiên toà Kiểm sát viên phải ghi chép những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa bản dự thảo luận tội

Sau khi kết thúc việc xét hỏi Kiểm sát viên trình bày luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố Luận tội của Kiểm sát viên chỉ căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà

Như vậy việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà chỉ do Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân mới có thẩm quyền thực hiện và các quyền năng này, được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 và tại Quy chế công tác thực hành quyền công

tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, ban hành ngày 17/9/2007 của Viện

Trang 17

kiểm sát nhân dân tối cao Đó là cơ sở pháp lý về luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tại phiên toà hình sự

1.1.3 Bản chất, giá trị pháp lý và ý nghĩa của luận tội

1.1.3.1 Bản chất của luận tội

Xét về tiến trình tố tụng thì luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo tại phiên toà là hành vi pháp lý của Kiểm sát viên mà pháp luật quy định để thực hiện chức năng buộc tội đối với bị cáo Xét về mục đích, nội hàm của

nó thì luận tội là luận cứ, quan điểm của Viện kiểm sát do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước trình bày tại phiên toà về vụ án hình sự nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khách quan của vụ án, góp phần cùng với Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai cho người vô tội cũng như bỏ lọt tội phạm

Như vậy, bản chất của luận tội không chỉ là các luận cứ, quan điểm buộc tội bị cáo mà còn đề cập đến những nội dung gỡ tội cho bị cáo, nhằm bảo vệ sự đúng đắn của cáo trạng Trên cơ sở đó, Kiểm sát viên đưa ra các kết luận, yêu cầu và đề nghị cụ thể với Hội đồng xét xử về tội danh, khoản, điều của Bộ luật hình sự cũng như các biện pháp tư pháp cần áp dụng đối với bị cáo

- Sự khác nhau giữa bản luận tội và các văn bản pháp lý khác

Từ sự phân tích trên đây có thể rút ra nhận xét: bản luận tội, bản kết luận điều tra, bản cáo trạng tuy là văn bản pháp lý, văn bản nghiệp do Cơ quan tiến hành tố tụng ban hành theo quy định của pháp luật và có mục đích chung là đấu tranh xử lý các hành vi phạm tội, nhưng giữa các văn bản này

có sự khác nhau căn bản như sau:

Bản kết luận điều tra: Theo quy định tại Điều 163 BLTTHS 2003 thì

khi có đầy đủ chứng cứ để xác định có tội phạm và bị can, thì Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến hành

vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố

Như vậy, bản kết luận điều tra có hai nội dung: trình bày diễn biến hành

vi phạm tội nêu rõ các chứng cứ chứng minh và những ý kiến đề xuất cho việc giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố Xét về giai

Trang 18

đoạn tố tụng, thì bản kết luận điều tra là căn cứ để xác định kết thúc giai đoạn tố tụng điều tra do Cơ quan điều tra thực hiện

Bản cáo trạng: Cáo trạng là văn bản pháp lý do Kiểm sát viên xây

dựng trình lãnh đạo Viện duyệt và ký ban hành nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội ra trước Toà án để xét xử Cáo trạng là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát về vụ án hình sự, người thực hiện hành vi phạm tội Nếu như bản kết luận điều tra chỉ tập trung nêu các chứng cứ chứng minh tội phạm, thì bản cáo trạng phải ghi

cụ thể hơn và không chỉ nêu các chứng cứ buộc tội mà nêu cả các chứng cứ

gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ

Cáo trạng được xây dựng trên cơ sở kết quả thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kết luận điều tra, là căn cứ để Toà án

ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, xác định thành phần của Hội đồng xét xử, danh sách những người cần triệu tập đến phiên toà Tại phiên toà, sau khi kết thúc phần thủ tục phiên toà trước khi chuyển sang phần xét hỏi, Kiểm sát viên phải đọc nguyên văn và toàn bộ cáo trạng do Viện trưởng, Phó viện trưởng hoặc Kiểm sát viên được Viện trưởng uỷ quyền ký Cáo trạng được lưu giữ trong hồ sơ và phải tống đạt cho bị can

Bản luận tội: Luận tội là văn bản nghiệp vụ do Kiểm sát viên viết để

thực hiện chức năng thực hành quyền công tố tại phiên toà (bản dự thảo luận

tội chỉ trình lãnh đạo Viện hoặc thủ trưởng đơn vị duyệt và cho ý kiến chỉ đạo đối với những vụ án điểm, án phức tạp còn có những ý kiến khác nhau và những vụ án xét xử lưu động) Luận tội được viết trên cơ sở bản cáo trạng và

những tài liệu chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà, ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra trong phần xét hỏi Sau khi kết thúc phần xét hỏi, trước khi bước vào phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày bản luận tội đã được chỉnh sửa, bổ sung trong phần xét hỏi Luận tội được hoàn thiện sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm và được lưu giữ trong hồ sơ kiểm sát

Trên cơ sở trình bày diễn biến của hành vi phạm tội, nêu những chứng

cứ chứng minh tội phạm và hành vi phạm tội…như bản kết luận điều tra và bản cáo trạng, bản luận tội còn đi sâu phân tích tác hại của hành vi phạm tội

và nêu lên những bài học về phòng ngừa tội phạm và đề xuất mức hình phạt

cụ thể để Toà án xem xét, quyết định

Trang 19

Xét về tiến trình của hoạt động tố tụng chúng ta nhận thấy, nếu như bản kết luận điều tra là căn cứ để xác định cuộc điều tra đã kết thúc, thì bản cáo trạng là sự mở đầu của một giai đoạn mới, giai đoạn truy tố, đó là giai đoạn bắt đầu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Còn bản luận tội là thời điểm bắt đầu giai đoạn tranh luận giữa Kiểm sát viên với người bào chữa, bị cáo, người bảo

vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Bản cáo trạng và luận tội tuy có sự khác nhau căn bản như đã nêu ở trên nhưng cũng

có điểm giống nhau thể hiện ở chỗ: Cáo trạng và luận tội đều là sự buộc tội của Viện kiểm sát nhân dân, là căn cứ để bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tự bào chữa hoặc bào chữa, đồng thời cũng là căn

cứ để Hội đồng xét xử xác định giới hạn xét xử và ra bản án đúng pháp luật

1.1.3.2 Giá trị pháp lý của luận tội

Theo quy định tại Điều 217 Bộ luật TTHS nếu xét về mặt hình thức,

thì sau khi Kiểm sát viên trình bày bản luận tội sẽ làm phát sinh giai đoạn tranh luận giữa Kiểm sát viên và bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác Đây được coi là giai

đoạn “đấu lý” quan trọng nhất, giai đoạn làm việc vất vả nhất của Kiểm sát

viên tại phiên toà hình sự sơ thẩm

Xét về mặt nội dung, thì bản luận tội không những là căn cứ để bị cáo,

người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác đưa ra ý kiến, quan điểm của mình về toàn bộ nội dung vụ án

mà Viện kiểm sát đã truy tố trước Toà án, là cơ sở để Toà án xem xét, quyết định trong việc đưa ra phán quyết của mình đối với người phạm tội và toàn bộ

vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định Nội dung của bản luận tội phải thể hiện được các phần chính sau:

- Phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ; đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, vai trò trách nhiệm và nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để từ đó đề xuất biện pháp xử lý phù hợp; khi nêu hành vi phạm tội phải viện dẫn chứng cứ chứng minh, bảo đảm lôgíc và lập luận sắc bén

- Phân tích, phê phán thủ đoạn phạm tội của bị cáo, bác bỏ những quan điểm không có căn cứ, không phù hợp với thực tế khách quan của các chứng

cứ đã thu thập được nhằm làm sáng tỏ sự thật, góp phần bảo vệ chính sách

Trang 20

pháp luật, thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng và tính thuyết phục cao của bản luận tội

