Chủ thể định tội danh ..... Xác định chủ thể của tội phạm trong thực tiễn định tội danh ...
Trang 1PHẠM VĂN TỈNH
ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TRONG CHƯƠNG XII CỦA
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật hình sự - Tố tụng hình sự
Mã số: 60380104
Người hướng dẫn khoa học:
Tiến sĩ: TRẦN THỊ QUANG VINH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan luận văn “Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người trong Chương XII của Bộ luật hình sự năm 1999” là công trình nghiên cứu của riêng bản thân tôi, dưới sự hướng dẫn của
Ts Trần Thị Quang Vinh, nội dung được trình bày là trung thực Tác giả chịu trách nhiệm với công trình nghiên cứu của mình
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Văn Tỉnh
Trang 3- BLHS : Bộ luật hình sự
- BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
Trang 4CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI
VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
7
1.1 Khái niệm, chủ thể và ý nghĩa của định tội danh 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Chủ thể định tội danh 12
1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh 15
1.2 Cấu thành tội phạm - Cơ sở pháp lý của định tội danh 16
1.2.1 Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự 16
1.2.2 Cấu thành tội phạm là mô hình pháp lý của tội phạm 27
1.3 Khái niệm và các đặc trưng pháp lý của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của con người theo Bộ luật hình sự năm 1999 31
1.3.1 Khái niệm các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của con người 31
1.3.2 Những dấu hiệu pháp lý của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe 35
1.4 Phân biệt tội phạm 40
1.4.1 Phân biệt giữa các tội phạm trong nhóm các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác 40
1.4.1.1 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS) với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS) 40
1.4.1.2 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS) với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106 BLHS 41 1.4.1.3 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của
người khác (Điều 104 BLHS) với tội gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong khi thi
Trang 51.4.3 Phân biệt tội cố ý gây thương tích dẫn chết người (Điều 104
BLHS) với tội giết người (Điều 93 BLHS) (trong trường hợp tội phạm hoàn thành) 44
Chương 2 THỰC TIỄN ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 46 2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong định tội danh các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của con người 46
2.1.1 Xác định các dấu hiệu pháp lý của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe trong điều tra, truy tố và xét xử 46
2.1.1.1 Xác định khách thể và đối tượng tác động của các tội
cố ý xâm phạm sức khỏe trong thực tiễn định tội danh 46 2.1.1.2 Xác định các dấu hiệu khách quan của tội phạm trong
thực tiễn định tội danh 49 2.1.1.3 Xác định các dấu hiệu chủ quan của tội phạm trong
thực tiễn định tội danh 65 2.1.1.4 Xác định chủ thể của tội phạm trong thực tiễn định tội
danh 70 2.1.2 Xác định các tình tiết quy định tại điểm a đến điểm k khoản 1
Điều 104 BLHS và các tình tiết định khung tăng nặng khác 70 2.1.3 Đánh giá tổng quan thực tiễn định tội danh đối với hành vi xâm
phạm sức khỏe của con người 81
2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người 86
2.2.1 Vấn đề hoàn thiện quy định của BLHS 1999 về các tội cố ý gây
thương tích và vấn đề giải thích pháp luật 86 2.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội danh trong
thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử 90
KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Định tội danh là hoạt động có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Định tội danh cũng là kết luận về sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét với khái niệm về loại tội được quy định trong pháp luật hình sự
Trong điều tra, truy tố, xét xử định tội danh cũng là việc xem xét, đánh giá, phân loại hành vi xâm hại các quan hệ xã hội, hành vi cấu thành tội phạm hay hành vi không cấu thành tội phạm, để phân biệt từng hành vi cấu thành tội phạm nào do luật hình sự quy định Từ đó có sự lựa chọn, xác định đúng tội danh đối với từng hành vi vi phạm pháp luật, góp phần quan trọng trong việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm
Mặt khác định tội danh đúng là cơ sở cho việc xác định trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt đúng pháp luật Định tội danh đúng sẽ bảo đảm nguyên tắc pháp chế, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa Định tội danh đúng là một trong những cơ sở áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn, về thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử qua đó góp phần hữu hiệu cho việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội và cũng nhằm phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Định tội danh có ý nghĩa xem xét các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội và là sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do người thực hiện hành vi phạm tội gây ra
Nguyên nhân dẫn đến vấn đề oan, sai, bỏ lọt tội phạm trong thực tế một phần xuất phát từ việc định tội danh không đúng, không phù hợp giữa hành vi phạm tội so với các quy định của pháp luật hình sự, từ đó làm ảnh hưởng xấu đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật hình sự quy định và bảo vệ, mà còn làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, ảnh hưởng đến hiệu quả của đấu tranh phòng, chống tội
Trang 7
phạm
Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự, định nghĩa về tội phạm Trong đó tính mạng, sức khỏe là một trong những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và quy định tại Chương XII của Bộ luật hình sự Trong cấu thành tội phạm đối với các hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của người khác do trong đó có một số đặc điểm giống nhau hoặc tương tự nhau so với cấu thành tội phạm ở các quy phạm pháp luật khác mà Bộ luật hình sự quy định cùng Chương XII, không những dễ gây nhầm lẫn, dẫn đến định tội danh trong các hành vi này là một vấn đề còn nhiều vướng mắc và lúng túng do còn nhiều quan điểm, nhiều cách hiểu khác nhau, tranh luận đánh giá khác nhau trong việc định tội danh trong Chương XII nói chung và hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người nói riêng Vì vậy, trong lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu, phân tích những sai sót, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, trên cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động định tội nói chung và định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người nói riêng, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp thiết trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trong thực tế, cũng nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người trong Chương XII của Bộ luật hình sự năm 1999” làm luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Định tội danh là một lĩnh vực trong luật hình sự đã có nhiều công trình khoa học và đề tài nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như: Công trình nghiên
cứu “Chế định nhiều tội những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Tiến sĩ Lê
Văn Đệ, nghiên cứu về Định tội danh đối với trường hợp nhiều tội phạm, phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm Các đề tài nghiên cứu luận
văn thạc sĩ như: Luận văn cao học “Định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng của con người theo pháp luật hình sự hiện hành” của tác giả
Trần Nhật Linh, đã giải quyết nội dung đối với các hành vi cố ý xâm phạm
tính mạng của con người; Luận văn cao học “Định tội danh các tội xâm phạm
Trang 8
sỡ hữu có tính chiếm đoạt theo Bộ luật hình sự năm 1999” của tác giả Đỗ
Ngọc Lợi, đã giải quyết nội dung các hành vi xâm phạm sở hữu; Luận văn
cao học “Định tội danh đối với hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản trong Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Huỳnh
Nguyễn Thanh Trúc, đã giải quyết nội dụng đối với hành vi dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; Luận văn cao học
“Định tội danh đối với tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Luật hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Minh Phước, đã
giải quyết nội dung đối với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người
khác phạm tội mà có; Luận văn cao học “Các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe người khác những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác
giả Lê Văn Quang (2009), đã giải quyết nội dụng đối với các dấu hiệu tội phạm của từng tội danh cụ thể của nhóm tội cố ý gây thương tích theo Bộ luật
