Pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1.2.1.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng “Pháp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60.38.50
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Như Phát
Tp Hồ chí Minh - Năm 2008
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ Luật dân sự
BTTH : Bồi thường thiệt hại
BVQLNTD : Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
CI : Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (Consumers International)
NTD : Người tiêu dùng
QPPL : Quy phạm pháp luật
UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc Hội
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
VINASTAS : Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT
5
1.1 Cơ sở lý luận xác lập quyền được bảo vệ của người tiêu dùng 5
1.1.1 Các quan điểm về người tiêu dùng 5
1.1.2 Vai trò, vị trí của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường 7
1.1.3 Cơ sở kinh tế - pháp lý phát sinh quyền được bảo vệ của người
tiêu dùng
8
1.2 Pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 10
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng
10
1.2.2 Khái niệm về cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng 16
1.2.3 Nội dung pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 18
1.2.3.2 Các thiết chế thuộc cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 22
Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU
DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
28
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật bảo vệ người tiêu
dùng ở Việt Nam
28
2.2 Thực trạng pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ở Việt Nam hiện nay
32
2.2.1 Các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ bảo vệ người tiêu
dùng
32
2.2.1.2 Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ
39
2.2.2 Thực trạng về các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 51
2.2.2.1 Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước 51
2.2.2.2 Hệ thống tòa án nhân dân các cấp 56
2.2.3 Các biện pháp bảo vệ trong cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng
60
Trang 5NGƯỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
73
3.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật 73
3.1.1 Thực tiễn của hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 73
3.1.2 Xây dựng nền kinh tế thị trường văn minh, hiện đại 75
3.1.3 Xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân do dân, vì dân 76
3.1.4 Nhu cầu hội nhập quốc tế và thực hiện điều ước quốc tế 76
3.2 Những yếu tố tác động đến hiệu quả điều chỉnh pháp luật
bảo vệ người tiêu dùng
77
3.2.1 Yếu tố khách quan 77
3.2.2 Yếu tố chủ quan 79
3.3 Một số kiến nghị đề xuất hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng
3.3.2.2 Hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
85
3.3.2.3 Hoàn thiện các quy định về quản lý Nhà nước về bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng
Trang 6KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ Luật dân sự
BTTH : Bồi thường thiệt hại
BVQLNTD : Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
CI : Tổ chức Quốc tế người tiêu dùng (Consumers International)
NTD : Người tiêu dùng
QPPL : Quy phạm pháp luật
UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc Hội
VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm
VINASTAS : Hội tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Người tiêu dùng đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh
tế, nhưng trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thì người tiêu dùng luôn ở vị thế yếu hơn Đó là do tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, khả năng kiểm tra chất lượng hàng hóa, các khuyết tật và các rủi ro liên quan đến sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, trong sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế thị trường Trong tương quan với nhà sản xuất, cung cấp hàng hóa, thông qua dịch vụ chuyên nghiệp, họ luôn nằm ở vị thế yếu hơn so với nhà sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, người tiêu dùng luôn có nguy cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại trong quan hệ tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ
Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quyền lợi của người tiêu dùng ngày càng bị xâm hại nghiêm trọng Vì nhu cầu lợi nhuận, không ít nhà cung cấp đã lạm dụng ưu thế của mình để khai thác, bóc lột, lừa dối người tiêu dùng bằng rất nhiều hình thức: sản phẩm không đúng chất lượng, không đủ số lượng, quảng cáo gian dối thậm chí còn xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng
Mặc dù quyền lợi của người tiêu dùng đã, đang và sẽ có nguy cơ tiếp tục bị vi phạm trầm trọng, nhưng khả năng được bảo vệ bằng pháp luật hiện nay ở nước ta là rất hạn chế Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay chưa được hệ thống hóa, các quy phạm pháp luật nằm rải rác ở rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau Nội dung của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng chỉ dừng lại ở một số quy định, nguyên tắc mang tính chung chung, chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng khi quyền lợi của họ bị xâm phạm Bên cạnh đó, các thiết chế Nhà nước và phi Nhà nước đang có vai trò không đáng kể trong việc thực hiện chức năng của mình trong việc bảo vệ người tiêu dùng và đặc biệt là để chuyển các quy định của hệ thống các quy định pháp luật về các quyền của người tiêu dùng đang hiện hữu trở thành hiện thực
Trước tình hình đó, bên cạnh nhu cầu nâng cao “chất lượng” của bản thân pháp luật hiện hành về các quyền và khả năng pháp lý của người tiêu dùng thì việc thông qua điều chỉnh pháp luật để tăng cường các khả năng và nhiệm vụ của các yếu tố thuộc cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là nhu cầu cấp bách đặt ra hiện nay Điều này có ý nghĩa rất lớn không những đối với sự phát triển của
Trang 9nền kinh tế thị trường hiện đại, mà còn là điều kiện không thể thiếu được của một
xã hội văn minh, công bằng và nhân đạo
Từ những phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “ Hoàn thiện pháp
luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” để thực
hiện luận văn Thạc sĩ luật học của mình
2.Tình hình nghiên cứu
Có thể khẳng định là, khoa học pháp lý chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Nghiên cứu vấn đề lý luận chung về tiêu dùng có những công trình như: “Bàn
về tiêu dùng của chủ nghĩa xã hội” của Trần Trí Hoằng, Nxb Chính trị quốc gia,
1999 và “Tìm hiểu Luật bảo vệ người tiêu dùng của các nước và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam” của Viện nhà nước và pháp luật biên soạn, Nxb Lao động, 1999
Phần lớn các công trình khoa học pháp lý về lĩnh vực này được công bố dưới hình thức các bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành luật hoặc tham luận trong các Hội thảo quốc gia và quốc tế Trong số đó có thể kể đến bài viết của PGS.TS Nguyễn Như Phát, Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 năm 2003; PGS.TS Nguyễn Như Phát, Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 9 năm 2000; Thạc sĩ Ngô Vĩnh Bạch Dương, Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong pháp luật cạnh tranh, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 11 năm 2000; Đoàn Văn Trường, Những vấn đề về việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam, Viện nghiên cứu khoa học thị trường và giá cả, Bộ Tài Chính, 2003; Đặng Vũ Huân, Pháp luật và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng tháng 1 năm 2005;
Kỷ yếu Hội thảo đẩy mạnh công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam, Sáng kiến trong khuôn khổ dự án 7UP2 ngày 20/3/2006 do Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Thương mại chủ trì tại Hà Nội
Tuy nhiên, các công trình trên chưa nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống, chỉ đề cập đến một số hoặc một khía cạnh nào đó của vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Chưa luận giải và đề xuất cụ thể và toàn diện các giải pháp về
cơ chế nhằm đáp ứng được yêu cầu bảo vệ hữu hiệu người tiêu dùng khi quyền lợi của họ bị vi phạm khá nghiêm trọng như trong bối cảnh hiện nay
3 Mục đích nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các yếu
Trang 10tố thuộc cơ chế pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bao gồm nhưng không giới hạn các vấn đề như: Quan điểm về người tiêu dùng; các quyền lợi và nghĩa vụ của người tiêu dùng; các thiết chế và biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;
cơ chế đảm bảo người tiêu dùng được bồi thường thiệt hại khi quyền lợi bị xâm hại Trên cơ sở lý luận đã trình bày, luận văn phân tích, đánh giá hiện trạng về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam, về vai trò và khả năng thực tế của các yếu tố bên ngoài khả năng chủ quan của người tiêu dùng cần được sử dụng, can thiệp để thực thi các quyền và lợi ích của người tiêu dùng Từ đó đưa ra một số đề xuất, kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam Như vậy, luận văn sẽ không đi sâu vào việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ những quan hệ hợp đồng mua bán hay cung cấp dịch vụ có sự tham gia của người tiêu dùng
Cần nói thêm rằng, quả thực, pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng đã bao hàm trong đó những quy định về các yếu tố, bộ phận thuộc cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng Việc tác giả đặt tên đề tài như vậy chỉ là để đặt vấn đề xem xét đầy đủ và
“công bằng” các yếu tố pháp lý thuộc cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng mà không chỉ tập trung hoặc thiên vào việc nghiên cứu các quyền chủ quan của người tiêu dùng được pháp luật ghi nhận Nói khác đi, cách tiếp cận của luận văn là có chú
ý nhiều đến các yếu tố cơ chế đảm bảo chuyển hóa các quyền của người tiêu dùng thành hiện thực
Phương pháp nghiên cứu mà tác giả sử dụng trong nghiên cứu đề tài này là phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, của lý luận về pháp luật trong điều kiện cơ chế kinh tế mới Bên cạnh
đó, luận văn kết hợp với các phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp luật học
so sánh, dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn thi hành, các tài liệu tổng kết thực tiễn và các tài liệu khoa học pháp lý tổng hợp các nghiên cứu trong nước và nước ngoài để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra
4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về lý luận: Đề tài nghiên cứu có hệ thống những vấn đề lý luận liên quan đến điều chỉnh pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, góp phần xây dựng những luận cứ khoa học sâu hơn cho việc bảo vệ trên thực tế các quyền và lợi ích người tiêu dùng bằng pháp luật Bên cạnh đó, công trình chuyên khảo này còn góp phần phục vụ cho quá trình nghiên cứu vì mục tiêu hệ thống hóa, hoàn thiện, pháp điển hóa pháp luật, tiến tới xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở
Trang 115 Cơ cấu của Luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật
Chương 2: Thực trạng điều chỉnh pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
ở Việt Nam hiện nay
Kết luận
Trang 12Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƯỜI TIÊU DÙNG BẰNG PHÁP LUẬT
1.1 Cơ sở lý luận xác lập quyền được bảo vệ của người tiêu dùng
1.1.1 Các quan điểm về người tiêu dùng
Như chúng ta đều biết, tiêu dùng là mục đích cuối cùng của sản xuất, là chỉ tiêu cho các loại hàng hóa, dịch vụ mà nhà sản xuất hướng đến “Tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất”1 Tiêu dùng là một trong những hoạt động cơ bản và tự nhiên của con người, “Tiêu dùng là một hoạt động tác động đến một vật bằng cách sử dụng nó, là việc sử dụng một vật bằng cách làm cạn kiệt vật đó”2
Như vậy, tiêu dùng gồm hai loại, tiêu dùng cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng cho nhu cầu sinh hoạt Trong quá trình sản xuất, con người cần phải sử dụng một số nguyên liệu và sử dụng các công cụ lao động để tạo ra sản phẩm Đây chính
là tiêu dùng cho nhu cầu sản xuất, loại này được tiến hành trong quá trình sản xuất, gồm có quá trình sản xuất và quá trình liên quan trực tiếp đến sản xuất Tiêu dùng cho nhu cầu sinh hoạt là sự tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt bảo đảm cho con người tồn tại và phát triển Vậy, thuật ngữ người tiêu dùng (NTD) ở đây cần được hiểu như thế nào, bao gồm cả tiêu dùng cho mục đích sinh hoạt và tiêu dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh hay NTD chỉ là tiêu dùng cho mục đích sinh hoạt thôi?