- Phải xác định rõ các nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh phòng và chống tội phạm, vi phạm pháp luật Bản luận tội phải phân tích, phê phán trước dư luận những nhận thức sai trái của bị cáo, qua đó rút ra những bài học cảnh giác trong nhân dân

và kiến nghị các biện pháp phòng ngừa để khắc phục những thiếu sót, sơ hở trong công tác quản lý kinh tế - xã hội Tuy nhiên, khi nêu những nội dung này phải bảo đảm phù hợp với thực tế và hoàn cảnh cụ thể của vụ án, tránh cường điệu, lan man

- Đề nghị áp dụng pháp luật để xử lý vụ án, trong đó có hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại (nếu có), đảm bảo chính xác, khách quan theo các quy định của pháp luật

1.1.3.3 Ý nghĩa của luận tội

- Luận tội nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân nhân thể hiện trong Cáo trạng

- Luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát trong việc xử lý đối với tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội,

xử lý vật chứng của vụ án và giải quyết các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Luận tội là thủ tục bắt buộc được BLTTHS quy định mở đầu phần tranh luận, là một trong những căn cứ quan trọng đối với Hội đồng xét xử trước khi đưa ra phán quyết đối với vụ án

- Thông qua luận tội, các nguyên nhân, điều kiện phạm tội được phân tích và làm sáng tỏ, do đó có tác dụng lớn trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật, đồng thời giúp những người tham dự phiên toà hiểu biết thêm về pháp luật, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước Từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và nâng cao trách nhiệm trong phòng chống tội phạm

- Làm tốt việc luận tội cũng chính là làm tốt chức năng thực hành quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm hình sự; nâng cao vị trí, vai trò của Kiểm sát viên tại phiên toà Luận tội có chất lượng, không bỏ lọt tội phạm, không kết luận oan người vô tội là cơ sở để Kiểm sát viên (KSV) tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta

Trang 21

1.1.4 Khái lược lịch sử các quy định của pháp luật Việt Nam về luận tội

Từ năm 1945 đến nay, tổ chức cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) của nước ta đã trải qua những bước phát triển khác nhau phù hợp với nhận thức, mức độ phát triển của xã hội và đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đặt ra đối với từng giai đoạn lịch sử Quá trình hình thành và phát triển của Viện Kiểm sát nhân dân có thể được phân theo các giai đoạn lịch sử khác nhau như sau: 3

1.1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959

Sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đã ký ban hành nhiều sắc lệnh Trong đó, sắc lệnh đầu tiên là Sắc lệnh

số 33A ngày 13/9/1945, tại Sắc lệnh này có quy định mỗi khi bắt người phải

thông báo ngay cho ông Biện lý biết (tức là Thẩm phán làm nhiệm vụ công tố)

và tại Sắc lệnh số 33C của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngày

thực hiện chức năng buộc tội”

năng buộc tội Tiếp theo, trong Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/1/1946 đã quy định

cụ thể như sau: “Đứng buộc tội tuỳ quyết nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ

là một uỷ viên Quân sự hay một uỷ viên của ban trinh sát hoặc một nhân viên của công tố viện do ông Chưởng lý toà Thượng thẩm chỉ định” Như vậy,

Công tố viện đã bước đầu được hình thành dưới sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Tuy nhiên, Sắc lệnh hoàn chỉnh đầy đủ nhất

về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp là Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 về Tổ chức Toà án (Ban tư pháp xã, Toà án sơ cấp, Toà án đệ nhị

cấp, Toà thượng thẩm) và tổ chức các ngạch Thẩm phán (ngạch Thẩm phán;

việc tuyển chọn, bổ nhiệm

Thẩm phán; quyền, nghĩa vụ của Thẩm phán) Có hai ngạch Thẩm phán

là ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Thẩm phán sơ cấp làm việc ở Toà sơ cấp; Thẩm phán đệ nhị làm việc ở các Toà đệ nhị cấp và Toà thượng thẩm Thẩm phán đệ nhị cấp được chia ra làm hai chức vụ: các Thẩm phán xử án do

3

Nguồn tư liệu Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân (2011)

Trang 22

những năm đầu của chính quyền cách mạng đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta, Hiến pháp năm 19464 Tại Chương VI về “Cơ quan tư pháp” của Hiến pháp năm 1946 quy định “Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có:

a) Toà án tối cao;

b) Các Toà án phúc thẩm;

c) Các Toà án đề nhị cấp và sơ cấp;

d) Các nhân viên Thẩm phán do Chính phủ bổ nhiệm”

Cần lưu ý rằng, tổ chức Chính phủ theo Hiến pháp năm 1946 có nét đặc thù riêng biệt Theo Điều 44 thì Chính phủ gồm có Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Phó Chủ tịch và nội các Nội các có Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng Có thể có Phó Thủ tướng Như vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 1946 cho thấy cơ quan tư pháp có một vị trí độc lập trong tổ chức bộ máy nhà nước, là cơ quan thực hiện quyền công tố

và xét xử

Trong thời gian từ năm 1946 đến năm 1959, Nhà nước ta không thành

lập cơ quan thực hành quyền công tố riêng Trong cơ cấu Toà án, các Thẩm

phán được chia làm hai loại:

- Các Thẩm phán xét xử do Chánh án Toà án Thượng thẩm đứng đầu

- Các Thẩm phán Công tố viên (Thẩm phán buộc tội) hợp thành một đoàn thể độc lập (Công tố viện) với các Thẩm phán xét xử do Chương lý đứng

đầu Các Thẩm phán Công tố viên ở Toà án đệ nhị cấp gọi là Biện lý, Phó biện lý; ở Toà thượng thẩm gọi là Chưởng lý, Phó chưởng lý, Tham lý Thực hành nhiệm vụ công tố trong việc hình, Thẩm phán Công tố viên được áp dụng nhiều biện pháp trong quá trình giải quyết vụ án và có nhiệm vụ thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo tại phiên toà Trong việc hộ, Thẩm phán Công

tố viên bảo vệ quyền lợi của những người ởi tuổi vị thành niên, của các pháp nhân hành chính và phải tham gia vào một số công việc khác theo quy định của pháp luật

Trong cơ cấu các Toà án quân sự có một số công cáo uỷ viên đứng buộc tội Các công cáo uỷ viên trực tiếp đặt dưới quyền của các Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp và tuân theo mệnh lệnh của cả hai Bộ trưởng này Trong

4

http://www.cpv.org.vn

Trang 23

Toà án đặc biệt có một Uỷ viên Ban Thanh tra đặc biệt do Chính phủ lập ra để đứng buộc tội Uỷ viên Chính phủ là một quân nhân hoặc một nhân viên Bộ Quốc phòng do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chỉ định theo đề nghị của Cục trưởng quân pháp

Thực hiện cuộc cải cách tư pháp năm 1950, cùng với việc thành lập Toà án nhân dân các cấp, tổ chức và hoạt động của Viện công tố cũng có sự

chuyển biến đáng kể Theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950, Viện công tố

có quyền kháng nghị cả bản án hay quyết định về dân sự của Toà án Mặt khác, Thông tư số 21/TTg ngày 7/6/1950 của Thủ tướng Chính phủ và Thông

tư liên bộ số 18/BKT-TT ngày 8/6/1950 của Bộ Kinh tế và Bộ Tư pháp đã quy định các Viện công tố địa phương phải chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều

hành của Uỷ ban kháng chiến hành chính Cụ thể là: “Uỷ ban các cấp điều

khiển Viện công tố trong địa hạt của mình, Uỷ ban kháng chiến hành chính có thể ra mệnh lệnh cho Viện công tố Đại diện Viện công tố phải tuân theo mệnh lệnh của Uỷ ban”

