Ở Việt Nam có hơn 1,3 triệu hộ kinh doanh đang đăng ký hoạt động, song không được xem như một loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp vì nó có những đặc thù riêng về q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
CHÂU PHỤNG CHI
HỘ KINH DOANH THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ĐỊNH HƯỚNGHOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật Kinh tế Mã số:60.38.50
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Thị Bích Thọ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2008
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi, Châu Phụng Chi, xin cam đoan những nội dung trong luận văn này kết quả của quá trình nghiên cứu của bản thân, không sao chép từ các công trình của tác giả khác Các ý kiến, khái niệm có ý nghĩa khoa học tham khảo từ các tài liệu khác đã được chú dẫn và liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học nhà trường
về những nội dung trên
Trang 3BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘ KINH DOANH 7
1.1 Quá trình hình thành và phát triển hộ kinh doanh 7
1.1.1 Nguồn gốc xã hội 7
1.1.2 Nguồn gốc lịch sử 7
1.2 Chế định hộ kinh doanh qua các quy định của pháp luật 10
1.2.1 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Nghị định 119/CP ngày 09/04/1980 của Hội đồng Bộ trưởng 10
1.2.2 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Nghị định 66/HĐBT ngày 2/03/1992 của Hội đồng Bộ trưởng 11
1.2.3 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Luật Doanh nghiệp 1999, Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 và Nghị định 109/2004/NĐ-CP ngày 02/04/2004 của Chính phủ 13
1.2.4 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/08/2006 của Chính phủ 16
1.3 Bản chất pháp lý của hộ kinh doanh 18
1.3.1 Chủ thể thành lập hộ kinh doanh 19
1.3.2 Hình thức tổ chức họat động của hộ kinh doanh 21
1.3.3 Trách nhiệm tài sản của hộ kinh doanh 23
1.3.4 Quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh 26
1.3.4.1 Quyền của hộ kinh doanh 26
1.3.4.2 Nghĩa vụ của hộ kinh doanh 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH 31
2.1 Sự gia nhập thị trường của hộ kinh doanh 31
2.1.1 Vai trò của hộ kinh doanh trên thị trường 31
2.1.2 Thủ tục gia nhập và rút khỏi thị trường của hộ kinh doanh 31
2.2 Quản lý Nhà nước về hộ kinh doanh 35
2.2.1 Vai trò của cơ quan ĐKKD 36
2.2.2 Cơ chế kiểm tra sau ĐKKD đối với hộ kinh doanh 37
2.3 Thực trạng hoạt động của hộ kinh doanh 39
2.3.1 Hoạt động của hộ kinh doanh trên thị trường 39
2.3.2 Thực trạng chấp hành pháp luật của hộ kinh doanh 40
Trang 52.3.3 Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên 44
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH Ở VIỆT NAM 47
3.1 Một số quan điểm định hướng về hộ kinh doanh 47
3.2 Chuyển quy chế hộ kinh doanh thành doanh nghiệp 51
3.2.1 Cơ sở kinh tế 51
3.2.2 Cơ sở pháp lý 54
3.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chuyển đổi thành doanh nghiệp 58
3.2.4 Cơ chế chuyển đổi 60
3.3 Nghiên cứu chuyển đổi Luật Doanh nghiệp thành Luật chủ thể kinh doanh 64
3.3.1 Cơ sở lý luận 64
3.3.2 Cơ sở thực tiễn 68
KẾT LUẬN 74
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ Hoà vào xu hướng chung đó, nền kinh tế Việt Nam đã chuyển đổi từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước
Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ và hàng loạt và bao giờ cũng bắt đầu bằng đổi mới về tư duy, nhận thức đến việc tổ chức và quản lý, đó là một quy luật đã được khẳng định về mặt lý luận và cả thực tiễn
Cho đến nay, chúng ta đã có một hệ thống pháp luật kinh doanh khá đầy đủ điều chỉnh toàn bộ quá trình từ hình thành cho đến khi rút ra khỏi thị trường của các đơn vị kinh tế Tuy nhiên, nếu xét một cách khách quan, hệ thống pháp luật kinh doanh vẫn còn nhiều bất cập, đặc biệt là những quy định mang tính chất phân biệt đối xử một cách bất hợp lý giữa các chủ thể kinh doanh Luật Doanh nghiệp 2005 được ban hành trong bối cảnh hiện nay được xem như là một trong những giải pháp bản lề trong tiến trình cải thiện hệ thống pháp luật kinh doanh Việt Nam Song bên cạnh các loại hình doanh nghiệp được quy định và điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp, nền kinh tế và pháp luật Việt Nam vẫn thừa nhận sự tồn tại song song với các loại hình doanh nghiệp hình thức kinh tế cá thể hay còn gọi là hộ kinh doanh Ở Việt Nam có hơn 1,3 triệu hộ kinh doanh đang đăng ký hoạt động, song không được xem như một loại hình doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp vì nó có những đặc thù riêng về quá trình hình thành và phát triển, cũng như những đặc điểm pháp lý riêng mà pháp luật quy định để điều chỉnh và quản lý việc hoạt động của loại hình này
Vấn đề đặt ra là, trong xu thế kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế được đặt lên hàng đầu, khả năng mở rộng thị trường, nâng cao năng lực kinh doanh đang là nhu cầu cấp thiết mang tính sống còn của các thành phần kinh tế thì hơn
Trang 71.3 triệu hộ kinh doanh trong cả nước cũng không đứng ngoài xu thế đó, nếu muốn tồn tại và phát triển
Tuy nhiên, khi nghiên cứu các quy định của pháp luật về hộ kinh doanh sẽ nhận thấy một thực trạng là các hộ kinh doanh thực tế đã hoạt động ngoài khuôn khổ quy định của pháp luật cả về quy mô, tính chất lẫn hình thức Thách thức đặt ra với các nhà nghiên cứu, các nhà làm luật và các nhà quản lý là phải xem xét lại một cách toàn diện địa vị pháp lý của loại hình này để từ đó có những quy định pháp luật thích hợp; đồng thời có những giải pháp thích hợp cho hàng loạt các vấn đề đặt ra như tại sao các hộ kinh doanh vẫn còn hoạt động mang tính tự phát; quy định nào để quản lý tốt và giải pháp nào để các hộ kinh doanh hoạt động có định hướng và hiệu quả
Trước tình hình đó, cũng như được sự chấp thuận của Hội đồng Khoa học
trường Đại học Luật Tp.HCM, tác giả chọn đề tài “Hộ kinh doanh – thực trạng pháp
luật và định hướng hoàn thiện” làm đề tài luận văn với mong muốn đóng góp một số
ý kiến cho việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
Hộ kinh doanh là một chế định được quy định Nghị định 88/2006/NĐ-CP của Chính phủ về ĐKKD, so với các loại hình doanh nghiệp như công ty cổ phần, công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân thì hộ kinh doanh chiếm một vị trí khiêm tốn trong luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Từ đó, dẫn đến việc hộ kinh doanh chưa được sự quan tâm đúng mực so với vai trò của nó
Thời gian qua, hộ kinh doanh ở Việt Nam được nghiên cứu nhiều ở góc độ kinh
tế, ngoài những giáo trình về kinh tế, còn có một số bài viết ở dạng tham luận, trao đổi
ý kiến về lược sử phát triển của hộ kinh doanh, về khả năng cạnh tranh của hộ kinh doanh khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng như một số bài viết nêu vấn đề xem xét về khả năng tồn tại của hộ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bao gồm bài viết của tác giả Việt Anh “chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp” đăng trên tạp
Trang 8chí thuế số tháng 1/2008, bài viết của Bộ công thương “khuyến khích hộ kinh doanh cá thể chuyển thành doanh nghiệp”, v.v… Đặc biệt, có dự án “nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo” được thực hiện bởi Viện nghiên cứu kinh tế trung ương và Ngân hàng phát triển Châu Á, trong đó nghiên cứu khá nhiều đến hình thức hộ kinh doanh ở Việt Nam Bên cạnh đó, còn có tài liệu hội thảo nước ngoài viết về hộ kinh doanh ở Việt Nam của tác giả Kim Korinek (đồng tác giả) Ngoài ra, còn có nghiên cứu của tác giả Wim P M Bijverberg thuộc nhóm nghiên cứu kinh tế thuộc Ngân hàng Thế giới viết về hộ kinh doanh ở Việt Nam dưới góc độ chính sách vĩ mô
Tuy nhiên, lĩnh vực pháp luật về hộ kinh doanh thì ít được quan tâm hơn, các vấn đề liên quan đến pháp luật đối với hộ kinh doanh chiếm một phần nhỏ trong các tài
liệu nghiên cứu về Luật Doanh nghiệp như báo cáo tổng hợp nghiên cứu rà soát các
văn bản pháp luật về thành lập, tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp với các tư tưởng chỉ đạo xây dựng luật doanh nghiệp thống nhất và luật đầu tư chung của VCCI, tổng hợp các phân tích đánh giá và bình luận về dự án Luật Doanh nghiệp thống nhất
của IFC và MPDF, đánh giá Luật doanh nghiệp và các kiến nghịcủa CIEM Bên cạnh
đó, trong một số bài viết được đăng trên các tạp chí chuyên ngành của các tác giả như
“thành lập doanh nghiệp- một số bình luận ngắn” của PGS TS Phạm Duy Nghĩa trên
trang của VCCI, tài liệu giảng dạy “lý luận chung về luật kinh tế” của PGS TS Nguyễn Như Phát, “Pháp luật doanh nghiệp và đầu tư với vấn đề hội nhập” của T.S Bùi Xuân Hải đăng trên tạp chí nghiên cứu lập pháp số 113 tháng 01/2008, “pháp luật
về doanh nghiệp” của T.S Đồng Ngọc Ba, v.v…, cũng đề cập đến hộ kinh doanh
nhưng ở hình thức là một phần trong nhiều nội dung của bài viết Đặc biệt có luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê Trường Sơn nghiên cứu về khung pháp luật đối với các
hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; ngoài ra còn một số báo cáo thực tập của sinh viên học viện Hành chính viết về hộ kinh doanh ở góc độ quản lý Nhà nước
Trang 9Mặc dù hộ kinh doanh và các vấn đề pháp lý liên quan đến nó, chưa được các nhà nghiên cứu luật học, các nghiên cứu sinh, các bạn sinh viên quan tâm, lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu cho mình, nhưng trên thực tế, hộ kinh doanh đang hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, và có một bộ máy chuyên trách quản lý và cấp ĐKKD cho hộ kinh doanh trong cả nước
Xuất phát từ tình hình trên, tác giả nhận thấy cần có một sự nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về hộ kinh doanh ở góc độ pháp lý
3 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đề tài “Hộ kinh doanh – thực trạng pháp luật và định hướng hoàn thiện”
nghiên cứu chế định hộ kinh doanh qua các quy định của pháp luật và nội dung quy định của pháp luật hiện hành đối với hộ kinh doanh, nhằm mục đích chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật về bản chất pháp lý của hộ kinh doanh, từ đó tìm ra trong hệ thống pháp luật hiện hành những quy định làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy chuẩn pháp luật về hộ kinh doanh
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
“Hộ kinh doanh – thực trạng pháp luật và định hướng hoàn thiện” là một
đề tài có phạm vi rộng và khá phức tạp, liên quan đến lĩnh vực kinh tế học vĩ mô, đồng thời, hộ kinh doanh lại hoạt động trên phạm vi cả nước, bao gồm cả hộ kinh doanh phi nông nghiệp và hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp
Với lượng kiến thức và quỹ thời gian có hạn, trong phạm vi cho phép, luận văn nghiên cứu và tiếp cận vấn đề dưới góc độ như sau:
- Về hộ kinh doanh, luận văn không nghiên cứu các hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, mà chỉ đi sâu vào nghiên cứu các hộ kinh doanh phi nông nghiệp
Trang 10- Về phạm vi đánh giá thực trạng hoạt động và tình hình chấp hành pháp luật của hộ kinh doanh, luận văn sử dụng các số liệu về hộ kinh doanh giới hạn trên phạm
vi địa bàn Quận 1 –Tp.HCM vì đây là quận trung tâm Thành phố, có bình diện phát triển kinh tế xã hội cao, số lượng hộ kinh doanh đang hoạt động trên địa bàn quận khá lớn, khoảng gần 13.000 hộ với nhiều quy mô và hình thức khác nhau, ngành nghề đa dạng, có thể phản ảnh tiêu biểu xu hướng chung của các hộ kinh doanh ở các địa bàn khác ở khắp cả nước
- Trong quá trình nghiên cứu, luận văn có đề cập đến một số bài viết về kinh nghiệm của các quốc gia (dịch từ tài liệu tiếng nước ngoài), tuy nhiên chỉ sử dụng ở mức độ tham khảo, đối chiếu mà không nghiên cứu sâu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn dịch và quy nạp Để thực hiện luận văn, tác giả kết hợp lý luận với việc đánh giá thực trạng quản lý Nhà nước về hộ kinh doanh thông qua kinh nghiệm công tác thực tiễn, trên cơ sở đó phân tích và đối chiếu, so sánh các quy định về hộ kinh doanh tại Luật Doanh nghiệp, Nghị định 88/2006/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan đến khung pháp lý về hoạt động của hộ kinh doanh
6 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Luận văn là cách nhìn nhận và đánh giá của tác giả trên cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của hộ kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam Đề tài này được thực hiện với mong muốn góp phần hệ thống hoá và tạo ra cách nhìn nhận, đánh giá toàn diện và thực tiễn hơn về loại hình hộ kinh doanh ở Việt Nam Đồng thời, luận văn cũng nêu lên một số kiến nghị cũng như có sự phân tích, đánh giá cơ chế thực hiện đối với những kiến nghị đó nhằm góp phần hoàn thiện khung pháp luật đối với hộ kinh doanh ở Việt Nam Ngoài ra, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho các
Trang 11bạn sinh viên khi thực hiện nghiên cứu khoa học liên quan đến chủ thể hộ kinh doanh ở Việt Nam
7 BỐ CỤC NỘI DUNG
Để giải quyết các mục đích nghiên cứu được đặt ra, luận văn được chia thành 3 phần: Phần mở đầu – phần nội dung – và phần kết luận Phần nội dung gồm 3 chương như sau:
- Chương 1: Những vấn đề chung về hộ kinh doanh
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh
- Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật đối với hộ kinh doanh ở Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỘ KINH DOANH
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của hộ kinh doanh
1.1.1 Nguồn gốc xã hội
Một nghiên cứu tại tài liệu về phát triển kinh tế vĩ mô của Ngân hàng thế giới về
hộ kinh doanh ở Việt Nam1, đã chỉ ra nguồn gốc xã hội của việc hình thành kinh tế hộ gia đình tại Việt Nam Theo nghiên cứu này, kinh tế hộ gia đình là một nét đặc trưng riêng của các quốc gia nông nghiệp Châu Á như Việt Nam, Trung Quốc, Philippin, v.v…do ảnh hưởng từ quan niệm về mối quan hệ gia đình và vai trò của người đàn ông
và người phụ nữ trong gia đình Chính từ quan niệm gia đình tam, tứ đại đồng đường của người á đông và quan điểm người đàn ông có trách nhiệm ra ngòai xã hội, người phụ nữ gắn bó với gia đình và chủ yếu phụ giúp cho gia đình đã tạo tiền đề cho sự hình thành kinh tế hộ gia đình và tác động mạnh mẽ đến khuynh hướng phát triển của kinh
tế hộ sau này Nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ giữa nền kinh tế và hộ gia đình, khi các gia đình sống chung nhiều thế hệ, từ đó lực lượng lao động trong gia đình đủ để phụ giúp cho công việc gia đình và dần dần hình thành nên ý tưởng các thành viên trong gia đình cùng chung sức làm kinh tế, từ đó hình thành nên kinh tế hộ gia đình, vừa ít rủi ro, không tốn chi phí thuê mướn lao động, vừa phục vụ được nhu cầu tiêu dụng của cả họ tộc
1.1.2 Nguồn gốc lịch sử
Bên cạnh nguồn gốc xã hội của việc hình thành và phát triển kinh tế hộ gia đình
ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình còn có nguồn gốc lịch sử Các nghiên cứu về lịch sử cho thấy, ở Việt Nam từ thời Văn Lang – Âu Lạc, xuất phát từ đặc điểm của nền sản
1
Wim P.M Vijiverberg, Jonathan Haughton (2002), “Household enterprises in Vietnam – Survival, growth and
living standards”, Policy research working papers, (2773), The World Bank development Research Group:
Macroeconomics and Growth
Trang 13xuất lúa nước thời bấy giờ với sự hiện diện của công cụ sản xuất dao, liềm, cuốc, xẻng
đã làm tiền đề cho sự xuất hiện của chế độ công điền (đất đai do nhà vua quản lý) và chế độ tư điền (hay còn gọi là tiểu nông) – một hình thức hộ cá thể tự do khai khẩn đất hoang ở vùng sâu vùng xa có trâu bò giúp sức Bên cạnh đó, nền tiểu thủ công nghiệp ở giai đoạn này cũng manh nha hình thành các hộ gia đình làm nghề gốm, đúc đồng, đóng mộc, v.v…Ngoài ra, việc trao đổi hàng hoá trong giai đoạn này (do chưa xuất hiện tiền) được thực hiện dưới hình thức cá thể, là tiền đề của hình thức hộ kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ ở thời hiện đại sau này2
Ở giai đoạn Phong kiến, nông nghiệp tiếp tục phát triển theo phương thức sản xuất cá thể để cống nộp và đóng thuế cho bộ máy cai trị Thương nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ở thời kỳ này do phát triển cao hơn 1 bước đã tạo điều kiện cho sự phát triển số lượng hộ gia đình tham gia sản xuất thủ công nghiệp và tham gia vào quá trình giao thương trong khu vực
Từ sau năm 1945, khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập,
do yêu cầu sản xuất chiến tranh, các hộ gia đình tự sản xuất, buôn bán nhỏ để tạo ra của cải vật chất góp sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Họat động của kinh tế hộ thời điểm này mang tính chất tự phát và sử dụng lao động chủ yếu là ông,
bà, cha mẹ, con cái và những người thân trong gia đình với mục đích chủ yếu là duy trì nền sản xuất, cùng với các hợp tác xã nông nghiệp, xí nghiệp quốc doanh tạo ra của cải vật chất xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa và phục vụ cho cuộc kháng chiến chống
Mỹ ở miền Nam Thời kỳ này, kinh tế hộ gia đình chưa mang tính chất kinh doanh, chủ yếu phục vụ nhu cầu cộng đồng, tự sản, tự tiêu là chính3
Thời kỳ đầu sau năm 1975, kinh tế hộ gia đình vẫn tiếp tục phát triển ở miền Bắc do đã có thời gian hình thành và tồn tại, một phần do các HTX và một số xí nghiệp quốc doanh giải thể do hoạt động không hiệu quả đã chuyển sang hình thức hộ kinh
Trang 14doanh cá thể Thời kỳ này hộ kinh doanh cá thể chưa được phát triển nhiều ở miền Nam, giai đọan này kinh tế miền Nam tập trung phát triển các công trường, nông trường, kêu gọi tham gia cải tạo đất, xây dựng kinh tế mới, nền sản xuất tiêu dùng chủ yếu phát triển hình thức Hợp tác xã tiêu thụ để cung ứng nhu yếu phẩm cho người dân với nguồn hàng hóa chủ yếu từ viện trợ và từ nền sản xuất ở miền Bắc Giai đoạn sau, khi kinh tế dần được khôi phục, các hoạt động thương mại ở miền Nam được khuyến khích, các cửa hiệu bắt đầu trở lại hoạt động kinh doanh ngày càng nhiều hơn, tồn tại chủ yếu dưới hình thức kinh tế hộ cá thể