Người tiêu dùng là khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam và trong cả khoa học pháp lý, nó ra đời và tồn tại gắn liền với nền kinh tế thị trường Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD ngày 27/4/1999 thì "NTD là người mua, sử dụng hàng hóa cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức" Như vậy, theo quan điểm của pháp luật Việt Nam thì NTD bao gồm:
- Người mua và là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình;
- Người mua hàng hóa và dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng;
Trang 13- Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người khác mua hoặc do được tặng, cho
Với cách hiểu này thì mục đích tiêu dùng ở đây chỉ là tiêu dùng cho sinh hoạt
cá nhân, không nhằm phục vụ cho tiêu dùng sản xuất hay kinh doanh
Luật bảo vệ NTD của Thái Lan năm 1979 định nghĩa: “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”
Đạo luật bảo vệ NTD của Ấn Độ3 ngày 24/12/1986 quan niệm NTD là bất cứ người nào:
- Mua hàng có trả tiền, đã thanh toán hoặc hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần; khái niệm này bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa đó ngoài người trực tiếp mua hàng có trả tiền, đã thanh toán hoặc hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần một khi cách này được người đó tán thành; nhưng khái niệm này không bao gồm người mua hàng hóa để bán lại vì mục đích thương mại
- Thuê dịch vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần; khái niệm này bao gồm cả những người được hưởng dịch vụ đó ngoài người trực tiếp thuê dịch vụ
Luật bảo vệ NTD của Liên Xô (cũ) định nghĩa NTD là “công dân sử dụng, mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng”
Luật Tiêu dùng của Cộng hòa liên bang Đức định nghĩa NTD là người sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân hoặc gia đình, nói cách khác đó là “NTD cuối cùng, end consumer”
Luật tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân”4
NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình mà không có ý định bán lại; là một tự nhiên nhân sử dụng sản
Trang 14phẩm phục vụ mục đích cá nhân, không phải nhằm mục đích kinh doanh5 NTD là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích cuối cùng là tiêu dùng hoặc sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình6 Có thể nói hầu hết Luật bảo vệ NTD của các nước đều có chung quan điểm NTD là người tiêu dùng cuối cùng, NTD sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân và gia đình, mà không bao gồm tiêu dùng cho sản xuất
Trên cơ sở các quan điểm về NTD đã nêu trên, thì được xem là NTD khi hội
đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất: NTD là người mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình; hoặc là người mua hàng hóa, dịch vụ cho người khác, cho gia đình, cho tập thể sử dụng; hoặc là người sử dụng hàng hóa, dịch vụ do người khác mua hoặc được cho, tặng
Thứ hai: việc sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó nhằm mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân, gia đình, tập thể mà không phải sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh
1.1.2 Vai trò, vị trí của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường
Người tiêu dùng là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, là động lực thúc đẩy việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa Tiêu dùng là một khâu của quá trình tái sản xuất, có tiêu dùng mới có sản xuất, hoạt động tiêu dùng của NTD là mục đích cuối cùng của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Chính vì vậy, quyết định tiêu dùng của NTD ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ được cung ứng trên thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có “Cầu” thì cũng sẽ chẳng có
“Cung” Nền kinh thế thị trường, thị trường chủ yếu do người tiêu dùng điều tiết, bởi vì cung có trước, cầu có sau, cung luôn chạy theo cầu Vì vậy, NTD quyết định hàng hóa, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân sẽ sản xuất, kinh doanh vì NTD góp phần quyết định giá cả, số lượng, chất lượng hàng hoá Có thể nói, NTD có ảnh hưởng lớn đến những quyết sách về kinh tế, dù là của khu vực nhà nước hay của khu vực
tư nhân, NTD tạo ra nền kinh tế thị trường và quyết định sự phát triển của nó Tuy nhiên, đây là mối quan hệ hai mặt của một vấn đề, nên NTD cũng bị ảnh hưởng theo hai chiều tích cực và tiêu cực từ nền kinh tế thị trường
Trang 15Như thế, NTD là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp trong cạnh tranh Bởi lẽ, việc dành giật thị trường trong đó có bao hàm người tiêu dùng Theo nghĩa
đó, NTD là một trong những yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển sản xuất, phát triển kinh tế Vì vậy, chính sách kinh tế vĩ mô của các quốc gia khi khuyến khích phát triển và tăng trưởng kinh tế thường bao hàm cả chính sách kích cầu, tăng “cường độ” và mức độ tiêu dùng trong dân chúng tức là tăng tính cách và chức năng “người tiêu dùng” trong xã hội
1.1.3 Cơ sở kinh tế - pháp lý phát sinh quyền được bảo vệ của người tiêu dùng
Cơ sở kinh tế:
Thế giới đang bước vào "cơn lốc" của toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại Xu thế toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ thị trường hàng hoá và dịch vụ, mang lại nhiều cơ hội thuận lợi cho NTD Người tiêu dùng được tiếp cận với nhiều hàng hoá và dịch vụ có chất lượng, do vậy, NTD ngày càng có nhiều sự lựa chọn đối với các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại cũng đặt NTD trước những thách thức không nhỏ Đó là tình trạng phân hoá giàu nghèo tạo ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận các sản phẩm tiêu dùng có xu hướng ngày một gia tăng
Theo ước tính, trên thế giới hiện nay một phần năm số người giàu trên thế giới chiếm đa phần tỷ lệ tiêu dùng của thế giới, số còn lại vẫn phải đấu tranh để bảo đảm những nhu cầu thiết yếu, tối thiểu của mình NTD Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại lệ khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Việc trở thành thành viên của tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu này đã đặt Việt Nam đứng trước rất nhiều cơ hội và thách thức Việt Nam có điều kiện để xây dựng và phát triển nền kinh tế, tiếp cận thị trường hàng hoá và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên một cách bình đẳng, thu hút ngày càng nhiều hơn các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cùng với khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ máy móc hiện đại, NTD có nhiều cơ hội hơn để lựa chọn sản phẩm chất lượng tốt và phù hợp với túi tiền của mình, tuy nhiên cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi
ro Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của nhiều phương thức kinh doanh hiện đại Xu hướng phát triển này đã đặt người tiêu dùng vào một khung cảnh mới – đó là sự đan xen giữa những tiện ích và phạm vi lựa chọn rộng rãi là những phương thức kinh doanh gian dối, thiếu trung thực và được ngụy trang dưới nhiều hình thức tinh vi hơn Không hiếm các trường
Trang 16hợp các doanh nghiệp đã sử dụng thị trường Việt Nam làm nơi giải quyết hàng kém chất lượng, hàng tồn kho, hàng có chỉ dẫn gây nhầm lẫn Bên cạnh đó, không ít các nhà sản xuất, kinh doanh vì mục đích lợi nhuận và/hoặc thiếu đạo đức kinh doanh
đã coi nhẹ hoặc không quan tâm đến lợi ích của NTD Nên họ cố tình tiến hànhchiêu thức quảng cáo không trung thực đưa ra những thông tin sai lệch về chất lượng, giá cả, nguồn gốc xuất xứ, giá trị sử dụng….của các sản phẩm, làm cho NTD không thể lựa chọn đúng đắn các sản phẩm mà họ muốn sử dụng Chính vì vậy, không ít NTD đã sử dụng phải hàng hoá kém chất lượng hoặc hàng hoá không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng với giá cả không đúng với giá trị thực của nó…Điều này không chỉ gây thiệt hại về kinh tế cho người tiêu dùng mà thậm chí còn nguy hại cho sức khoẻ và tính mạng của NTD Việt Nam – nhóm NTD chưa có nhiều cơ hội được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng trong kỷ nguyên toàn cầu hóa
Bên cạnh đó, việc bảo vệ quyền lợi NTD là không chỉ nhằm bảo vệ người tiêu dùng, mà cũng chính là bảo vệ cho tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nói riêng và cho sự phát triển của nền kinh tế nói chung Ngoài ra, cũng cần nhấn mạnh mối quan hệ giữa niềm tin của NTD và sự phát triển của nền kinh tế Tiêu dùng cá nhân của NTD, nhất là ở các nước kinh tế phát triển chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân của quốc gia Nếu hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ không đảm bảo chất lượng và qua đó quyền lợi của NTD bị xâm hại thì họ
sẽ giảm bớt nhu cầu tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ Điều này sẽ hạn chế sự phát triển của sản xuất, kinh doanh dẫn đến khả năng kìm hãm sự tăng tốc của nền kinh tế Cũng cần phải nói thêm khi tiến hành hoạt động bảo vệ quyền lợi của NTD cũng đồng thời song hành với việc bỏ bớt và loại trừ các nhân tố rủi ro trong quá trình sản xuất, góp phần bảo đảm một nền kinh tế phát triển lành mạnh
Dưới góc độ pháp lý
Mối quan hệ giữa NTD và các nhà sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ là một quan hệ dân sự được điều chỉnh trước hết bằng các quy phạm pháp luật (QPPL) dân sự Một điều rõ ràng mà chúng ta có thể nhận thấy trong quan hệ pháp luật dân
sự này là tình trạng bất cân xứng về thông tin, hiểu biết, trình độ khoa học kỹ thuật, khả năng đàm phán, ký kết hợp đồng, khả năng chịu rủi ro và sự am tường pháp luật cũng như tiềm lực tài chính, cho nên NTD luôn ở vị thế yếu hơn Và các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ luôn lợi dụng thế mạnh này của mình để chèn
ép, lợi dụng, đẩy thiệt hại và rủi ro về phía NTD Mà một trong những nhiệm vụ của pháp luật văn minh là phải “ưu tiên” bảo vệ kẻ yếu, vì vậy pháp luật cần phải can
Trang 17thiệp để đảm bảo sự cân bằng về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ xã hội Thông qua việc bảo vệ quyền lợi NTD bằng pháp luật, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều tiết các quan hệ xã hội theo trật tự chung
Dưới góc độ xã hội- nhân văn