Vào cuối những năm 1950, tổ chức của Viện công tố lại được kiện toàn

và tăng cường một bước quan trọng Thực hiện Nghị quyết ngày 29/4/1958 của Quốc hội khoá I và Nghị định số 256/TTg ngày 1/7/1959, Nghị định số 321/TTg ngày 2/7/1959 của Chính phủ, các Viện công tố được tổ chức thành

hệ thồng gồm Chính phủ, các Viện công tố đã được tổ chức thành hệ thống gồm:

- Viện công tố Trung ương;

- Viện công tố thành phố, tỉnh;

- Viện công tố huyện và các đơn vị hành chính tương đương;

- Viện công tố quan sự các cấp

Viện công tố Trung ương thuộc Chính phủ, có trách nhiệm và quyền hạn như một bộ và các nhiệm vụ cụ thể như sau;

- Điều tra và truy tố tước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự;

- Giám sát việc chấp hành pháp luật trong công tác điều tra của cơ quan điều tra;

- Giám sát việc chấp hành pháp luật trong việc thi hành các bản án về

hình sự, dân sự và trong hoạt động giam giữ, cải tạo;

- Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có

liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân

Trang 24

Có thể nói, những quy định trên đây là bước phát triển quan trọng tổ chức và hoạt động của Viện công tố, tiến tới việc thành lập Viện Kiểm sát nhân dân vào giữa năm 1960

1.1.4.2 Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1980

Với thắng lợi của cuộc kháng chống thực dân Pháp và cùng với việc xây dựng miền Bắc sau ngày giải phóng, Hiến pháp năm 19595

của nước Việt Nam dân chủ công hoà ra đời Những quy định về tổ chức bộ máy nhà nước trong Hiến pháp năm 1959 có những sửa đổi căn bản so với Hiến pháp năm

1946 Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Phó Chủ tịch nước được tách ra khỏi Hội đồng Chính phủ, là người thay mặt cho Nhà nước về đối nội

và đối ngoại Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất

Viện công tố được thay thế bằng Viện Kiểm sát nhân dân Viện Kiểm sát nhân dân cùng với Toà án nhân dân là các cơ quan tư pháp, không còn trực thuộc Hội đồng Chính phủ mà chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội Khác với Hiến pháp năm 1959 xác định cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và công dân bao gồm: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương và Viện Kiểm sát quân sự Viện Kiểm sát nhân dân các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 1959 thì Viện Kiểm sát nhân dân các cấp được tổ chức thành một hệ thống nhất, độc lập với cơ quan xét xử

và cơ quan hành chính, chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội

Nhưng quy định của Hiến pháp năm 1959 về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã được cụ thể hoá bằng Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960 Theo quy định tại Điều 4 này thì các Viện Kiểm sát nhân dân gồm có: Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện Kiểm sát quân sự Các Viện Kiểm sát nhân dân địa phương gồm có: Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; Viện Kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã hoặc đơn vị hành chính tương đương,

5 http://www.cpv.org.vn

Trang 25

Viện Kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị Viện Kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn: kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị và biện pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và công dân; điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự; kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc điều tra của cơ quan Công an và của cơ quan điều tra khác; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử của Toà án nhân dân và trong việc chấp hành các bản án; kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giam giữ của trại giam; khởi tố hoặc tham gia tố tụng những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích của Nhà nước

và của nhân dân

Triển khai thực hiện Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, sau một thời gian ngắn, Viện Kiểm sát nhân dân đã được tổ chức thành một hệ thống từ Trung ương đến các đơn vị hành chính cấp huyện, hoạt động theo nguyên tắc trung thống nhất dưới sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trong thời gian này, tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sat không ngừng được củng cố và do đó đã góp phần tích cực vào việc giữ vững trật tự,

kỷ cương, an toàn xã hội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, góp phần quan trọng vào công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

1.1.4.3 Giai đoạn từ năm 1980 đến năm 1992

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta đã ban hành Hiến pháp năm 1980 So với Hiến pháp năm 1959 thì vai trò, vị trí của Viện Kiểm sát nhân dân đã được khẳng định rõ hơn và có những điểm bổ sung mới trong Hiến pháp năm 1980 Hiến pháp năm 1980 đã nhấn mạnh đến chức năng

“Thực hành quyền công tố” của Viện Kiểm sát, đồng thời đã đề cao vai trò và

trách nhiệm của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Điều 140 Hiến pháp năm 1980 quy định:

Viện Kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 26

Viện trưởng, các Phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân địa phương do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm và bãi nhiệm

Để cụ thể hoá những quy định trên đây về Viện Kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp năm 1980, Quốc hội khoá VII đã thông qua Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981 và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1989

So với luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, thì Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1981 và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân được sửa đổi, bổ sung vào năm 1989 đã quy định cụ thể, chi tiết hơn rất nhiều về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ

án hình sự, dân sự và khi thực hiện công tác kiểm sát chung

Tuy nhiên, cũng như Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1980 vẫn giữ nguyên những quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Kiểm sát là cơ quan tư vấn cho Viện

trưởng Cụ thể là: “Trong các cuộc họp Uỷ ban Kiểm sát, Viện trưởng kết

luận và quyết định cuối cùng Trong trường hợp Viện trưởng kết luận khác với ý kiến của đa số trong Uỷ ban Kiểm sát thì Viện trưởng thực hiện ý kiến của mình, đồng thời báo cáo lên Hội đồng Nhà nước”

Trong giai đoạn này, Viện Kiểm sát nhân dân đã có những cố gắng cùng với các cơ quan tư pháp và các cơ quan nhà nước khác tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ cách mạng do các Đại hội lần thứ IV, V và VI của Đảng đề ra

1.1.4.4 Giai đoạn từ năm 1992 đến nay

Đường lối đổi mới mọi mặt về đời sống xã hội do Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu, xây dựng Hiến pháp năm 1992, một Hiến pháp của thời kỳ đổi mới đất nước Một số quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp đã thể hiện rõ nét những điểm đổi mới trong nguyên tắc tổ chức

và hoạt động của các cơ quan này

Để cụ thể hoá những quy định của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992, Quốc hội đã ban hành Luật

tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992 và Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh về tổ chức Viện Kiểm sát quân sự, Pháp lệnh về Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân

Trang 27

Theo các quy định của Hiến pháp năm 1992, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992, thì tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân đã

có những đổi mới cơ bản như sau:

- Uỷ ban Kiểm sát (UBKS) không còn là cơ quan tư vấn cho Viện trưởng nữa Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh không được quyền tự quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân Những vấn đề quan trọng (như phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch công tác của toàn ngành; báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trình Quốc hội, Uỷ ban thường

vụ Quốc hội và Chủ tịch nước, báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp…) phải được UBKS thảo luận và quyết định theo đa số Tuy nhiên, trong trường hợp biểu quyết ngang nhau thì thực hiện theo phía có ý kiến của Viện trưởng; nếu Viện trưởng không nhất trí với

ý kiến của đa số thì thực hiện theo quyết định của đa số nhưng có quyền báo cáo Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc Chủ tịch nước Quy định này xuất phát

từ việc kết hợp nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát với nguyên tắc tập trung, dân chủ

- Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm báo cáo trước Hội đồng nhân dân về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương; trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân Quy định mới này nhằm nâng cao trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân địa phương nhưng không làm cho Viện Kiểm sát nhân dân địa phương phụ thuộc vào Hội đồng nhân dân địa phương về tổ chức và hoạt động (Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân địa phương không do Hội đồng nhân dân bầu và bãi nhiệm)

