Một trong những phương hương quan trọng là phải phát huy hơn nữa chức năng là người đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hỢp pháp của người lao động, phù hợp vơi sự biến đổi ngày càng pho
Trang 1H
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHổ Hồ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
Trang 2£ửi cam đaaa
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô' liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nào khác.
(Y
Võ Di Linh
2
Trang 3/ÌỈ1ỊC lite
1 Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài 6
2 Lịch sử nghiên cứu đề tài 8
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Những đóng góp chính của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 12
CHƯƠNG I Cơ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ, CHỨC NĂNG CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG LĨNH vực LAO ĐỘNG I Cơ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG 14
1.1 Cơ chế kinh tế thị trường ở việt Nam 14
1.2 Cơ chế kinh tế thị trương và quan hệ lao động 18
II TÍNH CHẤT, VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA CÔNG ĐOÀN 22
2.1 Lược sử quá trình hình thành công đoàn trên thế giói 22
2.2 Tính chất, vị trí của công đoàn nói chung 26
2.3 Tính chất, vị trí, vai trò của công đoàn ở Việt Nam 28
III KHÁI NIỆM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN ở VIỆT NAM 31 3.1 Lược sử về công đoàn và pháp luật công đoàn ở Việt Nam 31
3.2 Đặc điểm địa vị pháp lý của công đoàn 35
3.3 Phân loại các quyền của công đoàn 38
CHƯƠNG II
ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
TRONG LĨNH vực LAO ĐỘNG
4
3
Trang 4I CÁC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN CAP TRÊN cơ SỞ 40
1.1 Các quyền của công đoàn Trung ương 40
1.2 Đối vđi công đoàn cấp trên cơ sở 41
II CÁC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN cơ SỞ 42
2.1 Trong việc tham gia giám sát việc thực hiện pháp luật lao động 42
2.2 Quyền đại diện cho người lao động của BCH công đoàn cơ sđ hoặc tổ chức công đoàn lâm thời để tham gia giải quyết các vấn đề trong quan hệ lao động 43
CHƯƠNG III THỰC TIỄN THựC HIỆN CÁC QUYEN CỦA CÔNG ĐOÀN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN I THựC TIỄN THựC HIỆN CÁC QUYEN củacôngđoàn 51
1.1 Việc tham gia giám sát sự tuân thủ pháp luật lao động 51
1.2 Việc bảo đảm việc làm 53
1.3 Trong việc thương lượng và ký kết thỏa ưđc lao động tập thể 55
1.4 Việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động 57
1.5 Việc thực hiện bảo hiểm xã hội 59
1.6 Việc tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công 61
1.7 Các việc khác 63
1.7.1 Quy hoạch và nâng cao năng lực cán bộ ngành công đoàn 63
1.7.2 Hoạt động tài chính, kinh tế công đoàn 65
1.7.3 Tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người lao động đê’ ổn định quan hệ lao động và xây dựng giai câp công nhân vững mạnh 66
1.7.4 Hoạt động đối ngoại của công đoàn 67
II NHẬN XÉT CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN 69
2.1 về các quyền của công đoàn 69
2.2 về thực tiễn thực hiện các quyền của công đoàn 77
2.2.1 Các ưu điểm 77
2.2.2 Những hạn chế trong thực tiễn thực hiện các quyền của công đoàn 79
4
L_
4
Trang 5III sự CẦN THIẾT VÀ MỘT số Ý KIEN bước đaunhằm nâng CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG cơ CHẾ THỊ
TRƯỜNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 82
3.1 Sự cần thiết của việc nâng cao địa vị pháp lý của công đoàn trong bôi cảnh kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước 82
3.2 Một số' ý kiến nhằm nâng cao địa vị pháp lý của công đoàn 86
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103
5
Trang 6<£&t nái đầu.
1 sư cần thiết của việc nghiên cứu để tài
Thực hiện đường lôi đổi mđi của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nưđc
ta có nhiều thay đổi về mọi mặt theo chiều hưđng phát triển Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần được hình thành và phát triển tạo ra sự chuyển dịch và bô' trí lại lao động ở các ngành, địa phương trong cả nước Chính sách đổi mđi kinh tế đó của Đảng đã tháo gỡ khó khăn, giải phóng sức sản xuất và tạo đà cho kinh tế đất nưđc tăng trưâng
Những thành tựu của đất nước như nêu trên đã khẳng định những chủ ưương, chính sách của Đảng và Nhà nưđc ta là đúng đắn ; khẳng định
sự phấn đấu, nỗ lực của các tầng lổp nhân dân vào sự nghiệp đổi mđi và phát triển của đất nước, trong đó có đóng góp đáng kể của giai cấp cộng nhân và công đoàn Việt Nam Những hoạt động phong phú và tích cực của phong trào công nhân và công đoàn đã góp phần thiết thực trong việc thúc đẩy phát triển sản xuất, hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động
Tổ chức công đoàn ngày càng mở rộng hoạt động trong các thành phần kinh tế và không ngừng lđn mạnh Mục tiêu “Dân giàu, nưđc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” do Đảng khởi xưđng và lãnh đạo bằng
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nưđc và được Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng thể hiện bằng đường lối cụ thể: “ Tăng trưởng
kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất
và tinh thần của nhăn dãn, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh " đã hiển nhiên chứng minh tính tất yếu lịch sử , vai
trò và vị thế quan trọng của công đoàn nưđc ta, một tổ chức chính trị - xã hội có lợi ích và mục tiêu hoạt động gắn bó và thống nhất chặt chẽ vổi Đảng và giai cấp công nhân Việt Nam trong hệ thống chính trị trên các mặt: lịch sử, hoạt động thực tiễn và quan điểm - tư tưỏng
Vđi vị trí là một tổ chức chính trị - xã hội rộng lổn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, công đoàn có trách nhiệm xây dựng tổ chức của mình lđn mạnh về mọi mặt, qua đó động viên, tập hỢp, đoàn kết lực lượng để trở thành đội ngũ nòng cốt, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mơi của Đảng
6
Trang 7Trước tình hình đó, công đoàn Việt Nam vđi vai trò là một tổ chức nghề nghiệp, một tổ chức chính trị rộng rãi của giai cấp công nhân và những người lao động cũng cần có sự đổi mđi về nhiều mặt Một trong những phương hương quan trọng là phải phát huy hơn nữa chức năng là người đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hỢp pháp của người lao động, phù hợp vơi sự biến đổi ngày càng phong phú và phức tạp của nền kinh tế thị trường, góp phần làm cho các quan hệ lao động được thiết lập và phát triển trong thế hài hòa, bền vững; tạo nên sự năng động, hiệu quả của nền kinh tế chung.
Nhận thức được sự cần thiết của việc tăng cường vị trí, vai trò của tổ chức công đoàn, Đảng ta đã chủ trương đổi mđi tô chức và hoạt động của công đoàn Đồng thời, Nhà nước ta đã thể chế hóa chủ trương, phương hương này thành pháp luật Hiến pháp năm 1992, Luật công đoàn năm
1990, Bộ luật lao động năm 1994 là những văn bản quan trọng, tạo cơ sơ pháp lý cho sự đổi mơi tổ chức và hoạt động của công đoàn, đáp ứng những yêu cầu của cơ chế thị trường, của việc thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đâì nước và tiếp cận từng bưđc vơi nền kinh tế trí thức
Cơ chế kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho sự phát triển của thị ưường lao động, xuẩt hiện nhiều loại hình doanh nghiệp Từ đó thu hút một lực lượng lơn người lao động, tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập
xã hội Mặt khác, cơ chế kinh tế thị trường cũng có mặt trái của nó: quan
hệ lao động giữa chủ sử dụng lao động và người lao động cũng phức tạp hơn, điều kiện lao động ít được cải thiện, tranh chấp lao động và đình công
có xu hương phát triển ngày càng phức tạp v.v Tất cả những điều nàyđặt công đoàn trước những trọng trách và thách thức lơn Một vấn đề đặt ra
là làm sao để các quyền công đoàn được thê chế hóa ngày một hoàn thiện hơn ? Phương thức để các quyền công đoàn đã được thể chế hóa phát huy được hiệu lực thực sự trong thực tiễn hoạt động sản xuất - kinh doanh ? Nói một cách khác, làm sao để địa vị pháp lý của công đoàn ngày càng được nâng cao hơn, hoàn thiện hơn, xứng đáng vơi vị trí là một tổ chức đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài : “ Địa vị pháp lý của công
đoàn Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn “ làm luận văn tốt
nghiệp Thông qua việc xem xét địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn Việt nam nói chung, cũng như các quyền của các cấp công đoàn, chủ yếu
7
Trang 8là câ'p cơ sđ trong hệ thống tổ chức công đoàn Việt Nam, bưđc đầu đưa ra một số nhận định về thực tiễn thực hiện các quyền và trách nhiệm của tổ chức công đoàn Từ đó, đề xuất một số ý kiến đóng góp về mặt pháp lý nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức này, bảo vệ một cách có hiệu quả quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, phục vụ công cuộc đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nưđc, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nưđc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh” do Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đề
2 Lịch sứ nghiên cứu để tài
Công đoàn dưđi góc độ chính trị, xã hội được đề cập khá nhiều trong các sách, báo, tạp chí Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu và bài viết đều tập trung vào một lĩnh vực riêngýmột khía cạnh nghiên cứu chuyên sâu của vấn đề công đoàn Chắc hẳn do nhiều lý do, ít có công ưình nghiên cứu khoa học nào đề cập một cách toàn diện và có hệ thông
về công đoàn và quyền công đoàn dưđi góc độ pháp lý
Vì vậy, qua luận văn này, hy vọng đây là kết quả của sự khái quát, tống hỢp từ những ý tưởng của các công trình nghiên cứu như đã nêu ở trên, góp phần vào việc hoàn thiện và phát triển hệ thông các quan điểm
lý luận, nhận thức thực tiễn, cũng như phương hương hoạch định chính sách, các chế định pháp luật để nâng cao năng lực hoạt động của công đoàn Việt Nam, đáp ứng các nhu cầu xã hội trong thời kỳ mơi
3 Muc đích và pham vi nghiên cứu đễ tài
Bằng việc phân tích và đánh giá thực trạng tình hình hoạt động công đoàn Việt Nam, bao gồm hệ thống tổ chức của công đoàn : Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, công đoàn cấp trên cơ sở và công đoàn cơ sđ; thực trạng các quy định của pháp luật có liên quan; Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn, phục vụ mục tiêu xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh và tạo cơ sở vững chắc để kết hợp giữa phất triển nền kinh tế một cách bền vững và duy trì ổn định xã hội thông qua việc hạn chế các yếu tố và nguyên nhân gây mất ổn định có thể phát sinh trong thực tế cuộc sống
8
Trang 9Phạm vi nghiên cứu của đề tài được xác định xuẫt phát từ mục tiêu nghiên cứu như đã trình bày ỏ trên, bao gồm những giđi hạn sau đây :
- Phân tích những quy phạm pháp luật lao động quy định quyền và trách nhiệm của công đoàn và thực tiễn tình hình phát sinh trong quan hệ giữa công đoàn vđi tổ chức, cá nhân có sử dụng, thuê mưđn lao động.Đây là nội dung chủ yếu và quan trọng, vì nó góp phần làm sáng tỏ những vấn đề còn tồn tại xung quanh quan hệ giữa chủ sử dụng lao động
và người lao động mà công đoàn là đại diện Quan hệ này được thể hiện trong các lĩnh vực : giám sát việc thực hiện pháp luật lao động ; việc làm
và tiền lương ; thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi; ký kết và thực hiện thỏa ưđc lao động tập thể ; kỷ luật lao động, an toàn và vệ sinh lao động ; trong lĩnh vực tranh chấp lao động và đình công và một số quan hệ khác
như tố tụng lao động tại Tòa án.