NTD là con người, là toàn bộ tất cả chúng ta Trong khi, con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển toàn diện và lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hạnh phúc và lành mạnh; NTD có quyền được hưởng các sản phẩm an toàn, phù hợp với khả năng và nhu cầu của mình Nhưng trong xã hội công nghiệp và nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay với kinh nghiệm và sự cảm nhận không thông qua sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, thì NTD tự mình khó có thể đánh giá đúng được giá trị thực tế, chất lượng sản phẩm, dịch vụ, xuất xứ hàng hóa và từ đó khó phát hiện được các khuyết tật của hàng hóa, dịch vụ…dẫn đến khó có khả năng tự bảo vệ mình Có một thực tế mà chúng ta có thể dễ dàng nhận ra là chưa khi nào vấn đề NTD lại được đặt ra cấp thiết như hiện nay Những vụ việc gần đây như vụ xăng chứa aceton gây hỏng động
cơ gắn máy, nước tương chứa chất 3-MPCD có thể gây ung thư, thực phẩm nhiễm thuốc trừ sâu, hóa chất độc hại có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe NTD Chính vì vậy, với tư cách là con người nên NTD cần phải được bảo vệ Bên cạch đó nhà nước cần tạo ra sự an toàn trong tâm lý của người dân, qua đó cũng tạo nên sự ổn định về xã hội
1.2 Pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
“Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu
tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội”7
“Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” là tổng hợp các biện pháp được Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng khi
sử dụng dịch vụ hàng hoá; ngăn chặn những nhà sản xuất có hành vi gian lận, lừa dối để thu lợi bất chính, bao gồm các biện pháp pháp luật, kinh tế, văn hoá, xã hội
Nói cách khác, bảo vệ NTD là ghi nhận và làm cho các lợi ích chính đáng của NTD được thực hiện trên thực tế Tuy nhiên trong số các công cụ chủ yếu Nhà
7
Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa Luật, Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb.Quốc gia Hà Nội, tr.226
Trang 18nước sử dụng để bảo vệ quyền lợi NTD thì pháp luật là công cụ hữu hiệu hơn cả vì
nó là phương thức thực hiện hoá các công cụ BVNTD khác trong điều kiện Nhà nước pháp quyền và xã hội công dân Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đều coi luật pháp là một trong những phương tiện chủ yếu bảo vệ NTD, là một hệ thống các quy tắc xử sự liên quan đến nhiều mặt như quan hệ xã hội dân sự, kinh tế, hành chính, hình sự, trình tự tố tụng có liên quan đến đời sống tiêu dùng của cá nhân Vì thế, yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD là trách nhiệm chung của toàn xã hội với sự phối hợp của nhiều biện pháp, mà chủ yếu trong đó là biện pháp pháp luật
Người nước ngoài quan niệm về pháp luật bảo vệ NTD là: “Luật bảo vệ NTD là luật của bang hoặc liên bang được ban hành nhằm bảo vệ NTD trước những hành vi thương mại hoặc những hoạt động tín dụng không lành mạnh có liên quan đến hàng tiêu dùng, đồng thời bảo vệ NTD trước những hàng hoá nguy hại hoặc hàng giả”8 “Luật Người tiêu dùng là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh những giao dịch liên quan đến NTD, đó là việc sử dụng tín dụng, tiêu dùng hàng hóa, bất động sản hoặc những dịch vụ phục vụ cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình”9 Theo quy định của Inđônesia thì “Luật bảo vệ NTD là toàn bộ những nổ lực đảm bảo sự chắc chắn về mặt pháp lý để bảo vệ cho NTD”10 Phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ NTD của Inđônesia là khá rộng, bao gồm: toàn bộ các loại hàng hóa, hữu hình hoặc
vô hình, di động hoặc bất động, có thể tiêu thụ hoặc không thể tiêu thụ, có tính thương mại được NTD tiêu dùng, sử dụng hoặc khai thác và tất cả các loại hình dịch
vụ cũng như các hình thức quảng bá hàng hóa và dịch vụ
Có thể nói, Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là biện pháp bảo vệ người tiêu dùng bằng pháp lý thông qua việc Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm thực hiện các mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng từ giai đoạn tìm kiếm, mua hàng hoá, dịch vụ trên thị trường đến giai đoạn tiêu dùng sản phẩm cũng như hậu quả phát sinh (nếu có)
Như vậy có thể đưa ra khái niệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
như sau: “Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng là hệ thống các nguyên tắc và các quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội trong hoạt động bảo vệ người tiêu dùng”
1.2.1.2 Đặc điểm của Pháp luật bảo vệ NTD
Trang 19Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD có biên giới với rất nhiều ngành luật khác nhau
Hệ thống quy phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD không nằm gọn trong một ngành luật cụ thể nào, mà tồn tại ở nhiều ngành luật khác nhau Trong đó có luật dân sự, luật hành chính và luật hình sự, đây cũng chính là quan điểm chung được nhiều quốc gia chấp nhận
Qua khảo sát pháp luật của một số quốc gia châu Âu và châu Á khác trong lĩnh vực bảo vệ NTD, một điều đặc biệt dễ nhận thấy đó là mô hình phát triển rất đa dạng của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng trong mối liên hệ với pháp luật cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật về điều kiện thương mại chung và pháp luật về trách nhiệm sản phẩm
Ở Việt Nam các QPPL bảo vệ quyền lợi NTD nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Chúng được quy định trong Pháp lệnh BVQLNTD và các văn bản hướng dẫn thi hành; các quy định của BLDS năm 2005 về giao dịch hợp đồng (nhất là các quy định về bảo đảm chất lượng vật mua bán, bảo đảm thông tin
về vật mua bán, vấn đề bảo hành ); các quy định về BTTH ngoài hợp đồng; các quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực có liên quan đến bảo vệ NTD (như trong lĩnh vực cạnh tranh, quảng cáo, thương mại, đo lường chất lượng hàng hoá, an toàn vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường ) Ngoài ra, pháp luật bảo vệ NTD còn được quy định trong Bộ luật hình sự 1999 và trong nhiều văn bản pháp lý liên quan khác đến sản xuất, kinh doanh dược phẩm, kinh doanh thuốc thú y, quy định
về việc bảo đảm chất lượng hàng hoá, công bố và đảm bảo tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật, quảng cáo, khuyến mại
Do nằm rải rác trong nhiều ngành luật khác nhau và nhiều văn bản pháp quy khác nhau, nên các QPPL về bảo vệ quyền lợi NTD chưa được hệ thống hóa, khó tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ của mình Bên cạnh đó, điều này cũng tạo ra rất nhiều khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức thực thi pháp luật áp dụng trong hoạt động thực thi pháp luật BVQLNTD
Hoạt động tiêu dùng của NTD có mặt hầu hết các lĩnh vực kinh tế, thương mại, văn hoá, xã hội, cũng đồng nghĩa với sự xuất hiện của NTD trong tất cả các quan hệ xã hội này Và mỗi loại quan hệ xã hội khác nhau sẽ được điều chỉnh bởi các quan hệ pháp luật khác nhau, nằm trong những ngành luật và các văn bản pháp quy khác nhau Bên cạnh đó, hầu hết các hoạt động của tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và các cơ quan quản lý nhà nước đều ảnh hưởng trực
Trang 20tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lợi NTD Do vậy cũng dễ dàng để lý giải tại sao pháp luật BVQLNTD của Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới có mối liên quan với nhiều ngành luật khác nhau và nằm trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau
Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD bao gồm cả luật công và luật tư
Việc bảo vệ NTD đòi hỏi nhà nước phải sử dụng cả luật công và luật tư Công luật thể hiện ở việc giám sát của nhà nước, bằng các biện pháp cấp phép, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về hành chính, điều tra, truy tố, xét sử hình sự Tư luật thông qua việc giám sát của cộng đồng xã hội như việc khiếu nại, tố cáo, đòi bồi thường của người tiêu dùng, tố cáo của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, sự phát hiện của các cơ quan truyền thông, các hội bảo vệ NTD Pháp luật bảo vệ NTD vì thế bao gồm cả các QPPL thuộc lĩnh vực luật tư: các quy định về pháp luật hợp đồng, các quy định về BTTH ngoài hợp đồng, các quy định của pháp luật về khởi kiện đòi BTTH, và các QPPL thuộc lĩnh vực luật công: các quy định về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật hành chính và pháp luật hình sự
Với tính cách là pháp luật công, Pháp luật BVQLNTD thể hiện sự can thiệp của nhà nước và các thiết chế xã hội dân sự vào quan hệ pháp luật dân sự nhằm bảo
vệ NTD được xem là “kẻ yếu” trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ khi thực hiện các giao dịch phục vụ cho mục đích tiêu dùng
Bản chất quan hệ giữa NTD và người bán, người cung cấp hàng hoá, dịch vụ
là quan hệ dân sự được thực hiện thông qua các Hợp đồng dân sự Việc thiết lập hợp, thực hiện và giải quyết tranh chấp của các hợp đồng dân sự này dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, bao gồm nguyên tắc tự do thỏa thuận, nguyên tắc bình đẳng, thiện chí và trung thực, tự chịu trách nhiệm, tôn trọng đạo đức tốt đẹp, tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, tôn trọng lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, nguyên tắc tuân thủ pháp luật và nguyên tắc hòa giải11 Tuy nhiên, sự tồn tại của nhóm QPPL về bảo vệ quyền lợi NTD trong hệ thống pháp luật với các quy định về quyền của NTD và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đã cho thấy sự can thiệp của Nhà nước vào mối quan hệ giữa các chủ thể này Việc can thiệp này là cần thiết vì xuất phát từ tình trạng không tương xứng về thông tin, khả năng thương thảo ký kết hợp đồng, khả năng chi phối các điều kiện mua sắm, tiềm lực kinh tế cũng như khả năng
11
Bộ Luật dân sự 2005
Trang 21gánh chịu rủi ro từ quá trình sử dụng sản phẩm Vì vậy việc can thiệp của Nhà nước với mục đích bảo vệ kẻ yếu và quyền bình đẳng của các chủ thể dân sự là chính đáng và không mâu thuẫn với nguyên tắc tự do kinh doanh của kinh tế thị trường và