Đồng thời với việc giao cho Viện Kiểm sát nhân dân quyền hạn, nhiệm

vụ rộng lớn, liên quan đến chủ trương giữ vững trật tự, kỷ cương pháp luật, tăng cường pháp chế trong điều kiện mới, Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992 đã quy định Viện Kiểm sát nhân dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hậu quả của các quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu

do mình ban hành; nếu ra văn bản trái pháp luật thì tuỳ theo tính chất và mức

độ sai phạm mà người ra văn bản bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Trang 28

Để xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm sát có phẩm chất đạo đức, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, thì các tiêu chuẩn Kiểm sát viên đã được đổi mới và quy định cụ thể hơn Cùng với việc thành lập Viện Kiểm sát nhân dân

ở 3 cấp, Viện Kiểm sát quân sự cũng được tổ chức ở 3 cấp là tỉnh và khu vực, cấp quân khu và tương đương, cấp trung ương

Như vậy, về mặt cơ cấu tổ chức, sau khi ban hành Hiến pháp năm

1992, về cơ bản, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã kiện toàn và đổi mới một bước quan trọng Với cơ cấu tổ chức như vậy, Viện Kiểm sát nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định, tạo nên một số chuyển biến tích cực trong hoạt động tư pháp ở nước ta, cùng với các cơ quan nhà nước khác thực hiện một cách có hiệu quả đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước

Qua phân tích trên, chúng ta nhận thấy lịch sử các quy định của pháp luật Việt Nam về luận tội gắn liền với lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của cơ quan Công tố trong bộ máy Nhà nước ta (giai đoạn 1945-1959) và cơ quan Viện kiểm sát nhân dân (giai đoạn 1959 đến nay) Qua các giai đoạn lịch

sử khác nhau của đất nước ta từ năm 1945 đến nay, luận tội có thể thay đổi khác nhau về cách thức, hình thức thể hiện trong phiên tòa xét xử các vụ án hình sự nhưng nội dung, bản chất của luận tội không thay đổi, đó chính là sự buộc tội người có hành vi vi phạm pháp luật hình sự của cơ quan Công tố (giai đoạn 1945-1959) hoặc của Viện kiểm sát nhân dân (giai đoạn 1959 đến nay) trước cơ quan xét xử đó là Tòa án Do vậy, có thể khẳng định lịch sử các quy định của pháp luật Việt Nam về luận tội chính là lịch sử hình thành và phát triển của cơ quan Công tố - Viện kiểm sát nhân dân, một trong những cơ quan quan trọng cấu thành nên Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam

1.2 Nội dung và yêu cầu của bản luận tội

1.2.1 Nội dung của bản luận tội

Kiểm sát viên khi xây dựng bản dự thảo luận tội cũng như khi trình bày bản luận tội phải đảm bảo được các nội dung sau đây:

- Phần mở đầu: Trong phần này Kiểm sát viên phải tự giới thiệu về

mình và mục đích, ý nghĩa của việc đưa vụ án ra xét xử Với trách nhiệm, quyền hạn là người thực hành quyền công tố Nhà nước, Kiểm sát viên trình bày quan điểm về việc xử lý đối với bị cáo (các bị cáo) và hướng giải quyết đối với vụ án Đây chỉ là phần mang tính chất thủ tục, tuy nhiên phần này

Trang 29

được thực hiện tốt thì nó sẽ mang lại hiệu quả cho việc luận tội cũng như tạo

tình cảm cho người nghe và thuyết phục người nghe

- Phần nội dung: Đây là phần quan trọng nhất và mang tính quyết định

trong hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà hình

sự Nếu bản luận tội được Kiểm sát viên giải quyết tốt phần này nó sẽ có tính

thuyết phục cao; nếu phần nội dung của bản luận tội không được làm tốt thì

bản luận tội không những không có tính thuyết phục mà còn gây khó khăn, áp

lực cho Kiểm sát viên khi thực hiện tranh luận tại phiên toà hình sự

Trong phần nội dung, Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá chứng cứ một

cách khách quan, toàn diện, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành

vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị

cáo, phân tích được thủ đoạn phạm tội của bị cáo, xác định rõ nguyên nhân và

điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục pháp luật, góp phần đấu tranh

phòng chống tội phạm, sau cùng là đề nghị áp dụng pháp luật để xử lý người

phạm tội, vật chứng và trách nhiệm dân sự (nếu có)

- Phần kết luận: Trong phần kết luận, Kiểm sát viên cần lưu ý với Hội

đồng xét xử (HĐXX) về yêu cầu, mục đích, tầm quan trọng của việc xét xử

vụ án; lưu ý một số điểm quan trọng của vụ án, một số điểm mới phát sinh tại

phiên toà để Hội đồng xét xử lưu tâm khi nghị án

1.2.2 Yêu cầu của bản luận tội

Để nâng cao chất lượng bản luận tội, ngoài việc xây dựng bản luận tội

theo bố cục, đảm bảo các nội dung như đã trình bày trên, Kiểm sát viên cần

phải biết sắp xếp trật tự các chứng cứ, các luận điểm cũng như thể hiện văn

phong trong sáng, mạch lạc, dễ hiểu; bố cục của bản luận tội phải chặt chẽ và

có tính lôgíc; từ ngữ phải chính xác, thái độ phải đúng mực không thổi phồng,

đồng thời bản luận tội cần bảo đảm các yêu cầu sau đây:

Một là, yêu cầu về bảo đảm tính khách quan Đây là nguyên tắc cơ bản

và xuyên suốt trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án hình sự Nguyên tắc

này đòi hỏi khi Kiểm sát viên xây dựng bản luận tội phải phân tích, đánh giá

chứng cứ một cách khách quan, áp dụng điều, khoản trong luật phải chính

xác, viện dẫn chứng cứ phải cụ thể, rõ ràng, đề xuất đường lối xử lý phải phù

hợp với tính chất, mức độ cũng như hậu quả của hành vi phạm tội

Hai là, yêu cầu về bảo đảm tính chính xác cao Bảo đảm tính chính xác

là yêu cầu hàng đầu của hoạt động tố tụng trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào

Trang 30

Tính chính xác thể hiện những nội dung của bản luận tội đã được chứng minh bằng các chứng cứ được thu thập đầy đủ trong hồ sơ vụ án Các tình tiết, chứng cứ nêu trong bản luận tội là có thực và được thể hiện tại các bút lục của

hồ sơ vụ án Tính chính xác còn thể hiện các căn cứ áp dụng cũng phải được bảo đảm đúng với các điểm, khoản, điều mà Kiểm sát viên trích dẫn Tính

chính xác yêu cầu “chứng cứ đến đâu kết tội đến đó” hoặc “trọng chứng hơn

trọng cung” Bản luận tội không được suy diễn chủ quan, hoặc chỉ nêu phản

ánh theo dư luận một cách chung chung

Tại điều 10 Bộ luật TTHS 2003 quy định:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

Trong giai xét xử, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước trình bày bản luận tội trước phiên toà là nhằm vạch trần và lên án mạnh mẽ những hành vi nguy hiểm cho xã hội do người phạm tội gây ra, qua đó góp phần cùng Toà án xét xử công bằng, khách quan và dân chủ Do vậy, một trong những yêu cầu trước hết đối với bản luận tội của Kiểm sát viên là phải bảo đảm tính chính xác cao Càng chính xác cao bao nhiêu thì tính thuyết phục càng cao bấy nhiêu