- Quan hệ giữa thực tiễn áp dụng những quy phạm của pháp luật lao động và các quy định của các ngành luật khác có liên quan đến quyền công đoàn và tổ chức công đoàn, vđi tư cách là một tổ chức chính trị đặc biệt của xã hội
- Mối quan hệ tác động qua lại giữa Nhà nưổc, chủ sử dụng lao động
và công đoàn hình thành nên cơ chế ba bên, trong đó mỗi bên vđi tư cách độc lập về tổ chức, cơ câu và chức năng của mình, cùng nhau thi hành các chính sách quốc gia về những vâ'n đề lao động và xã hội Trong đó nhà nưđc giữ vai trò chủ đạo trong việc hoạch định chính sách, pháp luật, tạo
cơ sở trong việc phôi hỢp hoạt động giữa các bên
- Trong xu thê toàn cầu hóa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, vẩn đề nghiên cứu, chọn lọc, tiếp thu và vận dụng những quan điểm, luận cứ của pháp luật quốc tế về lao động và công đoàn để từng bước vận dụng phù hỢp vơi đặc điểm, tình hình kinh tế, xã hội của đất nước ta là đáng quan tâm Vì lý do đó, cần thiết phải tham khảo, nghiên cứu những quy phạm của điều ưđc quốc tế, những công ước và khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO - tên viết tắt bằng tiếng Anh) về những nội dung có liên quan, đặc biệt là đô'i vđi vấn đề công đoàn để bổ sung, hoàn chỉnh nội dung nghiên cứu
- Cũng xin được lưu ý thêm, về nội dung các vấn đề công đoàn và quyền công đoàn cũng như quan hệ lao động (hiểu theo nghĩa khái quát)
9
Trang 10liên quan đến công chức, lực lượng vũ trang hoạt động trong các cơ quan quyền lực nhà nưđc, cơ quan quản lý nhà nưđc, các đoàn thể nhân dân, các
tổ chức chính trị, chính trị - xã hội cũng phần nào được đề cập đến vì ngoài những phạm vi được ngành Luật lao động điều chỉnh, các đốì tượng này trong hoạt động còn được chi phôi bởi các ngành luật khác
4 Nhiệm vu nghiên cứu :
Mục đích và phạm vi nghiên cứu nói trên được cụ thể hóa trong việc giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Môt là Xem xét những vân đề có tích chất khái quát chung về công đoàn ( tính chát, vai trò, vị trí ) và sự điều chỉnh của pháp luật đối vơi công đoàn
-Hai là Nghiên cứu đặc điểm địa vị pháp lý của công đoàn theo quy định của pháp luật ở Việt Nam, trong đó có so sánh vđi công đoàn ở một ,sô' nưđc khác
- Ba là Nghiên cứu các quyền của 'các cấp công đoàn Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành, trong đó đặc biệt chú ý đến các quyền của công đoàn ở cấp cơ sở
- Bốn là, Xem xét thực tiễn thực hiện các quyền và trách nhiệm của công đoàn, từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá cần thiết
- Năm là Trên cơ sở phân tích về sự cần thiết đổi mơi sự điều chỉnh của pháp luật đôi vđi công đoàn, đề xuất những phương hương cơ bản, cũng như những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao địa vị pháp lý của công đoàn Việt Nam trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp duy vật biện chứng - Trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh:
Đây là phương pháp luận cơ bản và quan trọng nhát để góp phần làm sáng tỏ những nội dung được đề cập đến vơi phương pháp này, việc phân tích và đánh giá các quy phạm pháp luật và chế định liên quan đến hoạt động công đoàn cũng như thực tiễn áp dụng cần được trình bày trong mốì liên hệ chặt chẽ vơi điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại của đất nưđc
và trong mốì quan hệ vơi pháp luật lao động quốc tế ; mọi hiện tượng, vấn
đề về công đoàn phải được nghiên cứu trong cẵ quá trình biến đổi đê’ nhận
10
Trang 11định được xu hưồng phát triển của chúng và thấy được sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chế định và quy phạm.
- Phương pháp phân tích theo hệ thống chức năng :
Bản chát của phương pháp này là khi nghiên cứu một vân đề phải xem xét vấn đề đó như một hệ thông nhất định trong một hệ thống khác Iđn hơn Mỗi một hệ thông nhỏ thực hiện một hoặc nhiều chức năng nhất định và quan hệ mật thiết vđi các hệ thông khác vơi những chức năng tương ứng khác trong hệ thống lđn Việc sử dụng phương pháp này vào luận văn là rất cần thiết bởi vì qua việc phân tích các chức năng cơ bản và truyền thống của công đoàn như : Đại diện tập thể người lao động để bảo
vệ quyền và lợi ích hỢp pháp của họ ; Chức năng bảo đảm công bằng xã hội và phấn đấu vì sự tiến bộ xã hội, chúng ta sẽ thây được môi liên quan mật thiết và tính chát chi phối giữa các chức năng cơ bản nên trên vơi các quyền của các cấp công đoàn ưong những lĩnh vực cụ thể Ví dụ : trong lĩnh vực tham gia giám sát việc tuân thủ pháp luật lao động, trong lĩnh vực việc làm và tiền lương, trong việc ký kết thỏa ưđc lao động v.v
Phương pháp nghiên cứu này giúp cho chúng ta hiểu vấn đề một cách toàn diện, làm sáng tỏ mối quan hệ giữa nguyên nhân vơi kết quả và
sự liên quan của vấn đề được nghiên cứu vđi các vấn đề khác
- Phương pháp sơ đổ:
Bản chát của phương pháp nghiên cứu này là khi xem xét địa vị pháp lý của tổ chức công đoàn nói chung, cũng như của các tổ chức công đoàn cơ sở nói riêng, cần thiết phải sử dụng hình vẽ, sơ đồ đê mô tả cơ cấu
tổ chức cũng như mối quan hệ qua lại và phụ thuộc giữa các cap trong hệ thống đó vđi nhau Nhờ sơ đồ, chúng ta có thêm phương tiện để nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát hơn và sâu sắc hơn, từ đó rút ra những nhận xét, những đặc điểm về tổ chức và hoạt động của các cấp công đoàn
- Phương pháp thống kê :
Thông qua việc tập hơn và phân tích các số liệu cụ thể về một vấn
đề đã được xác định, phương pháp này là công cụ hỗ trợ giúp ta có những nhận xét cần thiết Ví dụ : khi nghiên cứu về cơ câu của lực lượng lao động nưđc ta, bằng những con số cụ thể về số lượng, thành phần, trình độ văn hóa, chuyên môn , có thể bưđc đầu rút ra những nhận xét về khả năng của lực lượng lao động, dự báo mức độ hòa nhập vào thị trường lao động
11
Trang 12trong thời gian tơi cũng như đóng góp một số’ giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động công đoàn dựa trên những dự báo đó.
6 Những đóng góp chính của luân văn
Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối có hệ thông
và toàn diện vấn đề công đoàn và hoạt động của công đoàn Việt Nam, dưới góc độ điều chỉnh của pháp luật, luận văn góp phần vào việc :
- Làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận những vấn đề thuộc về công đoàn (Sự ra đời, tính châì, vai trò, vị trí của tổ chức công đoàn ), trong bốì cảnh của cơ chế kinh tế thị trường theo định hưđng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
-Phác họa những nét chính về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật trong lĩnh vực quy định các quyền của công đoàn ở Việt Nam
-Chỉ ra những đặc điểm có tính đặc trưng của tổ chức công đoàn ở Việt Nam
- Phân tích một cách có hệ thông các nhóm quyền cơ bản của công đoàn các cấp theo quy định của pháp luật lao động, cũng như của các ngành luật khác
- Nêu lên những ưu điểm cũng như những nhược điểm, bâ't cập trong thực tiễn áp dụng các quyền của công đoàn, nhát là các tổ chức công đoàn trong các doanh nghiệp
- Luận chứng về sự cần thiết khách quan cần phải đổi mơi sự điều chỉnh của pháp luật đối vđi hoạt động của công đoàn trong bốì cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật nhằm nâng cao địa vị pháp lý của công đoàn; cũng như hiệu quả hoạt động thực tiễn của công đoàn Việt Nam trong tình hình mđi
7 Bô'cuc của luân văn
Căn cứ vào mục đích và phạm vi, cũng như nhiệm vụ nghiên cứu, ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết câu gồm 3 Chương :
CHƯƠNG I - Cơ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ VỊ TRÍ VAI TRÒ, CHỨC
NÀNG CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG LĨNH vực LAO ĐỘNG
12
Trang 13I cơ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG
II TÍNH CHẤT, VAI TRÒ VÀ VỊ TRÍ CỦA CÔNG ĐOÀN
III KHÁI NIỆM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
CHƯƠNG II - ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM TRONG
LĨNH Vực LAO ĐỘNG
I CÁC QUYỂN CỦA CÔNG ĐOÀN CẤP TRÊN Cơ sở
II CÁC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN CAP cơ SỞ
CHƯƠNG III - THựC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUYENcủa công đoàn
VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM NÂNG CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ
CỦA CÔNG ĐOÀN ở VIỆT NAM
I THựC TIỄN THựC HIỆN CÁC QUYỀN của công đoàn
II NHẬN XÉT CHUNG VE ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN
III Sự CẦN THIẾT VÀ MỘT số Ý KIẾN BƯỚC ĐAU nham nâng
CAO ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG cơ CHE thị
TRƯỜNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
13
Trang 14CHƯƠNG I
Cơ CHẾ KINH TÊ THỊ TRƯỜNG VÀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ,
CHỨC NĂNG CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG LĨNH vực LAO ĐỘNG
I Cơ CHẾ KINH TÊ' THI TRƯỜNG VÀ QUAN HÊ LAO ĐÔNG
1.1 Cơ chế kinh tế thị trường ờ Việt Nam
Điều 13 - Hiến pháp năm 1992 của nưđc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam có ghi nhận : “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” vơi sự khẳng định này, Nhà nưđc ta đã xác
nhận một cách rõ ràng về định hương phát triển của nền kinh tế đất nưđc trong sự nghiệp đổi mơi và đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam
Cơ chế là một khái niệm chung để chỉ ra quy luật vận hành của một
hệ thông Bất kỳ một sự vật, hiện tượng, quá trình kinh tế xã hội trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy cũng có thể được hình dung là một hệ thống cấu thành từ các yếu tố có xu hương trái ngược nhau nhưng làm tiền
đề cho nhau tồn tại Chính sự tác động của các yếu tô” trái ngược nhau đó