hình sự quy định Luận văn cử nhân “Định tội danh đối với các tội giết người lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Thị Như Đông, đã giải quyết nội dung
những hạn chế, bất cập trong việc định tội danh đối với các tội danh giết
người cụ thể theo quy định của Bộ luật hình sự; Luận văn cử nhân “Định tội danh đối với các tội về tham nhũng theo luật hình sự Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Xuân Việt, đã giải quyết việc xác định các dấu hiệu đặc trưng của các
tội về tham nhũng; Luận văn cử nhân “ Định tội danh đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo Bộ luật hình sự 1999” của tác giả Đoàn
Trần Diễm My, đã giải quyết việc xác định các hành vi xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp; Một số khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng Điều 104
Bộ luật hình sự “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” của Tiến sĩ Trần Văn Hưởng, Tạp chí kiểm sát, số 10 tháng
5/2011; và các bài viết về định tội danh trên tạp chí Tuy nhiên các luận văn và các bài viết trên nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đối với các hành vi xâm phạm sở hữu, xâm phạm tính mạng, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Điều 250 BLHS) và về tham nhũng Đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe Do vậy, tác giả tiếp tục nghiên
Trang 93 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu là trên cơ sở phát hiện những bất cập trong quy định của pháp luật về các tội cố ý gây thương tích, những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử nhằm đưa ra đề xuất những giải pháp hoàn thiện những bất cập trong quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về các tội cố ý gây thương tích
- Đối tượng nghiên cứu
Quy định của PLHS hiện hành về các tội cố ý gây thương tích và thực tiễn định tội danh đối với các hành vi cố ý gây thương tích
- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của
con người trong Chương XII của Bộ luật hình sự năm 1999, đặc biệt nghiên cứu so sánh hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người với các hành vi khác có dấu hiệu đặc trưng tương tự về quy phạm pháp luật so với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe, cụ thể các hành vi cố ý có liên quan đó là so sánh hành
vi cố ý xâm phạm sức khỏe với hành vi cố ý xâm phạm tính mạng con người được quy định trong Chương XII của Bộ luật hình sự năm 1999 Đồng thời cũng đề cập một số vấn đề có liên quan đến các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan chức năng
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu để đạt được mục đích nêu trên, tác giả tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 10
+ Nhận thức những vấn đề chung thuộc mặt lý luận cơ bản về định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người theo Luật hình sự 1999;
+ Phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người, trên cơ sở các nguyên tắc, các đặc điểm, các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành;
+ Nghiên cứu trên thực tiễn các bản án do Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang, Tòa án nhân dân tỉnh Long An, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã xét xử từ năm 2004 đến 2011 đối với các tội cố ý gây thương tích và qua các vụ án được viết trên tạp chí, các báo cáo rút kinh nghiệm để so sánh đánh giá giữa thực trạng và lý luận trên cơ sở đó tìm ra những bất cập vướng mắc và nguyên nhân dẫn đến những bất cập, vướng mắc, từ đó có đề xuất, kiến nghị giải pháp hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả định tội danh trong thực tiễn
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách hình sự, cải cách tư pháp
Phương pháp cụ thể phối hợp nhiều phương pháp khoa học, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu: phân tích, so sánh, tổng hợp; tham khảo chuyên gia, nghiên cứu trên cơ sở thực tiễn hoạt động định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người để làm rõ nội dung đề tài
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn Luận văn góp phần vào nhận thức chung về định tội danh và nhận thức về định tội đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người nói riêng trong khoa học luật Hình sự Việt Nam
Kết quả nghiên cứu tổng hợp các vướng mắc trong thực tế đối với hành
vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người, nhằm tìm đến cái chung trong lý luận và thực tiễn định tội góp phần đảm bảo hoạt động định tội được chính xác, đúng luật định
Trang 11
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm hai chương
Chương 1: Khái quát chung về định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người
Chương 2: Thực tiễn định tội danh đối với hành vi cố ý xâm phạm sức khỏe của con người trong Bộ luật hình sự năm 1999 và một số kiến nghị
Trang 12
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI HÀNH VI CỐ Ý
XÂM PHẠM SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI
1.1 Khái niệm, chủ thể và ý nghĩa của định tội danh
1.1.1 Khái niệm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa (khoản 1 Điều 8 BLHS) Định nghĩa này có nghĩa khi xác định một tội phạm là việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội của một người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã xâm hại một hay nhiều quan hệ xã hội là khách thể đã được pháp luật hình sự bảo vệ và kết luận rằng hành
vi đó là hành vi vi phạm các quy phạm pháp luật mà Bộ luật hình sự quy định
Trong khoa học luật hình sự, việc áp dụng các quy phạm pháp luật là một quá trình đa dạng và phức tạp được tiến hành qua các giai đoạn nhất định như: Giải thích pháp luật hình sự, xác định hiệu lực pháp luật về thời gian và không gian, định tội danh, quyết định hình phạt Trong đó, định tội danh là một trong những giai đoạn cơ bản, là một trong những nội dung của quá trình áp dụng pháp luật, một trong những cách thức đưa các quy phạm pháp luật vào đời sống xã hội Định tội danh còn là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự
Nếu trong hoạt động định tội danh Bộ luật hình sự thể hiện về mặt pháp lý của Nhà nước đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội và việc người thực hiện tội phạm là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã bị pháp luật hình sự cấm, thì định tội danh là sự xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm Như
Trang 13
vậy, định tội danh là việc xác định, ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự
Định tội danh là quá trình lôgíc, do vậy việc thực hiện đúng quá trình này, đòi hỏi phải có phương pháp luận Trong lý luận và thực tiễn, khái niệm định tội danh còn được hiểu là kết quả nhất định của quá trình hoạt động do Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán hay Hội thẩm nhân dân tiến hành Điều đó có nghĩa rằng định tội danh là sự đánh giá một tội phạm về mặt pháp lý, trên cơ sở những tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử
Định tội danh cũng có nghĩa là một trong những hình thức hoạt động về mặt pháp lý Bởi vì định tội danh là sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành
vi nguy hiểm cho xã hội do người có thẩm quyền xem xét, xác định hành vi được quy định ở điều luật nào của Bộ luật hình sự Hay định tội danh là kết luận về sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét với khái niệm về loại tội phạm này được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự, tức là việc xem xét chọn quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi cụ thể đang xem xét Điều đó cũng có nghĩa là sự xác định hành vi xảy ra trong thực tế là hành vi phạm tội Như vậy, định tội danh thực chất là việc xác định về mặt pháp lý đối với hành vi xảy ra trong thực tế Do đó, điều quan trọng trong quá trình định tội danh là tìm được những dấu hiệu cơ bản, điển hình và quan trọng nhất, phải chỉ ra những dấu hiệu cần và đủ để xác định thực chất của hành vi xảy ra trong thức tế Đồng thời, khi đối chiếu các dấu hiệu đó với các dấu hiệu được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự phải đưa ra kết luận rằng nhà làm luật khi ban hành quy phạm pháp luật đó là để áp dụng cho những trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét
Áp dụng quy phạm pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách tuần tự từ cái chung đến cái riêng Tội phạm là một vi phạm pháp luật nói chung Do đó, khi định tội danh trước hết người tiến hành tố tụng thực hiện điều tra, truy tố, xét xử cần phải xác định hành vi xảy ra trong thực tế có vi phạm pháp luật không?, tiếp theo định tội danh cần xác
Trang 14