Tính chính xác cao thể hiện: thứ nhất, việc mô tả hành vi phạm tội,

phân tích đánh giá chứng cứ, phân tích vai trò trách nhiệm của bị cáo gắn liền với việc viện dẫn chứng cứ để chứng minh phải chính xác, lôgíc Phải khắc phục tình trạng việc mô tả hành vi phạm tội không gắn liền với các chứng cứ nêu ra, hoặc chỉ nêu hành vi phạm tội mà không viện dẫn chứng cứ chứng

minh; thứ hai, việc đề xuất đường lối xử lý phải dựa trên cơ sở phân tích đánh

giá chứng cứ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhân thân người phạm tội, vai trò trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời, xem xét đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan để cân nhắc lựa chọn điều, khoản của BLHS để đề xuất Toà án áp dụng pháp luật xử lý chính xác, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra

Trang 31

Ba là, yêu cầu về tính đấu tranh và tính thuyết phục cao Yêu cầu về

tính đấu tranh thể hiện bản luận tội phải phê phán và lên án mạnh mẽ trước dư luận xã hội về những hành vi phạm tội của bị cáo Bản luận tội phải phân tích

về tính chống đối trật tự pháp luật của hành vi phạm tội, về tác hại của hành

vi phạm tội không chỉ đối với hậu quả cụ thể của tội phạm, mà còn phải trên bình diện chung của tình hình để phê phán tác hại của hành vi phạm tội đối với trật tự pháp luật chung Tính đấu tranh còn thể hiện không chỉ là lời cảnh cáo đối với người có hành vi phạm tội, nhận rõ được tác hại của mình khi gây

ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà còn là cảnh tỉnh cho những ai có ý định phạm tội, coi hành vi phạm tội của bị cáo là việc cần phải tránh xa Tính đấu tranh của bản luận tội thể hiện tinh thần đấu tranh không khoan nhượng của

xã hội đối với hành vi phạm tội

Yêu cầu về tính thuyết phục của bản luận tội thể hiện ở chỗ: Khi Kiểm sát viên trình bày xong bản luận tội được người nghe đánh giá là có tình, có

lý Việc bản luận tội đề cập một cách chính xác như phần trên đã nêu là đã mang tính thuyết phục rồi Tuy nhiên, trong thực tế cũng có trường hợp bản luận tội đảm bảo tính chính xác, nhưng lời lẽ và phương pháp trình bày của Kiểm sát viên không khéo léo, tế nhị thì có thể gây cho người nghe cảm giác khó chịu Bản luận tội phải được xây dựng với thái độ kiên quyết, không khoan nhượng, nhưng phương pháp phải mềm dẻo, khoan dung

Bốn là, yêu cầu tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật Tại

Điều 1 Bộ luật TTHS quy định:“Bộ luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế

độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm” Như chúng ta đều biết, mỗi vụ án xảy ra có những đặc điểm

riêng có của nó Đặc điểm đó phụ thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho

xã hội của hành vi phạm tội, vào hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, cũng như động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân người phạm tội, nguyên nhân, điều kiện phạm tội Đồng thời việc tuyên truyền còn phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật của người dân nơi xét xử vụ án, phụ thuộc vào tình hình, đặc điểm của địa phương và tình hình đặc điểm thời kỳ đó Vì vậy, muốn cho việc tuyên truyền giáo dục pháp luật tốt bản luận tội phải bám sát diễn biến

Trang 32

của phiên toà và tình hình hoàn cảnh cụ thể của địa phương, đơn vị nơi diễn

ra phiên toà

Tại điểm c khoản 3 Điều 23 Quy chế 121/2004/QĐ-VKSTC quy định:

“Phải xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội, tuyên truyền giáo dục

pháp luật, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật” Tình hình tội phạm xảy ra phụ thuộc vào năng lực quản lý xã hội của

các cơ quan Nhà nước trên hai lĩnh vực là xây dựng thể chế và hoạt động điều hành Do vậy, qua việc nghiên cứu vụ án, Kiểm sát viên phải rút ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, nhất là những sơ hở trong công tác quản

lý và xây dựng pháp luật để kiến nghị khắc phục Đồng thời, nêu ra những bài học cảnh giác để giáo dục, tuyên truyền trong nhân dân

Luận tội đạt tính chính xác cao, đấu tranh phê phán đúng mức những sai phạm của bị cáo sẽ có tác dụng hỗ trợ HĐXX ra bản án khách quan, chính xác, dân chủ và công bằng, đây chính là góp phần vào việc thuyết phục quần chúng nhân dân đồng tình và ủng hộ các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật Đây cũng chính là cơ sở để đấu tranh thuyết phục bị cáo nhận rõ sai trái của

mình, tạo điều kiện cho họ ăn năn hối cải “cải tà quy chính”, cải tạo thành

công dân có ích cho xã hội

Năm là, yêu câu về việc bảo vệ cáo trạng Theo quy định tại Điều 167,

Điều 217 Bộ luật TTHS nếu bản cáo trạng là quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát về việc truy tố người phạm tội ra Toà án để xét xử, thì bản luận tội là quan điểm của Kiểm sát viên về tội trạng của bị cáo nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của cáo trạng Do vậy, luận tội của Kiểm sát viên trước toà là hoạt động nghiệp vụ thực hành quyền công tố nhà nước trước Toà án để nhằm bảo

vệ quan điểm truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát Do vậy, nội dung của bản luận tội phải bám sát nội dung truy tố của bản cáo trạng Bản cáo trạng truy tố những hành vi phạm tội nào, bị can nào thì nội dung của bản luận tội phải phân tích, đánh giá, kết luận về hành vi phạm tội đó và bị can đó, không được bỏ sót vấn đề nào Chính vì vậy, bản luận tội phải tập trung phân tích, viện dẫn các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được làm rõ tại phiên toà để chứng minh làm sáng tỏ nội dung truy tố của cáo trạng Mặt khác, bản luận tội cần viện dẫn các quy định của pháp luật để đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng xử lý như cáo trạng đã nêu Cho nên, về nguyên tắc thì

Trang 33

bản luận tội chỉ được bổ sung thêm nhằm làm sáng tỏ các nội dung truy tố của cáo trạng, chứ không được bổ sung thêm để làm xấu đi tình trạng của bị cáo

Trong trường hợp, sau khi xét hỏi nếu có những tình tiết mới làm thay đổi nội dung bản cáo trạng mà có lợi cho bị cáo, thì Kiểm sát viên có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố Tuy nhiên, những tình tiết này phải được làm sáng tỏ và hoàn toàn có đủ căn cứ, cơ sở để kết luận Đồng thời, sau khi phiên toà kết thúc, Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp Trong trường hợp có căn cứ xác định bị cáo phạm một tội nặng hơn tội Viện kiểm sát truy tố, thì Kiểm sát viên đề nghị hoãn phiên toà

để báo cáo lãnh đạo Viện quyết định Theo khoản 2 Điều 19 Quy chế 121/2004/QĐ-VKSTC quy định thì tại phiên toà, sau khi xét hỏi nếu có căn

cứ rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; có tình tiết mới theo hướng có lợi cho bị cáo làm thay đổi quyết định truy tố hoặc đường lối xử lý đã được lãnh đạo Viện cho ý kiến thì Kiểm sát viên quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình Sau phiên toà Kiểm sát viên phải báo cáo ngay với lãnh đạo Viện và Thủ trưởng đơn vị

Trường hợp những tình tiết mới đưa ra tại phiên toà có đủ căn cứ để kết luận

về một tội danh khác nặng hơn, thì Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên toà và báo cáo lãnh đạo Viện quyết định