là nguyên nhân, nguồn gốc, động lực cho sự vận hành của hệ thông.Trong lĩnh vực kinh tế, diễn đạt theo nghĩa khái quát thì cơ chế kinh
tế là tổng thể các yếu tố” có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành động lực dẫn dắt nền kinh tế phát triển Cơ chế kinh tế mang tính khách quan vốn có của một nền kinh tế và mỗi một nền kinh tế đều có một
cơ chế kinh tế đặc trưng của nó
Đôi vơi cơ chế kinh tế thị trường cũng vậy, bao gồm tổng thể các nhân tố và quan hệ cơ bản vận động dưđi sự chi phôi của các quy luật thị trường trong một một môi trường cạnh tranh nhằm đạt đến mục tiêu lợi nhuận Nói đến cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nưđc là nói đến cơ chế quản lý Một nền kinh tế chỉ có thể phát triển theo một khuynh hưđng mong muôn khi có một cơ chế quản lý phù hợp Cơ chế đó, một mặt tuân thủ các yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan, mặt khác phải
có được một hệ thống các công cụ kinh tế và chính sách quản lý kinh tế thích hợp được Nhà nưđc xác lập Vì vậy, cơ chế quản lý kinh tế là khái niệm dùng để chỉ phương thức mà qua đó Nhà nưđc tác động vào nền kinh
tế để định hưđng nền kinh tế đó tự vận động đến các mục tiêu đã định
14
Trang 15Như vậy, cơ chế quản lý kinh tế của Nhà nưđc là phương thức tác động của Nhà nưóc nhằm định hướng kinh tế, nó mang tính chất chủ quan
và biểu hiện ý chí của con người tác động lên nhân tố khách quan
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cũng là lịch sử biến đổi các phương thức sản xuâ't Trong các phương thức sản xuất đã từng tồn tại tương ứng vơi mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhíít định, có một sô' hình thức kinh tế chung
Hình thức kinh tế chung đầu tiên trong lịch sử là kinh tế tự nhiên Trong hình thức kinh tế này, sản phẩm được sản xuâ't ra không phải để trao đổi trên thị trường, mà đê thỏa mãn những nhu cầu nội bộ, chủ yếu là nhu cầu cá nhân của người sản xuâ't Trong hình thức kinh tế đó, quan hệ sản xuất biểu hiện dưđi dạng quan hệ trực tiếp giữa người vơi người chứ không thông qua khâu trung gian Trình độ phân công lao động xã hội thấp và còn mang nặng tính châ't tự nhiên, quy mô sản xuâ't nhỏ, khép kín và lao động mang tính chất cá nhân
Hình thức kinh tế hàng hóa ra đời như là một sự đô'i lập vđi kinh tế
tự nhiên, song là một sự phát triển tâ't yếu của nền sản xuâ't xã hội Sản xuâ't phát triển đến mức độ nhâ't định thì chăn nuôi tách khỏi ttồng trọt, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp đi liền vđi sự xuất hiện phân công lao động xã hội Do sản xuất được chuyên môn hóa (tuy rằng ở trình độ phát triển còn thâ'p), năng suâ't lao động tăng lên, sản phẩm tạo ra dồi dào và diễn ra quá trình trao đổi sản phẩm, do đó sản xuâ't hàng hóa ra đời.Trong phương thức sẳn xuâ't tư bản chủ nghĩa, kinh tế hàng hóa trở thành hình thức kinh tế phổ biến và chiếm địa vị thống trị Các quan hệ hàng hóa - tiền tệ thâm nhập vào tất cả các khâu, các lĩnh vực của nền kinh tế và các lĩnh vực khác của đời sông xã hội Có thể nói sản xuất hàng hóa đã trỏ thành đặc trưng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
Thị trường là bộ phận tâ't yếu của sản xuâ't hàng hóa Sự ra đời và phát triển của thị trường gắn liền vđi sự ra đời và phát triển của sản xuâ't hàng hóa, các phân công lao động xã hội Thị trường về mặt không gian được hiểu là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán hàng hóa giữa người bán và người mua Ngoài ý nghĩa đó, thị trường cũng là một quá trình trong đó người bán và và người mua tác động qua lại lẫn nhau đê xác định giá cả và sô' lượng
15
Trang 16Trong nền kinh tế hàng hóa, việc hình thành quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân, tỉ lệ giữa sản xuât và tiêu dùng là kết quả của sự cần bằng cung và cầu trên thị trường Thị trường đóng vai trò to lđn trong việc điều chỉnh sản xuất, gồm sản xuất với tiêu dùng, liên kết các bộ phận của nền kinh tế thành một thể thống nhát, gắn các quá trình kinh tế trong nước vđi các quá trình kinh tế thế giđi.
Đê’ thị trường thực hiện được các chức năng của mình là cầu nốì giữa sản xuất vđi tiêu dùng, gắn người bán vđi người mua, cân đôi cung - cầu
và kích thích sản xuất, nhất thiết phải bảo đảm các điều kiện :
- Các chủ thể kinh tế độc lập vđi nhau và họ có toàn quyền quyết định công việc kinh doanh của mình
- Người bán và người mua có quyền tự do lựa chọn đôi tác, tự do giao dịch
- Mua bấn theo giá cả thị trường
- Thông tin về thị trường được đảm bảo
* Các đăc trưng chủ yếu của nền kinh tế thi trường :
- Mỗi chủ thể kinh tế đều theo đuổi lợi ích riêng của mình trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
- Việc sản xuâ’t và mua bán hàng hóa, dịch vụ được hoàn toàn tự do, chỉ tuân theo nhu cầu thị trường
- Giá cả được hình thành bởi quan hệ cung cầu là kết quả của sự thỏa thuận giữa người bán và người mua
- Cạnh tranh trở thành quy luật phổ biến
* Ưu điểm và những han chế của kinh tế thi trường :
Trang 17Những hạn chế:
- Sự điều tiết thị trường, điều tiết quan hệ cung - cầu mang tính tự phát Các chủ thê tham gia thị trường vđi các lợi ích riêng khác nhau cho nên trong kinh tế thị trường, những mâu thuẫn và xung đột thường xuyên xảy ra Do tính tự phát vốn có, kinh tế thị trường có thể dẫn đến suy thoái, khủng hoảng, thậm chí phá hủy cả một hộ thông kinh tế
- Do phân hóa thu nhập và tiêu dùng, xã hội phân hóa nhanh thành
kẻ giàu, người nghèo ; tình trạng thất nghiệp dễ phát triển gây tác động xâu đến quan hệ kinh tế và an ninh xã hội
Kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản
mà là một hình thức kinh tế, một giai đoạn phát triển cao của nền kinh tế hàng hóa Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường là thành tựu của nhân loại Kinh tế thị trường không phải là mục tiêu mà là công cụ, là biện pháp
để đạt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia
Bản thân nền kinh tế thị trường ngoài yếu tô' tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển, vừa có mặt tiêu cực, gây trở ngại trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của Nhà nưđc Vai trò của Nhà nưđc trong việc can thiệp khi cần thiết, trong việc điều tiết thị trường là vô cùng quan trọng vơi bản chát Nhà nưđc ta : “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước lại càng to lđn Trong nền kinh
tế thị trường ở nưđc ta hiện nay, sự phức tạp về quan hệ kinh tế, đa dạng
về chủ thể, về lợi ích của các bên, về các hình thức sở hữu càng đòi hỏi việc bảo đảm yêu cầu xây dựng một nền kinh tế có tính tổ chức cao, ổn định, công bằng, theo định hưđng xã hội chủ nghĩa và phù hỢp vđi đặc điểm tình hình kinh tế Việt Nam : nền kinh tế thị trường Việt Nam được xây dựng từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ vđi cơ chế vận hành cẩp phát - giao nộp đôi lập vổi cơ chế thị trường ; trình độ sản xuất trên tất cả các lĩnh vực nhìn chung còn thấp kém so vđi khu vực và thế giđi
; tích lũy và tiêu dùng còn quá thâ'p
Từ những vấn đề cơ bản nêu trên, chúng ta có thể khái quát nền kinh tế hàng hóa gồm nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường,
có sự quản lý của Nhà nưđc, theo định hưđng xã hội chủ nghĩa ở nưđc ta như sau :
17
Trang 18- Là một nền kinh tế hàng hóa phát triển vđi sự đáp ứng ngày càng cao về số lượng, cơ cấu, chủng loại.
- Có nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia hoạt động trên thị trường và đều bình đẳng trưđc pháp luật
-Có nhiều loại thị trường tạo khả năng phát triển năng động của nền kinh tế (hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ, vốn, sức lao động, trí tuệ, công nghệ )
- Tuân thủ quy luật cung cầu vì là yếu tô' chính yếu chi phối hoạt động của thị trường
- Phát triển kinh tế trên cơ sở động lực của người sản xuất - kinh doanh Gắn tăng trưởng kinh tế vđi tiến bộ và công bằng xã hội trong đó con người là vị trí trung tâm của chiến lược phát triển
- Nhà nưđc điều tiết hoạt động của kinh tế thị trường bằng pháp luật,
hệ thống chính sách và bằng lực lượng kinh tế của Nhà nưđc
1.2- Cơ chế kinh tế thị trường và quan hệ lao động
a Trong nền kinh tế thị trường, mọi yếu tô' đầu vào của sản xuâ't đều
là hàng hóa, kể cả yếu tô' sức lao động, một dạng hàng hóa đặc biệt Nó là yếu tô' chi phí của quá trình giản xuất, đồng thời cũng là yếu tô' mang lại lợi ích cho quá trình đó Cơ chê' kinh tê' thị trường, nếu hiểu theo lịch sử tiến hóa xã hội của nhân loại, là một hình thức sản xuất vđi trình độ văn minh cao hơn so vđi trưđc
Hàng hóa - sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt Nó là một yếu tô' chủ yếu của quá trình sản xuâ't nhưng khác vói các tư liệu sản xuất, sức lao động đưa các yêu tô' khác của sản xuất vào hoạt động và tạo ra một giá ưị mđi, lđn hơn giá trị ban đầu Sức lao động là một trong những yếu tô'
cơ bản của sản xuâ't, là một dạng công năng, là sức của cơ bắp, của trí óc
và thần kinh có ở trong con người
Trong giai đoạn từ buổi bình minh của chủ nghĩa tư bản đến cuối thê'
kỷ thứ XIX, bằng sự phân tích các quá trình sản xuâ't tư bản chủ nghĩa, Các Mác đã nêu lên hai điều kiện cơ bản để sức lao động trở thành hàng hóa : Một là, người có sức lao động phải có quyền tự do sử dụng sức lao động, tức là có quyền sđ hữu sức lao động của mình ; Hai là, người có sức lao động phải cung câ'p và bán ngay sức lao động của mình chứ không phải
18
Trang 19bán những hàng hóa do lao động của người đó sản xuâ't ra Người lao động phải bị đặt trong điều kiện bị tưđc đoạt hết tư liệu sản xuất và chỉ vđi điều kiện đó thì người lao động mđi có thể bán sức lao động của mình.