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982), kinh tế hộ gia đình chính thức trở thành một trong các thành phần kinh tế của đất nước Đại hội V bước đầu có cách nhìn mới về nền kinh tế nhiều thành phần, thừa nhận miền Bắc tồn tại 3 thành phần kinh tế
là quốc doanh, tập thể và cá thể; miền Nam tồn tại 5 thành phần kinh tế là quốc doanh, tập thể, công tư hợp doanh, tư bản tư nhân và cá thể4
Như vậy, có thể thấy, hộ kinh doanh là một lọai hình kinh tế có nguồn gốc xã hội, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Nó xuất hiện như một nhu cầu tất yếu của lịch sử và tồn tại phát triển qua các thời kỳ Giai đọan đầu khi mới hình thành, kinh tế hộ gia đình là nguồn lực sản xuất chủ yếu cung cấp của cải, hàng hoá cho xã hội, đặc biệt là xã hội phong kiến Trong thời kỳ chiến tranh bảo vệ đất nước, hộ kinh doanh cá thể cùng với kinh tế tập thể đóng vai trò chủ đạo trong nền sản xuất chiến tranh, khi hòa bình lập lại, qua các thời kỳ đổi mới, kinh tế hộ gia đình tiếp tục có những vai trò khác nhau trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tồn tại đến giai đọan hiện nay
Qua phân tích về nguồn gốc hình thành và phát triển của hộ kinh doanh, có thể nhận thấy, hộ kinh doanh ra đời gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp và giai đoạn đầu tiên khi mới hình thành, hộ kinh doanh hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Giai đoạn hiện nay, khi quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ và sự chuyển dịch cơ cấu
4
Văn kiện Đại Hội Đảng V, NXB Chính trị Quốc gia
Trang 15kinh tế từ nông nghiệp – công nghiệp sang thương mại dịch vụ đang được đẩy mạnh, bên cạnh các hộ kinh doanh sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ kinh doanh phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng tăng Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, không nghiên cứu về hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp5 mà chỉ tập trung nghiên cứu hộ kinh doanh phi nông nghiệp
1.2 Chế định hộ kinh doanh qua các quy định của pháp luật
Khảo sát về hộ kinh doanh nhận thấy mặc dù là một hình thức kinh doanh có lợi nhuận song từ trước đến nay loại hình này được điều chỉnh chủ yếu tại các văn bản dưới Luật Hầu hết các quy định pháp luật về hộ kinh tồn tại ở hình thức văn bản dưới luật (Nghị định, thông tư, quyết định v.v…) mà phần kế tiếp của luận văn sẽ đi vào chi tiết vấn đề này
1.2.1 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Nghị định 119/CP ngày 09/04/1980 của Hội đồng
Chính phủ
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, hộ kinh doanh lần đầu tiên được ghi nhận tại Nghị định số 27/HĐBT ngày 09/3/1988 (với tên gọi là hộ cá thể, hộ tiểu thủ sản xuất công nghiệp) Theo văn bản này, các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh là các đơn vị kinh tế tự quản có tư liệu sản xuất và các hình thức vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập, lỗ lãi Sau đó, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 119/CP ngày 09/04/1980 về điều lệ đăng ký kinh doanh áp dụng cho khu vực kinh tế tập thể và cá thể và Chỉ thị 183/TTg ngày 05/06/1980 của Thủ tướng Chính phủ về việc thi hành điều lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp để điều chỉnh hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cá thể Lúc này pháp luật chưa có một khái niệm chính thức quy định thế nào là hộ kinh doanh cá thể,
5
Hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đã được nghiên cứu trong luận văn “Khung pháp luật cho
sự hình thành và phát triển của loại hình trang trang gia đình ở Việt Nam- Thực trạng và hướng hoàn thiện” của
tác giả Lê Trường Sơn, trong đó đã có những phân tích, định hướng cho sự chuyển đổi của hộ kinh doanh nông nghiệp sang hình thức trang trại gia đình
Trang 16mà quy định của Nghị định 119/CP chỉ nhằm yêu cầu các cơ sở sản xuất kinh doanh
dưới các hình thức tập thể hoặc cá thể thực hiện việc đăng ký xin phép kinh doanh với
các cơ quan Nhà nước để phục vụ cho công tác quản lý Do hoàn cảnh lịch sử giai đoạn này, chưa thừa nhận việc tồn tại của các loại hình doanh nghiệp, do đó, quy định của pháp luật chỉ điều chỉnh đối kinh tế tập thể và kinh tế cá thể (hộ kinh doanh cá thể)
1.2.2 Hộ kinh doanh cá thể trong bối cảnh Nghị định 66/HĐBT ngày 02/03/1992 của
Hội đồng Bộ trưởng
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, khi Nhà nước ta xác định đổi mới nền kinh tế, hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế Đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân đã được luật hóa với hai đạo luật được ban hành là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được Quốc Hội thông qua tháng 12/1990 và cùng có hiệu lực thi hành từ ngày 15/04/1991 đã hình thành khung pháp luật cho hoạt động của công ty TNHH, công ty
cổ phần6 và DNTN Để điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh nhỏ trong điều kiện mới, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 66/HĐBT ngày 02/03/1992 quy định về cá nhân và nhóm kinh doanh dưới vốn pháp định
Theo Nghị định số 66/HĐBT, cá nhân và nhóm kinh doanh (gọi chung là người kinh doanh) là những chủ thể kinh doanh có vốn kinh doanh thấp hơn vốn pháp định được quy định tại Nghị định số 221/HĐBT ngày 23/7/1991 quy định về mức vốn pháp định của doanh nghiệp tư nhân trong các ngành nghề khác nhau; vốn pháp định là căn
cứ cơ bản để phân chia và phân biệt cá nhân, nhóm kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân và công ty Tuy nhiên, trên thực tế, ranh giới để phân định cá nhân, nhóm kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân và công ty là không rõ ràng và không có hiệu lực thực
tế vì theo khảo sát của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), phần lớn người kinh doanh được khảo sát thời gian này có mức vốn kinh
6
Luật Công ty năm 1990 chỉ quy định cơ cấu tổ chức, hoạt động của công ty TNHH và công ty cổ phần
Trang 17doanh của chủ sở hữu cao hơn mức vốn pháp định quy định cho doanh nghiệp tư nhân trong cùng ngành nghề7
Theo quy định của Luật DNTN 1990, một trong những điều kiện để thành lập DNTN là phải đáp ứng được mức vốn pháp định của từng ngành nghề theo luật định8, nếu người kinh doanh có số vốn kinh doanh thấp hơn mức vốn pháp định thì có thể hoạt động kinh doanh nhưng không được thành lập DNTN (không chịu sự điều chỉnh của Luật DNTN) mà hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh9 và chịu sự điều chỉnh của Nghị định 66/HĐBT ngày 02/03/1992 của Hội Đồng Bộ trưởng Hộ kinh doanh cá thể trong bối cảnh của Nghị định 66/HĐBT, theo quan điểm lập pháp lúc bấy giờ, được coi là “doanh nghiệp” rất nhỏ, với vốn đăng ký của chủ sở hữu thấp hơn mức vốn tối thiểu yêu cầu đối với các doanh nghiệp tư nhân10 và cũng chính từ quan điểm này, mà Nghị định 66/HĐBT đã có sự phân biệt và loại trừ các hộ chuyên sản xuất nông, lâm, diêm nghiệp, ngư nghiệp có tính chất tự sản, tự tiêu và những hộ làm kinh tế gia đình theo Nghị định 29-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988 của Hội đồng bộ trưởng11 Hay nói cách khác, khái niệm của hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 66/HĐBT được hiểu
là một loại hình tương tự như DNTN song có vốn pháp định thấp hơn, có vốn, có sức khoẻ, có kỹ thuật, chuyên môn, có địa điểm kinh doanh phù hợp với ngành nghề và
7
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (1999), “Mục tiêu 1: Hoàn thiện môi
trường pháp lý kinh doanh, đánh giá Luật Doanh nghiệp tư nhân và Nghị định số 66/HĐBT”, Kỷ yếu Dự án
Xem Bộ Kế hoạch Đầu tư và Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc UNIDO, (1999), Bối cảnh việc
thành lập và đăng ký kinh doanh áp dụng cho hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 66/HĐBT
11
Theo quy định của Nghị định 29/HĐBT: hộ làm kinh tế gia đình là công nhân viên chức tại chức, xã viên hợp tác xã, làm thêm ngoài giờ quy định của cơ quan, đơn vị tập thể, cùng với bố, mẹ, vợ, chồng và các con ngoài độ tuổi lao động, nếu là người thân thì phải ngoài độ tuổi lao động và có tên trong hộ khẩu gia đình Đây là một hình thức tồn tại lịch sử chỉ có trong giai đoạn lúc bấy giờ
Trang 18mặt hàng kinh doanh, không bị pháp luật cấm kinh doanh và thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi Tiêu chí để xác định hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 66/HĐBT chính là có vốn thấp hơn vốn pháp định mà pháp luật đã quy định cho các ngành nghề kinh doanh của hình thức DNTN và đây cũng là căn cứ pháp lý duy nhất để phân biệt giữa hộ kinh doanh cá thể và DNTN ở thời kỳ này
1.2.3 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Luật doanh nghiệp 1999, Nghị định
02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị đinh 109/2004/NĐ-CP ngày 02/04/2004 của Chính phủ