Sáu là, yêu cầu về việc kiểm tra chứng cứ tại phiên toà Theo quy định

của Bộ luật TTHS, nếu những nội dung của bản cáo trạng là dựa trên kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra, thì bản luận tội chủ yếu dựa vào kết quả đấu tranh xét hỏi công

khai tại phiên toà Điều 217 Bộ luật TTHS quy định: “Luận tội của Kiểm sát

viên phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà

và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự

và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà” Theo pháp luật tố tụng

hình sự của nhiều quốc gia thì cuộc điều tra thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra chỉ là cuộc điều tra sơ bộ, cuộc xét hỏi công khai tại phiên toà là cuộc điều tra công khai, cuộc điều tra chính thức Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam thì các chứng cứ, các tình tiết được Cơ quan điều tra

và Viện kiểm sát thu thập được trong quá trình điều tra đều phải được điều tra, xét hỏi làm rõ tại phiên toà

Trang 34

Vì vậy, Kiểm sát viên phải tham gia xét hỏi để làm sáng tỏ những hành

vi phạm tội và những tình tiết khác liên quan đến vụ án mà cáo trạng đã truy

tố Nếu qua xét hỏi tại phiên toà mà xuất hiện những tình tiết mới như: bị cáo

nhận tội (trong quá trình điều tra bị cáo không nhận tội), hoặc khai thêm

người phạm tội khác, khai những tình tiết giảm nhẹ, hoặc chối tội…; người bị hại, người làm chứng khai thêm một số tình tiết khác…thì Kiểm sát viên phải ghi chép đầy đủ và tham gia xét hỏi để làm rõ những vấn đề mà bị cáo và những người khác khai tại phiên toà Trên cơ sở đó, đối chiếu với các tài liệu, vật chứng, đồ vật khác để kết luận những vấn đề mà bị cáo, người bị hại, người làm chứng khai thêm tại phiên toà Nếu việc khai đó là có căn cứ, Kiểm sát viên sửa đổi, bổ sung dự thảo luận tội cho phù hợp với diễn biến phiên toà Xuất phát từ nội dung đó, tại khoản 2 Điều 23 Quy chế 121/2004/QĐ-VKSTC

quy định: “Tại phiên toà Kiểm sát viên phải ghi chép những tài liệu, chứng cứ

đã được kiểm tra và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác để bổ sung và sửa chữa dự thảo luận tội”

Bảy là, yêu cầu về việc kết hợp giữa luận tội và luận chứng Nếu như

luận tội là việc phê phán, lên án hành vi, thủ đoạn phạm tội, nêu lên những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, những bài học cảnh giác trong nhân dân,

đề xuất hình thức xử lý thì luận cứ là phân tích, đánh giá, kết luận về các tình tiết, các chứng cứ của vụ án một cách khoa học, lôgíc để xác định tội phạm và người phạm tội theo các điều, khoản của Bộ luật hình sự (BLHS)

Nội dung dự thảo luận tội đối với bất cứ vụ án nào, dù vụ án đó được phát hiện quả tang, chứng cứ rõ ràng, đơn giản vẫn phải thể hiện đầy đủ yêu cầu luận tội kết hợp với luận cứ Tuy nhiên, tuỳ từng trường hợp cụ thể của từng vụ án để xác định vấn đề nào cần tập trung phân tích khi luận tội Đối với vụ án phạm tội quả tang, đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị cáo nhận tội thì việc phân tích, chứng minh cũng cần ngắn gọn Đối với vụ án mà chứng cứ có nhiều phức tạp, bị cáo không nhận tội, người làm chứng khai mâu thuẫn…thì Kiểm sát viên phải phân tích, chứng minh chặt chẽ, lôgíc, sắc bén để giải quyết các mâu thuẫn, làm nổi bật các vần đề mình đang kết luận, đồng thời bác bỏ các vấn đề mâu thuẫn, bất hợp lý

Tóm lại, bản luận tội là một văn bản nghiệp vụ trong tố tụng hình sự,

có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, vì nó vừa thể

Trang 35

hiện quan điểm xử lý vụ án của Viện kiểm sát đối với hành vi phạm tội và

người phạm tội, vừa thể hiện tính đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, vừa mang

tính thuyết phục Mặt khác, bản luận tội còn đưa ra bài học có giá trị trong

công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật và điều quan trọng là những đề xuất

kiến nghị trong bản luận tội là một trong những cơ sở để Hội đồng xét xử xem

xét khi xét xử vụ án hình sự Do vậy, khi xây dựng bản luận tội Kiểm sát viên

cần phải tuân thủ đúng và đầy đủ các yêu cầu nêu trên, nhằm bảo đảm cho

việc bảo vệ được quan điểm truy tố của Viện kiểm sát trước Toà cũng như

bảo đảm được tính thuyết phục, giáo dục đối bị cáo cũng như người dân nơi

xét xử vụ án

1.3 Kỹ năng xây dựng bản luận tội và trình bày luận tội

1.3.1 Kỹ năng xây dựng bản luận tội

Kiểm sát viên cần phải có kỹ năng nhất định trong việc xây dựng bản luận

tội, để bảo đảm thực hiện đúng nội dung bản và hình thức của bản luận tội

theo quy định, đồng thời bảo đảm thực hiện đúng các yêu cầu của bản luận tội

như đã nêu ở trên, bản luận tội cần phải được bố cục gồm ba phần: Phần mở

đầu, Phần nội dung và Phần kết luận

Để nâng cao chất lượng luận tội tại phiên toà, Kiểm sát viên phải chuẩn bị

dự thảo luận tội Nếu dự thảo luận tội chuẩn bị đầy đủ, kỹ lưỡng cả về nội

dung và hình thức cùng với sự bổ trợ kịp thời, linh hoạt những vấn đề phát

sinh tại phiên toà thì tất yếu Kiểm sát viên sẽ luận tội trôi chảy, thuyết phục

Ngược lại nếu dự thảo luận tội chuẩn bị qua loa, không chú ý bổ sung, chỉnh

sửa những thay đổi mà kết quả điều tra công khai tại phiên toà xác định được

sẽ dẫn đến luận tội của Kiểm sát viên thiếu thuyết phục, thậm chí có thể gây

phản cảm cho người nghe khi kết quả điều tra tại phiên toà không đúng với

kết quả điều tra trong giai đoạn điều tra

Về hình thức, dự thảo luận tội phải được trình bày theo Mẫu số 136 ban

hành kèm theo Quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử

các vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định số 960/2007/QĐ-VKSTC

ngày 17 tháng 9 năm 2007 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về

Hướng dẫn viết luận tội (Mẫu số: 136) xem Phụ lục 01

Trên cơ sở mẫu hướng dẫn (Mẫu số: 136) chúng ta sẽ tiến hành nghiên

cứu, phân tích từng phần của Bản luận tội theo mẫu quy định của Viện kiểm

sát nhân dân tối cao

Trang 36

1.3.1.1 Phần mở đầu:

Có thể nói, bản luận tội chính là bài văn nghị luận, trong đó phần mở đầu có hai nội dung cần đề cập: tự giới thiệu bản thân người trình bày bản luận tội (Kiểm sát viên - người thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên toà) và mục đích, ý nghĩa của việc đưa vụ án ra xét xử

Tự giới thiệu về mình: Theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân

tối cao về viết luận tội có ghi “Kiểm sát viên tự giới thiệu về mình là đại diện

Viện kiểm sát ” Phần này cần ghi rõ họ tên, chức vụ, đại diện cho Viện kiểm

sát nơi Kiểm sát viên công tác Việc nêu họ tên cần lưu ý nêu đầy đủ họ, tên

thường dùng, không nêu bí danh hoặc gọi tắt Ví dụ, Tôi tên là Hà Hồng

Quang, chức vụ Kiểm sát viên, đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án Tuy

nhiên, có nhiều bản luận tội Kiểm sát viên không xưng danh đầy đủ họ tên của mình theo đúng quy định của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là không

đúng theo quy định, Ví dụ: vụ án Nguyễn Văn Hận phạm các tội giết người,

hiếp dâm, cướp tài sản xảy ra ngày 24/8/2009 tại tỉnh Hậu Giang.