sự phát triển của các hoạt động kinh doanh Một yêu cầu đặt ra, pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD phải được xây dựng từ những quy định “đặc biệt” để bảo vệ NTD, bởi lẽ, các nguyên tắc, các quy định chung của Luật dân sự, tố tụng dân sự không thể giải quyết thỏa đáng yêu cầu bảo vệ quyền lợi NTD
1.2.1.3 Vai trò của pháp luật bảo vệ NTD
Vai trò của pháp luật bảo vệ NTD đối với NTD
NTD là một nhân tố quan trọng trong nền kinh tế - xã hội và vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD được xem là một vấn đề quan trọng trong quyết sách của một quốc gia Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD hướng tới mục đích trước nhất là bảo vệ NTD chống lại những hành vi xâm hại đến lợi ích của họ Pháp luật bảo vệ NTD ghi nhận các quyền cơ bản của NTD và cũng đồng thời là công cụ để đảm bảo việc thực thi những quyền đó Chính vì vậy pháp luật về bảo vệ NTD có ý nghĩa rất quan trọng đối với NTD Là cơ sở, là lá chắn pháp lý để bảo vệ quyền lợi của NTD, chống lại
sự bất bình đẳng trong quan hệ với nhà sản xuất, kinh doanh Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, việc bảo vệ quyền lợi NTD chỉ dựa vào những quy định và chế tài của pháp luật là chưa khả thi, mà NTD còn phải biết tự bảo vệ mình bằng cách tự nâng cao kiến thức, khả năng hiểu biết của mình về sản phẩm, thông tin hàng hóa và dịch
vụ theo khẩu hiệu “hãy trở thành NTD thông minh” NTD cần nhận thức rõ về quyền và trách nhiệm của mình và chủ động đấu tranh cho những quyền lợi hợp pháp đó Việc hiểu biết về pháp luật bảo vệ NTD của NTD sẽ phát huy cao nhất khả năng bảo vệ của Pháp luật đối với NTD
Vai trò của pháp luật bảo vệ NTD đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh
Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD tạo ra một hành lang pháp lý trong đó buộc các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật này phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và phải ứng xử một cách cẩn trọng nhằm tránh xâm phạm gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ Sự tồn tại của nhóm QPPL về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hệ thống pháp luật với các quy định về trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và của người tiêu dùng đã giúp cho nhà sản xuất, kinh doanh nhận thức và tôn trọng quyền của NTD, của Nhà nước, xã hội cũng như góp phần tạo nên ý thức tôn trọng pháp
Trang 22luật, kinh doanh lành mạnh của các doanh nghiệp Bên cạnh việc bảo vệ quyền lợi NTD thì Pháp luật bảo vệ NTD cũng đồng thời là công cụ bảo vệ các chủ thể tham gia cạnh tranh trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay hạn chế cạnh tranh, chống độc quyền tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của các chủ thể kinh doanh
Việc thực thi nghiêm túc và đầy đủ các quy định của pháp luật cũng giúp các chủ thể kinh doanh hạn chế và loại bỏ những nguy cơ, những rủi ro trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hàng hoá của mình cũng như tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững Bởi lẽ, suy cho cùng, bảo vệ người tiêu dùng cũng đồng thời bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp làm ăn chân chính, cạnh tranh lành mạnh
Vai trò của pháp luật bảo vệ NTD đối với Nhà nước và xã hội
Pháp luật là một công cụ quan trọng không thể thiếu trong quá trình quản lý, điều hành xã hội của Nhà nước, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay Pháp luật bảo vệ NTD góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội Khi NTD không được bảo vệ thì xã hội không thể có công bằng, dân chủ Thông qua việc bảo đảm quyền lợi của NTD, Pháp luật bảo vệ NTD góp phần vào việc chống những bất công trong xã hội, làm cho xã hội công bằng hơn, văn minh hơn và
vì thế góp phần làm ổn định và tạo “hòa bình” trong xã hội
Pháp luật bảo vệ NTD là một nhân tố quan trọng thể hiện sự tham gia của Nhà nước vào quan hệ xã hội này với tư cách là người quản lý nhằm bảo đảm sự bình đẳng và cân bằng lợi ích giữa các chủ thể Trên cơ sở những quy định của pháp luật bảo vệ NTD, các cơ quan Nhà nước, chính quyền trung ương và địa phương xác định được trách nhiệm, quyền năng của mình trong quá trình thực thi pháp luật, tránh lạm quyền; định ra các biện pháp đồng bộ để bảo vệ NTD; giúp Nhà nước thực hiện hiệu quả chính sách bảo vệ lợi ích của nhà sản xuất và người tiêu dùng; góp phần tạo sự ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế
Tóm lại, Pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD là cơ sở pháp lý để kịp thời ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp gây ảnh hưởng xấu đến NTD, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân kinh doanh và nâng cao ý thức tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NTD góp phần thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, sử dụng dịch vụ hiệu quả, tiết kiệm nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, bền vững Bảo vệ quyền lợi NTD không những là bảo vệ lợi ích của số đông mà còn làm cho xã hội được văn minh, công bằng hơn, chống lại sự lũng đoạn của những người sản xuất, kinh doanh không chân chính, ủng hộ những người sản xuất kinh doanh trung thực,
Trang 23chống lại sự cạnh tranh không lành mạnh, giúp cho kinh tế phát triển, mang lại ấm
no, hạnh phúc cho mọi người Bảo vệ quyền lợi NTD chính là bảo đảm sự phát triển mọi mặt của xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ văn minh
1.2.2 Khái niệm về cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng
“Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đã được xem xét ở mục 1.2.1 của luận văn này, phần này Luận văn tiếp tục tìm hiểu thế nào là cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Có rất nhiều quan điểm về cơ chế:
“Cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” của phương Tây, từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”12
Theo từ điển tiếng Việt13 thì “cơ chế” là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”
Có quan điểm cho rằng cơ chế là khái niệm lúc ban đầu được dùng trong kỹ thuật để chỉ nguyên tắc vận hành của một loại máy móc nào đó; cơ chế là phương thức liên hệ giữa các bộ phận, các yếu tố cấu thành hệ thống và nguyên tắc vận hành của hệ thống đó trong quá trình đi tới một mục tiêu nhất định
Như vậy có thể hiểu “Cơ chế là cách thức, phương thức hoạt động của một tập hợp các bộ phận, yếu tố có mối liên hệ với nhau nhằm hoàn thành một mục tiêu nhất định”
Trên tinh thần đó, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được hiểu là tổng
thể các quy tắc xử sự về cách thức, biện pháp, yếu tố có mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế
Có thể coi toàn bộ các yếu tố, biện pháp can thiệp, tác động do nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện từ phía nhà nước nhằm mục đích bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng trước các hành vi xâm hại của nhà sản xuất, kinh doanh chính là cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng pháp luật hay còn gọi
là cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Như vậy cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng phải bao gồm một hệ thống các yếu tố, biện pháp có mối liên hệ tác động qua lại; các yếu tố, biện pháp này là cần thiết và phải đủ để bảo đảm mục đích bảo vệ người tiêu dùng trước sự xâm hại của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh
12
xem thêm http://www.tuoitre.com.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=51848&ChannelID=119, 16/10/2004,
Cơ chế và con người
13
viện ngôn ngữ học-GS Hoàng Phê chủ biên.NXB Đà Nẵng.2004.tr.214
Trang 24dịch vụ, hàng hóa Cơ chế pháp lý bảo vệ NTD có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như các yếu tố về thể chế, chính sách, thiết chế, các biện pháp về tổ chức, xây dựng hệ thống thiết chế, các biện pháp kinh tế, hành chính, dân sự, nguồn lực để hỗ trợ, đảm bảo cho tính hiệu quả của mục đích bảo vệ NTD
Trên cơ sở của sự phân tích trên, thì cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng là một hệ thống bao gồm các bộ phận cơ bản sau:
Một là: Thể chế hay còn gọi là các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng Đây là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hành vi, cách
xử sự của các chủ thể trong quan hệ pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Các quy tắc này bao gồm các quy định về quyền của người tiêu dùng và tương ứng với quyền của người tiêu dùng là trách nhiệm của nhà sản xuất, kinh doanh và của nhà nước Các quy định về tổ chức và hoạt động của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Các quy định về trình tự thủ tục thực thi các quyền của người tiêu dùng Các quy định về biện pháp chế tài đối với người
có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Hai là: Thiết chế bao gồm nhà nước và các tổ chức xã hội Trong đó, Nhà
nước được tiếp cận ở nghĩa hẹp chỉ bao gồm hệ thống các cơ quan hành pháp và cơ quan xét xử Dựa trên những quy định, những quy tắc xử sự của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng, các cơ quan, tổ chức nằm trong thiết chế này tổ chức thực thi, đảm bảo sự tuân thủ thể chế của các chủ thể khác và tiến hành xử lý, áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với chủ thể có hành vi vi phạm Như vậy, thiết chế đảm bảo cho thể chế được áp dụng và đi vào cuộc sống, nếu không có các thiết chế - tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì những quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chỉ tồn tại trên giấy, không được thực hiện trong thực tế
Thiết chế -tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng gồm các nhóm
cơ quan chính sau:
- Cơ quan hành pháp được giao nhiệm vụ thực thi các hoạt động nhằm bảo
vệ người tiêu dùng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội như : thương mại, giáo dục, y tế, truyền thông, nông nghiệp, công nghiệp, môi trường
- Cơ quan tài phán như Toà án nhân dân các cấp, bao gồm Toà án nhân dân cấp huyện, Toà dân sự Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao
Trang 25- Các Hội bảo vệ người tiêu dùng, các tổ chức xã hội dân sự khác
Ba là: Các biện pháp bảo vệ (cách thức mà thiết chế sử dụng để bảo đảm cho
thể chế thực thi)