Khi Luật Doanh nghiệp năm 1999 được ban hành, quan điểm điều chỉnh của pháp luật đối với công ty và doanh nghiệp tư nhân đã có những thay đổi lớn; lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm thống nhất về “doanh nghiệp”, mà theo đó, doanh nghiệp được hiểu là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng
ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh12 Như vậy, với tinh thần của Luật Doanh nghiệp 1999, không còn có sự phân biệt giữa DNTN và các loại hình công ty, mà DNTN, công ty TNHH (2 thành viên trở lên và 1 thành viên), công ty cổ phần, công ty hợp danh đều được gọi thống nhất là doanh nghiệp Theo đó, tiêu chí pháp lý để phân biệt các doanh nghiệp này với các chủ thể kinh doanh nhỏ cũng được đổi mới, hộ kinh doanh phải được xác định lại theo một góc độ khác chuẩn hơn, thay cho cách hiểu hộ kinh doanh là một loại hình DNTN có vốn thấp hơn vốn pháp định như tinh thần của Nghị định 66/HĐBT trước đó
Hộ kinh doanh phải là một loại hình cụ thể, mang những đặc điểm riêng của nó và tồn tại song song với các loại hình doanh nghiệp
12
Xem Điều 3 Luật Doanh nghiệp 1999
Trang 19Vậy hộ kinh doanh là gì? Như đã phân tích ở trên về nguồn gốc của hộ kinh doanh, thì khái niệm hộ kinh doanh xuất phát từ khái niệm về hộ gia đình, vì vậy để xem xét khái niệm về hộ kinh doanh, trước hết cần tìm hiểu khái niệm về hộ gia đình
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Bộ Luật Dân sự dành một chương quy định
về hộ gia đình13 Nếu trong Bộ Luật Dân sự năm 1995, khái niệm hộ gia đình được
hiểu là “bao gồm các hộ gia đình mà thành viên có tài sản chung để hoạt động sản
xuất kinh tế chung” thì trong Bộ Luật Dân sự năm 2005 khái niệm hộ gia đình được
quy định lại với danh nghĩa là một đơn vị sản xuất kinh doanh trong đó các thành viên
của hộ cùng đóng góp tài sản và công sức chung để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Như vậy, hộ gia đình là chủ thể của các quan hệ kinh doanh, thương mại (quan hệ dân sự theo nghĩa rộng14) Khi pháp luật về kinh tế bắt đầu điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ gia đình, đã hình thành khái niệm về hộ kinh doanh Nghị định 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh khái niệm về hộ kinh doanh cá thể như sau:
Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Theo đó, Nghị định 02/2000/NĐ-CP cũng loại trừ những hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ
có thu nhập thấp không được xem là hộ kinh doanh cá thể mà chỉ là hộ gia đình theo khái niệm của Bộ Luật Dân sự Như vậy, khái niệm về hộ kinh doanh cá thể tuy xuất phát từ khái niệm về hộ gia đình (do nguồn gốc lịch sử và nguồn gốc xã hội của loại hình này), song với khái niệm về hộ kinh doanh được quy định tại Nghị định 02/2000/NĐ-CP, đã có sự phân biệt tương đối giữa hộ gia đình theo pháp luật dân sự
và hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật kinh doanh, thương mại
Trang 20Nghị định 02/2000/NĐ-CP xác định địa vị pháp lý của hộ kinh doanh là do một
cá nhân hoặc một hộ gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, song không đề cập đến việc giới hạn về số địa điểm được đăng ký kinh doanh trong phần khái niệm đưa ra, nhưng nếu xem xét kỹ những quy định của Nghị định 02/2000/NĐ-
CP sẽ nhận thấy việc giới hạn số điểm kinh doanh được quy định ở phần hiệu lực thi hành, theo đó những cá nhân và nhóm kinh doanh hoạt động theo Nghị định số 66/HĐBT trước đó, đang kinh doanh tại 2 địa điểm trở lên và thường xuyên thuê lao động phải lựa chọn loại hình doanh nghiệp để đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp15 Điều đó có nghĩa là, việc chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, chính là một trong những dấu hiệu pháp lý bắt buộc để tạo thành khái niệm
hộ kinh doanh hoàn chỉnh
Sau một thời gian áp dụng, nhiều quy định của Nghị định số 02/2000/NĐ-CP đã
tỏ ra không phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh, khái niệm hộ kinh doanh cá thể cần tiếp tục được hoàn chỉnh và sửa đổi Ngày 02/04/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2004/NĐ-CP (thay thế Nghị định 02/2000/NĐ-CP) bổ sung một số quy định quan trọng về hộ kinh doanh cá thể như: đổi mới tiêu chí pháp lý xác định hộ kinh doanh cá thể; quy định rõ hơn về quyền đăng ký kinh doanh, thủ tục đăng ký kinh doanh theo hình thức hộ kinh doanh cá thể , từ đó đưa ra khái niệm về hộ kinh doanh
cá thể chặt chẽ hơn về các đặc điểm pháp lý hơn, nhằm định hình rõ hơn bản chất pháp
lý của loại hình này
Hộ kinh doanh cá thể theo Nghị định 109/2004/NĐ-CP được quy định như sau:
“Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký
kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.”, đồng
thời kế thừa quan điểm loại trừ các hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm
muối và những người bán hàng rong, quà vặt, làm dịch vụ có thu nhập thấp Nghị định
15
Khoản 2 Điều 23 Nghị định 02/2000/NĐ-CP
Trang 21109/2004/NĐ-CP đã thu hẹp nội hàm của khái niệm về hộ kinh doanh cá thể Lúc này,
hộ kinh doanh cá thể được xác định cụ thể như sau: chủ thể ĐKKD là một cá nhân hoặc hộ gia đình, số lượng cơ sở được thành lập được giới hạn ở phạm vi một cá nhân hoặc một hộ gia đình chỉ được đăng ký kinh doanh một cơ sở để kinh doanh, và số lượng lao động tối đa không quá 10 người, chế độ trách nhiệm tài sản là vô hạn và không có tính pháp nhân
1.2.4 Hộ kinh doanh trong bối cảnh Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định
"hộ kinh doanh" thay cho khái niệm "hộ kinh doanh cá thể", khoản 4 Điều 170 Luật này quy định: "hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ" Trên tinh thần đó, Nghị định 88/2006/NĐ-CP được ban hành hướng dẫn một số quy định của Luật Doanh nghiệp 2005, trong đó, quy
định về hộ kinh doanh được xác định lại một cách đầy đủ hơn như sau: “Hộ kinh doanh
do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao
động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với
hoạt động kinh doanh” 16
Hộ kinh doanh theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP đã có quy định cụ thể hơn về
chủ thể thành lập, đó là cá nhân nhưng phải là công dân Việt Nam Các văn bản pháp
luật trước đây chỉ nêu một cách chung nhất chủ thể thành lập hộ kinh doanh là cá nhân, song không quy định rõ cá nhân như thế nào Để hiểu rõ hơn về quy định này của Nghị
16
Điều 36 Nghị định 88/2006/NĐ-CP
Trang 22định 88/2006/NĐ-CP, trước tiên cần trở lại xem xét và so sánh những quy định về chủ thể được quyền thành lập doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005 Nếu như trong Luật Doanh nghiệp 1999, chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp chỉ có tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam17, thì trong Luật Doanh nghiệp 2005 có sự mở rộng hơn về chủ thể được quyền thành lập doanh nghiệp, xoá bỏ sự phân biệt giữa các yếu tố trong nước và nước ngoài, mọi cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài đều có quyền thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, trừ các đối tượng là tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập doanh nghiệp18
Do đó, Nghị định 88/2006/NĐ-CP khi được ban hành để hướng dẫn Luật Doanh
nghiệp 2005, khi điều chỉnh về hộ kinh doanh, đã xác định cụ thể nội hàm của chủ thể
được quyền thành lập hộ kinh doanh phải là công dân Việt Nam, nhằm có sự giới hạn
và phân biệt với các chủ thể nước ngoài được quyền thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, có nghĩa là chỉ những người mang quốc tịch Việt Nam và thường trú ở Việt Nam19 mới là chủ thể thành lập hộ kinh doanh Cách tiếp cận này là hợp lý vì ở bối cảnh Nghị định 88/2006/NĐ-CP được ban hành, vấn đề hội nhập theo xu hướng thế giới đã được đặt ra như một nhu cầu tất yếu, trong khi việc tồn tại của hình thức hộ kinh doanh còn có yếu tố lịch sử, xã hội và cũng là một hình thức kinh doanh gắn với đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam
Ngoài ra, khi khảo sát nội dung khái niệm về hộ kinh doanh trong Nghị định 88/2006/NĐ-CP, nhận thấy ở đây đã có sự điều chỉnh về mặt tên gọi Xem xét các văn bản pháp luật trước đây khi điều chỉnh về hộ kinh doanh, đều đưa ra khái niệm “hộ kinh doanh cá thể”, và không phải ngẫu nhiên mà Nghị định 88/2006/NĐ-CP lược bỏ 2
từ “cá thể” trong khái niệm về hộ kinh doanh
Trang 23Theo từ điển Tiếng Việt, từ “cá thể” nghĩa là riêng lẻ từng người, không mang tính tập thể, hộ kinh doanh cá thể nhằm chỉ một hình thức tổ chức kinh doanh riêng lẻ, manh mún, nhỏ lẻ Khi tên gọi hộ kinh doanh được lược bỏ 2 từ “cá thể”, không chỉ mang ý nghĩa cơ học về số lượng từ vựng, mà về địa vị pháp lý cũng đã có sự thay đổi Thật vậy, về mặt chủ thể thành lập hộ kinh doanh, theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP
không chỉ là cá nhân hay hộ gia đình, mà còn có thể là một nhóm người Ở đây, đã xuất