Phiên toà xét xử lưu động ngày 07/01/2010 Mở đầu bản luận tội ghi:

Phần xét hỏi công khai tại phiên toà hôm nay đối với vụ án Nguyễn văn Hận bị truy tố về các tội: Giết người, Hiếp dâm, Cướp tài sản đến đây gần kết thúc Tôi Hà Hồng Quang đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang thực hành quyền công tố nhà nước và kiểm sát xét xử tại phiên toà hôm nay xin phát biểu quan điểm của

Khi nêu tên vụ án cũng cần lưu ý, nếu vụ án có nhiều bị cáo và phạm nhiều tội thì chỉ nêu tên bị cáo chính và tên tội danh chính Tên bị cáo chính cũng

nêu đầy đủ họ và tên, kèm theo tên thường gọi, Ví dụ: vụ án Trương Văn Cam

(tức Năm Cam) và đồng bọn phạm tội giết người…

Nêu ý nghĩa và tầm quan trọng của vụ án: Phần này theo hướng dẫn chỉ giới thiệu tóm tắt tội danh của vụ án, các bị cáo được đưa ra xét xử, không nêu nội dung vụ án Vì vậy, chỉ nêu ngắn gọn về vụ án, mục đích, ý nghĩa của việc đưa vụ án ra xét xử như tình hình địa phương nơi xảy ra vụ án, hậu quả nghiêm trọng của vụ án Phần này cũng nên ghi ngắn gọn tránh dài dòng, Ví

6

Cục Thống kê tội phạm (2010), Nguồn hồ sơ vụ án tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao, BL 69

Trang 37

dụ: Trong phần ý nghĩa và tầm quan trọng của vụ án, bản luận tội do Kiểm

sát viên Hà Hồng Quang của vụ án trên đã nêu:

Trong thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Hậu Giang liên tiếp xảy

ra nhiều vụ án giết người, với những nguyên nhân, động cơ, mục đích khác nhau nhưng nổi lên là những vụ giết người để cướp tài sản đã gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm mất ổn định trật tự trị an trong cuộc sống của nhân dân địa phương Hôm nay, Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang mở phiên toà xét xử lưu động công khai bị cáo Nguyễn Văn Hận phạm các tội: Giết người, hiếp dâm, cướp tài sản tại địa phương là phù hợp với mong muốn của người dân Hành vi phạm tội của bị cáo phải được trừng trị

nghiêm minh và kịp thời Đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội

Phần mở đầu tuy có tính chất thủ tục, nhưng nếu bản luận tội nêu ngắn gọn, lưu loát thì sẽ tạo cho người nghe thấy được lý do của việc đưa vụ án ra xét xử Từ đó người nghe cũng đánh giá được người trình bày luận tội là người thay mặt Nhà nước có phong cách và năng lực như thế nào Ngược lại, nếu Kiểm sát viên trình bày phần mở đầu không lưu loát, ấp úng, trục trặc không rõ được lý do của việc đưa vụ án ra xét xử, thì sẽ gây cho người nghe cảm giác khó chịu, thiếu thiện cảm với vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trước Toà

1.3.1.2 Phần nội dung:

Đây là phần quan trọng nhất, là hạt nhân của bản luận tội Nếu bản luận tội giải quyết tốt phần này thì bản luận tội đó sẽ có tính thuyết phục cao, ngược lại nếu phần này không được chuẩn bị kỹ thì Kiểm sát viên sẽ đối mặt với rất nhiều khó khăn, thậm chí rất dễ bị những người tham dự phiên toà phản bác

Do vậy, Kiểm sát viên cần đặc biệt quan tâm đầu tư trí tuệ, công sức và thời gian vào việc giải quyết tốt phần nội dung của bản luận tội Vì đây là phần quan trọng, Kiểm sát viên phải giải quyết một loạt vấn đề nhằm làm rõ chứng cứ chứng minh tội phạm, nêu nên tác hại của hành vi phạm tội và phân tích những bài học phòng ngừa Vì vậy, thông thường nội dung này của bản luận tội được chia làm ba phần

Trang 38

Phần phân tích, tổng hợp chứng cứ trong bản luận tội

Đây là nội dung cốt lõi của bản luận tội Chỉ có trên cơ sở phân tích, tổng hợp chứng cứ, chứng minh đầy đủ các tình tiết của hành vi phạm tội, thì việc giải quyết vụ án mới được khách quan, toàn diện, đây cũng là cơ sở để giải quyết tốt các phần tiếp theo của việc thực hành quyền công tố

Trên cơ sở hệ thống chứng cứ đã được ghi chép tổng hợp qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua xác minh các tình tiết, chứng cứ của vụ án, qua xét hỏi, thẩm vấn bị cáo, bị hại, người làm chứng, giám định viên, bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xem xét tại chỗ các vật chứng…Kiểm sát viên phải xem xét, phân tích, tổng hợp lại toàn bộ chứng cứ để xác định sự thật vụ án Mục đích, phương pháp, thời hạn của việc phân tích, tổng hợp chứng cứ của các chủ thể tiến hành tố tụng có khác nhau nên nội dung xem xét, phân tích, tổng hợp cũng có sự khác nhau Thông thường trong quá trình điều tra, Điều tra viên mong muốn thu thập đầy đủ chứng cứ để kết tội bị can, nghĩa là mục đích phân tích, tổng hợp chứng cứ của Điều tra viên là phát hiện và ngăn chặn tội phạm và người phạm tội; còn mục đích phân tích, tổng hợp chứng cứ của Luật sư thì trước hết là để có lập luận gỡ tội cho bị cáo Do vậy, để cho bản luận tội có sức thuyết phục về phân tích, tổng hợp chứng cứ, cần làm rõ về mặt lý thuyết và thực tiễn thế nào là chứng cứ trong tố tụng hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 64 BLTTHS:

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục

do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà

án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án

Khoản 1 Điều 66 Bộ luật TTHS quy định: “Mỗi chứng cứ phải được

đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án” Đây là

khái niệm mang tính pháp định mà nội hàm của chứng cứ có ba đặc điểm, đó là: Khách quan, hợp pháp và liên quan

Thứ nhất, về tính khách quan của chứng cứ Tính khách quan của

chứng cứ thể hiện đó là các tài liệu, đồ vật, vật chứng có thật, tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người và phù hợp với các tình tiết khác của vụ án Điều này có nghĩa, chứng cứ là dấu vết, là sản phẩm

Trang 39

của hành vi phạm tội, chỉ được hình thành khi có hành vi phạm tội và gắn liền với hành vi phạm tội, sự kiện phạm tội Nắm rõ đặc điểm này để cho chúng ta

có phương pháp tư duy biện chứng là: Hành vi phạm tội tất yếu sẽ để lại dấu

vết, dấu vết đó là chứng cứ biểu hiện về mặt khách quan của tội phạm Do

vậy, bất cứ vụ án nào có chứng cứ; người phạm tội có âm mưu nham hiểm, với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt đến đâu thì khi thực hiện hành vi phạm tội đều

để lại các dấu vết của tội phạm Vấn đề là ở chỗ các cơ quan tiến hành tố tụng

và người tiến hành tố tụng có đủ năng lực, trách nhiệm và phương tiện để phát hiện và thu thập đầy đủ các dấu vết, chứng cứ đó hay không

Mặt khác, tính khách quan của chứng cứ cũng đòi hỏi cơ quan và người tiến hành tố tụng có trách nhiệm phải thu thập đầy đủ, khách quan, vô tư các dấu vết, đồ vật, vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ án, không được thêm, bớt hoặc làm mất mát, hư hỏng, thay đổi các tài liệu, đồ vật, vật chứng đó và điều quan trọng khi tiến hành phân tích, tổng hợp các dấu vết, đồ vật, tài liệu