Các biện pháp bảo vệ này là cách thức, công cụ mà thiết chế sử dụng để bảo đảm cho việc thực thi thể chế của các chủ thể có nghĩa vụ trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD; Đảm bảo trong tính hiệu lực của thể chế và tính hiệu quả của các thiết chế, trong việc thực thi pháp luật Các điều kiện bảo đảm này bao gồm: Các biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính, biện pháp dân sự và cả biện pháp giáo dục
Có thể nói, ba yếu tố cấu thành trên đã tạo nên cơ chế pháp lý đủ khả năng và bảo vệ hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của NTD Nếu coi các quy phạm pháp luật
là “cỗ xe ngựa” của cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì các thiết chế tổ chức, thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chính là “người vận hành, điều khiển” của cỗ xe này, và các biện pháp bảo đảm chính là “chiếc roi”
mà “người vận hành, điều khiển” sử dụng để giữ cho “cỗ xe” luôn chạy đúng hướng
và về đến đích cần đến
Để bảo vệ có hiệu quả quyền lợi ích hợp pháp của NTD thì các yếu tố của cơ chế này phải đủ “khỏe”, phối hợp nhịp nhàng với nhau, hỗ trợ lẫn nhau, bộ phận này giúp bộ phận kia phát huy một cách tốt nhất khả năng của mình, tạo ra sự vận hành của cơ chế một cách thông suốt, hiệu quả Trong đó, thể chế phải đầy đủ, khả thi, không trùng lắp hay chồng chéo, nội dung rõ ràng, dễ hiểu, dễ áp dụng Còn thiết chế phải có đủ năng lực cần thiết cũng như việc lành mạnh hoá đội ngũ cán bộ
để đảm bảo việc thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Bên cạnh đó, các biện pháp bảo đảm đóng vai trò là yếu tố bôi trơn, nguồn lực phụ trợ góp phần không nhỏ trong việc tạo ra một cơ chế hoàn chỉnh trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.3 Nội dung pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2.3.1 Pháp luật về các quyền của người tiêu dùng
Pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trên thế giới là một lĩnh vực non trẻ so với lịch sử phát triển lâu đời của pháp luật của nền kinh tế thị trường Thuật ngữ người tiêu dùng cũng chỉ được sử dụng với tư cách là thuật ngữ pháp lý trong thời gian gần đây Chính vì thế, hầu như các quy định của pháp luật ghi nhận các quyền
cơ bản của người tiêu dùng chưa hề xuất hiện trước khi có lời phát biểu của J.F.Kennedy, tổng thống Hoa kỳ vào năm 1962 Tại phiên họp tại Thượng nghị viện Hoa kỳ ngày 15/3/1962, J.F.Kennedy là người đầu tiên đưa ra khái niệm về những
Trang 26quyền cơ bản của người tiêu dùng: “NTD theo định nghĩa, bao gồm toàn thể chúng
ta Họ là nhóm người đông đảo nhất, có ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng của hầu hết các quyết định về kinh tế, dù là của nhà nước hay tư nhân Vậy mà họ là nhóm người quan trọng độc nhất mà quan điểm của họ không được chú ý tới”14
Theo tuyên bố này, một số quyền cơ bản của NTD đã được đề cập đến, đó là quyền được an toàn; quyền được thông tin; quyền được lựa chọn và quyền được bày
tỏ quan điểm Và các quyền này của NTD ngày càng được phổ biến rộng rãi Qua quá trình hoạt động thực tiễn, tổ chức quốc tế người tiêu dùng (Consumers International viết tắt tiếng Anh là CI)15 và các tổ chức NTD các nước đã bổ sung thêm cho NTD bốn quyền cơ bản nữa Đó là: quyền được thoả mãn những nhu cầu
cơ bản; quyền được khiếu nại và bồi thường; quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng; quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững
Tuy nhiên, phải đến năm 1985 thì cộng đồng quốc tế mới khẳng định những quyền này bằng việc Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết khuyến khích Chính phủ các nước ban hành Đạo luật về bảo vệ NTD và công bố “ Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng”16 Đây là một tài liệu cơ bản có tính pháp lý quốc tế về bảo vệ NTD, chính các nguyên tắc này tạo cơ sở cho các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển xây dựng chính sách và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng cho mỗi quốc gia
Theo đó, các nguyên tắc cơ bản được nêu trong Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD gồm có 5 nguyên tắc chung sau đây 17:
1 Các Chính phủ cần phát triển, củng cố hoặc duy trì một chính sách tiêu dùng kiên định theo Bản hướng dẫn này Chính phủ các nước xác định rõ những hướng ưu tiên của nước mình trong việc bảo vệ người tiêu dùng tuỳ theo hoàn cảnh kinh tế - xã hội của nước mình và nhu cầu của nhân dân nước mình, đồng thời cần quan tâm đến chi phí và lợi ích của những biện pháp đề ra
2 Những nhu cầu hợp lý mà các nguyên tắc chỉ đạo nhằm đạt được là:
- Bảo vệ người tiêu dùng tránh được các mối nguy hiểm đối với sức khoẻ và phải được an toàn;
Trang 27- Khuyến kích bảo vệ quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng
- Thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn theo nhu cầu
và nguyện vọng cá nhân;
- Giáo dục người tiêu dùng;
- Thực hiện việc đền bù có hiệu quả cho người tiêu dùng;
- Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức tiêu dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình
ra quyết định có ảnh hưởng đến họ;
3 Chính phủ các nước cần phát triển, củng cố và duy trì đủ cơ sở hạ tầng để phát triển, thực hiện và tiến hành các chính sách bảo vệ người tiêu dùng Cần quan tâm đặc biệt đến việc bảo đảm sao cho các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện vì quyền lợi của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là dân cư vùng nông thôn
4 Mọi doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật và những quy định có liên quan của nước mà ở đó họ tiến hành kinh doanh Họ cũng phải tuân thủ những quy định của tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ người tiêu dùng mà nhà đại diện có thẩm quyền ở nước đó đã thoả thuận
5 Khi hoạch định các chính sách bảo vệ người tiêu dùng, cần chú ý tới vai trò tích cực, tiềm tàng của viện nghiên cứu ở các trường đại học, cũng như ở các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân
Như vậy, sau một thời gian dài tranh luận, hiện nay Liên Hiệp quốc và nhiều
nước trên Thế giới đã công nhận người tiêu dùng có tám quyền như sau:
1 Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản
Đây là quyền được tiếp cận với những hàng hoá, dịch vụ có chất lượng, đảm bảo an toàn, giá cả hợp lý để đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất của con người là ăn, mặc, ở, nước sạch, vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ, tinh thần và giáo dục
2 Quyền được an toàn
Là quyền được có những hàng hoá, dịch vụ an toàn, không gây nguy hiểm cho sức khoẻ, tính mạng hay làm tổn hại đến tinh thần.Người tiêu dùng không bị đe dọa bởi những nguy cơ trong quá trình sản xuất cũng như không bị thiệt hại trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ Quyền an toàn có ý nghĩa đặc biệt trong lĩnh vực vệ sinh thực phẩm Sự an toàn này phải đáp ứng cả trước mắt và lâu dài cho người sử dụng
3 Quyền được thông tin
Trang 28Người tiêu dùng phải được cung cấp những thông tin trung thực, chính xác
và đầy đủ về giá cả, chất lượng, số lượng, thành phần của dịch vụ, hàng hoá để có thể đưa ra quyết định hay lựa chọn một cách đúng đắn, khách quan, chính xác Quyền này còn bao gồm cả việc được bảo vệ chống lại các thủ đoạn dối trá, lừa đảo, các quảng cáo gian dối Đảm bảo tốt quyền được cung cấp thông tin sẽ giúp cho người tiêu dùng có được các dữ liệu, dữ kiện cần thiết cho việc lựa chọn
4 Quyền được lựa chọn
Trên cơ sở những thông tin được cung cấp, NTD có quyền lựa chọn hàng hoá, dịch vụ an toàn, phù hợp với khả năng và nhu cầu của bản thân về loại hình, chất lượng, giá cả của hàng hoá, dịch vụ Ngoài ra NTD phải được tiếp cận với các dịch vụ và hàng hóa đa dạng với chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh để thực hiện quyền lựa chọn của mình Để quyền này của NTD phát sinh hiệu lực trên thực tế thì phải làm tốt công tác chống độc quyền; kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh hay cạnh tranh không lành mạnh, lạm dụng vị thế thống lĩnh thị trường để áp đặt giá
5 Quyền được lắng nghe
Là quyền được bày tỏ ý kiến trong việc hoạch định các chủ trương chính sách có liên quan đến lợi ích của NTD, cả đối với cơ quan nhà nước và các tổ chức kinh doanh Quyền này bao gồm cả quyền được tham khảo ý kiến trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình đối với những vấn đề liên quan đến NTD
6 Quyền được khiếu nại và bồi thường
NTD có quyền khiếu nại, đòi bồi thường do những hành vi xâm phạm đến quyền lợi NTD, gây thiệt hại Quyền khiếu nại này được thực hiện trực tiếp đến cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoặc khởi kiện trước tòa án để đòi bồi thường thiệt hại
7 Quyền được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng
NTD được cung cấp những kiến thức về tiêu dùng, kỹ năng tiêu dùng, phong cách tiêu dùng lành mạnh và hợp lý để có thể chủ động và sáng suốt lựa chọn, để có được cuộc sống tiêu dùng hợp lý, có thể tự bảo vệ mình và góp phần vào sự phát triển sự văn minh của xã hội
8 Quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững
Đây là một quyền xuất phát từ quyền con người, NTD trước tiên là con người nên có quyền được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh, không bị đe dọa tới sức khoẻ, tính mạng bởi những yếu tố “ô nhiễm” xung quanh Môi trường
Trang 29sống lành mạnh, hạnh phúc này không những thế hệ hiện tại mà còn phải đảm bảo cho cả thế hệ tương lai
Sở dĩ NTD cần được pháp luật bảo vệ xuất phát từ mối quan hệ “bất bình đẳng” với các nhà sản xuất kinh doanh, chính từ quan hệ này quyền và lợi ích hợp pháp của NTD dễ bị xâm phạm bởi các nhà sản xuất, kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của họ Vì vậy, bên cạnh quyền của NTD thì không thể thiếu nghĩa
vụ của nhà sản xuất kinh doanh Chính họ là chủ thể quan trọng và trước hết có nghĩa vụ tôn trọng các quyền của NTD, có những động thái nhất định để đảm bảo quyền của NTD được thực thi
Có thể nói nghĩa vụ của nhà sản xuất kinh doanh phát sinh từ các quyền của NTD Nhà sản xuất phải có nghĩa vụ đăng ký, công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật và thực hiện đúng cam kết với NTD; phải thường xuyên kiểm tra về an toàn, chất lượng hàng hóa, dịch vụ để đảm bảo an toàn cho NTD trong quá trình tiêu dùng; thực hiện việc cân đo đong đếm chính xác Để NTD có thể sử dụng quyền được thông tin của mình thì người sản xuất kinh doanh phải thông tin, quảng cáo chính xác về hàng hoá dịch vụ; niêm yết giá hàng hoá dịch vụ; công bố điều kiện, thời hạn, địa điểm bảo hành và hướng dẫn sử dụng dịch