định hành vi vi phạm pháp luật đó thuộc loại hành vi vi phạm pháp luật nào trong các vi phạm mà pháp luật phân chia như: vi phạm pháp luật dân sự, vi phạm pháp luật hành chính, vi phạm kỷ luật hoặc là tội phạm Việc xem xét một hành vi vi phạm pháp luật thuộc loại vi phạm nào là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi người định tội danh phải xác định một cách chính xác Khi phân định các loại vi phạm pháp luật và đặc biệt lưu ý khái niệm tội phạm trong Điều 8 BLHS, trong đó có đề cập tới các dấu hiệu của tội phạm Trước hết, đó là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Đây là dấu hiệu quan trọng thể hiện rõ nội dung chính trị, xã hội của tội phạm, là cơ sở đầu tiên để giải thích một hành vi là tội phạm Nhưng khi nói về một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không đề cập tới tính có lỗi Lỗi thể hiện thái độ tâm lý của một người phạm tội đối với hành vi và hậu quả của hành vi Đặc điểm của tội phạm còn thể hiện ở tính trái pháp luật hình sự của hành vi Tức là một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó được quy định trong Bộ luật hình sự Trong quá trình phân
loại vi phạm pháp luật cần xem xét khả năng loại trừ trách nhiệm hình sự như:
phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ, người thực hiện hành
vi không có năng lực trách nhiệm hình sự
Như vậy, định tội danh là quá trình từ nhận thức đến thực tiễn áp dụng pháp luật Để hiểu và vận dụng đúng việc định tội danh chúng ta cần hiểu khái niệm về định tội danh Theo các công trình nghiên cứu khoa học và các tài liệu nghiên cứu pháp luật hình sự, khái niệm về định tội danh hiện còn có những quan điểm và cách hiểu khác nhau, thể hiện ở các quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, định tội danh là quá trình nhận thức có
tính lôgíc, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các căn cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của
cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm xác định được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp
lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự
Trang 15cơ sở các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để so
sách đối chiếu với các cấu thành tội phạm nhằm đưa ra sự đánh giá chính xác
tội phạm về mặt pháp lý hình sự Nhưng không chỉ ra được chủ thể có thẩm
quyền định tội danh là ai và cũng không chỉ ra cách thức định tội danh được
thực hiện như thế nào
Quan điểm thứ hai cho rằng, “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi
phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm được quy phạm pháp luật hình sự quy định”2
Quan điểm này nói lên việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa dấu hiệu của hành vi phạm tội với dấu hiệu của cấu thành tội phạm trong việc định tội danh một cách chung chung, chưa nêu ra được cơ sở định tội danh, không chỉ ra chủ thể có thẩm quyền định tội danh là ai và cách thức định tội danh như thế nào
Quan điểm thứ ba cho rằng, định tội danh là một trong những giai đoạn
hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tiến hành Các cơ quan này căn cứ vào các tình tiết đã được xác định về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cụ thể nào đó mà quyết định xem hành
vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đã được pháp luật quy định3
Theo quan điểm này chỉ ra việc định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật do chủ thể có thẩm quyền định tội danh là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án và chỉ ra việc xác định tội phạm bằng việc xác định tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đủ với dấu hiệu của cấu thành tội phạm do
1 Lê Cảm (1999), Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự (tập 1), Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội, tr.11
2 Võ Khánh Vinh (1999), Lý luận về định tội tội danh, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.20
3 Lê văn Đệ (2003), Chế định nhiều tội phạm những lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr.101
Trang 16
luật định Quan điểm này không chỉ ra cách thức định tội danh như thế nào
Qua các khái niệm về định tội danh nêu trên thấy rằng, tuy các quan điểm đều có cách định nghĩa khác nhau nhưng đều khẳng định việc định tội danh chính là đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng
do luật hình sự quy định Ở mỗi quan điểm có những ưu điểm và những hạn chế nhất định nhưng theo tác giả định tội danh cần được hiểu như sau:
“Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính lôgíc, là dạng của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự trong thực tiễn
do cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tiến hành, trên cơ sở các chứng cứ tài liệu được thu thập theo trình tự thủ tục luật định cùng các tình tiết khách quan của vụ án hình sự để đánh giá về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định để giải quyết vụ án hình sự bằng việc ra văn bản áp dụng pháp luật”
Như vậy, chúng ta có thể hiểu định tội danh có các đặc điểm như sau: + Định tội danh là quá trình nhận thức có tính lôgíc giữa lý luận và thực tiễn nhằm đánh giá về mặt pháp lý đối với các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội
+ Định tội danh là quá trình hoạt động do các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiển sát, Tòa án được Nhà nước ủy quyền thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
+ Định tội danh phải dựa trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ được thu thập cùng các tình tiết thực tế khách quan của vụ án hình sự để đối chiếu sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định
+ Hoạt động định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự và phải tiến hành bằng việc ra văn bản áp dụng pháp luật
để giải quyết vụ án hình sự
Trang 17
1.1.2 Chủ thể định tội danh
Căn cứ vào chủ thể thực hiện việc định tội danh, có thể chia định tội danh thành hai loại là định tội danh chính thức và định tội danh không chính thức:
“Định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện”4
“Định tội danh không chính thức là sự đánh giá không phải về mặt Nhà nước có tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể”5
Trong định tội danh chính thức là hoạt động do người tiến hành tố tụng được Nhà nước ủy quyền xác định tội danh trong một vụ án cụ thể bao gồm: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm tiến hành Các kết quả của việc định tội danh do các chủ thể này tiến hành làm phát sinh các hậu quả pháp lý hình sự như khởi tố vụ án hình sự, điều tra vụ án, khởi tố bị can, để áp dụng các biện pháp ngăn chặn Là cơ sở để ra bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, ra bản án, miễn trách nhiệm hình sự
Trong định tội danh không chính thức là sự đánh giá về mặt pháp lý về hành vi phạm tội do các nhà nghiên cứu khoa học, sinh viên hoặc của bất kỳ một người nào đó (không được Nhà nước ủy quyền) quan tâm nghiên cứu cụ thể vụ án này hay vụ án khác mà họ đưa ra Định tội danh không chính thức không sinh ra quyền và nghĩa vụ mà là sự thể hiện quan điểm, ý kiến cá nhân
Bộ luật tố tụng hình sự quy định cơ quan tiến hành tố tụng gồm có: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án; Người tiến hành tố tụng gồm có: Thủ trưởng, Phó Thủ trương Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án (Điều 33 BLTTHS)
Qua các khái niệm về định tội danh được nêu phần trên theo quan điểm thứ ba, thì quan điểm này chỉ ra chủ thể có thẩm quyền định tội danh là Cơ
Trang 18
quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án
Theo TSKH.PGS Lê Cảm: Cơ quan tiến hành tố tụng là một trong những chủ thể của tố tụng hình sự có thẩm quyền nhân danh Nhà nước (công quyền) thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật hoặc hoạt động tài phán bằng việc tham gia vào quá trình khởi tố, điều tra, truy tố hoặc xét xử vụ án hình sự để xác định sự thật khách quan của vụ án và vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội hoặc của bị cáo, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa vụ nhất định do luật tố tụng hình sự quy định căn cứ vào từng giai đoạn cụ thể tương ứng với hoạt động của mỗi loại cơ quan khi giải quyết vụ án hình sự nhằm góp phần cho hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự đạt hiệu quả cao trong cuộc đấu tranh chống tội phạm6
Như vậy, chủ thể tiến hành tố tụng được hiểu là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mà cụ thể là Điều tra viên, Kiển sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là các chủ thể trực tiếp tiến hành
Trong tố tụng hình sự, định tội danh là hoạt động được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trong tố tụng, như khởi tố, điều tra, xét xử Tuy trong cùng một vụ án hình sự và việc định tội danh được thực hiện qua nhiều giai đoạn nhưng ở mỗi giai đoạn chủ thể có thẩm quyền định tội danh trong các giai đoạn này không hoàn toàn giống nhau mà mỗi giai đoạn các chủ thể có thẩm quyền khác nhau bởi đặc thù trong việc thực hiện định tội danh do luật tố tụng hình sự quy định, cụ thể như sau:
Trong giai đoạn khởi tố, điều tra, chủ thể định tội danh (Điều tra viên) bị chi phối bởi hoạt động chứng minh, tìm kiếm sự thật khách quan từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm, chủ thể định tội danh dựa trên cơ sở các tình tiết khách quan đã điều tra, thu thập được mới tiến hành việc định tội danh Việc chứng minh, thu thập chứng cứ để tìm ra sự thật khách quan là một lĩnh vực khá rộng nên việc định tội danh của chủ thể định tội danh trong giai đoạn này không bị hạn chế trong việc định tội danh của Điều tra viên, mà Điều tra
6 Lê Cảm (2008), “Các bộ phận cấu thành cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự”, Tạp chí Tòa
án nhân dân, (20), tr.5
Trang 19
viên chỉ bị hạn chế bởi sự thật khách quan có trong hồ sơ vụ án, sự thật khách quan là cơ sở để khởi tố vụ án hình sự (Điều 100 BLTTHS), khởi tố bị can (Điều 126 BLTTHS) ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố (Điều 162 BLTTHS) Tuy nhiên, trong trường hợp khi có lỗi chủ quan hay khách quan mà việc điều tra thu thập chứng cứ không đầy đủ, thiếu khách quan dẫn đến
cơ quan Viện kiểm sát phải quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Điều 168 BLTTHS) và sau khi điều tra bổ sung có làm thay đổi hay không thay đổi sự thật khách quan thì việc định tội danh của Điều tra viên vẫn không vượt quá sự thật khách quan có trong hồ sơ vụ án
Trong giai đoạn truy tố, chủ thể định tội danh (Kiểm sát viên) trong giai đoạn này việc định tội danh của Kiểm sát viên trên cơ sở những chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án (như ở Cơ quan điều tra), tuy nhiên chủ thể định tội danh trong giai đoạn này có quyền yêu cầu điều tra bổ sung (Điều
168 BLTTHS) để tìm ra sự thật khách quan của vụ án và sau khi điều tra bổ sung có làm thay đổi hay không thay đổi sự thật khách quan thì việc định tội danh của Kiểm sát viên cũng không vượt quá sự thật khách quan có trong hồ
sơ vụ án Sự thật khách quan là cơ sở để định tội danh bằng việc ra bản cáo trạng truy tố người có hành vi phạm tội ra trước Tòa (Điều 167 BLTTHS) Chủ thể định tội danh trong giai đoạn này còn có thẩm quyền trong việc định tội danh ngay cả trước khi xét xử sơ thẩm bằng quyết định rút quyết định truy tố (Điều 181 BLTTHS), trong khi xét xử sơ thẩm Kiểm sát viên có thể rút quyết định truy tố (toàn bộ hay một phần) hay kết luận tội nhẹ hơn (Điều 195 BLTTHS) và sau xét xử sơ thẩm có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm hoặc quyết định của Tòa án bằng quyết định kháng nghị phúc thẩm (Điều 36 BLTTHS) cũng trên cơ sở sự thật khách quan của vụ án
Giai đoạn xét xử sơ thẩm, chủ thể định tội danh là Thẩm phán, Hội thẩm, sau khi nhận được hồ sơ từ Viện kiểm sát, Tòa án với chức năng xét xử, việc kiểm tra, xem xét định tội danh được thực hiện ngay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Trên cơ sở sự thật khách quan có trong hồ sơ vụ án Thẩm phán có nhiệm vụ kiểm tra việc truy tố có căn cứ hay không để ra các quyết định tố tụng như: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ để điều
Trang 20
tra bổ sung, quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án (Điều 176 BLTTHS),
trong bốn quyết định này cũng đều xem xét việc định tội danh Khi xét xử
cũng trên cơ sở sự thật khách quan có trong hồ sơ vụ án và là căn cứ để Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ra quyết định hoặc bản án Bản án là văn bản áp dụng pháp luật kết tội đối với một người hoặc tuyên bố một người không phạm tội và nó có giá trị pháp lý thi hành khi nó có hiệu lực pháp luật, như nội dung Điều 9 BLTTHS “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” Tuy nhiên, việc định tội danh ở giai đoạn xét xử Thẩm phán, Hội thẩm tuy cũng có quyền trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung nhưng có đặc thù khác biệt trong việc định tội danh của chủ thể định tội danh trong giai này là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân bị giới hạn của việc xét xử (Điều 196 BLTTHS) nên việc định tội danh của Thẩm phán và Hội thẩm không vượt quá việc truy tố của Viện kiểm sát
Trong trình tự xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm việc xem xét định tội danh cũng được đặt ra và được thực hiện theo quy định tại các Điều 248, 285, 298 BLTTHS
Như vậy, trong định tội danh chính thức (những người của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền) có quyền định tội danh và việc định tội danh này có giá trị pháp lý thực thi được trình bày dưới dạng văn bản áp dụng pháp luật (quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bản cáo trạng, quyết định hoặc bản án của Tòa án) Đây là những chủ thể có thẩm quyền được Nhà nước giao cho thực hiện việc định tội danh và họ nhân danh Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ được ủy quyền
1.1.3 Ý nghĩa của việc định tội danh
Định tội danh là hoạt động áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự Định tội danh đúng có ý nghĩa quan trọng trong đời sống chính trị xã hội Bởi vì:
Định tội danh đúng là cơ sở bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, là việc thể hiện sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
Trang 21
tố tụng và người tham gia tố tụng trong lĩnh vực tư pháp hình sự
Định tội danh đúng là cơ sở thực hiện nguyên tắc công bằng, bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật Là cơ sở phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt một cách công minh, đúng pháp luật đối với người phạm tội
Định tội danh đúng là cơ sở bảo đảm xác định các thời hạn của hoạt động tố tụng như thời hạn điều tra, truy tố, xét xử, thời hạn giam giữ đối với người phạm tội đúng luật định
1.2 Cấu thành tội phạm - Cơ sở pháp lý của định tội danh
1.2.1 Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính chất đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự
Định nghĩa về tội phạm cụ thể được nêu trong quy phạm pháp luật phần các tội phạm của Bộ luật hình sự tồn tại như một mô hình về tội phạm làm cơ sở pháp lý cho việc định tội danh Mô hình đó thể hiện dưới dạng một cấu thành cụ thể Và sự đánh giá tội phạm về phương diện pháp lý của Nhà nước được thể hiện dưới dạng cấu thành tội phạm đó Bởi vậy, các nhà làm luật đã khái quát hóa: “Cấu thành tội phạm là mô hình khái quát, trừu tượng mang tính chất khoa học gồm những dấu hiệu chung, cơ bản nhất của các tội phạm cùng loại thuộc một loại Đó là những dấu hiệu điển hình và có tính lặp đi lặp lại ở tất cả những hành vi tội phạm thuộc loại đó”7
Định nghĩa về tội phạm là một sự trừu tượng mang tính chất khoa học, phản ánh thực tế khách quan Việc xác định một mô hình khái quát được tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc cùng một loại là sự khái quát từ thực tế, sự tồn tại các hành vi đó trong thực tế
Cấu thành tội phạm là một sự trừu tượng mang tính khoa học, là mô hình chung Vì vậy, cấu thành tội phạm không đề cập tới tất cả các dấu hiệu, đặc điểm của loại tội phạm ấy, mà nó chỉ đề cập tới các dấu hiệu điển hình nhất, lặp đi lặp lại trong các hành vi phạm tội cùng loại đó, nói lên bản chất
7 Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lý luận chung về định tội danh, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr 73
Trang 22Khách thể của tội phạm
“Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm hại mà các
quan hệ xã hội đó được Bộ luật hình sự bảo vệ”8
Khách thể là yếu tố quan trọng trong các dấu hiệu của cấu thành tội phạm, bất kỳ hành vi nào xâm hại đến các quan hệ xã hội mà quan hệ xã hội đó không phải là khách thể của tội phạm thì hành vi ấy không phải là tội phạm nghĩa là không có sự xâm hại quan hệ xã hội nào được luật hình sự bảo vệ thì không có tội phạm Bộ luật hình sự chỉ bảo vệ những quan hệ xã hội được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS Trong cấu thành tội phạm cụ thể, khách thể của tội phạm là khách thể trực tiếp Nghiên cứu khách thể trực tiếp là tiền đề cho các bước tiếp theo của hoạt động định tội
“Khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội cụ thể bị loại tội phạm cụ thể trực tiếp xâm hại”9 Bất kỳ tội phạm nào cũng đều có khách thể trực tiếp, có tội phạm chỉ có một khách thể trực tiếp, có tội phạm có nhiều khách thể trực tiếp là do quy phạm pháp luật quy định Tội phạm có thể xâm hại nhiều quan hệ xã hội nhưng không phải tất cả các quan hệ xã hội bị xâm hại đó đều được coi là khách thể trực tiếp Trong trường hợp nhiều quan hệ xã hội cùng bị gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thì quan hệ xã hội được coi là khách thể trực tiếp là quan hệ xã hội mà sự gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đó khi căn cứ vào tất cả các mặt như tính chất quan trọng của quan hệ xã hội, mức độ gây thiệt hại, mặt chủ quan của người phạm tội mới thể hiện được đầy đủ tính