đó không được suy diễn chủ quan Thực tiễn cho thấy vụ án nào mà cơ quan tiến hành tố tụng làm mất đi tính khách quan của chứng cứ như khám nghiệm hiện trường không thu lượm hết các dấu vết, đồ vật, khi lấy lời khai thì gợi ý, mớm cung, khi thực nghiệm điều tra thì tiến hành không đúng với hiện trường…Tình trạng này tất yếu sẽ dẫn đến sai lầm nghiêm trọng khi giải quyết vụ án

Thứ hai, về tính hợp pháp của chứng cứ Tính hợp pháp của chứng cứ

thể hiện trước hết ở chỗ các chứng cứ của vụ án phải được thu thập một cách hợp pháp, nghĩa là nó phải được thu thập theo một trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trong giai đoạn điều tra, việc thu thập chứng cứ phải được Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thu thập Việc thu thập chứng cứ ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào, thời gian nào đều phải lập biên bản Biên bản điều tra phải lập theo quy định tại Điều 95 BLTTHS Như vậy, nếu việc thu thập chứng cứ mà không lập biên bản, hoặc lập biên bản mà không theo mẫu quy định thì chứng cứ được thu thập đó coi như không hợp pháp Tại Điều 95 Bộ luật tố tụng hình sự quy định thì Khi tiến hành các hoạt động tố tụng, bắt buộc phải lập biên bản theo mẫu quy định thống nhất

Trong biên bản ghi rõ địa điểm, ngày, giờ, tháng, năm tiến hành tố tụng, thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc, nội dung của hoạt động tố tụng,

Trang 40

những người tiến hành, tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động tố tụng, những khiếu nại, yêu cầu hoặc đề nghị của họ

Tính hợp pháp của chứng cứ còn thể hiện pháp luật tố tụng hình sự đã quy định, trình tự, thủ tục tố tụng trong điều tra như thế nào thì cơ quan và người tiến hành tố tụng phải chấp hành nghiêm chỉnh như vậy Những hoạt động tố tụng về thu thập chứng cứ không tuân theo các trình tự, thủ tục tố

tụng thì các chứng cứ thu thập được cũng trở thành không hợp pháp Ví dụ, một người nào đó chỉ được coi là bị can khi có quyết định khởi tố bị can (theo

quy định tại Điều 49 BLTTHS) và chỉ lúc đó mới được hỏi cung họ với tư

cách là bị can Trong thực tế có nhiều trường hợp, Điều tra viên lấy lời khai bị can khi vụ án chưa được khởi tố Trong trường hợp này bản cung đó cũng không được coi là hợp pháp và cũng không được coi là chứng cứ của vụ án

hoặc BLTTHS có quy định: “Không được hỏi cung vào ban đêm, trừ trường

hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản” - Khoản

2 Điều 131 BLTTHS; hoặc “Khi lấy lời khai của người làm chứng dưới 16

tuổi phải mời cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp khác hoặc thầy giáo, cô giáo của người đó tham dự” - Khoản 5 Điều 135 BLTTHS; hoặc theo quy

định tại Khoản 3 Điều 59 Bộ luật TTHS: “Đối với đương sự là người chưa

thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người bảo vệ quyền lợi của họ có quyền có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai của người mà mình bảo vệ; kháng cáo phần bản án, quyết định của Toà án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ”…Đây là những

quy định hết sức chặt chẽ của Bộ luật TTHS 2003 nhằm bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án được khách quan, hợp pháp và đúng luật

Để bảo đảm chứng cứ được thu thập mang tính hợp pháp, theo quy định của pháp luật, việc tiến hành thu thập chứng cứ thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của của cơ quan và người tiến hành tố tụng nhất định Ngoài những cơ quan và người tiến hành tố tụng ra thì không ai được giao nhiệm vụ này Theo quy định tại Điều 33 BLTTHS thì các cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án Những người tiến hành tố tụng gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
22. Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.III. Tạp chí chuyên ngành, sách báo và các tài liệu khác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
25. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2007
26. Dương Thanh Biểu (2007), Kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự liên quan đến phụ nữ, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự liên quan đến phụ nữ
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
27. Đặng Thành Khoa (2011), “Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (13), tr. 20-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự"”, Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Đặng Thành Khoa
Năm: 2011
28. Đinh Văn Quế (2007), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
29. Đinh Văn Quế (2004), “Một số vần đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (08). Tr. 19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vần đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm hình sự theo Bộ luật tố tụng hình sự"”, Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Đinh Văn Quế
Năm: 2004
30. Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình luật tố tụng hình sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2009
31. Ghôgin (1981), Những vấn đề lý luận về luật hình sự, tố tụng hình sự và tội phạm học, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận về luật hình sự, tố tụng hình sự và tội phạm học
Tác giả: Ghôgin
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1981
32. Nguyễn Đức Mai (2009), “Đặc điểm của mô hình tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân (23), tr. 32-35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm của mô hình tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Đức Mai
Năm: 2009
33. Nguyễn Ngọc Anh (2009), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2009
34. Nguyễn Mạnh Hà (2009), “Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp hiện nay”, Tạp chí Kiểm sát (10), tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao trách nhiệm của Kiểm sát viên trong tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự nhằm đáp ứng nhu cầu cải cách tư pháp hiện nay"”, Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hà
Năm: 2009
36. Lê Cảm (2011), “Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát (11), tr. 7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo tinh thần cải cách tư pháp"”, Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2011
37. Lê Thúc Anh (2008), “Một số suy nghĩ về tranh tụng tại phiên tòa trong cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân (01), tr. 28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về tranh tụng tại phiên tòa trong cải cách tư pháp"”, Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Lê Thúc Anh
Năm: 2008
38. Lê Đức Thọ (2008), Xét hỏi, tranh luận và nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, Luận văn thạc sỹ Luật học khóa 9, trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xét hỏi, tranh luận và nâng cao tính tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm
Tác giả: Lê Đức Thọ
Năm: 2008
39. Phan Hữu Thư (2001), Kỹ năng hành nghề Luật sư, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng hành nghề Luật sư
Tác giả: Phan Hữu Thư
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2001
40. Phạm Hồng Hải (2004), “Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự ở Việt Nam theo kiểu tranh tụng”, Tạp chí Luật học (19), tr. 6-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến tới xây dựng tố tụng hình sự ở Việt Nam theo kiểu tranh tụng"”, Tạp chí Luật học
Tác giả: Phạm Hồng Hải
Năm: 2004
44. Trần Duy Bình (2011), “Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Kiểm sát (8), tr. 22-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp”", Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Trần Duy Bình
Năm: 2011
45. Trần Văn Độ (2004), “Bản chất tranh tụng tại phiên tòa”, Tạp chí Khoa học Pháp lý (04), tr. 12-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất tranh tụng tại phiên tòa”, "Tạp chí Khoa học Pháp lý
Tác giả: Trần Văn Độ
Năm: 2004
46. Trần Thị Hương (2011), “Giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát (18), tr. 17-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Trần Thị Hương
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HÌNH SỰ VIỆT NAM - Hoạt động luận tội trong tố tụng hình sự việt nam
HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trang 1)
HÌNH SỰ VIỆT NAM - Hoạt động luận tội trong tố tụng hình sự việt nam
HÌNH SỰ VIỆT NAM (Trang 2)
Bảng thống kê số lƣợng án hình sự đƣa  ra truy tố, xét xử từ năm 2008 đến  tháng 06/2012. - Hoạt động luận tội trong tố tụng hình sự việt nam
Bảng th ống kê số lƣợng án hình sự đƣa ra truy tố, xét xử từ năm 2008 đến tháng 06/2012 (Trang 120)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w