hiện sự liên kết với nhau giữa các cá nhân, không chỉ đơn thuần là các cá nhân trong cùng hộ gia đình gồm những người có quan hệ thân thuộc, mà một nhóm người ở đây pháp luật không quy định một sự ràng buộc về quan hệ (không nhất thiết phải có quan
hệ thân thuộc, họ hàng, v.v…) thì cũng có nghĩa là pháp luật đã thừa nhận việc liên kết giữa các cá nhân với nhau trong việc thành lập hộ kinh doanh Nhóm người ở đây có thể có điểm chung là mục đích kinh doanh, cùng góp vốn, góp sức để hoạt động kinh doanh và thành lập hộ kinh doanh để hoạt động kinh doanh Một nhóm người khi liên kết với nhau để cùng hoạt động kinh doanh, có thể do quy mô nhỏ, sử dụng ít lao động
mà không thành lập doanh nghiệp, song không loại trừ trường hợp quy mô kinh doanh
và hình thức kinh doanh hoàn toàn đáp ứng đủ điều kiện để hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp nhưng vì một số lý do nào đó, mà trong đó không thể không nói đến những kẽ hở của pháp luật, họ vẫn lựa chọn hình thức hộ kinh doanh
1.3 Bản chất pháp lý của hộ kinh doanh
Thực tiễn cho thấy, ngay cả ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, bên cạnh sự phát triển của các doanh nghiệp lớn, vẫn tồn tại những hình thức kinh doanh nhỏ Những hình thức kinh doanh này có sự năng động cao, có thể bổ sung việc cung cấp các dịch vụ xã hội mà các hình thức kinh doanh quy mô lớn không làm hoặc không làm được Có thể vì nhiều nhiều nguyên nhân khác nhau, không hoàn toàn do truyền thống hay do nhận thức, nhưng một thực tế là ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ tư nhân kinh doanh lớn chưa nhiều, họ dễ chấp nhận làm ăn nhỏ hơn là làm ăn lớn Hộ kinh doanh mặc dù không phải là hình thức tổ chức kinh doanh cơ bản và điển hình trong cơ chế
Trang 24thị trường, song hiện đang giữ vai trò quan trọng ở Việt Nam Hình thức hộ kinh doanh
cá thể đang được đông đảo các nhà đầu tư trong xã hội lựa chọn20
Từ định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp tại Luật doanh nghiệp (2005) cho thấy, khái niệm doanh nghiệp có ngoại diên hẹp hơn khái niệm chủ thể kinh doanh theo cách hiểu thông thường Có những chủ thể kinh doanh không thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí của doanh nghiệp, và vì vậy không được gọi là doanh nghiệp Một trong những chủ thể
đó là hộ kinh doanh
Về bản chất pháp lý, hộ kinh doanh là đơn vị kinh doanh, được thành lập để thực hiện hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, có lẽ xuất phát từ quy mô của hình thức kinh doanh này trên thực tế thường không lớn và phạm vi kinh doanh hẹp, các nhà lập pháp đã đưa ra một số tiêu chí pháp lý để phân biệt hộ kinh doanh với các hình thức doanh nghiệp Điều này dẫn đến địa vị pháp lí của hộ kinh doanh có nhiều nội dung khác với địa vị pháp lý của doanh nghiệp
Theo Nghị định của Chính phủ số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/82006 về đăng ký kinh doanh, hộ kinh doanh được định nghĩa là đơn vị kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
Từ định nghĩa này có thể chỉ ra những đặc điểm cơ bản sau của hộ kinh doanh:
1.3.1 Chủ thể thành lập hộ kinh doanh
Chủ thể có quyền thành lập hộ kinh doanh được quy định tại Khoản 1 Điều 37 Nghị định 88/2006/NĐ-CP, theo đó công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh Theo quy định này cá nhân chưa thành niên hoặc thành niên nhưng bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự và người nước ngoài không có quyền thành lập hộ kinh doanh Việc không cho phép người nước ngoài thành lập hộ kinh doanh có thể
20
Đồng Ngọc Ba, (2007), Pháp luật về doanh nghiệp, tài liệu giảng dạy
Trang 25phù hợp với điều kiện hiện tại ở Việt Nam, song với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì việc quy định một hình thức tổ chức kinh doanh chỉ dành riêng cho các cá nhân công dân Việt Nam là điều cần phải xem xét để có những điều chỉnh cần thiết
Xét về cơ cấu chủ sở hữu, hộ kinh doanh được chia thành ba loại là: hộ kinh doanh do một cá nhân lầm chủ sở hữu, hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân làm chủ sở hữu và hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ sở hữu
Hộ kinh doanh do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu có bản chất là một cá nhân kinh doanh Cá nhân này có quyền quyết định các vấn đề tổ chức hoạt động và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của hộ
Hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân đầu tư vốn có tư cách pháp lý của một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên về pháp lý, giữa nhóm kinh doanh và các thành viên của nhóm không có sự tách bạch về tài sản Trách nhiệm và quyền lợi của các thành viên được giải quyết theo thỏa thuận hoặc quy định của pháp luật Việc cho phép một nhóm người có quyền hợp tác thành lập một hộ kinh doanh cá thể là một điểm mới của NĐ
số 88/2006/NĐ-CP so với các quy định trước đây về hộ kinh doanh Quy định mới này
đã làm cho khái niệm "hộ kinh doanh" có ngoại diên rộng hơn khái niệm "hộ kinh doanh cá thể" theo cách hiểu truyền thống Điều này cho phép các nhà đầu tư cá nhân
có cơ hội hợp tác với nhau thành lập hộ kinh doanh mà không bị lệ thuộc vào quan hệ huyết thống, gia đình
Hình thức hộ kinh doanh không chỉ dành cho các nhà đầu tư là cá nhân, mà còn cho phép sự đầu tư của một hộ gia đình Khái niệm hộ kinh doanh được sử dụng trong pháp luật Việt Nam có lẽ xuất phát từ sự tham gia đầu tư của đông đảo các hộ gia đình vào hình thức tổ chức kinh doanh này Hộ gia đình là loại chủ thể pháp luật không thường gặp trong pháp luật các nước, nhưng lại được công nhận bởi pháp luật Việt
Trang 26Nam trong nhiều giao dịch dân sự, trong đó có quan hệ pháp luật đầu tư, kinh doanh21 Trong hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ, vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cả
hộ, các thành viên cử người đại diện cho hộ trong các giao dịch dân sự, thương mại Việc cử người đại diện cho hộ gia đình được thực hiện theo các quy định của Bộ luật Dân sự mà thông thường là người chủ hộ
1.3.2 Hình thức tổ chức hoạt động của hộ kinh doanh
Hộ kinh doanh là một chủ thể kinh doanh được xác định là có hình thức tổ chức giản đơn chủ yếu mang tính nội bộ gia đình Điều này đã được khẳng định ngay tại khái niệm về hộ kinh doanh theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP Theo đó, hộ kinh doanh không thành lập bộ máy tổ chức, người đại diện pháp luật của hộ kinh doanh là người đứng tên trong GCNĐKKD, người này có thể là chủ hộ22 nếu hộ kinh doanh đó do hộ gia đình đăng ký thành lập, hoặc là chính cá nhân người đăng ký thành lập nếu hộ gia đình do một cá nhân là công dân Việt Nam đăng ký thành lập, hoặc cũng có thể là một
cá nhân đại diện cho một nhóm người (do tự thoả thuận) nếu hộ kinh doanh do một nhóm người đăng ký thành lập
Ngoài ra, hộ kinh doanh chỉ được sử dụng không quá 10 lao động, nếu sử dụng trên 10 lao động, pháp luật buộc hộ kinh doanh đó phải chuyển sang hình thức doanh nghiệp Quy định giới hạn số lượng lao động của hộ kinh doanh, trước hết xuất phát từ lịch sử hình thành hộ kinh doanh có nguồn gốc từ hộ gia đình, do các thành viên trong gia đình cùng tham gia sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ lẻ Sau này khi pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh cũng giữ nguyên đặc điểm này vì đây có thể nói là đặc trưng của loại hình hộ kinh doanh để phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác Khi khái niệm đầu tiên về hộ kinh doanh được quy định trong văn bản pháp luật, chỉ quy định hộ kinh doanh không thuê mướn lao động thường xuyên,
Trang 27nhưng không nêu rõ số lượng lao động cụ thể Sau đó, xuất phát từ tiêu chí phân định của Bộ Luật Lao động 1994 về một số chế định áp dụng khác nhau đối với cơ sở sử dụng từ 10 lao động trở lên và cơ sở sử dụng dưới 10 lao động Theo đó, giới hạn 10 lao động có ý nghĩa trong việc áp dụng một số các quy định khác nhau đối với người lao động, những cơ sở sử dụng ít hơn 10 lao động được xem là những cơ sở nhỏ, được giảm miễn áp dụng một số tiêu chuẩn và thủ tục ví dụ như không áp dụng bảo hiểm xã hội bắt buộc23, không bắt buộc phải có thoả ước lao động tập thể24, v.v…Từ góc độ tiếp cận trên, mà pháp luật về kinh doanh quy định quy mô của hộ kinh doanh chỉ giới hạn
ở phạm vi không sử dụng quá 10 lao động
Bên cạnh việc giới hạn về số lượng lao động được phép thuê mướn, hộ kinh doanh chỉ được đăng ký hoạt động tại 1 địa điểm, hay nói cách khác, hộ kinh doanh
không có quyền thành lập chi nhánh như các loại hình doanh nghiệp khác hoặc hợp tác