vụ hàng hoá của mình cho người tiêu dùng Nhà sản xuất, kinh doanh phải kịp thời giải quyết khiếu nại của NTD về hàng hóa dịch vụ của mình không đúng tiêu chuẩn, chất lượng, số lượng, giá cả đã công bố hoặc hợp đồng đã giao kết; thực hiện trách nhiệm bảo hành hàng hoá đối với khách hàng Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm lắng nghe, tiếp thu, nghiên cứu ý kiến của khách hàng, bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng theo quy định pháp luật
Tuy nhiên, ngoài các nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và các chủ thể khác thì NTD cũng có trách nhiệm và thực hiện các nghĩa vụ cần thiết để tự bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình
1.2.3.2 Các thiết chế thuộc cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Thiết chế với tư cách là một bộ phận cấu thành của cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng đóng một vai trò rất quan trọng trong hoạt động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Thiết chế ở đây bao gồm Nhà nước hay các tổ chức, cơ quan thuộc Nhà nước; các Hội bảo vệ NTD hay các tổ chức phi chính phủ khác
Nhà nước với tính cách là chủ thể của quyền lực công, Nhà nước có một hệ thống cơ quan được tổ chức từ Trung ương đến địa phương, hoạt động trong tất cả
Trang 30các ngành, lĩnh vực của đời sống xã hội, cùng với một đội ngũ nhân sự đông đảo, có trình độ, giàu kinh nghiệm thuận lợi cho công việc giám sát, kiểm tra, thanh tra quá trình thực hiện pháp luật của các chủ thể khác trong xã hội liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Hơn nữa, Nhà nước còn có công cụ cưỡng chế, đảm bảo thi hành thể chế được thực thi bằng nhiều biện pháp, chế tài từ thấp đến cao từ nhẹ đến nặng Bởi chính những lợi thế sẵn có của mình, mà các cơ quan, tổ chức Nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nhất là trong nền kinh tế thị trường hiện đại
Với vai trò là người thực thi pháp luật bảo vệ NTD, Nhà nước có nhiệm vụ đảm bảo mọi chủ thể tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về bảo vệ NTD; đảm bảo cạnh tranh, đảm bảo người kinh doanh và NTD không lợi dụng ưu thế của mình gây thiệt hại cho người khác Và việc giúp Nhà nước hoàn thành tốt vai trò này thuộc về các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực chuyên ngành Tương ứng với từng hoạt động có sự tham gia của NTD thì sẽ có một hoặc một số cơ quan Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều hành như: Cơ quan quản lý Nhà nước
về Thương mại; Cơ quan quản lý cạnh tranh; Quản lý về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng hàng hoá; Quản lý về an toàn vệ sinh thực phẩm; Quản lý về thông tin, quảng cáo; Cơ quan bảo vệ môi trường; Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Quản lý giá; Kiểm dịch động vật, thực vật; Quản lý việc khám chữa bệnh; Quản lý việc sản xuất kinh doanh thuốc đông dược, tân dược, thiết bị y tế; Các dịch vụ về giao thông vận tải,
du lịch
Nhằm thực hiện chức năng thực thi pháp luật Bảo vệ quyền lợi NTD, các cơ quan quản lý nói trên phải tiến hành thực hiện hàng loạt công việc như: tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về bảo vệ quyền lợi NTD, chính sách tiêu dùng hợp lý; chỉ đạo và phối hợp các hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân các cấp; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ về bảo vệ quyền lợi NTD; tuyên truyền, phổ biến pháp luật và những hiểu biết liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi NTD; hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ NTD; giải quyết khiếu nại, tố cáo của NTD; đặc biệt
là tiến hành kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nhằm phát hiện các hành vi vi phạm để xử lý vi phạm, đảm bảo sự tuân thủ triệt để pháp luật, duy trì một trật tự chung trong trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi NTD
Để thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình trong hoạt động bảo vệ quyền lợi
Trang 31NTD, các cơ quan Nhà nước cần nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn
mà quan trọng nhất là tinh thần trách nhiệm, tư cách đạo đức của đội ngũ công chức thực thi pháp luật Cải thiện tình trạng thiếu năng lực phản ứng của các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ NTD, phát huy hiệu lực và hiệu quả quản lý của các ngành các cấp trên cơ sở phối hợp chặc chẽ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống các tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD
Bên cạnh cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD thì cơ quan tài phán nói chung và hệ thống toà án nói riêng giữ một vai trò, vị trí hết sức đặc biệt Bởi lẽ khi NTD bị thiệt hại đến kinh tế, sức khoẻ, tính mạng do các hành vi vi phạm pháp luật người tiêu dùng gây ra, thì Toà án, với chức năng xét xử sẽ tuân theo một trình tự, thủ tục hết sức chặt chẽ, và nhân danh nhà nước và pháp luật để xử lý Các chế tài được áp dụng cho các đối tượng xâm phạm lợi ích người tiêu dùng trong nhiều trường hợp là rất nghiêm khắc, có tính răn đe, giáo dục cao, bao gồm chế tài dân sự, hành chính và cả chế tài hình sự Quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành được đảm bảo thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế, vì vậy đạt hiệu quả cao trong việc bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng Trong những trường hợp cần thiết trước khi vụ kiện được đưa ra xét xử, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ ngay các lợi ích cấp bách của đương sự Đồng thời, Tòa hành chính cũng có vai trò nhất định bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc xem xét các hành vi hành chính, quyết định hành chính của người có thẩm quyền xử
lý các hành vi xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng bị khởi kiện tại Tòa hành chính
Để các cơ quan Nhà nước nói trên thực hiện tốt chức năng quản lý của mình, đảm bảo các quyền hợp pháp của NTD không bị xâm phạm thì đòi hỏi các bộ phận cấu thành của thiết chế này phải tiến hành đồng bộ các biện pháp, cách thức, cần phối hợp, hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện Tuy nhiên cũng cần phân định rõ công việc, trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan tổ chức, tránh mâu thuẫn, chồng chéo, đùn đẩy, tắc trách dẫn đến việc không bảo vệ đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của NTD, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trật tự xã hội
Một số tổ chức nữa cũng được xem là một trong những bộ phận thuộc thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD Các tổ chức này bao gồm Hiệp hội bảo vệ NTD, các tổ chức xã hội dân sự được thành lập không nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp hay tư pháp Tuy nhiên, mục đích của sự ra đời và tôn chỉ hoạt động của các tổ chức này là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NTD, giúp đỡ, hỗ trợ NTD thực hiện có hiệu quả các quyền của NTD đã
Trang 32được Liên Hợp Quốc cũng như pháp luật của rất nhiều quốc gia công nhận
Có thể nói đây là những tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động không vì mục tiêu kinh doanh, được thành lập để bảo vệ và thúc đẩy quyền và lợi ích của NTD bằng cách hỗ trợ từng cá nhân cũng như một tập thể NTD Chúng là những tổ chức xã hội (hội) được thành lập trên cơ sở tự nguyện, mang tính cộng tác của các thành viên trong tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp Hoạt động chủ yếu của hội bao gồm công tác thông tin và hướng dẫn, giáo dục NTD nhằm trang bị cho NTD những thông tin và kiến thức cần thiết để họ có thể quyết định sự lựa chọn một cách hợp lý về tiêu dùng, kỹ năng tiêu dùng, có đủ trình độ để tự bảo vệ mình; Cảnh báo cho họ những thông tin về thị trường như hàng nhái, hàng giả, những vấn đề về an toàn thực phẩm, những thủ đoạn gian lận trên thị trường (gian lận thương mại, hàng kém chất lượng ); Tham gia đóng góp ý kiến về các chính sách pháp luật có liên quan đến quyền lợi NTD; Đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực làm hại đến quyền lợi NTD thông qua việc phối hợp với các cơ quan chức năng nhà nước, cơ quan thông tin đại chúng phát hiện những tiêu cực trên thị trường như thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an toàn, quảng cáo khoa trương, hàng nhái, hàng giả ; Giúp đỡ NTD giải quyết khiếu nại trong giao dịch mua bán, sử dụng hàng hoá, dịch vụ; Tư vấn cho NTD các vấn đề liên quan đến pháp luật bảo vệ NTD; Thay mặt NTD khởi kiện các nhà sản xuất, kinh doanh xâm phạm đến quyền lợi NTD vì lợi ích chung của xã hội
Hiện nay, hầu hết ở mỗi quốc gia đều có ít nhất một tổ chức bảo vệ NTD với tính cách là tổ chức phi chính phủ, các tổ chức này hoạt động tương đối có hiệu quả
và đều là thành viên của tổ chức Quốc tế NTD tổ chức Quốc tế NTD (CI) là một liên minh các tổ chức NTD trên toàn thế giới hoạt động trên nguyên tắc phối hợp với các hội thành viên và là tiếng nói độc lập của NTD trên toàn thế giới Nhiệm vụ chính của CI là tạo lập một phong trào NTD trên thế giới đủ lớn mạnh để bảo vệ tốt hơn nữa quyền lợi của NTD trên toàn thế giới đồng thời củng cố ảnh hưởng của họ đến các quyết sách kinh tế ở mọi nơi trên thế giới Quốc tế NTD hướng tới một thế giới trong đó mọi NTD được có những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đảm bảo an toàn, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi hợp pháp đồng thời tận dụng sức mạnh tập thể của mình để hành động vì lợi ích của NTD trên phạm vi toàn thế giới Quốc tế NTD hướng tới một xã hội công bằng, trung thực thông qua việc bảo vệ quyền của mọi NTD, những NTD nghèo, người bị gạt ra ngoài lề xã hội và những người bị thiệt thòi, thông qua việc hỗ trợ và tăng cường năng lực cho các tổ chức thành viên
Trang 33và phong trào NTD nói chung và đấu tranh ở phạm vi quốc tế cho những chính sách