Trong tình hình hiện nay, ở các nước công nghiệp phát triển, phần đông công nhân có điều kiện mua cổ phiếu, có cổ phần và trđ thành cổ đông của các Công ty Đương nhiên số’ lượng cổ phần của mỗi người không lơn nhưng điều này phản ánh tình hình là các điều kiện sản xuất đã thay đổi nhiều so vđi trước : những cổ đông (là công nhân) vừa là chủ sở hữu nhỏ, vừa là công nhân làm thuê Như vậy không phải tất cả những người đi làm thuê bằng cách bán sức lao động đều là người vô sản mà còn có cả người hữu sản nhỏ Điều này phản ánh ở quy luật lợi ích kinh tế, quy luật này giúp cho từng người lao động lựa chọn một trong ba trường hợp :+ Là người sở hữu nhỏ, tự mình sản xuất - kinh doanh
+ Là người làm thuê, bán sức lao động
+ Vừa là người sở hữu tài sản, vừa là người làm thuê
Khi nền sản xuất xã hội phát triển đến mức độ cao thì ưường hợp thứ ba sẽ là phổ biến
b Cũng như mọi hàng hóa khác trong nền kinh tế thị trường, hàng hóa - sức lao động có giá trị và giá trị sử dụng Giá trị sức lao động có thể đưỢc xác định bằng thời gian lao động cần thiết để sản xuẩt ra sức lao động đó
Để sản xuất sức lao động, trước hết phải tiêu dùng một lượng của cải vật chất nhất định nhằm sản sinh và nuôi dưỡng con người từ khi sinh ra cho đến khi họ có khả năng lao động, đó là chi phí để tạo ra năng lực lao động
Trong quá trình lao động, người lao động phải tiêu hao sức vóc, bắp thịt, thần kinh Để bảo tồn và khôi phục sức lao động đã hao phí đó, con người phải ăn uổng, nghỉ ngơi hợp lý, phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt cần thiết Sức lao động là năng lực hoạt động của con người bao gồm
cả thể lực và trí lực Vì vậy sản xuất sức lao động không chỉ để khôi phục lại sức lao động đã hao phí về mặt thể lực, mà cần tạo cho con người có khả năng hiểu biết nhất định cả về văn hóa và chuyên môn
19
Trang 20Giá trị sức lao động bao gồm giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết
để bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, những giá trị của những chi phí để nuôi dưỡng con người trưđc và sau tuổi có khả năng lao động, giá trị của những chi phí cần thiết cho việc học hành Những chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên của con người, mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ văn minh đạt được Do vậy, giá trị sức lao động thường xuyên được thay đổi giữa các giai đoạn phát triển của lịch sử, giữa từng nưđc, từng vùng Tuy vậy, trong mỗi giai đoạn nhất định, ở mỗi nưđc, mỗi vùng, giá trị sức lao động có thể xác định được và tương đôi ổn định Giá cả sức lao động trong quan hệ lao động của nền kinh tế thị trường có thể dao động quanh giá trị của nó, thường được biểu hiện bằng tiền lương, tiền công và được xác định phụ thuộc vào quan hệ cung cầu sức lao động
Giá trị sử dụng của hàng hóa - sức lao động chỉ được thể hiện rõ trong quá trình người chủ sử dụng sức lực của người làm thuê, tức là trong việc tiêu dùng sức lao động của người làm thuê
Tính chất đặc biệt của giá trị sức lao động được thể hiện ở chỗ : khi tiêu dùng nó sẽ tạo ra một giá trị mơi, lđn hơn giá trị ban đầu đã tiêu hao ;
và là một yếu lố đầu vào của quá trình sản xuất nhưng có điểm khác so vđi các yếu tố đầu vào khác : sức lao động đưa các yếu lố khác của sản xuất vào hoạt động, cải tiến hình thức, tính chát cơ lý hóa của đối tượng lao động và biến chúng thành sản phẩm
Nền kinh tế thị trường là một thể thống nhất của các thị trường về hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ, vật tư, vốn, tài sản và đặc biệt là thị trường sức lao động Quan hệ lao động diễn ra trong thị trường sức lao động, một loại thị trường gắn vđi các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuẩt, kinh doanh Thị trường sức lao động là sự biêu hiện mốì quan hệ lao động được tác động giữa một bên là người có sức lao động và một bên là người sử dụng sức lao động dựa trên nguyên tắc thỏa thuận giữa bên mua và bên bán Kết quả của quá trình trao đổi, thỏa thuận đó là một hợp đồng lao động, trong đó quy định rõ tiền lương và điều kiện lao động cho một công việc cụ thê nào đó Là một thị trường đặc biệt, nên thị trường sức lao động không nhẩt thiết phải trông thấy như thị trường hàng hóa thông thường Đôi tượng tham gia thị trường sức lao động bao gồm một bên là những người cần sử dụng, thuê mưđn sức lao động của người khác và một bên là
20
Trang 21những người có nhu cầu đi làm thuê hoặc đang làm thuê cho người khác để nhận được một khoản tiền lương.
c Trên thị trường sức lao động, mức cung cầu về lao động ảnh hưởng tđi mức tiền lương Ngược lại, sự thay đổi mức tiền lương cũng có ảnh hưởng tđi mức cung cầu lao động Khi cung lđn hơn cầu sẽ dẫn đến dư thừa sức lao động, một bộ phận lao động không có việc làm Trong xã hội, cung và cầu sức lao động thường xuyên biến động và có nhiều yếu tố tác động đến cung và cầu sức lao động Vì vậy, không phải lúc nào cung và cầu cũng cân bằng nhau Đối vđi những nưđc kinh tế phát triển, có điều kiện mở rộng và phát triển sản xuâ't nhưng nguồn lao động tăng chậm, dẫn đến thiếu sức lao động, và người lại, đối vơi các nưđc chưa phát triển, khả năng mở rộng sản xuẩt có hạn trong khi nguồn lao động lại rất dồi dào, cung lđn hơn cầu, khi đó một bộ phận lao động muốn làm việc nhưng không có việc để làm, dẫn đến hiện tượng thất nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, lúc nào cũng có một bộ phận lao động
bị that nghiệp Tỉ lệ thát nghiệp là một trong các chỉ tiêu quan trọng đê’ đánh giá tình trạng của một nền kinh tế, là môi quan tâm của mỗi Nhà nưđc và của mọi người trong xã hội Tình trạng thát nghiệp ở mức độ cao
có ảnh hưởng xâ’u đến tình hình kinh tế và xã hội của một quốc gia, một khu vực
về mặt kinh tế : Khi mức that nghiệp cao, một bộ phận nguồn lực và tài nguyên bị lãng phí, bởi lẽ vì không kết hợp được một cách hài hòa giữa sức lao động của con người vơi tài nguyên thiên nhiên Hệ quả là nền kinh
tế không tăng trưởng, thu nhập quốc dân và thu nhập của các tầng lđp dân
cư trong xã hội tăng chậm, thậm chí giảm sút
về mặt xã hội : Tỉ lệ that nghiệp cao sẽ làm tăng các tệ nạn xã hội Thát nghiệp làm cho cuộc sống tinh thần của con người luôn ở trạng thái căng thẳng
Như vậy, thất nghiệp là một hiện tượng tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị ừường Người ta chỉ có thể hạn chế được tỉ lệ thất nghiệp đến mức tháp hơn, chứ không loại bỏ được nó
d Quan hệ lao động, thị trường lao động ở nưđc ta hiện nay :
Thị trường lao động ở nưđc ta được định hình từ một nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, hoạt động theo phương pháp chỉ
21
Trang 22huy và trong xã hội chỉ tồn tại hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sỏ hữu, vận hành theo cơ chế thị trường Sự thay đổi cơ bản đó đã tạo điều kiện hình thành và tái lập thị trường lao động ở nưđc ta Đây là hệ quả của sự thừa nhận và khuyến khích phát triển nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức sỏ hữu về tư liệu sản xuất ở nưđc ta, được đề xương từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng.
Thị trường lao động ở nước ta tồn tại không chỉ ở khu vực kinh tế tư doanh mà đan xen ở mọi thành phần kinh tế Nó cũng có nét chung của thị trường lao động của các nưđc đang tồn tại nền kinh tế thị trường nhưng cũng có những đặc điểm riêng :
- Quan hệ lao động phổ biến ổ thị trường lao động nước ta là thuê mưđn lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động trong một thời gian ngắn, tạm thời, không ổn định Dạng thuê mưđn lao động làm công ăn lương lâu dài không nhiều Trong đó, thị trường lao động ở thành phô' phát triển mạnh hơn ở nông thôn theo dạng ổn định, lâu dài vì có nhiều người có khả năng thuê mưđn lao động nhiều hơn nông thôn Ớ khu vực này, cung về lao động lớn hơn râứ nhiều so vơi cầu về lao động; giá cả của lao động ở mức thâ'p và tình trạng thiếu lao động có trình độ tay nghề
và kỹ thuật cao Thêm vào đó là việc thừa lao động phổ thông và lao động
có tay nghề thấp Nhìn chung, chát lượng lao động trong cả nưđc chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại
-Thị trường lao động ở Việt Nam còn bị chia cắt bởi nhiều yếu tô' (như chế độ quản lý hộ tịch),và việc tự do di chuyển sức lao động giữa các
cơ sở sản xuất, giữa các vùng còn bị hạn chế
-Thị trường lao động Việt Nam còn mang nặng tính tự phát, thiếu tính tổ chức, kỷ luật, chưa có hệ thống luật pháp chặt chẽ và ổn định làm khuôn mẫu để điều tiết các hoạt động của thị trường
2.1 Lược sử việc hình thành công đoàn trên thế giới
Công đoàn là tô chức của giai câ'p công nhân, xuất hiện trong quá trình đâu tranh đòi quyền lợi, đòi cải thiện địa vị kinh tế của họ và các tầng lđp lao động khác
22
Trang 23Những tổ chức công đoàn đầu tiên xuẩt hiện từ đầu thế kỷ XVIII ở Anh, là nước đi vào con đường phát triển tư bản chủ nghĩa sđm hơn các nước khác do cuộc cách mạng công nghiệp hóa Ớ Pháp, công đoàn xuất hiện cuối thế kỷ XVIII, ở Mỹ đầu thế kỷ XIX và ở Đức năm 1848
Có thể nói, công đoàn được thành lập trong thời kỳ nhiệm vụ cách mạng tư sản dân chủ đã cơ bản hoàn thành và nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa chưa chín mùi Vào thời điểm ấy, Đảng của giai cấp công nhân chưa xuất hiện, các công đoàn chưa có phương hưđng chính trị rõ ràng cho nên phần lđn các tổ chức này đã đi vào con đường công đoàn chủ nghĩa, tức là chỉ hạn chế trong việc bảo vệ quyền lợi kinh tế trưđc mắt của đoàn viên công đoàn
Sau này, khi bước sang thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, các công đoàn ở Tây Âu chịu sự điều hành của tầng lđp “công nhân quý tộc” - Những người đã từng bưđc bị lệ thuộc vào giai Cííp tư sản thống trị về phương diện tổ chức và hoạt động bằng các biện pháp và thủ đoạn, đặc biệt là về kinh tế, do vậy ngày càng xa rời mục tiêu và định hương đâ'u tranh của giai câp công nhân và nhân dân lao động
Chỉ sau khi cách mạng tháng 10 - Nga thắng lợi và nhờ ảnh hưởng của nó, ở Tây Âu mơi bắt đầu thành lập những công đoàn tập họp công nhân không chỉ bảo vệ quyền lợi kinh tế trước mắt, mà còn để đấu tranh chính trị chống chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa Và sau chiến tranh thế giđi lần thứ II, những công đoàn có tính chất quần chúng và tiến bộ đã được xây dựng lại và củng cố ở các nưđc Trung và Đông Nam châu Au 1
1 [ Pô Nô Ma Rép B.N _ Tự điển Chính trị Nxh Sự thật Hà Nội, 1962.]