xã Quy định này xuất phát từ tính chất nhỏ, lẻ, cục bộ và thiên về hình thức gia đình của hộ kinh doanh Nếu tiếp cận bản chất của hộ kinh doanh theo góc độ là hành vi kinh doanh gắn liền với một cá nhân hoặc một hộ gia đình, thì hộ kinh doanh chỉ do cá nhân hoặc hộ gia đình đó làm chủ và trực tiếp quản lý cũng như thực hiện các hoạt động kinh doanh (quyền sở hữu không tách rời quyền quản lý), không áp dụng hình thức quản lý đại diện thông qua việc thuê người quản lý hoặc người đứng tên trong GCNĐKKD (các loại hình doanh nghiệp và HTX có thể thuê giám đốc để thực hiện việc quản lý), nếu cá nhân đang đứng tên ĐKKD vì một lý do nào đó không thể trực tiếp thực hiện các hành vi kinh doanh được nữa, mà muốn chuyển cho một người khác (có thể cùng hộ gia đình hoặc một người khác trong nhóm) đứng tên ĐKKD thì người
cũ phải đăng ký ngừng kinh doanh và người thay thế phải đăng ký kinh doanh thành
Trang 28lập một hộ kinh doanh mới25 Về phương diện pháp lý cũng như thực tế, khó có thể tìm thấy sự tách biệt giữa tư cách của chủ thể kinh doanh với tư cách cá nhân đầu tư vốn; nói cách khác, tư cách chủ thể kinh doanh của hộ kinh doanh chính là tư cách cá nhân, không hội đủ điều kiện là một tổ chức với quy chế có người đứng đầu tổ chức (không người này thì người khác) để hành xử nhân danh tổ chức Trong khi đó, chế định chi nhánh chỉ đặt ra đối với tổ chức, điều này lý giải vì sao hộ kinh doanh chỉ được đăng
ký kinh doanh tại một địa điểm và không được thành lập chi nhánh
1.3.3 Trách nhiệm tài sản của hộ kinh doanh
Khi phân biệt các chủ thể kinh doanh với nhau, ngoài việc phân định thông qua hình thức cơ cấu tổ chức, khoa học pháp lý còn căn cứ vào mức độ của việc chịu trách nhiệm về tài sản trong kinh doanh mà theo đó người ta biết đến trách nhiệm vô hạn và trách nhiệm hữu hạn
Hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật doanh nghiệp là chủ thể kinh doanh
“chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” hay nói cách khác, hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của mình Theo T.S Nguyễn Như Phát “ trách nhiệm vô hạn được hiểu là sự tận cùng hay đến cùng của việc trả nợ”26 Điều này có nghĩa rằng, chủ hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm đến cùng về các khoản nợ của hộ kinh doanh, nói cách khác là nợ bao nhiêu, trả bấy nhiêu
Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc hộ gia đình là chủ sở hữu hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về hoạt động kinh doanh Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, trách nhiệm tài sản của cá nhân chủ hộ được quy định
25
Theo quy định của Nghị định 88/2006/NĐ-CP trong chế định thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh quy định hộ kinh doanh không được thay đổi người đại diện pháp luật, trường hợp hộ kinh doanh có nhu cầu thay đổi người đại diện pháp luật thì hộ cũ ngừng kinh doanh, để người đại diện pháp luật mới đứng tên ĐKKD lại một hộ kinh doanh mới
26
Nguyễn Như Phát, (2002), Luật Kinh tế Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, Tr 39
Trang 29tương tự như quy định đối với chủ doanh nghiệp tư nhân Cá nhân chủ hộ kinh doanh phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản trong kinh doanh bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền
sở hữu của mình và phải trả nợ đến cùng
Trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ thì hộ gia đình đó phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trong kinh doanh bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của hộ gia đình Nghị định 88/2006/NĐ-CP không quy định rõ về phạm vi những tài sản thuộc diện phải dùng để trả nợ cho hộ kinh doanh khi chủ sở hữu là một hộ gia đình, song có thể áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm dân sự của hộ gia đình (Khoản
2 Điều 110 Bộ luật Dân sự năm 2005) để giải thích trách nhiệm tài sản trong kinh doanh của hộ gia đình, theo đó nếu tài sản chung của hộ gia đình không đủ để trả các khoản nợ, thì các thành viên của hộ phải dùng tài sản riêng của mình để trả nợ chung của hộ gia đình và tài sản thuộc sở hữu riêng của các thành viên
Trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân làm chủ thì nhóm người này phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của hộ kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của nhóm Tuy nhiên, Nghị định 88/2006/NĐ-CP cũng không quy định rõ về phạm vi những tài sản thuộc diện phải dùng để trả nợ cho hộ kinh doanh khi chủ sở hữu là một nhóm cá nhân Về nguyên tắc, có thể suy luận lôgic từ bản chất của chế độ trách nhiệm
vô hạn rằng, nhóm cá nhân chủ sở hữu hộ kinh doanh phải dùng cả tài sản thuộc sở hữu chung của nhóm và tài sản riêng của cá nhân các thành viên để trả nợ Nếu tài sản chung của nhóm không đủ để thanh toán các khoản nợ, thì các thành viên của nhóm phải dùng tài sản riêng của mình liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của nhóm kinh doanh Việc phân chia trách nhiệm giữa các thành viên của nhóm đối với các khoản nợ của nhóm có thể được thực hiện theo sự thỏa thuận của các thành viên
Mặc khác, theo pháp luật Việt Nam hiện hành, chế độ trách nhiệm vô hạn được
áp dụng đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh
và chủ hộ kinh doanh cá thể Điều đó có nghĩa là một cá nhân không thể là đồng thời là
Trang 30chủ doanh nghiệp tư nhân, là thành viên hợp danh của công ty hợp danh vừa là chủ hộ kinh doanh Theo cách tiếp cận về chế độ trách nhiệm vô hạn ở trên, một cá nhân là chủ sở hữu một trong ba loại hình trên thì toàn bộ tài sản được dùng để chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh đơn vị, như vậy, nếu đồng thời chủ hộ kinh doanh, vừa là chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh của công ty hợp danh thì cùng một khối lượng tài sản không thể cùng sử dụng để chịu trách nhiệm “đến cùng” cho cả 3 hình thức kinh doanh đều theo quy chế trách nhiệm vô hạn Nói cách khác, một cá nhân khi không thể thực hiện được nguyên tắc tách bạch về mặt tài sản, trong mọi trường hợp vẫn phải trả hết số nợ mà nó có khi chủ thể kinh doanh đó bị vỡ nợ
Vì những lẽ trên, khi một chủ thể đăng ký thành lập hộ kinh doanh, pháp luật buộc phải cam kết bản thân và các cá nhân tham gia góp vốn thành lập hộ kinh doanh ngoài việc không thuộc diện pháp luật cấm kinh doanh còn không đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, không đồng thời là thành viên hợp danh của công ty hợp danh (trừ trường hợp các thành viên hợp danh còn lại có thoả thuận khác)27
Mặc dù chủ hộ kinh doanh bị cấm không đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh, song từ cách tiếp cận về chế độ trách nhiệm tài sản của các chủ thể kinh doanh, pháp luật Việt Nam ghi nhận chủ hộ kinh doanh được quyền thành lập, tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty cổ phần28 Quy định này không mâu thuẫn giữa các chế độ trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh với nhau, vì những doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm hữu hạn (gồm công
ty TNHH một thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty cổ phần), chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong
27
Khoản 2 Điều 9 Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 03/10/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một
số điều của Luật Doanh nghiệp
28
Khoản 2 Điều 9 Nghị định 139/2007/NĐ-CP ngày 03/10/2007 của Chính phủ hướng dẫn thi hành chi tiết một
số điều của Luật Doanh nghiệp
Trang 31phạm vi giá trị góp vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Khi chủ hộ kinh doanh góp một phần tài sản vào thành lập doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm hữu hạn, có nghĩa là phần tài sản đó tách bạch khỏi tài sản cá nhân và được sử dụng vào việc chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đó, toàn bộ tài sản còn lại được sử dụng cho việc chịu trách “vĩnh viễn” đối với hoạt động của hộ kinh doanh
1.3.4 Quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh
Chế định quyền và nghĩa vụ là nội dung cơ bản cấu thành địa vị pháp lý của hộ kinh doanh, chế định này chịu ảnh hưởng từ trình độ phát triển thị trường và nhận thức pháp lý về vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế29 Với đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường Việt Nam, chế định này được xây dựng từ quan niệm về vai trò của từng thành phần kinh tế đối với sự phát triển của thị trường Vì thế, các hình thức hoạt động khác nhau được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau với giới hạn quyền và nghĩa vụ khác nhau
1.3.4.1 Quyền của hộ kinh doanh
Là bộ phận cấu thành địa vị pháp lý của hộ kinh doanh, các quy định về quyền của hộ kinh doanh ghi nhận khả năng hành xử của họ trên thị trường, từ đó hình thành
tư cách chủ thể của hộ kinh doanh khi hoạt động trên thị trường Nghị định 88/NĐ-CP ghi nhận quyền của hộ kinh doanh với các nội dung sau:
(1) Hộ kinh doanh có quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh, song những ngành nghề này phải phù hợp với tính chất và quy mô hoạt động của hộ kinh doanh Dưới góc độ lý thuyết, thông thường Luật Doanh nghiệp luôn trao cho các doanh nghiệp quyền tự chủ trong kinh doanh, chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh, v.v…Song, đối với hộ kinh doanh, việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh không rộng mở như doanh nghiệp