có liên quan đến NTD Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay, CI nhận thức rõ rằng nhu cầu đứng lên tự bảo vệ mình của NTD trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Chính vì vậy, sự hiện đại hóa, quốc tế hóa phong trào của CI là hết sức cần thiết để đảm bảo một tương lai bền vững và cân bằng cho NTD trong hoàn cảnh mà thị trường thế giới ngày càng bị thống lĩnh bởi các doanh nghiệp đa quốc gia
1.2.3.3 Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Các biện pháp bảo vệ quyền lợi NTD là phương thức tác động, là cách thức thực hiện nhằm giảm thiểu những nguy cơ có thể xảy ra, ngăn chặn những hành vi đang xảy ra và xử lý những vi phạm đã xảy ra liên quan đến quyền lợi NTD Có rất nhiều biện pháp bảo vệ quyền lợi NTD, căn cứ vào hình thức chịu trách nhiệm và đối tượng tác động ta có các biện pháp cơ bản sau: Biện pháp dân sự, biện pháp kinh tế, biện pháp hành chính, biện pháp hình sự, biện pháp giáo dục Tùy thuộc vào đối tượng, tính chất, mức độ vi phạm của mỗi hành vi mà áp dụng biện pháp thích hợp Cũng có thể đồng thời cùng một lúc sử dụng nhiều biện pháp tác động lên chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật BVQLNTD để bảo đảm một cách cao nhất tính hiệu quả của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Mỗi biện pháp có những đặc thù riêng theo đó:
Biện pháp hình sự là việc áp dụng các chế tài hình sự cũng như trình tự thủ
tục của pháp luật hình sự để giải quyết, xử lý hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD Trong đó, đại diện cho chế tài hình sự là hình phạt: cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn, tù chung thân, tử hình…Do chế tài hình sự mang tính nghiêm khắc cao, chủ yếu tác động đến nhân thân, tự do thân thể, tính mạng của con người, do vậy việc áp dụng chỉ do tòa án mới có thẩm quyền
Biện pháp hành chính là việc áp dụng các chế tài hành chính đối với các
hành vi vi phạm các quy định quản lý Nhà nước, liên quan đến hoạt động BVQLNTD của tổ chức, cá nhân mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự,
và theo quy định của pháp luật là vi phạm hành chính Việc áp dụng và thực hiện biện pháp hành chính thông qua các quyết định hành chính, theo trình tự thủ tục hành chính và do cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền thực hiện Đặc trưng của chế tài hành chính là xử phạt hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả:
xử phạt, tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; tịch thu tang vật, phương tiện; buộc khôi phục, buộc tiêu hủy sản phẩm độc hại, nguy hiểm, buộc chấm dứt hành vi vi phạm
Trang 34Biện pháp dân sự là cách thức bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của NTD khi
quyền lợi bị xâm phạm trong mối quan hệ dân sự với các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Khi quyền lợi của mình bị xâm phạm, NTD có thể tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ bằng cách buộc tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm: chấm dứt hành vi vi phạm; xin lỗi, cải chính công khai; thực hiện nghĩa vụ dân sự; bồi thường thiệt hại Các yêu cầu nhằm bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân nói trên có thể được thực hiện thông qua phương thức thỏa thuận, hòa giải hoặc khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền Có thể nói yêu cầu buộc bồi thường thiệt hại là cách thức bảo vệ NTD tương đối hiệu quả trong các biện pháp dân sự, bởi lẽ nó đánh vào tài sản của tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm và
bù đắp, khôi phục một phần hoặc toàn bộ những thiệt hại mà NTD phải gánh chịu
Để việc áp dụng biện pháp dân sự có hiệu quả mà tiêu biểu là phương thức khởi kiện đòi BTTH, yêu cầu đặt ra là cần thiết lập một hệ thống tòa án dễ tiếp cận và pháp luật tố tụng dễ sử dụng với NTD
Biện pháp kinh tế là việc dùng các lợi ích kinh tế nhằm kích thích, khuyến
khích, động viên các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các chủ thể khác trong hoạt động của mình, tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của NTD, tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật về BVQLNTD Biện pháp kinh tế có thể được thực hiện thông qua chính sách ưu đãi đầu tư, tài chính
Biện pháp giáo dục là biện pháp khá quan trọng trong việc tác động đến tư
duy, làm thay đổi nhận thức của NTD, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD Trên cơ sở nhận thức đúng đắn quyền lợi ích hợp pháp của NTD, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc các chủ thể tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho đúng đắn với quy định của pháp luật, phù hợp với chuẩn mực đạo đức kinh doanh Đây là biện pháp tuy tốn không ít thời gian và tiền bạc, nhưng là biện pháp mà tất cả các chủ thể đều có thể
áp dụng được
Để hoạt động BVQLNTD có hiệu quả, pháp luật cần can thiệp bằng nhiều biện pháp khác nhau để có thể tác động đến nhiều mặt, nhiều đối tượng trong nhiều mối quan hệ khác nhau Trong đó, mối quan hệ quản lý nhà nước giữa tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và Nhà nước thì biện pháp hành chính và hình sự là công
cụ cần thiết Tuy nhiên, bản chất của mối quan hệ giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh là quan hệ pháp luật dân sự, do vậy cần đặc biệt lưu ý đến biện pháp dân sự này để giải quyết thỏa đáng quyền lợi của NTD
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU
DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam
Trước khi bước vào đổi mới, do duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mà theo đó, hệ thống phân phối theo chế độ tem phiếu đã thủ tiêu bản chất của quan hệ trao đổi theo quy luật giá trị và cung cầu nên trong xã hội không hình thành quan hệ mua bán Mà không có quan hệ mua bán thì sẽ không có quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất kinh doanh, không phát sinh nhu cầu phải bảo vệ quyền lợi NTD Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi của NTD chưa được chú trọng trong thời kỳ này là tất yếu, xuất phát từ tính lịch sử của nhận thức về quyền lợi NTD trong việc điều chỉnh của pháp luật Việt Nam gắn liền với những nguyên nhân khách quan nhất định
Công cuộc đổi mới kinh tế (từ tháng 12-1986) đã dẫn đến sự thay đổi và hình thành mới của hàng loạt các mối quan hệ xã hội, mà đặc biệt là quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ với một bên
là người bỏ tiền ra mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng của
cá nhân, gia đình và tổ chức đã được xác lập Người bán cần người mua để tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm của mình và kiếm lợi nhuận, ngược lại, người mua cũng cần mua được những sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hợp lý nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao Xuất phát từ mối quan hệ này, vấn đề người tiêu dùng và bảo vệ quyền lợi NTD được đặt ra và ngày càng trở nên cấp bách hơn khi sự phát triển của nền kinh tế thị trường và sự hội nhập sâu rộng vào khu vực kinh tế thế giới
Tuy nhiên, mãi đến năm 1992, bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng mới trở thành một nội dung mang tính hiến định và được ghi nhận tại Điều 28, Hiến pháp
1992 "Nhà nước có chính sách bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và quyền lợi của người tiêu dùng Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh bất hợp pháp, mọi hành vi phá hoại nền kinh tế quốc dân làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật" Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc hiến định về bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của NTD, ngày 27/04/1999, UBTVQH đã ban hành Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu
Trang 36dùng Vì nhiều lý do khác nhau, mãi đến năm 2001 Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD mới được hướng dẫn thi hành chi tiết bởi Nghị định số 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 của Chính phủ, hiện nay Nghị định số 69/2001/NĐ-CP được thay thế bằng Nghị định số 55/2008/NĐ-CP ngày 24/4/2008 Như vậy, sự xuất hiện của Pháp lệnh là không sớm so với nhu cầu BVQLNTD, bên cạnh đó những quy định còn mang tính “khẩu hiệu”, chưa thật sự có giá trị sử dụng để bảo vệ triệt để NTD khi quyền lợi họ bị xâm hại18 Tuy nhiên, sự ra đời của Pháp lệnh BVQLNTD đã đánh dấu một bước tiến dài của nhận thức trong lĩnh vực lập pháp nói riêng và của
xã hội nói chung về mối quan hệ dân sự giữa NTD và nhà sản xuất, kinh doanh Ngoài ra, Pháp lệnh BVQLNTD là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của NTD, trách nhiệm của các ngành, các cấp chính quyền, trách nhiệm của nhà sản xuất, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi NTD; là chất xúc tác cho sự xuất hiện của hàng loạt các văn bản pháp quy khác về bảo vệ NTD Từ sau khi Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD được ban hành, công tác bảo vệ quyền lợi NTD đã có những chuyển biến tích cực, quyền lợi của người tiêu dùng được tiếp tục được bảo vệ trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau, chủ yếu trong các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động cung ứng hàng hóa, dịch vụ đơn giản, phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày
Năm 1999, Luật Doanh nghiêp ra đời cùng với quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh được mở rộng, điều này đã làm cho thị trường hàng hóa, dịch vụ phát triển một cách đáng kinh ngạc Nhưng song hành với sự phong phú, đa dạng của sản phẩm, của các nhà cung cấp dịch vụ là quyền lợi của NTD bị vi phạm Một yêu cầu đặt ra là phải đảm bảo trật tự chung của xã hội, giữ vững sự an toàn cho nền kinh tế, ngăn chặn những hành vi gian dối của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh về chất lượng, số lượng giá cả hàng hóa, quảng cáo, khuyến mại và bảo vệ sức khỏe, tính mạng, tài sản NTD Nhà nước vì thế đã tiến hành sửa đổi, bổ sung, ban hành mới rất nhiều văn bản pháp luật trong nhiều lĩnh vực liên quan như: Pháp lệnh chất lượng hàng hóa năm 1999 (nay được thay thế bởi Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa ngày 21/11/2007); Pháp lệnh đo lường năm 199919; Pháp lệnh
về Bảo vệ và kiểm dịch thực vật ngày 25/7/2001; Pháp lệnh về Quảng cáo ngày 16/11/2001; Pháp lệnh Giá ngày 10/5/2002; Pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày 26/7/2003; Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về
18
Tính thiếu khả thi của Pháp lệnh BVQLNTD sẽ được phân tích, chứng minh ở phần sau
19
Hai Pháp lệnh này thay thế cho Pháp lệnh chất lượng hàng hóa năm 1990 và Pháp lệnh đo lường năm 1999
vì chúng tỏ ra không còn phù hợp với tình hình mới
Trang 37nhãn hàng hóa Và hàng loạt các Nghị định hướng dẫn thi hành liên quan như: Nghị định số 06/2002/NĐ-CP ngày 14/01/2002 quy định chi tiết Pháp lệnh Đo lường; Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Giá; Nghị định số 24/2003/NĐ-CP ngày 13/3/2003 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Quảng cáo; Nghị định số 163/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 qui định chi tiết một số điều của Pháp lệnh VSATTP; Nghị định số 179/2004/NĐ-
CP ngày 21/10/2004 quy định quản lý nhà nước về chất lượng, sản phẩm, hàng hóa; Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt
vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định số 126/2005/NĐ-CP ngày 10/10/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 95/2007/NĐ-CP ngày 4/6/2007); Nghị định số 106/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 129/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y; Nghị định số 45/2005/NĐ-CP ngày 6/4/2005 của Chính phủ về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại; Nghị định số 169/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá; Nghị định số 26/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật…Tất cả các văn bản trên đây đều có nội dung về bảo vệ lợi ích người tiêu dùng
Cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trong nền kinh tế thị trường trong sự hội nhập quốc tế, mối quan hệ giữa NTD và nhà sản xuất kinh doanh càng phức tạp, nguy cơ bị “tổn thương” của NTD càng cao Để bảo vệ NTD tốt hơn trước hành vi xâm phạm ngày càng tinh vi, đa dạng của các chủ thể kinh doanh đa quốc gia, Nhà nước đã bổ sung, điều chỉnh, ban hành thêm nhiều đạo luật mới, cũng như nâng cao tính hiệu lực của những văn bản pháp quy sẵn có để điều chỉnh “thái độ” của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ đối với quyền lợi NTD Trong đó, phải kể đến Luật cạnh tranh 2004, đây là một trong những đạo luật có ảnh hưởng gián tiếp nhưng tích cực và hiệu quả đến quyền lợi NTD Bởi Luật cạnh tranh đã ngăn chặn tác động tiêu cực của các hành vi hạn chế cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường, làm phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp và NTD; Luật Thương mại
Trang 382005; Bộ luật Dân sự 2005; Luật Bảo vệ môi trường 2005; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật ngày 29/6/2006; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa ngày 12/11/200720 Ngoài ra, quyền lợi NTD còn được bảo vệ ở văn bản pháp lý có tính răn đe rất lớn với hình phạt khá nghiêm khắc, đó là Bộ Luật Hình sự năm 2000
Nhìn chung, Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được hình thành tương đối muộn trong hệ thống và đời sống pháp luật của Việt Nam, điều này cũng dễ dàng lý giải tại sao? Tất cả đều xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, vấn đề NTD và BVQLNTD chỉ được đặt ra trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Nhưng so với các nước trong khu vực thì không có khoảng cách về thời gian: Thái lan có Luật bảo vệ NTD năm 1979, Trung Quốc năm 1994, còn Malaysia và Inđônesia ban hành Luật bảo vệ NTD năm 1999 Còn các nước có nền kinh tế thị trường đã phát triển hàng trăm năm, thì ban đầu cũng chưa có đạo luật riêng nào được ban hành nhằm mục đích bảo vệ NTD, mà giải quyết vấn đề bảo vệ NTD trên cơ sở của pháp luật dân sự, pháp luật cạnh tranh (phần về cạnh tranh không lành mạnh) Ví dụ như Luật về thị trường của Thụy Điển và của Đan Mạch; Luật về hành vi trong cạnh tranh và thông tin đối với NTD của Bỉ; Luật về chống cạnh tranh không lành mạnh của Cộng hòa liên bang Đức, của Áo và của Hy Lạp (27/01/1914)21
Về phương diện kỹ thuật lập pháp, tuy đã có riêng một văn bản pháp luật độc lập về BVQLNTD, đó là Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD ngày 27/4/1999, nhưng các quy định có liên quan đến BVQLNTD của pháp luật Việt Nam vẫn còn nằm rải rác ở rất nhiều văn bản và ngành luật khác nhau Có thể xem Pháp lệnh BVQLNTD
là những điều khoản tổng quát, việc bảo vệ NTD sẽ được bổ sung và hoàn thiện thông qua các quy định của pháp luật về cạnh tranh, quảng cáo, an toàn vệ sinh thực phẩm, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Về góc độ này thì pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam tương đồng với pháp luật của nhiều quốc gia trên Thế giới Cộng hòa liên bang Đức không tồn tại một đạo luật về bảo vệ NTD, Pháp luật về BVQLNTD ở đây là tập hợp các quy phạm từ các đạo luật như: Luật dược, Luật về khám chữa bệnh, Bộ luật dân sự, Luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh 2004, Luật về hợp đồng bảo hiểm, Bộ luật thương mại, Luật về quảng cáo dược phẩm, Luật đầu tư và Luật về vi phạm hành chính Hoa Kỳ thì có một hệ thống các văn bản pháp luật bảo vệ NTD như Luật bảo hộ tín dụng tiêu dùng, Luật
Trang 39An toàn hàng hoá tiêu dùng, Luật về nghĩa vụ đóng bao bì bảo đảm tránh sự thâm nhập của chất độc hại, Luật cấm dùng các chất gây hại sức khoẻ con người Còn Malaysia, ngoài Luật bảo vệ NTD có hiệu lực ngày 15/11/1999 thì một loạt các văn bản pháp quy chuyên ngành được sử dụng để bảo vệ NTD: Luật bán hàng trực tiếp
1993, Luật về chất lượng môi trường 1974, Luật về thực phẩm 1993, Luật về thuốc
y tế ( quảng cáo và bán hàng) 1956, Luật thương mại 1972
Như vậy, tuy ra đời muộn, nhưng sự hiện diện của hệ thống các văn bản pháp luật này là hành lang pháp lý quan trọng trong việc BVQLNTD Việt Nam, lợi ích của xã hội và các chủ thể khác Là bước đi quan trọng đánh dấu sự phát triển của tư duy, nhận thức về mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh doanh và quyền được bảo vệ của NTD
2.2 Thực trạng pháp luật về cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ bảo vệ người tiêu dùng
2.2.1.1 Các quyền của người tiêu dùng
1 Quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ
Người tiêu dùng có quyền sử dụng và lựa chọn sản phẩm, dịch vụ an toàn, chất lượng, giá cả phải chăng phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và gia đình Hiện nay, NTD Việt Nam có nhiều cơ hội để thực hiện quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ của mình, vì trên thị trường đã có mặt rất đa dạng của nhiều chủng loại hàng hóa của nhiều nhà sản xuất đến từ nhiều quốc gia khác nhau Tuy nhiên, để thực hiện trọn vẹn quyền lựa chọn của mình, NTD đang phải đối đầu với vấn đề về thông tin hàng hóa, về kiến thức tiêu dùng cũng như một số sản phẩm vẫn thuộc lĩnh vực độc quyền của một hoặc một số công ty, tập đoàn Nhà nước Ta cũng có thể thấy quyền lựa chọn này được đảm bảo thông qua các quy định về chống hạn chế cạnh tranh, chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong Luật cạnh tranh ngày 3/12/2004; Pháp lệnh quảng cáo ngày 16/11/2001 và trong rất nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan
2 Quyền được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ
Có thể nói đây là quyền có mối quan hệ mật thiết và tương trợ cho quyền lựa chọn của NTD NTD có quyền được biết tất cả những thông tin cần thiết về hàng hóa và dịch vụ mà họ sẽ mua hoặc đang sử dụng Trên cơ sở những thông tin đó, NTD mới có thể tự quyết định, lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với túi tiền, sức
Trang 40khỏe, nhu cầu và mục đích của mình Việc không cung cấp thông tin, cung cấp không đầy đủ hoặc sai lệch nhằm làm cho NTD nhầm lẫn trong việc lựa chọn hàng hóa, dịch vụ đều là hành vi vi phạm quyền được thông tin của NTD Nội dung thông tin cho NTD được thể hiện thông qua việc dán nhãn hàng hóa; qua lời giới thiệu hàng hóa, dịch vụ của người bán, và/hoặc bởi các tờ hướng dẫn sử dụng kèm theo sản phẩm hay thông tin trong quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng
Đây là một quyền khá quan trọng trong các quyền của NTD Bởi lẽ, trong thời đại thông tin và tri thức hiện nay, thông tin là sức mạnh định hướng hành vi con người, ai nắm được thông tin càng nhanh và càng chính xác người đó sẽ chiếm
ưu thế Mà NTD trong mối quan hệ với nhà sản xuất, kinh doanh là mối quan hệ bất tương xứng về thông tin Chính vì vậy, Pháp lệnh BVQLNTD đã cho phép NTD được cung cấp các thông tin trung thực về chất lượng, giá cả, phương pháp sử dụng hàng hóa, dịch vụ bởi cá nhân tổ, chức sản xuất, kinh doanh Liên quan đến quyền được cung cấp thông tin của NTD thì, “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó; nếu bên bán không thực hiện nghĩa vụ này, thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán phải thực hiện và nếu bên bán vẫn không thực hiện, thì bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại”22, và thông tin đó phải chính xác, trung thực
“Thông tin quảng cáo về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ phải bảo đảm trung thực, chính xác, rõ ràng, không gây thiệt hại cho người sản xuất, kinh doanh
và người tiêu dùng”23 Điều 17, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho phép NTD: “Được cung cấp thông tin trung thực về mức độ an toàn, chất lượng, hướng dẫn vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng sản phẩm, hàng hóa; Được cung cấp thông tin về bảo hành, khả năng gây mất an toàn của hàng hóa và cách phòng ngừa ” Điều 7 Pháp lệnh VSATTP cho phép “NTD có quyền được thông tin về VSATTP, và lựa chọn, sử dụng thực phẩm thích hợp”
Một văn bản pháp luật quan trọng nữa có liên quan trực tiếp đến quyền được thông tin của NTD đó là Quy chế ghi nhãn hàng hóa được ban hành kèm theo Quyết định số 178/1999/QĐ-TTg ngày 30/8/1999, nay được thay thế bằng Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 về Nhãn hàng hóa Tại Điều 11, Điều 12 Nghị định về nhãn hàng hóa nói trên buộc nhà sản xuất, kinh doanh phải đưa những thông tin bắt buộc sau lên nhãn hàng hóa để NTD có thể đọc được Trong trường