Hiện tại trên thế giđi có nhiều tổ chức công đoàn, trong đó có ba trung tâm lơn nhất, có quy mô bảo đảm bao trùm lên nhiều châu lục:
ỉ Liên hiêp Cônẹ đoàn Thế giới - WFTU (chữ viết tắt của cụm từ
tiếng Anh : The World Federation of Trade Unions)
Thành lập ngày 03/10/1945 tại Paris Tính từ Đại hội lần thứ 12 về trước đến tháng 11/1990, WFTU đã có 90 Trung tâm công đoàn hội viên, đại diện cho 214 triệu hội viên thuộc 81 nưđc trên khắp các châu lục của thế giđi Ngày nay số lượng đoàn viên của WFTU khoảng 70 triệu
23
Trang 24Mục tiêu của WFTU là đấu tranh chổng mọi hình thức bóc lột người
và xóa bỏ mọi hình thức bóc lột, vì lợi ích của người lao động, vì quyền tự
do, dân chủ, vì quyền độc lập, hòa bình, dân tộc và tiến bộ xã hội
Cơ quan lãnh đạo cao nhát của WFTU là Đại hội, họp 5 năm một lần Đại hội bầu ra úy ban kiểm tra tài chính gồm 5 ủy viên và Đại hội đồng gồm đại diện của các tổ chức công đoàn hội viên Đại hội đồng là cơ quan cao nhất giữa 2 kỳ Đại hội, họp 3 lần trong nhiệm kỳ 5 năm và bầu ra Hội đồng Chủ tịch gồm 1 Chủ tịch, 14 Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Phó Tổng thư ký và 4 ủy viên thư ký, họp 2 lần mỗi năm
Nguồn tài chính chủ yếu của WFTU là dựa vào tiền niên liễm theo nghĩa vụ đóng góp và quỹ đoàn kết quốc tế của các tổ chức hội viên Cơ quan báo chí của WFTU là tạp chí “Phong trào công đoàn thế giđi” ra hàng quý Bản tin nhanh phát hành mỗi tháng 2 lần bằng 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha
Trụ sở chính của WFTU đóng tại Praha (Cộng hòa Séc) và có 4 văn phòng khu vực ỏ New Delhi (An Độ), Brazaville (Congo), La Habana (Cuba) và Moscow (Liên bang Nga)
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là hội viên chính thức của WFTU từ tháng 01/1949, đã có những đóng góp tích cực vào sự đoàn kết
và thống nhất hành động trong phong trào công đoàn thế giđi và việc củng
cố và phát triển hoạt động của WFTU
WFTU luôn tích cực ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc trưđc đây, cũng như bảo vệ và xây dựng đâì nưđc ngày nay của lao động và công đoàn Việt Nam
2 Tone Liên đoàn lao đông Thê'giới - WCL (chữ viết tắt của cụm từ
tiếng Anh : World Confederation of Labour)
Thành lập tháng 6/1920 tại La hay (Hà lan) vơi tên gọi ban đầu là Liên hiệp Quốc tế các công đoàn cơ đốc giáo ; Từ Đại hội lần thứ 16 vào tháng 10/1968 tại Luxembour được đổi tên thành như ngày nay
WCL có khoảng 20 triệu đoàn viên, phần lđn là những người theo đạo thiên chúa, sinh hoạt trong gần 80 tổ chức công đoàn hội viên thuộc 70 nưđc trên thế giđi
24
Trang 25Mục tiêu của WCL là đâ'u tranh bảo vệ lợi ích của người lao động, vì quyền tự do, dân chủ và công đoàn, vì hòa bình, giải trừ quân bị, độc lập dân tộc, công bằng và phát triển.
Cơ quan lãnh đạo cao nhâ't của WCL là Đại hội, họp 4 năm một lần Đại hội bầu ra Hội đồng gồm đại diện của các tổ chức hội viên và Ban Liên hiệp (Confederal Board) có 28 ủy viên ; Chủ tịch, các phó Chủ tịch, Tổng thư ký, thủ quỹ và các phó Tổng thư ký họp mỗi năm 2 lần, là cơ quan lãnh đạo cao nhát giữa hai kỳ Đại hội Ban Liên hiệp cử ra Ban Thường trực 7 người gồm Chủ tịch, Tổng thư ký, các Phó Tổng thư ký và thủ quỹ để điều hành công việc hàng ngày của WCL
Nguồn tài chính của WCL là tiền đóng đoàn phí theo nghĩa vụ và tiền đóng tự nguyện cho quỹ đoàn kết quốc tế hàng năm của các tổ chức công đoàn hội viên
Cơ quan báo chí của WCL là tờ “Flash” ra hàng tháng bằng 5 thứ tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hà Lan, Đức và tờ tạp chí “Labour” (Lao động) ra 2 tháng một kỳ
Trụ sở chính của WCL đóng tại Brussel (Bỉ) Việt Nam chủ trương quan hệ bằng trao đổi thông tin vđi tổ chức này
3 Liên hiệp Quốc tế các Câng đoàn tư do - 1CFTU (tên viết tắt của
cụm từ tiếng Anh International Confederation of Free Trade Union)
ICFTU được thành lập ngày 28/11/1949 tại London (Anh) ICFTU là sản phẩm của sự phân hóa trong phong trào công đoàn thế giđi sau chiến tranh thế giđi lần thứ hai
Tính đến cuối năm 1990, ICFTU đã tập hợp được khoảng 101 triệu đoàn viên sinh hoạt trong 143 tổ chức công đoàn hội viên ỏ 100 nưđc Phần lđn tổ chức hội viên của ICFTU là ở các nưđc đang phát triển
Mục tiêu đấu tranh của ICFTU vđi khẩu hiệu là “Bánh mì, hòa bình
và công lý” và bằng biện pháp đấu tranh chủ yếu là thông qua nghị trường
để bảo vệ lợi ích người lao động, chống thất nghiệp, nghèo đói, đòi quyền công đoàn, hòa bình và an ninh, môi trường và phát triển
25
Trang 26Cơ quan lãnh đạo cao nhâì của ICFTU là Đại hội công đoàn quốc tế, họp 4 năm một lần Đại hội bầu ra Ban Chấp hành và Ban Thư ký để điều hành hoạt động của ICFTU giữa 2 kỳ Đại hội 2
2 / Tạp chí Lao động và Xã hội - Sô' tháng 4/1994, Trang 23 ]
2.2 Tính chát, vị trí của Công đoàn nói chung
a Là một tổ chức mang tính quần chúng rộng rãi, công đoàn được
lập ra do sự liên kết tự nguyện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động bởi nhu cầu và lợi ích của chính mình mà trước tiên là vì lý do kinh
tế, đây là động lực trực tiếp và là mục đích cụ thể của công đoàn
Cho đến nay, loài người đã trải qua nhiều hình thức quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động Nội dung và tính châ't của mỗi hình thức quan hệ lao động, chủ yếu do quan hệ sản xuãt (chế độ chiếm hữu tư liệu sản xuất) quyết định
Trong các quan hệ lao động tiền tư bản thì tính áp đặt, cưỡng bưđc của người sử dụng lao động vđi người lao động rất cao Người lao động hầu như lệ thuộc hoàn toàn vào chủ sử dụng lao động về sức lao động và
cả thân thể của họ Trong quan hệ làm công ăn lương dưđi chủ nghĩa tư bẳn, người lao động được “tự do” đê toàn quyền quyết định bán sức lao động cho chủ sử dụng lao động vì họ có quyền sỏ hữu sức lao động của chính mình Cũng vì chỉ có duy nhát là sức lao động đó mà trong quan hệ vđi giổi chủ trong quá trình làm việc, họ thường ở vị trí yếu thế, dễ dàng bị giai cấp tư sản khai thác và bóc lột Ngược lại, người sử dụng lao động hầu như nắm ưu thế tuyệt đốì về vón, kỹ thuật, bản lĩnh kinh doanh, do vậy nắm trong tay công ăn việc làm
Như vậy, để tạo thành đôi trọng trong quan hệ đó, người lao động chỉ còn một cách duy nhất là tự tổ chức nhau lại thành một khối thống nhát Thế mạnh của số đông những người lao động sẽ có điều kiện đối tác, đâ'u tranh vđi thế mạnh của chủ tư bản Vì vậy, việc giành được quyền thành lập và hoạt động công đoàn trong thế kỷ trước là một thành tựu vĩ đại của những người lao động trong cuộc đấu tranh của họ chống lại chủ nghĩa tư bản nói chung và giai câp tư sản
Quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường bao giờ cũng tồn tại hai bên chủ thể : một bên là người lao động và đại diện của họ còn bên kia
là những người sử dụng lao động Mặc dù trong nền kinh tế &y, Nhà nưđc
26
Trang 27vđi chức năng quản lý vĩ mô về kinh tế - xã hội, luôn luôn chú trọng ban hành luật pháp nhằm bảo vệ và tôn trọng quyền lợi của cả hai phía Nhưng nếu xét về phương diện quyền và lợi ích trong quan hệ lao động, người lao động vẫn dễ có khả năng ở vào vị trí thấp hơn Bởi vì lý do đó, vấn đề quyền và tổ chức đại diện của người lao động - tổ chức công đoàn, trong việc duy trì mối quan hệ vđi người sử dụng lao động nhằm bảo vệ lợi ích
và bảo đảm yêu cầu hài hòa trong xã hội vẫn luôn là một nhu cầu khách quan và tất yếu
Từ những nhận định trên cho thây, tự nguyện là nguyên tắc cao nhâì của tổ chức công đoàn nhằm mục đích thống nhất tiếng nói đấu tranh bảo
vệ quyền lợi của người lao động, cũng là mục đích cụ thể và có tính quyết định đến cuộc sông của họ Cũng vì mục đích thiết thực đó, người lao động chỉ châp thuận là của mình những tổ chức thực sự có khả năng bảo hộ quyền lợi cho họ và tự nguyện gia nhập tổ chức đó, và pháp luật cũng không thể bắt buộc người lao động chấp nhận một tổ chức nào vđi danh nghĩa bảo hộ quyền lợi cho họ và nhân danh họ, nếu người lao động không tin cậy
b Nội dung đấu tranh của công đoàn vđi giới chủ sử dụng lao động
chủ yếu và ưưđc tiên nhằm vào mục đích kinh tế thiết thực, như tiền lương, tiền công Bên cạnh đó, việc đấu tranh, thương lượng nhằm chống sa thải, thất nghiệp, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, an toàn lao động, vệ sinh lao động, tăng các phúc lợi xã hội cũng là mục tiêu về xã hội mà các công đoàn đều quan tâm khi tiến hành đôi tác vđi chủ sử dụng lao động
Một khía cạnh khác về chính trị, vơi tư cách là tổ chức đại diện của công nhân, thông qua nhiều hình thức đấu tranh mạnh mẽ nhằm gây áp lực vđi giới chủ sử dụng lao động và chính quyền tư bản, công đoàn đã là một lực lượng chính trị quan trọng, chịu sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và từng bưđc làm thay đổi mối tương quan chính trị trong Nhà nưđc tư sản đó và tiến hành lật đổ giai cấp cầm quyền bằng một cuộc cách mạng vô sản
“Công đoàn là những đoàn thể lập ra, mục đích dể bảo vệ quyền lợi của công nhăn về phương diện nghề nghiệp" 3
3 [ Hồ Chí Minh - sđc lệnh sô'29/SL ngày 12/3/1947 - Việt Nam công háo số tháng 4/1947 ì
27
Trang 28“Công đoàn là các tổ chức của công nhân lập ra để tác động đến việc tră lương và các điều kiện làm việc4
4 [ David Begg & Stanley Fisher - Kinh tế học - Trường Đại học Kinh tế quốc
dân Hà Nội - 1992
2.3 Tính chất, vị trí, vai trò của công đoàn ở Việt Nam
Cũng như tất cả những người lao động trên toàn thế giđi, ở Việt Nam người lao động trong nhiều hoàn cảnh khác nhau đều cần có một tổ chức bảo vệ lợi ích của mình Do đó, từ rất sđm, các tổ chức công đoàn đã xuất hiện và gắn chặt vơi nội dung hoạt động của những người cộng sản và thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trong từng thời kỳ khác nhau, tên gọi của tổ chức công đoàn Việt Nam cũng có sự thay đổi Sự thay đổi đó nhằm phù hợp vđi hoàn cảnh lịch sử, những biến động chính trị và nhiệm
vụ cách mạng do Đảng cộng sản xác định: từ Công hội đỏ (1929 - 1935) ; Nghiệp đoàn ái hữu (1936 - 1939) ; Công nhân phản đế (1939 - 1941) ; Công nhân cứu quốc (1941 - 1946) ; Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (1946 - 1961) ; Tổng Công đoàn Việt Nam (1961 - 1988) và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam (từ 1988 đến nay)
Xác định công đoàn là một trong những lực lượng quan trọng tham gia vào các quá trình cách mạng, góp phần thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng cộng sản, ngày từ năm 1927, để chuẩn bị lực lượng cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Đường Nách mệnh” phần nói về “Công hội”, người đã chí ra cho giai cấp công nhân Việt Nam và nhân dân lao động Việt Nam hiểu được vị trí, vai trò của công đoàn, sự cần thiết phải có tổ chức công đoàn ; hướng dẫn mọi người nhận biết quy luật ra đời, tồn tại và phát triển của phong trào công nhân, của những người lao động là phải trên cơ sở được được tô chức chặt chẽ, phải gắn bó vđi nhau thì lợi ích của họ mđi được bảo vệ Và người cũng khẳng định chỉ dưđi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, công đoàn Việt Nam mđi có điều kiện trở thành một tổ chức có khả năng đáp ứng được nhu cầu bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động
“Tổ chức Công hội trước hết là để công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình, hai là để nghiên cứu với nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt
28
Trang 29của công nhãn cho khá hơn bây giờ, bốn là đễ giữ gìn quyền lợi của công nhãn, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới".5
Vđi ý nghĩa đó, các tổ chức công đoàn Việt Nam từ lúc ra đời đến nay đã hành động nhâ't quán và thực sự làm nhiệm vụ tổ chức, động viên giai câp công nhân và nhân dân lao động đâu tranh có hiệu quả, giành nhiều thắng lợi trong các mục tiêu lợi ích hợp lý qua từng thời kỳ cách mạng
Ngày nay, trong giai đoạn đổi mđi xây dựng đất nưđc, cùng vđi sự phát triển mạnh mẽ của nền sản xuất công nghiệp, giai cấp công nhân Việt Nam liên tục lđn mạnh và phát triển Trong bôi cảnh đó, vị trí, vai trò, nội dung hoạt động của công đoàn ngày càng được mỏ rộng và được nâng tầm phù hợp vói thời đại
Hiện tại công đoàn được phát triển thành tổ chức chính trị - xã hội, không những chỉ là một tổ chức bảo vệ quyền lợi cho giai cấp công nhân
và những người lao động (phản ánh tính chát nghề nghiệp) mà còn là một
tổ chức đại diện cho họ tham gia quản lý, điều hành xã hội ; kiểm ưa, giám sát hoạt động của nhà nưđc và là trung tâm tập họp, giáo dục, rèn luyện đội ngũ công nhân và lao động
Việc công đoàn được đảm nhận thêm chức năng mđi này chính là phương tiện, là điều kiện thuận lợi hơn đê công đoàn thực hiện một cách thiết thực và hiệu quả hơn chức năng cơ bản là bảo vệ lợi ích cho người lao động Sự phát triển cả về quy mô và lĩnh vực hoạt động của tổ chức công đoàn là hết sức cần thiết, đồng thời cũng là yêu cầu của sự phát triển phù hỢp vơi quy luật khách quan của thời đại
Xuẩt phát từ hoàn cảnh cụ thể của nưđc ta, ngay từ Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ III năm 1960 và trong các Nghị quyết của Đại hội Đảng từ ưưđc đến nay đều khẳng định vị thế công đoàn: Công đoàn nằm trong hệ thống chính ừị xã hội của Nhà nưđc chuyên chính vô sản, là trung tâm tập hợp đoàn kết, giáo dục rèn luyện đội ngũ giai cấp công nhân lao động Công đoàn Việt Nam là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là sỢi dây nốì liền Đảng vđi quần chúng Công đoàn Việt Nam là người cộng tác đắc lực của Nhà nưđc chuyên chính vô sản Việc khẳng định này cũng xác định lên mục đích, phương thức hoạt động của tổ chức công đoàn và mối quan
/ Hồ Chí Minh - Đường Kách mệnh, 1927 ]
29
Trang 30hệ chặt chẽ của tổ chức này vói hệ thông chính trị nưđc ta trong quá trình cùng vận động và phát triển.
Hiến pháp nưđc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại Điều 10 có xác định : “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp
công nhăn và của người lao động, cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác ; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhãn, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc".
Các chức năng trên của công đoàn cũng được ghi nhận tại Điều 12 -
Bộ luật lao động năm 1994 : “Công đoàn tham gia cùng với cơ quan Nhà
nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của người lao động ; tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao động”, và được khẳng định theo các lĩnh vực hoạt động của mình
theo điều 11 - Luật công đoàn năm 1990 :
“ 1 Công đoàn cơ sở đại diện cho người lao động ký thỏa ước lao động tập thể với Giám đốc xí nghiệp thuộc các thành phần kinh tê'; giám sát việc ký kết và thực hiện hợp đồng lao động.
2 Công đoàn tham gia với cơ quan Nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động theo pháp luật.
3 Công đoàn dại diện cho người lao động thương lượng với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tố' chức để giải quyết các tranh chấp lao dộng xảy ra trong cơ quan, đơn vị, tổ chức mình.
Khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc Tòa án xét xử tranh chấp lao động phải có đại diện của công đoàn tham dự và phát biểu ý kiến.
4 Người lao động, dù chưa là đoàn viên công đoán cũng có quyền yêu cẩu Ban chấp hành công đoàn đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, Thủ trưởng cơ quan đơn vị, tổ chức liên quan ”
Qua những nội dung được trích dẫn nêu trên, chúng ta thấy Đảng và Nhà nưđc ta luôn luôn chú trọng việc xây dựng một hành lang pháp lý đầy
đủ cho hoạt động của tổ chức công đoàn ở Việt Nam, trong đó có hoạt động tham gia quản ly nhà nưđc, quản lý cơ quan, doanh nghiệp
30
Trang 31III KHÁI NIÊM ĐIA VI PHẤP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN ở VIÊT NAM
3.1 Lược sử về công đoàn và pháp luật công đoàn ờ Việt Nam
a Thời kỳ trước Pháp thuộc (giữa Thế kỷ 19 trâ về trưđc) : Cơ sở
kinh tế của xã hội phong kiến là nền sản xuất nông nghiệp dựa trên phương thức phát canh, thu tô ruộng đất của địa chủ phong kiến Nền sản xuất công nghiệp hầu như không đáng kể Do vây không có cơ sâ để hình thành nên công đoàn vơi tư cách là sản phẩm của xã hôi công nghiệp.Trong thời kỳ này phát sinh giới thợ thuyền, chủ yếu là những thợ chuyên môn khéo léo về tay nghề, bị chính quyền phong kiến trưng dụng
đê làm trong các “TưỢng cuộc” tức là các công xưởng chế tạo đồ dùng cho nhà vua và các quan lại Họ hoàn toàn mất hết tự do, kể cả tự do bán sức lao động của chính mình Họ bị buộc phải làm việc liên tục cho đến lúc không còn sức lao động, do bị tai nạn lao động hoặc gìa lão Đê’ đôi phó vơi chính sách hà khắc đó, một sô' các thợ khéo phải lẩn trốn, giâ'u tay nghề hoặc nếu có sản xuâ't (chủ yếu là hàng tiểu thủ công nghiệp) lại phải gán cho sản phẩm của mình một nhãn hiệu nưđc ngoài như trường hợp nghề làm đồ sứ ở miền Bắc, tuy sản phẩm tinh xảo, cô't xanh, men đẹp mà phải mang thương hiệu Trung Hoa
Do làm việc chủ yếu trong môi trường gia đình hoặc bà con thân thuộc để sản xuâ't ra sản phẩm, tính châ't xí nghiệp trong đó có công nhân làm việc và quan hệ vđi giđi chủ do một tương quan lao động (hỢp đồng làm cồng ăn lương) lúc bâ'y giờ ở nước ta biểu hiện râ't ít Do vậy, ý thức nghiệp đoàn chưa xuâ't hiện Tuy nhiên đê’ phản đô'i chính sách trưng dụng
hà khắc của chính quyền phong kiến ; các thợ thuyền đôi khi đã biểu lộ sự bực tức của mình bằng những hành động như thợ dệt tự phá khung cửi, dân chài xé lưới, tiều phu quẳng rìu dưđi thời Vua Lê Dự Tôn 6
6 [ Lịch Triều Hiến Chương Loại chí - Phan Huy Chú (Bán dịch của Tổ phiên dịch Viện Sử học Việt Nam) NXb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1992 ]
Cũng nhằm mục đích tương tế nội bộ nhằm giúp đỡ về kinh tế, thợ thuyền đã tổ chức nên những “Cuộc”, “Phường”, nhưng chưa tạo nên hoạt động xã hội rộng lơn
31
Trang 32Hà nội ba mươi sáu phô'phường
Hàng Quạt, Hàng Đường, Hàng Muối trắng tinh "
Thơ xưa
b Thời kỳ từ giữa Thế kỷ 19 đến năm 1954:
Vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cùng vơi sự khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, giai câp công nhân Việt Nam cũng được hình thành và
tổ chức công đoàn Việt Nam phát triển từ tự phát đến tự giác, ngày càng to lđn về quy mô, mặc dù vđi chính sách đàn áp khốc liệt của thực dân, công đoàn nhìn chung bị câm hoạt động
Sau cuộc khai thác thuộc địa lần hai (1919 - 1929), phong trào công đoàn Việt Nam ngày càng trưởng thành vđi việc hình thành các tổ chức đấu tranh và giđi chủ mang các tên gọi khác nhau cho phù hợp vđi nhiệm
vụ từng thời kỳ : Công hội đỏ (1929 - 1935) ; Nghiệp đoàn Ai hữu (1936 - 1939) ; Công nhân phản đế (1939 - 1941) ; Công nhân Cứu quốc (1941 - 1946)
Trong giai đoạn từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp đến năm 1952, trước thất bại nặng nề về mặt quân sự và trước phong trào đấu tranh mạnh mẽ của công nhân, lao động nước ta trong những vùng tạm chiếm, một mặt thực dân Pháp tăng cường đàn áp phong trào công nhân, lao động; mặt khác tìm mọi cách lừa mị, lôi kéo công nhân nhằm mục đích chia rẽ, phá hoại sự đoàn kết, thông nhát trong họ Để phục vụ mục đích đó, chính quyền Bảo Đại thân Pháp đã ban hành Dụ số 15 ngày 08/7/1952 về việc ban hành Bộ luật lao động và Dụ số 23 ngày 16/11/1952
về việc quy định thể lệ thành lập Nghiệp đoàn, về mặt chính trị, đây là hành động nhằm kiểm soát phong trào công đoàn nhưng cũng là phương tiện hỢp thức hóa về mặt pháp lý cuộc đâu tranh của giai cấp công nhân và người lao động trong vùng tạm chiếm Từ đó đã xuất hiện các tổ chức công đoàn đầu tiên trong thời kỳ kháng chiến chông thực dân Pháp như “Liên đoàn công nhân tư Sở” ; “Lực lượng thợ thuyền”, các tổ chức này đã thu nạp vào nó một sô' tổ chức có tính chất nghề nghiệp như : nghiệp đoàn thuộc Viện Thương mại và kỹ nghệ ; nghiệp đoàn công nhân khuân vác gạo ; nghiệp đoàn thợ sắp chữ nhà in ; nghiệp đoàn thợ giày ; nghiệp đoàn thợ may, v.v
Đôi vđi nưđc Việt Nam mđi, ngay sau cách mạng tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà nước ta rất quan tâm đến
32
Trang 33việc ban hành pháp luật lao động và chú ý đến vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động Các văn bản pháp luật đáng chú ý trong thời kỳ này (chủ yếu là các sắc lệnh), bao gồm :
+ Sắc lệnh tháng 10 năm 1945 cho phép tạm thời giữ lại các luật lệ hiện hành trong 3 miền Bắc - Trung - Nam cho đến khi ban hành những văn bản pháp luật mơi để thay thế; cũng trong thời gian này, Chính phủ đã ban hành các sắc lệnh sửa đổi luật lệ cũ về thuế nhằm xóa bỏ các loại thuế đánh vào lương bổng, sắc lệnh ấn định những điều kiện cho công chức về hưu và một số’ thể lệ quy định nghỉ gia hạn không lương cho công chức các ngạch
+ Sắc lệnh sô' 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ quy định "Những
sự giao dịch về việc làm công giữa các chủ tư nhân Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhãn Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do” Sắc lệnh bao gồm 9 chương 187
điều quy định gần như toàn bộ các chế định thiết yếu của một Bộ luật lao động
+ Sắc lệnh sô' 76/SL ngày 20/5/1950 về ban hành quy chế công chức ; Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 về quy chế công nhân Các sắc lệnh này đã bắt đầu phân tách việc điều chỉnh quan hệ lao động ở khu vực nhà nưđc và các khu vực khác
Các văn bản pháp luật nêu trên tuy được Nhà nưđc ta chú ý triển khai thi hành nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên ít được áp dụng
c Thời kỳ từ 1955 đến 1985 :
Pháp luật về lao động, công đoàn của nưđc ta trong giai đoạn này chủ yếu điều chỉnh các quan hệ trong khu vực kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và các cơ quan nhà nưđc
+ Các văn bản luật do Quốc hội ban hành: Luật công đoàn ngày 05/11/1957, Hiến pháp 1959 và Hiến pháp 1980 tạo cơ sở cho các văn bản hương dẫn thi hành ngày càng phong phú và đa dạng
+ Các văn bản dưđi luật, chủ yếu ban hành dưđi hình thức Nghị định hoặc Quyết định của Chính phủ (và sau này là Hội đồng Bộ trưởng) :Nghị định 181-CP ngày 18/12/1960 ban hành điều lệ tạm thời về bảo
hộ lao động ; Nghị định 218-CP ngày 27/12/1961 ban hành điểu lệ tạm thời
33
Trang 34về bảo hiểm xã hội đốì vđi công nhân viên chức ; Nghị định 24/CP ngày 13/3/1963 ban hành điều lệ về tuyển dụng và cho thôi việc đôi vđi công nhân viên chức Nhà nước ; Nghị định 172CP ngày 21/11/1963 quy định chế
độ ký kết hợp đồng tập thể ; Nghị định 195-CP ngày 31/12/1964 ban hành điều lệ kỷ luật lao động trong các cơ quan, xí nghiệp Nhà nưđc ; Nghị định 235/HĐBT và 236/HĐBT ngày 18/9/1985 về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân viên chức và lực lượng vũ trang và bổ sung, sửa đổi một số chính sách về thương binh, bảo hiểm xã hội, và nhiều Thông tư của các
Bộ hoặc liên Bộ đã được ban hành
Hệ thống văn bản pháp luật trong thời kỳ này đã bao quát được nhiều chế định của ngành luật lao động và quy định chi tiết hơn nhưng do
đã ra đời và tồn tại cùng vđi cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chỉ điều chỉnh mối quan hộ lao động của công nhân viên chức nhà nưđc nên pháp luật lao động và công đoàn trong thời kỳ này dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm, tác dụng điều chỉnh ngày càng hạn chế và cuối giai đoạn đã đi đến tình trạng khủng hoảng, trong bối cảnh khủng hoảng chung về kinh tế - xã hội của đất nưđc
d Thời kỳ từ 1985 đến nay :
Đại hội lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986) đã mở ra một bưđc ngoặt về nhiều mặt vđi định hưđng xây dựng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Tiếp đó, Đại hội lần thứ VII và Hiến pháp sửa đổi năm 1992 đã định hưđng và tạo nhiều nhân tố thuận lợi mđi cho việc phát triển nền kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, có sự quản lý của nhà nưđc
Các văn bản pháp luật về lao động, công đoàn trong giai đoạn này
đã tạo ra những cơ sở pháp lý cho việc tiếp cận cơ chế thị trường, mở ra việc thiết lập quan hệ lao động mói : quan hệ lao động giữa người làm công ăn lương và người sử dụng lao động Đặc biệt các quan hệ lao động gần đây đã có xu hưđng rõ ràng trong việc tách các quan hệ giữa cán bộ, công chức và cơ quan quản lý Nhà nưđc, cơ quan hành chính sự nghiệp ra khỏi nhóm quan hệ được điều chỉnh của Luật lao động, tạo tiền đề thuận lợi và quan trọng trong việc ban hành Luật công đoàn, Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật quan trọng khác
Hệ thống văn bản pháp quy quan trọng về quyền và trách nhiệm của công đoàn, quy định phương thức tố chức, hoạt động của các cấp công đoàn, trách nhiệm và những bảo đảm cho công đoàn phát huy vai trò của
34
Trang 35mình đã ghi nhận rỗ ràng và phong phú các nội dung trên, tập trung ỏ các văn bản sau đây:
+ Hiến pháp năm 1992 - Đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất.+ Bộ luật lao động năm 1994
+ Luật công đoàn ngày 30/6/1990
+ Nghị định số’ 133/HĐBT ngày 20/4/1991 của Hội đồng Bộ Trưởng hướng dẫn thi hành Luật công đoàn
+ Chỉ thị sô' 60/CT ngày 24/2/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
về thi hành Nghị định 133/HĐBT
+ Nghị định số 302/HĐBT ngày 19/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng
về quyền và trách nhiệm của công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp, cơ quan
+ Quyết định sô' 465/TTg ngày 27/8/1994 của Thủ tương về việc ban hành quy chế về mốì quan hệ công tác giữa Chính phủ vơi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
+ Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 20/4/1996
Các quy định pháp luật có liên quan đến địa vị pháp lý của công đoàn còn được ghi nhận trong nhiều đạo luật và Pháp lệnh do nhiều ngành luật khác điều chỉnh và trong hệ thống các Nghị định, Thông tư hương dẫn thi hành Bộ luật lao động và Luật công đoàn
3.2 Đặc điểm địa vị pháp lý của công đoàn
a Khi nghiên cứu hệ thông các quy phạm và chế định tạo nên địa vị
pháp lý của công đoàn, chúng ta thấy một đặc điểm riêng của tổ chức công đoàn là: Nhà nước không trực tiếp quy định các nghĩa vụ của tô chức mang tính tập thê’ và rộng rãi này mà đa số những quyền của công đoàn được pháp luật ghi nhận và thể hiện đều gián tiếp thể hiện các trách nhiệm mà công đoàn phải thực hiện nhằm bảo đảm được vị trí và vai trò của mình
Có thể viện dẫn một số quy định của pháp luật để làm sáng tỏ nhận định trên : như quyền ‘Tham gia xây dựng các chính sách xã hội và tham
gia với cơ quan Nhà nước quản lý bảo hiểm xã hội ” ; quyền “Kiểm tra
35
Trang 36việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, tuyển dụng, cho thôi việc, tiền lương, tiền thường, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và các chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động ”,
(Khoản 1, điều 9 ; Khoản2,điều 9 - LCĐ năm 1990)
Theo lý luận chung thì quyền và nghĩa vụ pháp lý là hai yếu tố song hành vđi nhau trong một quan hệ pháp luật cụ thể, vừa là điều kiện và đồng thời là mục đích của nhau Mỗi chủ thể khi thực hiện một nghĩa vụ nào đó trong một quan hệ pháp luật nhâì định đều đồng thời được pháp luật quy định hoặc tự mình yêu cầu có quyền để có thể thực hiện tốt nghĩa
vụ đã được ghi nhận hoặc cam kết
Trong quan hệ pháp luật liên quan đến hoạt động của công đoàn cũng vậy, tập thể người lao động, vđi mục tiêu đâu tranh vì lợi ích của giđi mình, tự nguyện liên kết vđi công đoàn, xem đó là tổ chức đại diện cho mình khi “đâu tranh” hoặc quan hệ vđi người sử dụng lao động trong những lĩnh vực liên quan đến quyền lợi của người lao động như : việc làm, tiền lương, tiền thưởng, về điều kiện lao động, bảo hộ lao động Như vậy, công đoàn phải tự mình đảm nhận nghĩa vụ lđn lao là bảo đảm được quyền lợi chính đáng của người lao động ưong phạm vi pháp luật cho phép
Thực hiện tốt được nghĩa vụ được pháp luật ghi nhận đó chính là công đoàn đã thê hiện được vai trò của mình đối vđi giai câp công nhân và người lao động Và ngược lại, nếu tô chức công đoàn chưa thực hiện đúng
và đầy đủ nghĩa vụ đại diện cho quyền lợi của người lao động thì sự liên kết tự nguyện với công nhân và những người lao động vì nhu cầu và lợi ích của chính họ sẽ từng bưđc giẫm đi sự bền vững
Đồng thời vđi việc quy định các quyền của công đoàn, Nhà nưđc còn quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động và các tổ chức khác Các
tổ chức này theo luật định phải có nghĩa vụ tôn trọng nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức công đoàn, đồng thời tạo điều kiện cho công đoàn hoạt động có hiệu quả, góp phần điều hòa lợi ích các bên tham gia quan hệ lao động Đó là những bảo đảm cần thiết cho hoạt động của tổ chức này, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế đa thành phần ở nưđc ta hiện nay
Có thể liệt kê một vài nội dung : Tổ chức công đoàn được " tạo
điều kiện lăm việc, cung cấp thông tin cần thiết để công đoàn thực hiện chức năng, quyền và trách nhiệm của mình” ; "Cán bộ công đoàn không
36
Trang 37chuyên trách được giành một số thời gian nhất định trong giờ làm việc đế' hoạt động công đoàn ” ; Ban châp hành công đoàn được có ý kiến thỏa
thuận với chủ sử dụng lao động, cơ quan, tổ chức trước khi ra quyết định buộc thôi việc, cho thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trưđc thời hạn hoặc thuyên chuyển công tác đôi vơi ủy viên Ban chấp hành công đoàn ; được quyền tự quản về tài chính công đoàn hay quyền sở hữu về tài sản do công đoàn tạo nên (Diều 13,14, 15,16, 17-LCD -1990)
b Một đặc điểm quan trọng nữa của công đoàn khi tham gia vào
quan hệ pháp luật lao động, công đoàn vừa là chủ thể, vừa tham gia điều chỉnh quan hệ đó Đây cũng là nét đặc thù của tổ chức đại diện người lao động trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mang tính tiến bộ và nhân văn rõ rệt
Là tổ chức nghề nghiệp - xã hội rộng lđn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, vừa là thành viên trong hệ thông chính trị Việt Nam như điều 1, Luật công đoàn đã xác định, công đoàn có trách nhiệm làm tròn chức năng đại diện cho lực lượng lao động xã hội tiến bộ đó, bảo
vệ được quyền lợi chính đáng và hợp pháp của họ, đồng thời giữ được mốì quan hệ hài hòa và phôi hợp vđi các thành viên khác trong hệ thông chính trị của nưđc ta
Nói một cách khác, công đoàn là sợi dây liên hệ giữa giai cấp công nhân, lao động vơi Đảng và Nhà nưóc, vơi tư cách là một thành viên quan trọng, dưđi sự lãnh đạo của Đảng cộng sản ; vừa thể hiện được bản chất của một tổ chức quần chúng rộng rãi đê bảo vệ lợi ích của người lao động nhằm duy trì mục tiêu phát triển xã hội một cách hài hòa, bền vững.Như vậy, việc công đoàn được pháp luật nưđc ta quy định được quyền tham gia vào công tác xây dựng pháp luật, vào việc hoạch định các chiến lược, chính sách, chương trình phát triển kinh tế - xã hội có liên quan đến quyền lợi của người lao động là điều tất yếu, ngoài chức năng cơ bản của một tổ chức đại diện người lao động để tham gia vào một quan hệ pháp luật cụ thể nhằm góp phần bảo đảm lợi ích của họ Đây là một thuận lợi cơ bản để công đoàn hoạt động nhưng cũng đòi hỏi ở tổ chức này trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình vừa cần phải giữ được tính chủ động, sáng tạo trong mọi hoạt động, vừa bảo đảm phát huy được vai trò lãnh đạo của Đảng đối vđi phong trào công đoàn, giữ vững định hương xã hội chủ nghĩa
37
Trang 38Có thể trích dẫn điều 4, Luật công đoàn năm 1990 để cùng làm sáng
tỏ đặc điểm này của công đoàn :
- “ Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triền kinh tế - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động ” (khoản 1)
- “ Công đoàn có trách nhiệm tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục người lao động có ý thức chấp hành và tham gia đấu tranh bảo vệ pháp luật, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, lao động có kỷ luật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả ” (khoản 2)
- “ Công đoàn cơ sở cùng với cơ quan, đơn vị, tổ chức bảo đảm thực hiện quyền làm chủ tập thể của lao động theo quy định của pháp luật ” (khoản 3).
3.3 Phân loại các quyền của công đoàn
3.3.1 Căn cứ vào lĩnh vực tác động, các quyền của công đoàn thê’
hiện ở hai phương diện :
- Quyền tham gia vào hoạt động quản lý Nhà nước- Đây là lĩnh vực
hoạt động ở tầm vĩ mô trong việc xây dựng các quyết sách và định hưđng
có liên quan đến quyền lợi của người lao động ở mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình cơ quan, tổ chức (cơ quan quản lý Nhà nưđc, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp, tổ chức xã hội) Ví dụ như Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trưđc Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, (điều 5 - LCD)
- Quyền bảo vệ lợi ích của cõng nhân và người lao động: Nhóm
quyền này thường xuyên được công đoàn cơ sở sử dụng trong quan hệ lao động tại một cơ quan, đơn vị cụ thể
“Người lao động, dù chưa là đoàn viên công đoàn cũng có quyền yêu cầu Ban chấp hành công đoàn đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan” (khoăn 4, điều 11 - LCĐ).
38
Trang 393.3.2 Ta cũng có thể phân loại các quyền của công đoàn căn cứ vào tính chất, mức độ, phạm vi trách nhiệm cửa tổ chức này khi tham gia vào quan hệ lao động theo luật định.
Dựa theo cách phân loại này thì công đoàn có các quyền sau đây :
- Thẩm quyền tham gia vào hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc đơn
vị sản xuất, kinh doanh Ví dụ : Công đoàn tham gia xây dựng các chính
sách xã hội và tham gia vđi cơ quan nhà nưđc về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật (khoản 1, điều 8- LCD)
- Thẩm quyền chung : như quyền kiểm tra việc châp hành pháp luật
về bảo hộ lao động quy định (khoản 3, điều 6 - LCD)
- Thẩm quyền đặc biệt (hoặc thầm quyền quyết định) : Là nhóm
quyền chuyên biệt của công đoàn, theo đó khi giải quyết một số vân đề trong quan hệ lao động, tổ chức công đoàn được tự mình quyết định mà không cần thiết phải tham khảo ý kiến của các cơ quan, tổ chức khác Như quyền tạm ngừng hoạt động khi phát hiện nơi làm việc có dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng của người lao động, (khoản 3, điều 6 - LCD)
3.3.3 Trường hợp phân chia các quyền công đoàn theo cấp trong hệ thống tổ chức công đoàn, quyền công đoàn có ba nhóm: nhóm quyền của
công đoàn Trung ương (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) ; công đoàn cấp trên cơ sđ bao gồm công đoàn ngành, Liên đoàn Lao động tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn Lao động quận - huyện - thị xã và quyền của công đoàn cơ sở
CHƯƠNG IIĐỊA VỊ PHẤP LÝ CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM
TRONG LĨNH vực LAO ĐỘNG
Pháp luật lao động của các nưđc đều dành một phần nội dung quy định về công đoàn và quyền công đoàn, kể cả những nưđc có Luật công đoàn riêng Những quy định về hoạt động công đoàn trong hệ thông luật pháp các nưđc thể hiện sự vận đụng tinh thần của các điều ưđc quốc tế về lao động và công đoàn vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia mà chủ yếu
và quan trọng là các công ưđc, khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế
39
Trang 40(ILO) : Công ưđc 87 năm 1948 về quyền tự do nghiệp đoàn và bảo vệ quyền nghiệp đoàn, Công ưđc 98 năm 1949 về quyền lập hội và thương lượng tập thể, Công ưđc 151 năm 1978 về quan hệ lao động trong chức năng công cộng, quy định các quyền công đoàn cơ sở, Công ưổc 135 và khuyên nghị 143 năm 1971 về bảo vệ những đại diện cho người lao động trong xí nghiệp và việc cung cấp phương tiện cho họ.
Khi nghiên cứu địa vị pháp lý của công đoàn Việt Nam, cần thiết phải phân tích các quyền của công đoàn theo hai câp độ tổ chức : Một là, các quyền của cấp trên cơ sở gồm các quyền của công đoàn trung ương và các quyền của công đoàn cấp trung gian ; Hai là, các quyền của công đoàn cấp cơ sđ, nơi kiểm nghiệm trên thực tế việc thi hành những quy định của pháp luật về công đoàn
I CẤC QUYỀN CỦA CÔNG ĐOÀN CẤP TRÊN cơ sở
1.1 Các quyền của công đoàn Trung ương (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam)
Những quy định của pháp luật lao động nước ta về các quyền của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động được thể hiện chủ yếu trên lĩnh vực vĩ mô về chính sách quốc gia để điều chỉnh các quan hệ lao động phát sinh nhằm đề
ra những quyết sách quan trọng và các định chế pháp lý về lao động, công đoàn, khi tham gia vđi các cơ quan nhà nưđc ở trung ương Đây là nhóm quyền ảnh hưởng quyết định đối vđi hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở
về tư cách pháp lý, Tổng Liên đoàn Lao động có quyền tham gia Hội nghị của Chính phủ khi bàn về các vân đề có liên quan (điều 111 - Hiến
pháp năm 1992), và trình dự án Luật hoặc Pháp lệnh trước Quốc hội, úy ban Thường vụ Quốc hội (điều 87 - Hiến pháp 1992, điều 5 - LCD năm 1990).
Các quyền cụ thể của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được phân theo các nhóm sau đây: (chủ yếu được quy định trong Bộ Luật Lao động năm 1994)
a Quyền đươc hỏi ý kiến trong các trường hơp :
- Khi Chính phủ quyền định và công bô' mức lương tốì thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng và mức lương tốì thiểu ngành trong từng thời kỳ
40