29
Dương Anh Sơn, (2006), Đánh giá quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở,
ĐH Quốc Gia Tp.HCM
Trang 32Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, pháp luật không quy định trực tiếp việc giới hạn sự lựa chọn ngành nghề của hộ kinh doanh, hay nói khác nếu hộ kinh doanh đáp ứng được các điều kiện luật định, có quyền đăng ký kinh doanh những ngành nghề có điều kiện tương tự như doanh nghiệp Song, qua tham khảo nội dung một số ngành nghề có điều kiện như kinh doanh bất động sản chủ thể kinh doanh phải
có vốn pháp định là 6 tỷ đồng30 thì rõ ràng ở vị trí của một hộ kinh doanh, khó có thể đáp ứng được điều kiện về vốn
Còn đối với các ngành nghề hạn chế kinh doanh như buôn bán thuốc lá điếu, rượu, hay các dịch vụ karaoke, vũ trường, v.v…, Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ31, quy định chủ thể kinh doanh chỉ có thể là doanh nghiệp mới được đăng ký kinh doanh những ngành nghề này và loại trừ những chủ thể kinh doanh là hộ kinh doanh vì: Nghị định 59/2006/NĐ-CP ra đời trong bối cảnh sau khi Luật Doanh nghiệp 2005 được ban hành Về kỹ thuật lập pháp, Luật Doanh nghiệp
2005 được xem là sự tiến bộ trong việc mở rộng quyền tự do kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp, chính vì lẽ đó, mà Nghị định 59/2006/NĐ-CP không đi ngược lại tinh thần này, không hạn chế quyền lựa chọn ngành nghề kinh doanh của các doanh nghiệp, đối với các ngành nghề hạn chế kinh doanh, nếu doanh nghiệp đáp ứng đủ quy định của pháp luật vẫn có thể hoạt động kinh doanh những ngành nghề này Trong khi
đó, hộ kinh doanh do đăng ký thành lập dễ dàng và đang tồn tại với số lượng lớn, nếu
mở rộng chủ thể đăng ký kinh doanh các ngành nghề này cho cả hộ kinh doanh thì đưa đến hậu quả các ngành nghề Nhà nước đang hạn chế kinh doanh sẽ được kinh doanh với số lượng nhiều và phổ biến hơn, mà điều này trái với quan điểm điều chỉnh của pháp luật
Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về hàng hoá dịch
vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện
Trang 33(2) Hộ kinh doanh có quyền được hoạt động kinh doanh trong một môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và ổn định Theo đó, hộ kinh doanh có quyền được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sau khi đã nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ;
có quyền khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo
1.3.4.2 Nghĩa vụ của hộ kinh doanh
Với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên thị trường, hộ kinh doanh được pháp luật trao cho những khả năng hành xử nhất định trên thị trường phù hợp với tính chất
và đặc trưng của mình Song, hộ kinh doanh không tồn tại đơn lẻ trên thị trường mà luôn được đặt trong mối quan hệ song hành với các loại hình doanh nghiệp và các chủ thể khác trong sinh hoạt thị trường Do đó, chế định quyền cũng không tách rời nghĩa
vụ Về lý thuyết, các nghĩa vụ được coi là trách nhiệm và phạm vi hành xử của một chủ thể kinh doanh trên kinh doanh trên thị trường32 Nghĩa vụ của hộ kinh doanh được thể hiện thông qua các chế định khác nhau của pháp luật kinh doanh, cụ thể là:
(1) Với hoạt động quản lý Nhà nước về kinh tế, hộ kinh doanh có nghĩa vụ đăng
ký kinh doanh những ngành nghề được tự do kinh doanh và hoạt động theo đúng ngành nghề và địa điểm đã ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh33; đảm bảo quyền
sử dụng hợp pháp địa điểm kinh doanh và đăng ký chính xác về nhân thân trong hồ sơ ĐKKD34; đảm bảo điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật khi kinh doanh ngành nghề có điều kiện; đăng ký mã số thuế;
(2) Bên cạnh đó, hộ kinh doanh có trách nhiệm tuân theo các quy định của pháp luật về quy mô sử dụng lao động chỉ giới hạn không quá 10 lao động và phải đảm bảo
Trang 34tổ chức việc khám sức khoẻ; thực hiện việc mua bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động có thời hạn hợp đồng từ đủ 3 tháng trở lên
Điểm qua các quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh, có thể đưa ra một vài nhận xét như sau:
(1) Hộ kinh doanh được xác lập tư cách là một chủ thể kinh doanh trên thị trường thông qua hành vi đăng ký kinh doanh và chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hoạt động kinh doanh trên thị trường Song, do đặc điểm nguồn gốc quá trình hình thành và phát triển của hộ kinh doanh, quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh không được ghi nhận một cách trực tiếp trong luật doanh nghiệp như các loại hình doanh nghiệp Chế định quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh được ghi nhận thông qua các Nghị định của Chính phủ, mà trực tiếp là Nghị định 88/2006/NĐ-CP, ngoài ra những quy định tại các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính các hành vi liên quan đến hộ kinh doanh cũng là một hình thức thể hiện chế định nghĩa vụ của hộ kinh doanh cần tuân thủ khi tham gia sinh hoạt thị trường
(2) Quyền và nghĩa vụ của một chủ thể kinh doanh được xây dựng căn cứ trên
cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của chủ thể đó Nếu như doanh nghiệp được xem là tổ chức kinh tế có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, Pháp luật về kinh doanh nói chung
và Luật doanh nghiệp nói riêng cần thiết phải quy định và điều chỉnh việc thành lập và quản lý nội bộ của doanh nghiệp thông qua một loạt những quy định về quyền và nghĩa
vụ của doanh nghiệp, thì với hộ kinh doanh – một chủ thể kinh doanh ở hình thức giản đơn, mang tính chất cục bộ gia đình hơn là một loại hình tổ chức kinh tế, thì việc điều chỉnh của pháp luật cũng trở nên đơn giản hơn Điều này lý giải tại sao trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có không nhiều quy định liên quan đến hộ kinh doanh, đồng thời nghĩa vụ của hộ kinh doanh trong lĩnh vực cơ cấu tổ chức, chế độ thông tin báo cáo, sổ sách kế toán cũng đơn giản hơn so với các loại hình doanh nghiệp
TIỂU KẾT: Hộ kinh doanh có nguồn gốc hình thành gắn liền với lịch sử phát triển của
đất nước Do đặc trưng của nền Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, pháp luật
Trang 35Việt Nam tiếp tục ghi nhận và điều chỉnh khả năng hành xử của hộ kinh doanh trên thị trường, song không tách rời bản chất của loại hình này là mang tính chất cá thể, nhỏ lẻ, thiên về tính chất gia đình Xuất phát từ góc độ tiếp cận đó, pháp luật quy định hộ kinh doanh chỉ được thành lập bởi những cá nhân hoặc hộ gia đình là công dân Việt Nam, được sử dụng giới hạn không quá 10 lao động, chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn về hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh bằng toàn bộ tài sản của mình Mặc dù pháp luật trao cho hộ kinh doanh một số khả năng hành xử nhất định trên thị trường như được lựa chọn ngành nghề kinh doanh, được Nhà nước bảo hộ việc kinh doanh hợp pháp, v.v…song khả năng hoạt động trên thị trường của hộ kinh doanh bị giới hạn nhiều so với các chủ thể kinh doanh khác là doanh nghiệp hay HTX, thể hiện ở quy định một chủ thể chỉ được đăng ký thành lập một hộ kinh doanh hay nói cách khác một người chỉ có thể đứng tên đăng ký thành lập một hộ kinh doanh trên phạm vi toàn quốc; đồng thời hộ kinh doanh không được thành lập chi nhánh
Nhìn chung, trong bối cảnh của Luật Doanh nghiệp 2005 và nghị định 88/2006/NĐ-CP, có nhiều vấn đề pháp lý về hộ kinh doanh đã được đổi mới: chủ thể
có quyền thành lập hộ kinh doanh, thủ tục đăng ký kinh doanh, điều kiện cấp đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, đánh giá một cách toàn diện, pháp luật hiện hành hoặc còn thiếu hoặc còn sơ sài ở nhiều quy định về tổ chức, hoạt động của hộ kinh doanh, như: quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh, quản trị hoạt động kinh doanh, thủ tục chấm dứt hoạt động kinh doanh (chưa có quy định cụ thể về vấn đề xử lý các khoản nợ và các hợp đồng trước khi chấm dứt hoạt động kinh doanh)
Trang 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH
2.1 Sự gia nhập thị trường của hộ kinh doanh
2.1.1 Vai trò của hộ kinh doanh trên thị trường
Qua quá trình hình thành và phát triển, thực tế cho thấy các hộ kinh doanh ở Việt Nam tồn tại khách quan và có vị trí, vai trò nhất định trong sự nghiệp phát triển chung của đất nước, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tăng nguồn thu cho ngân sách Cũng như các chủ thể kinh doanh khác, hộ kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần làm tăng giá trị sản phẩm thông qua quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá Theo số liệu của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đánh giá, năm 2007 hộ kinh doanh đã đóng góp 13% GDP của cả nước Ngoài ra, khi góp mặt trên thị trường, hộ kinh doanh cũng là một chủ thể tham gia vào quá trình cạnh tranh phát triển cùng với các doanh nghiệp Nếu xét về quy mô và hình thức hoạt động mà pháp luật trao cho, thì hộ kinh doanh khó có khả năng cạnh tranh được với các loại hình doanh nghiệp Song, do có ưu thế sự linh hoạt và sự thuận tiện