8 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.86
9 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.92
Trang 23
chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi Thông qua khách thể trực tiếp giúp chủ thể định tội danh phân biệt tội phạm này với tội phạm khác trong các dấu hiệu cấu thành tội phạm khi so sánh có tính tương đồng, từ đó xác định tội danh cụ thể tương ứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội đối với quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật hình sự bảo vệ
Khi nghiên cứu khách thể của tội phạm, chúng ta cần nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm
“Đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ”10
Sự gây thiệt hại cho khách thể được diễn ra trên cơ sở hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của các đối tượng tác động, các bộ phận cấu thành của quan hệ xã hội, đó là: Chủ thể của các quan hệ xã hội (con người); Nội dung của các quan hệ xã hội (quyền và nghĩa vụ của chủ thể); Đối tượng của các quan hệ xã hội (vật thể) Bất cứ tội phạm nào cũng đều tác động làm biến đổi tình trạng của những đối tượng tác động cụ thể Sự làm biết đổi tình trạng này là phương thức gây thiệt hại cho quan hệ xã hội
Theo pháp luật hình sự Việt Nam, đối tượng tác động của tội phạm có một số loại như: Con người; các đối tượng vật chất; hoạt động bình thường của chủ thể
Con người với ý nghĩa vừa là thực thể tự nhiên vừa là thực thể xã hội, con người có thể là chủ thể của nhiều quan hệ xã hội Trong số những quan hệ xã hội đó có những quan hệ xã hội chỉ có thể bị gây thiệt hại khi có sự biến đổi tình trạng bình thường của con người, quan hệ nhân thân là quan hệ xã hội thuộc loại quan hệ có thể bị gây thiệt hại làm biến đổi tình trạng bình thường của con người, quan hệ nhân thân khi bị gây thiệt hại là làm biến đổi tình trạng bình thường của con người đó là gây thiệt về thể chất của con người và con người đó phải là thực thể tự nhiên, là một cơ thể sinh học, là con người đang tồn tại và đang sống Gây thiệt hại về thể chất là làm tổn hại về sức khỏe
10 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.94
Trang 24
hoặc tính mạng của con người mà gây ra hậu quả bằng mức độ thương tật trên
cơ thể con người hoặc tước đi quyền sống của con người Đây là những dấu hiệu quan trọng có ý nghĩa trong việc định tội Từ việc gây thiệt hại về thể chất có thể dẫn đến thiệt hại về tinh thần, tuy nhiên mức độ thiệt hại về tinh thần trong trường hợp này chưa thể tính bằng mức đo lường, cân, đếm được hay quy định bằng một giá trị nào đó để quy thành trách nhiệm hình sự
Ví dụ: “Tội cố ý gây thương tích” khách thể tội phạm là sức khỏe hoặc tính mạng và đối tượng tác động của tội phạm này là làm tổn hại sức khỏe hoặc quyền được sống của con người
Các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội có thể là đối tượng tác động của tội phạm Tội phạm gây thiệt hại qua hành vi làm biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng vật chất là những quan hệ về sở hữu Tất cả những hành vi làm biết đổi tình trạng bình thường của tài sản một cách trái pháp luật đều là những hành vi gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu bởi những hành vi khác nhau như hành vi chiếm đoạt, hành vi chiếm giữ, hành vi sử dụng, hành vi hủy hoại hay hành vi làm hư hỏng, thiệt hại trong trường hợp này được tính trên giá trị của tài sản bị gây thiệt hại, để quy trách nhiệm hình sự
Hoạt động bình thường của chủ thể có thể là đối tượng tác động của tội phạm Sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động ở đây chính là sự cản trở hoạt động bình thường của chủ thể hoặc dưới hình thức biến dạng xử sự của người khác hoặc dưới hình thức tự làm biến dạng xử sự của chính mình Không gây ra thiệt hại về thể chất Ví dụ: Như hành vi đưa hối lộ, hành vi trốn trách nghĩa vụ quân sự
Khi nghiên cứu đối tượng tác động của tội phạm cần phân biệt đối tượng tác động của tội phạm với công cụ phương tiện phạm tội Công cụ, phương tiện phạm tội là những đối tượng được người phạm tội sử dụng để tác động đến đối tượng tác động của tội phạm, gây thiệt hại cho khách thể
Như vậy, yếu tố khách thể của tội phạm có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị - xã hội, khách thể của tội phạm là căn cứ pháp lý để xác định có tội phạm hay không có tội phạm, nghiên cứu khách thể của tội phạm giúp chủ thể
Trang 25
định tội danh phân biệt tội phạm trong luật hình sự
Mặt khách quan của tội phạm
Các dấu hiệu hợp thành mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành
vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả và các yếu tố khác chi phối hành vi và hậu quả của hành vi đó
Hành vi khách quan của tội phạm
Hành vi khách quan là biểu hiện xử sự của con người ra bên ngoài thế giới khách quan, bằng giác quan của con người có thể trực tiếp nhận biết được
Hành vi khách quan là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng bình thường của những đối tượng tác động của tội phạm và là nguyên nhân của sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể được luật hình sự bảo vệ
Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi khách quan của tội phạm phải là: hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội, là hoạt động có ý thức và có ý chí và phải là hành vi trái pháp luật hình sự
Các hình thức biểu hiện của hành vi khách quan gồm hành động nguy hiểm cho xã hội và không hành động nguy hiểm cho xã hội
“Hành động nguy hiểm cho xã hội là hình thức của hành vi nguy hiểm cho xã hội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động qua việc chủ thể thực hiện “xử sự tích cực” bị xã hội ngăn cấm”11
“Không hành động nguy hiểm cho xã hội là hình thức của hành vi nguy hiểm cho xã hội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động qua việc chủ thể không thực hiện “xử sự tích cực” cần thiết cho xã hội và có tính bắt buộc đối với chủ thể” 12
Hậu quả của tội phạm
“Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự”13
Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 63
13 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.99
Trang 26
Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm Vì vậy, hậu quả được xác định bởi tính chất và mức độ biến đổi của các đối tượng tác động của tội phạm trước hay sau khi hậu quả đã xảy ra Bất cứ tội phạm nào cũng có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, cũng có thể gây ra sự biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động Nhưng không phải tất cả cấu thành tội phạm đều có dấu hiệu phản ánh nội dụng này mà chỉ có một số cấu thành tội phạm nhất định, nghĩa là hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc chung cho tất cả cấu thành tội phạm Khi xem xét hậu quả với hành vi thực hiện ở hình thức lỗi cố ý thì trong cấu thành tội phạm luôn phải có hậu quả, để xác định tội phạm thực hiện ở giai đoạn nào (hoàn thành hay chưa hoàn thành) Còn đối với hành vi thực hiện với lỗi vô ý việc xác định hậu quả để xác định có tội phạm hay không có tội phạm Ngoài ra, trong nhiều cấu thành tội phạm việc xác định hậu quả là dấu hiệu định tội hoặc định khung mà còn có ý nghĩa là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt
Theo khoa học luật hình sự Việt Nam hiện thừa nhận hậu quả có các dạng thiệt hại: thiệt hại về vật chất, thiệt hại về thể chất và thiệt hại về tinh thần Trong đó: Thiệt hại về vật chất biểu hiện dưới dạng thiệt hại về tài sản bị phá hủy, bị hủy hoại, bị chiếm đoạt, bị chiếm giữ, bị sử dụng trái phép; Thiệt hại về thể chất biểu hiện của nó là làm biến đổi tình trạng bình thường của thực thể tự nhiên của con người, chẳng hạn thiệt hại về tính mạng (các tội giết người), thiệt hại về sức khỏe (các tội cố ý gây thương tích); Thiệt hại về tinh thần đó là những thiệt hại về nhân phẩm, danh dự, tư do, dân chủ của con người
Đối với thiệt hại về thể chất, thiệt hại mà hậu quả gây tổn hại cho sức khỏe của con người Không phải bất cứ hành vi nào gây thiệt hại về sức khỏe đều coi là tội phạm mà người thực hiện hành vi bị coi là tội phạm khi thiệt hại về sức khỏe mà người đó gây ra đến một giới hạn nhất định tùy thuộc vào yếu tố lỗi hay khách thể bị xâm hại Bộ luật hình sự quy định bằng tỷ lệ thương tật (hay còn gọi là định lượng thiệt hại về thể chất) và được quy định với các
Trang 27
mức tỷ lệ khác nhau, căn cứ vào giới hạn tỷ lệ thương tật để xác định tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi và là căn cứ pháp lý để định tội và định khung hình phạt
Ngoài ra, trong trường hợp đặc biệt định lượng hậu quả thiệt hại về thể chất (sức khỏe) còn là hậu quả chết người từ nguyên nhân gây tổn hại cho sức khỏe dẫn đến chết người
Như vậy, việc nghiên cứu hậu quả có ý nghĩa trong việc định tội (khi hậu quả là dấu hiệu bắt buộc), trong trường hợp cấu thành tội phạm tăng nặng hậu quả có ý nghĩa trong việc định khung, việc xác định mức độ hậu quả để đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi và là căn cứ quyết định hình phạt
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Khoa học luật hình sự Việt Nam không có lý luận riêng về quan hệ nhân quả, mà chỉ có cụ thể hóa nội dung các cặp phạm trù nhân quả của duy vật biện chứng vào lĩnh vực hình sự Quan hệ nhân quả là dạng của mối liên hệ giữa các hiện tượng (sự vật, quá trình), trong đó hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm phát sinh hiện tượng khác được gọi là kết quả Khoa học luật hình sự đã giới hạn phạm vi những hiện tượng có thể là nguyên nhân và kết quả trong luật hình sự Nguyên nhân trong luật hình sự chỉ có thể là hành vi trái pháp luật và kết quả chỉ có thể là hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như để khẳng định sự tồn tại quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, theo khoa học luật hình sự chủ thể định tội danh cần phải dựa theo các căn cứ sau:
Thứ nhất, Hành vi trái pháp luật phải xảy ra trước hậu quả nguy hiểm
cho xã hội về mặt thời gian
Thứ hai, Hành vi trái pháp luật độc lập hoặc trong mối liên hệ tổng hợp
với một hoặc nhiều hiện tượng khác nhau phải chứa đựng “khả năng thực tế” làm phát sinh hậu quả nguy hiểm cho xã hội
Thứ ba, Hậu quả nguy hiểm đã xảy ra phải đúng là sự hiện thực hóa
khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả của hành vi trái pháp luật hoặc là khả
Trang 28
năng trực tiếp làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động hoặc là khả năng để sự biến đổi đó tiếp tục diễn ra mà không bị ngăn chặn Trong những điều kiện khi hậu quả xảy ra, khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả là hiện thực tất nhiên
Ngoài các dấu hiệu hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi và hậu quả của mặt khách quan còn có các yếu tố khác chi phối hành vi và hậu quả của hành vi của tội phạm cũng cần quan tâm khi định tội danh Các yếu tố đó là công cụ, phương tiện, phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian, không gian, địa điểm, hoàn cảnh phạm tội để thực hiện tội phạm, tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm, nhưng ở một số tội phạm nó lại là dấu hiệu bắt buộc, là dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tăng nặng, cấu thành giảm nhẹ Vì vậy, nghiên cứu các yếu tố này có ý nghĩa trong việc định tội và định khung hình phạt Ví dụ: Dùng hung khí nguy hiểm được quy định tại Điều 104 BLHS
Chủ thể của tội phạm
“Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể”14 Như vậy, chủ thể của tội phạm phải là người có đầy đủ điều kiện của chủ thể, cụ thể:
Một là, Năng lực trách nhiệm hình sự
Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi ấy
Hai là, Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Chủ thể của tội phạm phải là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự do luật định tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nhà nước ta đã xác định người đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 BLHS
“Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
14 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Công
an nhân dân, Hà Nội, tr.122
Trang 29
trọng” Và theo Nghị quyết 02/HĐTP ngày 05/01/1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, tính tuổi 14 hay 16 là tính theo tuổi tròn (đủ 14 tuổi; đủ 16 tuổi)
Ngoài hai dấu hiệu pháp lý bắt buộc trên, chủ thể của một số tội phạm đòi hỏi phải có dấu hiệu đặc biệt khác như: liên quan đến chức vụ quyền hạn; liên quan đến nghề nghiệp công việc; quan hệ huyết thống gia đình, giới tính mới đầy đủ các dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể
Như vậy, để xác định chủ thể của tội phạm thì chủ thể định tội danh cần phải xem xét đầy đủ điều kiện của chủ thể tương ứng với từng quy phạm pháp luật, nếu thiếu một trong các dấu hiệu của chủ thể thì không cấu thành tội phạm cho một tội phạm cụ thể theo quy định của Bộ luật hình sự
Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan là mặt bên trong nó thể hiện trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi phạm tội và hậu quả do hành vi phạm tội của họ đã gây
ra Mặt chủ quan của tội phạm theo khoa học luật hình sự bao gồm các yếu tố: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội
Yếu tố lỗi
“Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý”15
Quan hệ tâm lý ở đây bao gồm yếu tố lý trí và yếu tố ý chí là hai yếu tố cần thiết tạo thành lỗi Là biểu hiện năng lực nhận thức thực tại khách quan và biểu hiện năng lực điều khiển hành vi trên cơ sở của sự nhận thức đó “Người thực hiện hành vi nguy hiển cho xã hội bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với
đòi hỏi của xã hội”16
Căn cứ vào đặc điểm cấu trúc tâm lý của yếu tố lý trí và ý chí trong những trường hợp có lỗi, luật hình sự Việt Nam chia lỗi thành hai loại – cố ý
15 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.136
16 Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 87
Trang 30
và vô ý
“Lỗi cố ý là trường hợp có lỗi, trong đó chủ thể đã lựa chọn hành vi phạm tội và thực hiện hành vi đó”17
“Lỗi vô ý là trường hợp có lỗi, trong đó chủ thể không lựa chọn hành vi phạm tội” 18
Lỗi cố ý gồm hai hình thức là cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp Lỗi vô ý có hai hình thức là vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả
Trong định tội danh việc xác định yếu tố lỗi có ý nghĩa quan trọng để xác định ý thức chủ quan của tội phạm và để xác định tội danh Cụ thể ở dạng lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp Cố ý trực tiếp, người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra, còn cố ý gián tiếp người phạm tội không mong muốn hậu quả xảy ra mà chỉ có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra Đối với người có lỗi cố ý gián tiếp, hậu quả xảy ra hay không đều không có ý nghĩa, dù xảy ra hậu quả hay không xảy ra hậu quả cũng chấp nhận
Ngoài ra còn có trường hợp hỗn hợp lỗi
"Trường hợp hỗn hợp lỗi là trường hợp trong cấu thành tội phạm có hai loại lỗi (cố ý và vô ý) được quy định đối với những tình tiết khách quan khác nhau”19
Và trong nội tại của cấu thành tội phạm trong trường hợp hỗn hợp lỗi
cho thấy có ít nhất hai hậu quả, trong đó một hậu quả là lỗi cố ý và hậu quả còn lại là lỗi vô ý, ví dụ: Cố ý gây thương tích dẫn đến chết người (cố ý về hành vi, vô ý về hậu quả)
“Động cơ phạm tội: Động cơ phạm tội là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý”20
Mục đích phạm tội: Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội21
Ngoài ra, tâm lý của tội phạm còn biểu hiện ở dạng khác, đó là khi thực
17 Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 88
18 Nguyễn Ngọc Hòa (2005), Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 93
19 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.150
20 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.152
21 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.153
Trang 31
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội người thực hiện hành vi phạm tội không hiểu hay hiểu không đúng tính chất nguy hiểm của hành vi mà họ thực hiện Khoa học luật hình sự gọi đó là sai lầm Có hai loại sai lầm đó là sai lầm về pháp luật và sai lầm về sự việc, trong sai lầm về sự việc có các dạng sai lầm: sai lầm về khách thể bị xâm hại, sai lầm về đối tượng tác động, sai lầm về quan hệ nhân quả và sai lầm về phương tiện, công cụ phạm tội Các loại sai lầm này tuy không được nêu rõ trong cấu thành tội phạm nhưng nghiên cứu tính chất của nó lại có ý nghĩa trong việc định tội và định khung hoặc xem xét về lỗi (lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý) trong cấu thành tội phạm
Sai lầm về pháp luật: “Sai lầm về pháp luật là sự hiểu lầm của chủ thể về tính chất pháp lý của hành vi của mình”22 Trong sai lầm này, người có hành vi hiểu lầm rằng hành vi của mình là phạm tội nhưng thực tế luật không quy định hành vi đó là tội phạm, hoặc là người có hành vi cho rằng hành vi của mình không phải là tội phạm nhưng thực tế luật quy định hành vi đó là tội phạm
Sai lầm về sự việc: Sai lầm về sự việc là sự hiểu lầm của chủ thể về những tình tiết thực tế của hành vi của mình Sai lầm này người phạm tội nhận thức không đúng những tình tiết của hành vi hoặc thiệt hại xảy ra không đúng ý định của họ, hoặc là người phạm tội đánh giá không đúng tác dụng thực tế của phượng tiện, công cụ phạm tội
Trong sai lầm về sự việc có thể có các dạng sai lầm như sau:
Một là, Sai lầm về khách thể Sai lầm của chủ thể về tính chất của quan
hệ xã hội là đối tượng của hành vi của mình, xâm phạm khách thể này tưởng là xâm phạm khách thể khác
Hai là, Sai lầm về đối tượng Sai lầm của chủ thể về đối tượng tác động
là do nhận thức không đúng về đối tượng tác động xâm hại khi thực hiện tội phạm Cần phân biệt sai lầm về đối tượng với sai lầm về khách thể Trường hợp sai lầm về khách thể, người phạm tội cũng có sự sai lầm về đối tượng tác động Nhưng điểm khác với sai lầm về đối tượng ở chỗ: Do có sai lầm về đối
22 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.15
Trang 32
tượng nên người phạm tội đã có sai lầm về khách thể Còn trong trường hợp sai lầm về đối tượng, người phạm tội không có sai lầm về khách thể Ví dụ: C định gây thương tích A nhưng lại gây thương tích nhầm B do tưởng B là A (sai lầm đối tượng)
Ba là, Sai lầm về quan hệ nhân quả Sai lầm của chủ thể trong việc
đánh giá sự phát triển của hành vi đã thực hiện của mình Ví dụ: A nhằm bắn
B để giết B (trong đám đông) nhưng đã bắn chệch trúng vào C làm C chết
Bốn là, Sai lầm về công cụ, phương tiện Sai lầm do nhận thức không
đúng của chủ thể về tính năng, tác dụng của công cụ, phương tiện sử dụng khi thực hiện hành vi Ví dụ: H định đầu độc M bằng thuốc độc để chiếm đoạt tài sản nhưng M không chết vì thuốc H sử dụng là thuốc giả
Tóm lại, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý cho việc định tội, việc xác định đầy đủ, toàn diện các dấu hiệu cấu thành là cơ sở vững chắc cho việc định tội đúng và đánh giá đúng bản chất của tội phạm
1.2.2 Cấu thành tội phạm là mô hình pháp lý của tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự (khoản 1 Điều 8 BLHS)
“Cấu thành tội phạm là hệ thống các dấu hiệu cần và đủ đặc trưng cho từng tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật hình sự”23
Những dấu hiệu của cấu thành tội phạm là những dấu hiệu đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể, những dấu hiệu đó là những khuôn mẫu pháp lý cần thiết để các chủ thể định tội danh so sánh đối chiếu với hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm xác định người phạm tội và phạm tội gì, theo khoản, điều luật nào đã được Bộ luật hình sự quy định
Như vậy, cấu thành tội phạm là một khái niệm pháp lý và các dấu hiệu cấu thành tội phạm là căn cứ pháp lý để xác định tội danh, các dấu hiệu cấu thành tội phạm là những dấu hiệu có tính đặc trưng, điển hình cho một loại tội phạm cụ thể, là cơ sở cho việc phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác, dựa vào cấu thành tội phạm các chủ thể định tội danh có thể nhận thức đúng
23 Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, (1995), Tội phạm học, Luật hình sự và Luật tố tụng
hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 158
Trang 33Cấu thành tội phạm là phạm trù chủ quan được nhà làm luật xây dựng
“khách quan hóa” trên cơ sở các sự việc khách quan Còn tội phạm là hiện tượng xã hội khách quan với nhiều tình tiết phong phú Mỗi tội phạm cụ thể trong thực tế có những tình tiết khác nhau
Như vậy, cấu thành tội phạm là hình thức phản ảnh tội phạm trong luật, cấu thành tội phạm là mô tả tội phạm trong luật qua các dấu hiệu thuộc bốn yếu tố có tính chất đặc trưng phản ánh được đầy đủ nội dung chính trị - xã hội của tội phạm Mối quan hệ giữa cấu thành tội phạm và tội phạm là mối quan hệ giữa khái niệm pháp lý và hiện tượng thực tế mà khái niệm đó phản ánh
Nghiên cứu mối quan hệ giữa tội phạm và cấu thành tội phạm có ý nghĩa:
Thứ nhất, xác định cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm tức hành
vi nguy hiểm cho xã hội chứa đựng các yếu tố của cấu thành tội phạm
Thứ hai, các yếu tố của từng tội phạm cụ thể vô cùng phong phú Các
yếu tố đó có ý nghĩa pháp lý ở từng mức độ khác nhau và chỉ có thể được xem xét nghiên cứu khi tội phạm cụ thể đã được thực hiện, nghiên cứu các yếu tố cấu thành tội phạm là nghiên cứu các tình tiết đặc trưng của từng loại tội phạm để xác định tội phạm cụ thể
24 Viện nghiên cứu Nhà nước và pháp luật (1995), Tội phạm học luật hình sự và luật tố tụng hình
sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc giá, Hà nội, tr 159
Trang 34
Thứ ba, nghiên cứu bản chất và nội dung sự tương quan giữa tội phạm
và cấu thành tội phạm cho phép hình thành phương pháp định tội trong thực tiễn xét xử trên cơ sở sự đồng nhất giữa các yếu tố luật định và các tình tiết khách quan của vụ án
Từ phân tích trên có thể hiểu cấu thành tội phạm sinh ra từ việc khái quát hóa các dấu hiệu của các tội phạm cụ thể, riêng lẽ để tìm ra cái chung và xây thành một mô hình pháp lý của tội phạm
Luật hình sự phân chia cấu thành tội phạm thành các loại sau:
Căn cứ mức độ nguy hiểm của tội phạm chia cấu thành tội phạm thành cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ
Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định
tội (dấu hiệu đặc trưng bắt buộc), dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác Nghiên cứu cấu thành cơ bản có ý nghĩa làm cơ sở để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác hoặc chưa phải là tội phạm, hay nói cách khác nó có giá trị pháp lý để xác định tội danh
Cấu thành tăng nặng là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội
còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường) Nghiên cứu cấu thành tăng nặng có giá trị pháp lý trong việc xác định khung hình phạt (định khung tăng nặng)
Cấu thành giảm nhẹ là cấu thành tội phạm mà ngoài dấu hiệu định tội
còn có thêm dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội giảm xuống một cách đáng kể (so với trường hợp bình thường) Nghiên cứu cấu thành giảm nhẹ có giá trị pháp lý trong việc xác định khung hình phạt (định khung giảm nhẹ)
Dựa vào đặc điểm cấu trúc cấu thành tội phạm phân thành cấu thành tội phạm vật chất và cấu thành tội phạm hình thức
“Cấu thành vật chất là cấu thành mà mặt khách quan bao gồm hành vi,
Trang 35
hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả”25 Trong cấu thành này khi định tội danh cần phải xác định tất cả các dấu hiệu hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Để xác định hành vi thực hiện đến đâu; hậu quả đã xảy ra và hậu quả như thế nào hoặc chưa xảy ra hậu quả, giữa hành vi và hậu quả có mối quan hệ nhân quả Nó có giá trị pháp lý trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành hay chưa hoàn thành và xác định có tội phạm hay không có tội phạm
“Cấu thành hình thức là cấu thành có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội Còn hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc đối với định tội danh”26 Trong cấu thành này, khi định tội danh chỉ cần xác định hành vi tội phạm là đủ, xem xét hành vi thực hiện ở giai đoạn nào như chưa thực hiện hành vi, đang thực hiện hành vi hay đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Nó có giá trị trong việc định tội
Dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan, có thể phân chia cấu thành tội phạm thành loại cấu thành tội phạm cắt xén Trong cấu thành tội phạm cắt xén cũng giống như trong cấu thành tội phạm hình thức, chỉ có dấu hiệu hành vi mà không có dấu hiệu hậu quả Nhưng khác với cấu thành tội phạm hình thức, dấu hiệu hành vi trong cấu thành tội phạm cắt xén không phải là sự phản ánh chính hành vi phạm tội mà là hành vi “hoạt động” nhằm thực hiện hành vi đó - hành vi phạm tội của loại tội được cấu thành tội phạm cắt xén phản ánh Ví dụ: Cấu thành tội phạm của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 BLHS) là cấu thành tội phạm thuộc loại này Nghiên cứu cấu thành cắt xén có giá trị trong việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành
Như vậy, cấu thành tội phạm được xây dựng từ kết quả sự nhận thức các tội phạm cụ thể và khái quát hóa bỏ đi những hiện tượng riêng lẻ để tìm ra một dấu hiệu chung và xây dựng một mô hình pháp lý Từ mô hình pháp lý này có thể nhận dạng ra tội phạm để định tội danh Vì vậy, cấu thành tội phạm
Trang 36
là mô hình pháp lý để định tội danh
1.3 Khái niệm và các đặc trưng pháp lý của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của con người theo Bộ luật hình sự năm 1999
1.3.1 Khái niệm các tội cố ý xâm phạm sức khỏe của con người
Trong nhóm tội cố ý xâm phạm sức khỏe của con người được Bộ luật hình sự quy định tại Chương XII: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, gồm bốn tội danh sau:
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS)
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS)
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 106 BLHS)
Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107 BLHS)
“Các tội xâm phạm sức khỏe là những hành vi (hành động hoặc không hành động) có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của người khác”27
Đặc trưng pháp lý của nhóm tội này bao gồm:
Khách thể của tội phạm
Khách thể của nhóm tội này bị tội phạm xâm hại đó là sức khỏe của con người, không phải là sức khỏe của chính người thực hiện hành vi phạm tội Đối tượng tác động của nhóm tội này đó là con người cụ thể, đang sống, đang tồn tại với tư cách là thực thể tự nhiên, đã bắt đầu sự sống và chưa kết thúc sự sống Bắt đầu sự sống được xác định từ khi một con người sinh ra và kết thúc sự sống khi đã xảy ra cái chết sinh học, những tác động trái phép là ảnh hưởng sức khỏe của thai nhi không cấu thành các tội cố ý gây thương tích theo pháp luật hình sự Việt Nam
27 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.409
Trang 37
Mặt khách quan của tội phạm
Nhóm tội phạm này được xây dựng theo mô hình cấu thành vật chất cho nên dấu hiệu khách quan của nó gồm hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả
Hành vi khách quan của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe là những hành
vi tác động trái phép đến thân thể của người khác Những hành vi đó là hành động hoặc không hành động tác động trái phép (trái pháp luật) vào cơ thể của người khác để gây thương tích
Những hành vi hành động là những hành vi tấn công tác động vào cơ thể của người khác như dùng tay, chân đánh, đá hoặc sử dụng công cụ như dao đâm, chém, cây đánh, đá ném, hoặc thông qua hành vi của người khác tác động vào thân thể của người bị hại nhằm gây ra thương tích Trừ những hành động tác động hợp pháp, đó là hành vi phòng vệ chính đáng, trong tình thế cấp thiết, hoặc sự kiện bất ngờ, hoặc trong trường hợp cứu chữa do bệnh tật hay bị thương, do vết thương quá nặng không thể chữa trị được hay do bệnh tật mà làm xấu đi tình trạng sức khỏe của người bệnh bắt buộc bác sĩ phải cắt bỏ một bộ phận cơ thể của bệnh nhân, hoặc những tác động khi bắt người vi phạm pháp luật như bắt người trong trường hợp khẩn cấp; bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã mà gây ra thương tích Cụ thể như những quy định tại Điều 1 Mục III của Nghị quyết số 94/HĐBT ngày 02/7/1984 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định về việc sử dụng vũ khí:
Trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, người được giao sử dụng vũ khí chỉ được nổ súng vào các đối tượng nói dưới đây, khi đã có lệnh hoặc bắn cảnh cáo mà đối tượng không tuân lệnh, trừ trường hợp đặc biệt cấp bách không có biện pháp nào khác để ngăn chặn ngay đối tượng đang thực hiện hành vi phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc để thực hiện quyền tự vệ chính đáng theo luật định:
1- Những kẻ đang dùng vũ lực gây bạo loạn, đang phá hoại, đang hành hung cán bộ, chiến sĩ bảo vệ, đang tấn công đối tượng hoặc mục tiêu bảo vệ
2- Những kẻ đang phá trại giam, cướp phạm nhân; những phạm nhân
Trang 38
đang nổi loạn, cướp vũ khí, phá trại giam, hoặc dùng vũ lực uy hiếp tính mạng cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ quản lý, canh gác, dẫn giải tội phạm; những kẻ phạm tội nguy hiểm đang bị giam giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang
có lệnh bắt giữ mà chạy trốn
3- Những kẻ không tuân lệnh của cán bộ, chiến sĩ đang tiến hành nhiệm vụ tuần tra, canh gác, khám, lại dùng vũ lực chống lại, uy hiếp nghiêm trọng tính mạng cán bộ thừa hành nhiệm vụ hoặc tính mạng của nhân dân
4- Bọn lưu manh, côn đồ đang giết người, hiếp dâm, gây rối trật tự rất nghiêm trọng; đang dùng vũ lực cướp phá tài sản xã hội chủ nghĩa hoặc tài sản của công dân
5- Người điều khiển phương tiện không tuân lệnh, cố tình chạy trốn, khi người kiểm soát phương tiện giao thông vận tải ra lệnh và đã biết rõ trên phương tiện đó có vũ khí hoặc tài liệu phản động, có tài liệu bí mật quốc gia,
có tài sản đặc biệt quý giá của Nhà nước; hoặc có bọn phạm tội, có bọn lưu manh, côn đồ đang sử dụng phương tiện để chạy trốn thì được phép bắn hỏng phương tiện để bắt giữ đối tượng
Những biểu hiện không hành động là chủ thể không thực hiện nghĩa vụ phải làm, chẳng hạn như không cho trẻ uống sữa (để trẻ bị khát sữa); hay muốn gây thương tích cho người khác trong khi gát chung với người canh lò
ga áp suất, anh có nghĩa vụ canh và xả van lò để giảm áp suất nhưng anh không thực hiện xả van dẫn đến nổ lò ga làm gây thương tích cho người khác
Nhóm tội cố ý xâm phạm sức khỏe biểu hiện của hành vi thường tập trung chủ yếu ở hành động phạm tội ít khi gặp trường hợp không hành động
Hậu quả của hành vi khách quan là những thiệt hại về sức khỏe thể hiện dưới dạng thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe Dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm Nghĩa là phải có thiệt hại về sức khỏe cho người khác Hậu được quy định với mức tỷ lệ thương tật do hành vi cố ý gây nên với nhiều trường hợp mà phải tùy thuộc vào mức tỷ lệ thương tật tối thiểu mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm như:
Đối với trường hợp bình thường cố ý với tỷ lệ thương tật 11% là tỷ lệ thương tật tối thiểu, hoặc đối với trường hợp cố ý với tỷ lệ thương tật dưới
Trang 39
11% nhưng thuộc một trong các trường hợp mà trong phần quy phạm của điều luật có quy định mới cấu thành tội phạm Ví dụ như thuộc một trong các trường hợp từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS
Đối với trường hợp đặc biệt là trường hợp cố ý với tỷ lệ thương tật tối thiểu phải là 31% mới cấu thành tội phạm, ngoài ra có cả trường hợp hậu quả làm chết người, hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người Trường hợp này thuộc trường hợp hỗn hợp lỗi đó là trường hợp cố ý về hành
vi nhưng vô ý về hậu quả (cố ý gián tiếp)
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả Mối quan hệ này xuất phát từ hành vi tác động bất hợp pháp vào cơ thể của con người là nguyên nhân đưa đến hậu quả thương tích cho nạn nhân hoặc dẫn đến chết người Trong mối quan hệ này cũng cần xác định tình trạng ban đầu của thương tích trước khi vào bệnh viện đến khi xuất viện, xem có nguyên nhân nào khác trong quá trình điều trị để dẫn đến hậu quả hay không (xem có lỗi trong quá trình điều trị không), để có cơ sở loại trừ nguyên nhân không phải do hành vi tác động trái pháp luật gây nên nhằm xác định mối quan hệ nhân quả một cách chính xác
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của nhóm tội này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định
Trong nhóm tội xâm phạm sức khỏe (bốn tội nêu trên) có tội đòi hỏi chủ thể phải là chủ thể đặc biệt Ngoài dấu hiệu năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, chủ thể đòi phải là người trong khi thi hành công vụ (Điều 107 BLHS)
Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của người phạm tội trong nhóm tội này là lỗi cố ý với hai dạng lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp
Cố ý trực tiếp người thực hiện hành vi phạm tội cố ý thực hiện hành vi và mong muốn hậu quả xảy ra thể hiện mục đích phạm tội rõ ràng, thực hiện hành vi dựa trên mục tiêu phạm tội nhằm gây thương tích cho người bị hại với các hành vi tấn công (như đã đươc nêu phần trên)
Trang 40
Cố ý gián tiếp người phạm tội nhận thức rõ hành vi nguy hiểm cho xã hội, không mong muốn hậu quả phạm tội xảy ra nhưng để mặc cho hậu quả phát sinh
Ngoài ra, trong trường hợp hỗn hợp lỗi đặc biệt đối với trường hợp cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, người thực hiện hành vi phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng hậu quả chết người xảy ra, hậu quả chết người xảy ra là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, nghĩa là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cố ý về hành vi nhưng vô ý về hậu quả
1.3.2 Những dấu hiệu pháp lý của các tội cố ý xâm phạm sức khỏe
Ngoài những dấu hiệu đặc trưng pháp lý của cấu thành tội phạm chung
đã được nêu ở tiểu mục 1.3.1 Đối với các tội cố ý gây thương tích có dấu
hiệu pháp lý đặc trưng riêng biểu hiện ở các nội dung sau
* Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104 BLHS)
“Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác”28
Dấu hiệu pháp lý đặc trưng riêng thể hiện:
Hành vi khách quan là hành vi trái pháp luật, tác động vào thân thể của người khác
Hậu quả của tội phạm: Hậu quả do hành vi nguy hiểm cho xã hội của tội này gây ra đòi hỏi là thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác bằng tỷ lệ thương tật, trong cấu thành cơ bản đòi hỏi mức tỷ lệ thương tật tối thiểu phải là 11% Đối với hành vi gây ra hậu quả mà tỷ lệ thương tật dưới 11%, nhưng thuộc một trong những trường hợp quy định từ điểm a đến điểm
k khoản 1 Điều luật này thì mới cấu thành tội phạm
Trong cấu thành tăng nặng khoản 2 đòi hỏi tỷ lệ thương tật phải từ 31% đến 60% và nếu tỷ lệ thương tật dưới 31% (từ 11% đến 31%) nhưng phải
28 Trường Đại học luật Hà Nội (2010), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.412