vị trí ở các khu dân cư, hộ kinh doanh có khả năng chiếm được thị trường bán lẻ ở những nơi mà các doanh nghiệp chưa kịp đầu tư Ngoài ra, việc người dân Việt Nam chưa có thói quen mua sắm ở các siêu thị, trung tâm thương mại, sự tồn tại của hộ kinh doanh cũng góp phần vào việc đáp ứng nhu cầu về thói quen mua sắm của người dân
2.1.2 Thủ tục gia nhập và rút khỏi thị trường của hộ kinh doanh
Theo pháp luật hiện hành, sự gia nhập thị trường của một chủ thể kinh doanh35được thực hiện thông qua hành vi ĐKKD36 Với nhà nước, thủ tục đăng ký kinh doanh
Trang 37cung cấp các thông tin cần thiết về thị trường làm cơ sở cho hoạt động quản lý và xây dựng các chính sách phát triển thị trường hiệu quả Đối với chủ thể kinh doanh, thủ tục ĐKKD xác lập tư cách cho chủ thể kinh doanh, đồng thời, nội dung kê khai khi đăng
ký còn là những cam kết của chủ thể kinh doanh trước nhà nước Sự ghi nhận về quyền ĐKKD của các chủ thể kinh doanh trong pháp luật chính là cam kết của Nhà nước trước thương nhân về việc bảo đảm cơ hội kinh doanh và khả năng hành xử của thương nhân trong một môi trường lành mạnh, ổn định Những cam kết này được thể hiện qua GCNĐKKD mà cơ quan có thẩm quyền cấp cho chủ thể kinh doanh khi đáp ứng được những yêu cầu theo luật định
Hộ kinh doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên thị trường, được pháp luật trao cho quyền gia nhập thị trường thông qua hành vi ĐKKD với cơ quan quản lý Nhà nước, mà cụ thể theo Nghị định 88/2006/NĐ-CP được phân cấp cho Phòng Đăng
ký kinh doanh cấp huyện Điều 38 Nghị định 88/2006/NĐ-CP quy định trình tự thủ tục ĐKKD của hộ kinh doanh với hồ sơ ĐKKD chỉ gồm một bản sao giấy CMND của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình thành lập hộ kinh doanh và một giấy đề nghị ĐKKD (theo mẫu) kê khai các nội dung như:
- Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh;
- Ngành, nghề kinh doanh;
- Số vốn kinh doanh;
- Họ, tên, số và ngày cấp Giấy chứng minh nhân dân, địa chỉ nơi cư trú và chữ
ký của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình
Nếu ngành nghề ĐKKD có vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề thì gửi kèm bản sao văn bản xác nhận vốn pháp định hoặc bản sao chứng chỉ hành nghề của cá nhân hoặc đại diện hộ gia đình
Sau khi nộp đầy đủ những hồ sơ trên và lệ phí ĐKKD, cơ quan ĐKKD xem xét nội dung ĐKKD nếu không thuộc ngành kinh doanh không thuộc danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh, tên hộ kinh doanh không bị trùng với các hộ kinh doanh khác
Trang 38trong phạm vi quận, huyện và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về việc đặt tên hộ kinh doanh37 thì trong thời hạn 5 ngày, hộ kinh doanh sẽ được cấp GCNĐKKD
Về bản chất, hành vi ĐKKD của hộ kinh doanh được xem như hình thức thông báo với các cơ quan QLNN, khi hồ sơ đầy đủ hợp lệ, cơ quan QLNN phải tiến hành đăng ký, thừa nhận sự ra đời của hộ kinh doanh thông qua việc cấp GCNĐKKD GCNĐKKD chính là sự cam kết của Nhà nước ghi nhận sự tồn tại của hộ kinh doanh trên thị trường
Khảo sát nội dung quy định về trình tự, thủ tục ĐKKD của hộ kinh doanh, có thể nhận thấy, thủ tục gia nhập thị trường của hộ kinh doanh đơn giản và dễ dàng hơn
so với các chủ thể kinh doanh khác như doanh nghiệp hay HTX Cụ thể, sau khi nhận được GCNĐKKD, hộ kinh doanh chỉ thực hiện đăng ký mã số thuế là có thể hoạt động ngay (nếu là ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì xin thêm giấy phép hoạt động) Trong khi các loại hình doanh nghiệp hay HTX, sau khi được cấp GCNĐKKD, ngoài việc đăng ký mã số thuế còn phải thực hiện một số các thủ tục pháp lý khác như: đăng báo, khắc dấu, đăng ký nộp quy lao động, v.v…mới có thể đi vào hoạt động
Tương tự như vậy, việc rút khỏi thị trường của hộ kinh doanh cũng được pháp luật quy định khá đơn giản và nhanh chóng so với các loại hình doanh nghiệp và HTX
Cụ thể, hộ kinh doanh khi ngừng kinh doanh, theo quy định tại Nghị định
88/2006/NĐ-CP chỉ thực hiện một thủ tục đơn giản là điền vào đơn ngừng kinh doanh (theo mẫu), đồng thời trả lại GCNĐKKD bản chính cho cơ quan ĐKKD, điểm đặc biệt đối với hộ kinh doanh là pháp luật không đặt ra chế định phá sản đối với loại hình này (về nội dung này, phần kế tiếp của luận văn sẽ có phân tích cụ thể hơn) Trong khi đó, để có thể rút khỏi thị trường, doanh nghiệp và HTX phải thực hiện thủ tục giải thể hoặc phá sản theo Luật phá sản mà các thủ tục này đòi hỏi quá trình quyết toán thuế, giải quyết các khoản nợ, thanh lý tài sản và các nghĩa vụ hợp đồng, đăng báo, v.v…dẫn đến kéo
37
Xem Điều 42 Nghị định 88/NĐ-CP ngày 29/08/2006 của Chính phủ về ĐKKD
Trang 39dài về thời gian và để hoàn thành tất cả những thủ tục này phải trải qua một quá trình nhiều tầng, nhiều lớp38
Gia nhập và rút khỏi thị trường là những thủ tục “khai sinh” và “khai tử” một chủ thể kinh doanh, lý giải cho sự phân biệt của pháp luật trong việc quy định về trình
tự thủ tục đăng ký cũng như ngừng kinh doanh giữa hộ kinh doanh với doanh nghiệp
và HTX, trước hết xuất phát từ đặc điểm pháp lý của các chủ thể này Mỗi một chủ thể kinh doanh được pháp luật quy định những đặc điểm pháp lý khác nhau mà theo đó có những quyền và nghĩa vụ khác nhau Hộ kinh doanh là một hình thức kinh doanh giản đơn, linh hoạt, theo cơ chế tự quản và không có bộ máy tổ chức, việc thực hiện các hoạt động kinh doanh cũng được pháp luật quy định ở những phạm vi nhất định, và do
đó, chế độ tài chính, góp vốn cũng như khả năng giao kết, phát sinh các nghĩa vụ hợp đồng với các chủ thể khác cũng không được pháp luật đặt ra, đồng thời pháp luật cũng không can thiệp sâu vào nội bộ của hộ kinh doanh như đối với các loại hình doanh nghiệp và HTX Không phải ngẫu nhiên mà pháp luật quy định và điều chỉnh hình thức
tổ chức hoạt động, đồng thời quy định nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các doanh nghiệp, HTX, nhưng không áp dụng những quy định này đối với hộ kinh doanh, điều
đó thể hiện sự công bằng trong việc điều tiết khả năng hành xử của mỗi chủ thể kinh doanh trong thị trường Chủ thể kinh doanh có phạm vi hoạt động rộng lớn, có khả năng phát triển, mở rộng hoạt động đồng thời tương tác với nhiều chủ thể khác trong quá trình kinh doanh thông qua các hình thức hợp đồng, thì để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, việc “khai tử” một doanh nghiệp phải được tiến hành chặt chẽ theo trình tự luật định, nhằm hạn chế đến mức tối thiểu tình trạng “bỏ của chạy lấy người” hay sự lừa đảo của các doanh nghiệp “ma” đối với các chủ thể khác trên thị trường
38
Xem Chương VIII Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật phá sản 2004
Trang 402.2 Quản lý Nhà nước về hộ kinh doanh
Hiện tại, hệ thống các quy định quản lý áp dụng cho hộ kinh doanh còn thiếu thống nhất và minh bạch Dù cùng kinh doanh một mặt hàng với cùng một quy mô, hộ kinh doanh và doanh nghiệp lại bị điều chỉnh bởi những quy định khác nhau Mặt khác, các hộ kinh doanh với cùng một mặt hàng và quy mô ở địa phương khác nhau còn chịu sự điều chỉnh bởi các quy định khác nhau của chính quyền sở tại39 Một ví dụ cụ thể như sau: từ năm 2008, các hộ kinh doanh tại Quận 1-TP.HCM, khi nộp hồ sơ ĐKKD ngòai các hồ sơ theo quy định tại Nghị định 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ, phải có văn bản cam kết “không vi phạm Điều 8 Luật Giao thông đường bộ về sử dụng lòng, lề đường, trong đó nói rõ nơi để xe đúng quy định cho khách hàng đến giao dịch” theo Công văn chỉ đạo số 496/UBND-ĐTMT ngày 22/01/2008 của UBND Thành phố HCM về thực hiện giải pháp cấp bách nhằm kéo giảm tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông trên địa bàn Thành phố Như vậy, rõ ràng đây chỉ là quy định riêng của Thành phố HCM do xuất phát từ tình hình giao thông trên địa bàn thường xuyên ùn tắc Để phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước, UBND Thành phố HCM đã chỉ đạo UBND các quận huyện khi tiếp nhận hồ sơ ĐKKD của hộ kinh doanh phải thêm thủ tục cam kết, trong khi ở các tỉnh, thành khác thì không có quy định này
Nhìn chung, quy định pháp luật điều chỉnh các họat động của hộ kinh doanh ở Việt Nam còn kém tòan diện, chưa minh bạch và không được thực hiện nghiêm túc như các quy định pháp luật áp dụng cho doanh nghiệp
Do đó, khi xem xét thực trạng quản lý Nhà nước đối với hộ kinh doanh, không thể không đề cập đến cơ quan ĐKKD địa phương với vai trò chủ đạo trong công tác quản lý Nhà nước đối với hộ kinh doanh, đồng thời cơ chế kiểm tra sau ĐKKD cũng
39
Xem Ngân hàng phát triển Châu Á, (2006), “Vai trò của Chính quyền địa phương và mức độ chính thức của
DNTN”, Tài liệu tham luận số 2, Dự án nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo