1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự việt nam

90 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một trong các biện pháp ngăn chặn độc lập.. Các biện pháp ngăn chặn bao gồm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM ÂU

ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ

ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LÊ THỊ KIM ÂU

ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ

ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật hình sự - Mã số: 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN DUY THUÂN

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan Luận văn thạc sỹ “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do bản thân tôi thực

hiện Những tài liệu, số liệu được sử dụng trong Luận văn bảo đảm tính khách quan, chính xác Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào

TÁC GIẢ

Lê Thị Kim Âu

Trang 4

CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 Nhận thức chung về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có

1.1 Những vấn đề lý luận về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có

1.2 Lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp đặt

1.3 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong

Chương 2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và

thực trạng áp dụng pháp luật về biện pháp đặt tiền hoặc

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về biện

2.2 Thực trạng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

Chương 3 Dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện

pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm 61

3.2 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp

đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp hơn Để đảm bảo cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả, các

cơ quan tiến hành tố tụng thường áp dụng biện pháp tạm giam mặc dù luật tố tụng hình

sự quy định nhiều biện pháp khác như: bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Những năm qua, cán bộ làm công tác đấu tranh, phòng ngừa,

xử lý tội phạm ở nước ta vẫn chưa mạnh dạn áp dụng biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và hiện nay đang có xu hướng lạm dụng biện pháp tạm giam

Thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm về công tác tư pháp và chủ trương cải cách, xây dựng, hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2020, Đảng ta đã ban hành nhiều Nghị quyết như: Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002; Nghị quyết 48/NQ-TW ngày 24/5/2005; Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị Trong đó, Nghị quyết 08/NQ-TW đã nêu lên quan điểm chỉ đạo về một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, Nghị quyết nêu rõ “…nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can trong một số loại tội”

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một trong các biện pháp ngăn chặn độc lập Về lý luận, biện pháp này không những có ý nghĩa đảm bảo quyền con người của bị can, bị cáo mà về phương diện kinh tế, biện pháp này cũng mang nhiều ý nghĩa tích cực Tuy nhiên, trong thực tế, các cơ quan tiến hành tố tụng rất ít áp dụng mà thay vào đó, biện pháp tạm giam được áp dụng phổ biến hơn

Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài là này hết sức cần thiết và cấp bách, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn Do vậy, tác giả chọn vấn đề “Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự

Việt Nam” để làm đề tài luận văn Thạc sỹ

Trang 7

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ngoài các giáo trình luật tố tụng hình sự, còn có một số sách chuyên khảo về các biện pháp ngăn chặn, trong đó có đề cập đến biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm như:

- Nguyễn Mai Bộ (1997), “Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

- Nguyễn Duy Thuân (1999), “Các biện pháp ngăn chặn trong TTHS”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội

- Nguyễn Vạn Nguyên (1995), “Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng”, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội

Ngoài ra, còn có các bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành như:

- Nguyễn Hoài Nam (2007), “Điều 93 BLTTHS năm 2003 cần được giải thích và

hướng dẫn thực hiện”, Tạp chí Kiểm sát, Số 09

- Phạm Thanh Bình (2007), “Nâng cao hiệu quả biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc

tài sản có giá trị để bảo đảm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 02

- Phạm Ngọc Ánh (2010), “Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các biện

pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số

08

- Lê Thị Kim Âu (2011), “Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và

một số kiến nghị tiếp tục hoàn thiện biện pháp này theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp

chí Tòa án nhân dân, số 04

- Đường Nguyễn Thanh Thảo (2008), “Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, khóa luận cử nhân

Tuy nhiên, khi tham khảo nội dung các công trình khoa học, bài nghiên cứu nêu trên tác giả luận văn nhận thấy người viết chủ yếu phân tích điều luật, nêu lên những vướng mắc không thể áp dụng vào thực tiễn Đặc biệt trong số đó có khóa luận tốt nghiệp

cử nhân, nghiên cứu về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm một cách có

hệ thống nhưng chưa phân tích sâu nguyên nhân, thực trạng cũng như kiến nghị giải pháp hoàn thiện một cách cụ thể

Trang 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp đăt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu hệ thống, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

- Nghiên cứu, làm rõ quy định của pháp luật tố tụng hình sự về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

- Khảo sát thực trạng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm

- Đề xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về nội dung, luận văn nghiên cứu biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm theo quy định của luật tố tụng hình sự hiện hành

+ Về không gian, tác giả khảo sát thực tiễn áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị trên phạm vi toàn quốc; trong đó tập trung những địa bàn trọng điểm về tình hình trật tự an toàn xã hội

+ Về thời gian, khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật từ năm 2003 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Nhằm tạo điều kiện cho người đọc tiếp cận luận văn một cách thuận lợi, rõ ràng, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã vận dụng phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin

- Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận văn là: phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, khảo sát thực tế, chuyên gia

Trang 9

6 Ý nghĩa khoa học của luận văn

- Góp phần đảm bảo quyền con người của bị can, bị cáo và các quyền tự do về thân thể của mọi công dân

- Thành công của luận văn sẽ góp phần làm rõ lý luận khoa học, cơ sở pháp lý về chế định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị bảo đảm; qua đó hoàn thiện pháp luật tố tụng hình

sự, đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống

Ngoài ra, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên luật, những nhà nghiên cứu quan tâm đến biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN HOẶC TÀI SẢN

CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1 Những vấn đề lý luận về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1.1.1 Khái niệm biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

- Khái niệm biện pháp ngăn chặn trong TTHS:

Biện pháp ngăn chặn là một chế định quan trọng trong pháp luật TTHS Để góp phần đấu tranh, ngăn chặn, trấn áp tội phạm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, pháp luật TTHS Việt Nam đã xây dựng hệ thống những biện pháp ngăn chặn

và quy định tại Bộ luật TTHS từ rất sớm Qua các lần sửa đổi bổ sung, đến nay Bộ luật TTHS hiện hành quy định các biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm

đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Tuy nhiên, từ khi pháp luật ghi nhận hệ thống các biện pháp ngăn chặn cho đến nay, chúng ta chưa có khái niệm nào mang tính khái quát chung, thống nhất

Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 nêu khái niệm về biện pháp ngăn chặn như sau: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính bắt buộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhằm phòng ngừa và ngăn chặn hành vi cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án, bảo đảm thực hiện đúng đắn các nhiệm vụ khác của TTHS”.1

Theo khái niệm này thì biện pháp ngăn chặn là biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, có tính chất bắt buộc đối với chủ thể áp dụng và đối tượng bị áp dụng Vì đây là biện pháp mang tính cưỡng chế tố tụng nên biện pháp ngăn chặn không mang ý nghĩa trừng trị hay cải tạo đối với bị can, bị cáo mà hướng đến mục đích ngăn chặn các hành vi cản trở hoạt động, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Qua đó, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều bị phát hiện, xử lý thỏa đáng, nghiêm minh

Theo từ điển Luật học, “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng do ĐTV, Kiểm sát viên và Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo nếu có đủ căn cứ

1 Từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1, Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội, 1995, tr 225

Trang 11

chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác minh sự thật về vụ án hoặc sẽ tiếp tục hoạt động phạm tội, cũng như để bảo vệ việc thi hành án”2

Theo tác giả Nguyễn Duy Thuân,

“Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS bao gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm do người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị bắt, bị tạm giữ nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử”3

Theo quan điểm trên, tác giả nhận thấy trong khái niệm không đề cập đến nội dung cản trở hoạt động thi hành án Thi hành án là một giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa mang tính bao trùm, một hành vi phạm tội được đưa ra xét xử, kết tội mà bản án đó không được thi hành thì mục đích TTHS sẽ không đạt được, do vậy yếu tố để đảm bảo thi hành án phải được ghi nhận trong khái niệm biện pháp ngăn chặn

Từ những phân tích trên, theo tác giả, có thể khái quát: Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS mà người bị áp dụng bị hạn chế quyền tự do thân thể, đi lại, quyền về tài sản trong một khoảng thời gian nhất định Các biện pháp ngăn chặn bao gồm các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, được cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị bắt, bị tạm giữ nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án

- Khái niệm biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm:

Mặc dù chế định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm đã được ghi nhận vào trong pháp luật TTHS từ rất sớm nhưng cho đến nay, ngoài quy định tại Điều 93 Bộ luật TTHS ra, chúng ta chưa có khái niệm mang tính khái quát, ngay cả các giáo trình chuyên sâu và bình luận khoa học cũng không thấy nêu khái niệm về biện pháp này

Theo khoản 1, Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003,

“Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã

2 Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội 1999, tr 49

3 Nguyễn Duy Thuân (2006), Các biện pháp ngăn chặn trong TTHS, trường Đại học An ninh nhân dân, tr 9

Trang 12

hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có

giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập”

Như vậy, từ điều luật trên có thể khái quát biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị

để bảo đảm (gọi tắt là biện pháp đặt tiền để bảo đảm) là một biện pháp ngăn chặn nhằm thay thế biện pháp tạm giam, do Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án áp dụng đối với các đối tượng là bị can, bị cáo khi họ đáp ứng được các điều kiện về việc đặt tiền hoặc tài sản, nhằm mục đích bảo đảm sự có mặt của họ khi được triệu tập Mặc dù cùng bản chất là biện pháp cưỡng chế tố tụng, nhưng so với biện pháp tạm giam thì biện pháp đặt tiền để bảo đảm ít nghiêm khắc hơn, bị can, bị cáo sẽ được tự do bên ngoài xã hội, không bị cách

ly khỏi môi trường sống bình thường Tuy nhiên, quyền về tài sản của bị can, bị cáo sẽ bị hạn chế ở một mức độ nhất định, đây cũng là một điều kiện có tính quyết định cho việc xem xét bị can, bị cáo có được tại ngoại hay không So với biện pháp bảo lĩnh, biện pháp đặt tiền để bảo đảm có những quy định gần như là giống nhau, chỉ khác là biện pháp bảo lĩnh thì cần có người nhận bảo lĩnh, còn biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì chính bị can, bị cáo là người dùng tiền, tài sản của mình để bảo lĩnh cho mình tại ngoại Về căn cứ áp dụng, hai biện pháp này gần như là giống nhau, chỉ khác nhau về hình thức và thủ tục Ở Singapore, biện pháp đặt tiền để bảo đảm được quy định là bảo lĩnh, ngoài việc dùng tiền bảo lĩnh để tại ngoại ra, bị can, bị cáo không được phép rời khỏi lãnh thổ Singapore

Biện pháp đặt tiền để bảo đảm là một quy định tiến bộ, về mục đích, biện pháp này vẫn mang đầy đủ ý nghĩa như các biện pháp ngăn chặn khác, tuy nhiên, về cách thức tác động lên bị can, bị cáo thì hoàn toàn khác nhau, các biện pháp ngăn chặn khác thường hướng đến việc hạn chế tự do về thân thể, đi lại của bị can, bị cáo, còn biện pháp đặt tiền tác động trực tiếp đến tài chính, các quyền tài sản của bị can bị cáo trong một khoảng thời gian theo quy định của pháp luật

Trang 13

1.1.2 Mục đích và căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1.1.2.1 Mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn

Mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn là kết quả mà các cơ quan tiến hành tố tụng cần đạt được khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đó4 Theo qui định của Điều 79 Bộ luật TTHS 2003 thì các biện pháp ngăn chặn được áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Như vậy, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nhằm các mục đích sau đây:

+ Để kịp thời ngăn chặn tội phạm;

+ Ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; + Không để cho bị can, bị cáo sẽ tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội;

+ Để đảm bảo thi hành án

1.1.2.2 Căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn

Căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn là những cơ sở pháp lý do Bộ luật TTHS quy định cho phép người có thẩm quyền áp dụng lần đầu tiên đối với bị can, bị cáo, người đã bị kết án và trong một số trường hợp đối với người chưa bị khởi tố bị can5 và chỉ khi đáp ứng được các căn cứ theo quy định thì mới có thể áp dụng một trong các biện pháp ngăn chặn cụ thể, nếu không thỏa mãn những căn cứ theo quy định thì không được

áp dụng tùy tiện

Biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế tố tụng nên khi bị áp dụng người bị áp dụng sẽ bị hạn chế quyền công dân trong một khoản thời gian nhất định Do đó, việc quy định căn cứ áp dụng không rõ ràng sẽ dẫn đến hậu quả tất yếu là trong quá trình tố tụng các chủ thể tiến hành tố tụng lúng túng, dễ dẫn đến sai sót bắt oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm, từ đó mục đích của hoạt động TTHS không đạt được; việc quy định căn cứ chặt chẽ, rõ ràng sẽ là cơ sở pháp lý vững chắc giúp cơ quan, người tiến hành tố tụng dễ dàng đánh giá, xem xét nhằm áp dụng biện pháp ngăn chặn đúng đắn Từ đó, vụ án nhanh chóng được làm sáng tỏ, đưa người phạm tội ra xử lý đúng quy định của pháp luật, bảo đảm pháp chế

4 Võ Khánh Vinh (2006), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nhà xuất bản công an nhân dân, tr.209

5 Võ Khánh Vinh (2006), sđd, tr.204

Trang 14

Về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, Điều 79 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định:

“Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án trong phạm vi thẩm quyền tố tụng của mình hoặc người có thẩm quyền theo quy định của Bộ luật này có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”

Như vậy, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn gồm có các căn cứ sau:

- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm Mọi tội phạm xảy ra, dù xâm phạm đến khách thể nào đều gây ra cho xã hội những thiệt hại nhất định Kịp thời ngăn chặn tội phạm nghĩa là bằng những hành vi thực tế, kịp thời vô hiệu hóa các điều kiện dẫn đến việc thực hiện hoặc tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội Ngăn chặn một hành vi nguy hiểm đang sắp xảy ra là một nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa

to lớn trong việc đấu tranh ngăn chặn tội phạm nói chung Xuất phát từ ý nghĩa đó mà Bộ luật TTHS đưa nội dung kịp thời ngăn chặn tội phạm lên làm căn cứ đầu tiên Vì đây là căn cứ quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn nên không thể tùy tiện áp dụng căn cứ này Kịp thời ngăn chặn tội phạm được xác định thông qua các trường hợp:

+ Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (bắt người trong trường hợp khẩn cấp, điểm a, khoản 1 Điều 81 Bộ luật TTHS năm 2003)

+ Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì

bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt (bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang, khoản 1 Điều 82 Bộ luật TTHS 2003)

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Nghiên cứu tâm lý và qua thực tiễn đấu tranh, ngăn chặn tội phạm cho thấy bị can, bị cáo trong tất cả các vụ án đều ít nhiều muốn che đậy, trốn tránh trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình, nên sẽ gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành

tố tụng Thông thường, những hành vi thực tế mà bị can bị cáo có thể thực hiện nhằm

Trang 15

gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng là bỏ trốn, cố tình không đến theo giấy triệu tập, tiêu hủy chứng cứ, tạo hiện trường giả để đánh lạc hướng điều tra, hay dùng vật chất

để thỏa thuận với người bị hại, đe dọa người làm chứng hoặc thông cung với đồng bọn, gây cản trở quá trình làm sáng tỏ sự thật vụ án Căn cứ này thường phát sinh từ sau khi có quyết định khởi tố vụ án, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn này là nhằm chứng minh tội phạm, bảo đảm trong suốt quá trình tố tụng các hoạt động và hành vi tố tụng được thực hiện đúng trình tự Do đó, đối tượng bị áp dụng là bị can, bị cáo, có khi là người bị tạm giữ Khi xem xét căn cứ này để áp dụng biện pháp ngăn chặn, cần phải dựa trên diễn tiến và tính chất nghiêm trọng của vụ án mà đánh giá một cách toàn diện, trong

đó có lưu ý đến nhân thân của bị can, bị cáo, mối quan hệ và vị thế của họ trong xã hội cũng như ý thức trách nhiệm của họ đối với hành vi phạm tội của mình vì cụm từ gây khó khăn rất dễ bị hiểu sai và đánh giá tùy tiện, chủ quan Do đó việc nhận định đúng đắn tình hình, diễn biến vụ án góp phần quan trọng trong việc đánh giá khách quan các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, từ đó bảo đảm hoạt động tố tụng được tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật

- Khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ tiếp tục phạm tội Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn dựa trên căn cứ này thường có trong các biện pháp mang tính chất giam giữ nhiều hơn vì nếu để bị can, bị cáo tự do bên ngoài xã hội thì khả năng sẽ gây ra tội phạm mới sẽ cao hơn Đánh giá khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm của bị can, bị cáo phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tế như hoàn cảnh sống của bị can, bị cáo, phải xem xét đến nhân thân, lai lịch, tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo mà đánh giá toàn diện Trong thực tiễn, các cơ quan, người tiến hành tố tụng (chủ yếu là ĐTV) khi quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn thường dựa vào lý lịch của bị can, bị cáo trên cơ sở rà soát danh sách thuộc diện sưu tra của lực lượng trinh sát, đồng thời từ diễn biến vụ án cho phép suy ra các mối quan hệ là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến việc thực hiện tội phạm của bị can, bị cáo (đối với những tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe thường xuất phát do mâu thuẫn nên dễ dẫn đến tâm lý trả thù, đe dọa người làm chứng) hoặc bị can, bị cáo có phải là tội phạm chuyên nghiệp không (khả năng tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với các loại tội phạm xâm phạm sở hữu) mà đưa vào làm căn cứ áp dụng

Trang 16

- Để đảm bảo thi hành án Thi hành bản án và các quyết định của Tòa án là giai đoạn cuối của quá trình tố tụng, hoạt động điều tra, truy tố, xét xử sẽ không có ý nghĩa nếu như giai đoạn thi hành án không được thực hiện, giai đoạn này giữ vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình tố tụng Một bản án được thi hành kịp thời, đúng pháp luật là mục đích mà TTHS hướng đến, qua đó góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương, bảo đảm pháp chế Thi hành án mang nhiều ý nghĩa nhằm phát huy giáo dục, bảo đảm lợi ích nhà nước, lợi ích của tập thể và mọi công dân, góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm Vì vậy, để giai đoạn này được thực hiện, các cơ quan tiến hành tố tụng mà cụ thể là Tòa án luôn áp dụng biện pháp ngăn chặn xuyên suốt quá trình xét xử, biện pháp ngăn chặn áp dụng ở giai đoạn này chỉ có thể

là bắt bị cáo để tạm giam nhằm bảo đảm xét xử và thi hành án (nếu được áp dụng các biện pháp ngăn chặn không giam giữ trước đó)

Tuy nhiên, về căn cứ áp dụng, tác giả Nguyễn Duy Thuân cho rằng, Điều 79 Bộ luật TTHS năm 2003 chưa thật sự là các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, mà đó chính là mục đích áp dụng, là cái cần đạt được khi áp dụng biện pháp ngăn chặn, còn căn

cứ áp dụng là những tiêu chí, điều kiện cụ thể, quy định trong từng điều luật tương ứng với từng biện pháp ngăn chặn khác nhau6

Theo tác giả luận văn, nội dung theo quy định tại Điều 79 Bộ luật TTHS năm 2003 chính là căn cứ chung và cũng là mục đích áp dụng biện pháp ngăn chặn, còn các căn cứ

để các chủ thể tiến hành tố tụng đánh giá nhằm áp dụng biện pháp cụ thể là phải dựa vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và các yếu tố khác (khả năng quản

lý bị can, bị cáo cũng như những dấu hiệu có khuynh hướng gây khó khăn, cản trở cơ quan tố tụng làm nhiệm vụ) Mỗi biện pháp ngăn chặn có bản chất khác nhau, vì vậy khi

áp dụng sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân ở mức

độ nhất định Theo tác giả luận văn, căn cứ áp dụng phải là những tiêu chí cụ thể, là tổng hợp các điều kiện có ý nghĩa làm cơ sở cho việc quyết định áp dụng một biện pháp ngăn chặn độc lập

Biện pháp đặt tiền để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn độc lập, do đó, khoản 1 Điều 93 Bộ luật TTHS 2003 quy định các căn cứ áp dụng đó là:

6 Nguyễn Duy Thuân (2006), sđd, tr.13

Trang 17

+ Bị can, bị cáo thuộc diện đối tượng tạm giam theo quy định;

+ Dựa vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;

+ Xem xét nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo

Tuy nhiên, đây chỉ là những căn cứ rất khái quát, chưa cụ thể nên việc đánh giá các căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm sẽ phát sinh nhiều vấn đề khác, tác giả

sẽ phân tích ở chương sau

- Mục đích áp dụng biện pháp đặt tiền: Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

là một biện pháp ngăn chặn độc lập trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật TTHS, do đó biện pháp này cũng mang đầy đủ mục đích của một biện pháp ngăn chặn nói chung Bao gồm các mục đích là: kịp thời ngăn chặn tội phạm; ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; không để cho bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; để bảo đảm thi hành án Tuy nhiên, mục đích cụ thể, rõ ràng nhất mà các cơ quan tiến hành tố tụng hướng đến là ràng buộc bị can,

bị cáo bằng chính số tiền, tài sản của họ nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng; không để cho bị can, bị cáo

có điều kiện gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng

1.1.3 Thẩm quyền, thời hạn, thủ tục áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước do pháp luật quy định trong phạm vi, chức năng của mình quyết định những vấn đề có liên quan đến hoạt động do mình phụ trách Trong

tố tụng hình sự, thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn chính là quyền hạn và nghĩa vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có quyền quyết định

áp dụng, thay thế, hủy bỏ một trong các biện pháp ngăn chặn cụ thể

Các biện pháp ngăn chặn về bản chất là những hành vi cưỡng chế do những người tiến hành tố tụng áp dụng nhằm tác động trực tiếp lên đối tượng bị áp dụng mà qua đó, hạn chế đi sự tự do về thân thể đối với bị can, bị cáo; đồng thời quyền về tài sản, quyền

tự do đi lại của họ cũng bị can thiệp một cách hợp pháp nhằm bảo đảm rằng trong suốt quá trình tố tụng, từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn thi hành án, bị can, bị cáo không có điều kiện gây cản trở cho cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ Chính vì vậy,

Trang 18

không phải bất kỳ ai cũng đều có quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn mà phải là những người được pháp luật cho phép

Xác định rõ thẩm quyền áp dụng sẽ bảo đảm cho các chủ thể tiến hành tố tụng áp dụng đúng pháp luật, thực hiện đúng đắn các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền con người Bộ luật TTHS không quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung, nhưng tương ứng với từng biện pháp điều luật quy định về biện pháp đó đều có quy định chặt chẽ, rõ ràng thẩm quyền, trình tự và thủ tục áp dụng, bắt buộc trong quá trình áp dụng các chủ thể áp dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt

- Về thẩm quyền áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Khoản 2 Điều 93 Bộ luật TTHS 2003 dẫn chiếu đến các chủ thể quy định tại khoản 1 Điều 80 Bộ luật TTHS 2003 như sau:

+ Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS nhân dân và VKS quân sự các cấp;

+ Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp;

+ Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm TAND tối cao; Hội đồng xét xử;

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp

Quyết định của những chủ thể nêu trên phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS 2003 quy định Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên tòa cũng có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

So với Bộ luật TTHS 1988, Điều 93 Bộ luật TTHS 2003 đã quy định hoàn thiện, đầy đủ hơn về chủ thể áp dụng

- Về thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Bộ luật TTHS 2003 không quy định thời hạn chung cho toàn bộ hệ thống các biện pháp ngăn chặn mà quy định trong từng biện pháp ngăn chặn cụ thể Việc quy định thời hạn áp dụng là một nội dung vô cùng quan trọng, thời hạn được hiểu là khoảng thời gian nhất định từ thời điểm này đến thời điểm khác theo quy định của pháp luật, theo đó thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn là khoảng thời gian mà theo quy định người bị áp dụng

sẽ bị hạn chế quyền công dân đến khi các căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn đã không còn nữa Thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn có liên quan trực tiếp đến quyền con người, do đó nếu quy định thời hạn quá dài sẽ ảnh hưởng đến sự tự do của bị can, bị cáo;

Trang 19

mà nếu quy định quá ngắn, thì mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn không đạt được, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình thực hiện tố tụng Do đó, trong từng biện pháp ngăn chặn khác nhau, pháp luật đã quy định thời hạn áp dụng khác nhau, nhất là thời hạn tạm giữ, tạm giam Việc xác định thời hạn áp dụng biện pháp ngăn chặn và vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của bị can, bị cáo khi tham gia

tố tụng Tuy nhiên, có những biện pháp luật quy định thời hạn phê chuẩn quá ngắn hoặc

bỏ ngỏ thời hạn áp dụng nhưng nhìn chung trong số này chủ yếu là các biện pháp ngăn chặn mang tính chất không giam giữ

Về thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Điều 93 Bộ luật TTHS 2003 không quy định vấn đề này

- Thủ tục áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm

Thủ tục là toàn bộ các hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng bằng thẩm quyền của mình tiến hành các công việc cần thiết theo quy định của pháp luật như ban hành các quyết định, hướng dẫn người bị áp dụng thực hiện quyền và nghĩa vụ có liên quan Quyền và nghĩa vụ của đối tượng bị áp dụng trong từng biện pháp ngăn chặn là hoàn toàn khác nhau, do đó thủ tục áp dụng trong từng biện pháp ngăn chặn cụ thể sẽ khác nhau Ví dụ trong một số biện pháp (tạm giữ, tạm giam, bắt người trong trường hợp khẩn cấp) khi áp dụng bắt buộc phải có sự phê chuẩn của VKS, nhưng cũng có những biện pháp khi áp dụng không cần thực hiện thủ tục này, nghĩa là trong phạm vi quyền hạn của mình, cơ quan điều tra có thể tự mình thực hiện toàn bộ các thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn mà không cần thông qua phê chuẩn của VKS (biện pháp bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú)

Về trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, Điều 93 Bộ luật TTHS quy định “trình tự, thủ tục áp dụng thực hiện theo quy định của pháp luật” mà quy định của pháp luật về vấn đề này như thế nào cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thống nhất

Thủ tục và trình tự là những vấn đề quan trọng và cốt lõi nhất trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Quy định thủ tục, trình tự rõ ràng giúp cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng đắn quy định của pháp luật, mạnh dạn áp dụng biện pháp ngăn chặn bảo đảm quyền của bị can, bị cáo Bên cạnh đó thủ tục áp dụng rõ ràng, trình tự khoa học

Trang 20

sẽ góp phần hạn chế những phát sinh không mong muốn, là cơ sở để xem xét, giải quyết các thắc mắc, khiếu nại của bị can, bị cáo nếu họ có yêu cầu

1.1.4 Ý nghĩa của biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Bảo đảm quyền con người là nhiệm vụ trọng tâm được Đảng, Nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật hình sự, Bộ luật TTHS, là nội dung quan trọng trong việc ban hành và thực thi pháp luật Bộ luật TTHS của nước ta đã ghi nhận và thể chế hóa các quyền cơ bản đó vào trong từng điều luật dưới nhiều chế định khác nhau Biện pháp đặt tiền là một trong các quy định nhằm hướng đến bảo vệ quyền con người, của bị can, bị cáo Trong bối cảnh đất nước đang trong xu thế hội nhập toàn cầu, kinh tế xã hội ngày một phát triển thì xã hội cũng phải đối mặt với những khó khăn và thử thách, trong đó nhiệm vụ quan trọng hàng đầu là phải trấn áp, ngăn chặn tội phạm đang từng ngày một diễn biến phức tạp Trong công cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân thì những biện pháp ngăn chặn trong TTHS đóng vai trò hết sức quan trọng góp phần bảo đảm cho hoạt động tố tụng được tiến hành thuận lợi, giải quyết nhanh chóng vụ án, đưa người phạm tội ra trước pháp luật để trừng trị, bảo đảm pháp chế

Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm mặc dù khi áp dụng sẽ làm hạn chế đi một số quyền của công dân, cụ thể là quyền về tài sản, tuy nhiên, theo tác giả, đây là một biện pháp nhẹ nhàng nhưng vẫn đủ mạnh để ràng buộc bị can, bị cáo thực hiện theo đúng nghĩa vụ cam kết của mình Vì biện pháp này mang nhiều ý nghĩa tích cực sau đây:

Một là, biện pháp đặt tiền là một bước ngoặc thể hiện tính tiến bộ, nhân đạo xã hội chủ nghĩa Trong bất kỳ văn bản pháp luật nào, nguyên tắc nhân đạo là một tư tưởng xuyên suốt, bao trùm mang tính chủ đạo trong pháp luật của Nhà nước ta Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án

đã có hiệu lực pháp luật”, như vậy, cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật thì một người mới bị xem là có tội hay không, các giai đoạn tố tụng trước khi được đưa ra xét xử, thì một người vẫn chưa bị coi là tội phạm, do vậy, họ cũng cần có đầy đủ quyền của một công dân

Nhân đạo còn được thể hiện ở chỗ, khi áp dụng biện pháp đặt tiền, bị can, bị cáo không bị cách ly ra khỏi xã hội, họ vẫn được sống bên cạnh gia đình, người thân của

Trang 21

mình, có rất nhiều hoàn cảnh gia đình ly tán, khánh kiệt tài sản chỉ vì bị bắt (có nhiều vụ

án do lỗi vô ý), trẻ em là những nạn nhân đặc biệt sẽ rơi vào cảnh dở dang, cuộc sống bị

rẽ sang một hướng khác một khi cha, mẹ của chúng bị bắt vì một hành vi vi phạm pháp luật (phạm tội do lỗi vô ý), tâm lý của trẻ em thường khó đối mặt với sự kỳ thị của xã hội nên dư luận thường làm cho cuộc sống của họ trở nên xấu đi Đây là những vấn đề có ý nghĩa sâu xa mà pháp luật cần quan tâm đến Hay những bị can, bị cáo là những cá nhân thành đạt trong xã hội, giữ những vị trí cao trong các đơn vị kinh tế, chủ các doanh nghiệp, công ty, một khi họ thực hiện hành vi phạm tội, nếu chúng ta bắt giam họ, có biết bao hệ quả xấu sẽ xảy đến vì ngoài gia đình, họ còn có cơ sở làm ăn, tài sản và lực lượng lao động đang làm việc phụ thuộc vào họ Dù bản chất pháp luật mang tính công bằng, không phân biệt đối tượng thực hiện hành vi phạm tội là ai, nhưng đối với những đối tượng dạng này một khi họ bị bắt giam, sẽ gây ra những hệ quả xấu như thiệt hại về tài sản cá nhân họ, các lợi ích kinh tế khác mà nếu họ không bị bắt sẽ chuyển biến khác đi,

cụ thể như việc làm cho người lao động, lợi nhuận mang về từ những hợp đồng kinh tế

mà nếu không có họ sẽ bị đình trệ hoặc bị thanh lý, trong khi nếu để họ bên ngoài tiếp tục lao động và cống hiến thì việc khắc phục hậu quả do thực hiện tội phạm sẽ tích cực hơn

Vì thế, tác giả luận văn nhận thấy trong xã hội văn minh, hiện đại như ngày nay, chúng ta cần nhìn nhận những ưu điểm của biện pháp này một cách toàn diện và khoa học

Hai là, khi áp dụng biện pháp đặt tiền, bị can, bị cáo sẽ được tại ngoại, qua đó góp phần giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội, tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn trong việc xây dựng cơ sở giam, giữ, chế độ cho lực lượng làm nhiệm vụ trực nhật, canh giữ đối tượng và khi được cho đặt tiền để tại ngoại

họ sẽ tự túc việc ăn, ở đi lại, đây là một khoản chi phí rất lớn mà hàng năm Nhà nước ta phải chi ra để thực hiện nhiệm vụ tố tụng Bên cạnh đó, xuất phát từ thực tế hiện nay, các nhà tạm giữ, trại tạm giam từ Bộ đến các địa phương đang rơi vào tình trạng quá tải nên việc giam, giữ bị can, bị cáo cũng gặp rất nhiều khó khăn Việc cho bị can, bị cáo tại ngoại phần nào cũng giảm bớt ghánh nặng này

Trang 22

1.2 Lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

Sau cách mạng tháng Tám, đất nước ta đối mặt với nhiều khó khăn và thử thách, nạn đói và mù chữ là hai vấn nạn lớn của đất nước có tính cấp bách cần được giải quyết, bên cạnh việc chống thù trong giặc ngoài Tình hình đó, việc xây dựng một hệ thống pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội mà đặc biệt là pháp luật về TTHS là không thể thực hiện một cách toàn diện được

Trong những năm kháng chiến, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật, trong đó Sắc lệnh số 23 ngày 21/2/1946 là văn bản đầu tiên ghi nhận việc bắt người, tạm giữ, tạm giam như những biện pháp hữu hiệu nhất để chống lại các phần tử phản cách mạng Theo đó, Sắc lệnh này quy định việc thành lập Việt Nam Công an vụ có chức năng bảo vệ an ninh trật tự, tiến hành các hoạt động cần thiết như bắt người, tạm giữ, tạm giam mục đích kịp thời ngăn chặn và phòng ngừa các hành vi phạm tội

Sau năm 1954, miền Bắc tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa, nhằm đáp ứng tình hình mới, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 1 đã xác định phương hướng, vấn đề cốt lõi và mục đích ban hành pháp luật có liên quan đến quyền tự do dân chủ là: một mặt phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân mặt khác phải thực hiện đầy đủ chuyên chính đối với kẻ thù của nhân dân Theo đó, ngày 24/01/1957 đạo luật về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân được Quốc hội thông qua, gọi là Sắc lệnh 103/SL – 005 công bố ngày 20/5/1957, trong đó có quy định về bắt người, tạm giam, tạm tha Sắc lệnh này quy định khá rõ ràng và chặt chẽ về đối tượng, trình tự áp dụng biện pháp bắt người, tạm giữ, tạm giam Theo quy định của Sắc lệnh này, chế định tạm tha là một quy định mang tính chất gần giống với biện pháp cho bảo lĩnh ngày nay, tại Điều 8 Sắc lệnh quy định: „„Trong trường hợp việc tạm giam không cần thiết cho cuộc điều tra nữa, hoặc việc tạm tha không gây nguy hiểm gì cho trật

tự chung, thì cơ quan tư pháp hoặc tòa án binh nào đã ra lệnh tạm giam có thể tự mình, hoặc căn cứ vào đơn xin của can phạm, ra lệnh tạm tha‟‟7

7 Tập hệ thống hóa luật lệ về tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân tối cao (1976), Hà Nội, tr 98

Trang 23

Như vậy có thể nhận định, chế định tạm tha theo quy định của Sắc luật

103/SL-005 ngày 20/5/1957 là văn bản pháp luật tố tụng đầu tiên có quy định về việc can phạm tại ngoại Sắc luật không quy định tạm tha là như thế nào nhưng nếu các căn cứ để tạm giam không còn nữa, hoặc can phạm tại ngoại sẽ không ảnh hưởng đến quá trình điều tra thì cơ quan tư pháp, Tòa án sẽ tự mình ra quyết định tạm tha cho can phạm Khi được tạm tha, can phạm vẫn không thay đổi tư cách pháp lý, họ vẫn là bị can, bị cáo trong vụ

án và hành vi vi phạm của họ vẫn được điều tra, xử lý Ngoài những đặc điểm giống với biện pháp bảo lĩnh ngày nay, nếu đối chiếu thêm với Điều 93 Bộ luật TTHS 2003, ta thấy quy định về tạm tha và biện pháp đặt tiền để bảo đảm có những nét giống nhau, tuy quy định về tạm tha không đề cập đến tiền, tài sản để bảo đảm cho việc tại ngoại nhưng về căn cứ, cả hai đều là biện pháp được áp dụng nhằm thay thế cho biện pháp tạm giam Tuy nhiên, quy định này còn quá giản đơn, chưa có những quy định mang tính ràng buộc cũng như không có ý nghĩa ngăn chặn hay đề phòng họ cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét

xử mà đó chỉ là những đặc điểm mang tính tiền đề để nghiên cứu, phát triển các biện pháp ngăn chặn không giam giữ sau này Từ đó cho thấy, thời kỳ này, quy định về đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm chưa được đề cập đến

Sau ngày đất nước hoàn toàn phóng, ngày 15/3/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 02/SL – 76, quy định về việc bắt, giam giữ, tuy nhiên đây cũng chỉ là những văn bản pháp lý riêng lẻ, rời rạc Hoạt động tố tụng chỉ áp dụng các biện pháp như bắt, tạm giữ, tạm giam, tạm tha theo một ý nghĩa rất đơn thuần chứ chưa quy định thành biện pháp ngăn chặn mang đầy đủ bản chất của một biện pháp ngăn chặn có mục đích, căn cứ và trình tự áp dụng và đặc biệt là chưa

đề cập đến chế định đặt tiền Trước tình hình pháp luật hai miền Nam, Bắc có những quy định khác nhau, ngày 02/7/1976 Quốc hội đã xác định cần thiết xây dựng cơ chế áp dụng pháp luật thống nhất chung trên phạm vi cả nước, đây là chủ trương cấp bách và là tiền

đề cho việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện hơn

Ngày 28/6/1988, Quốc hội khóa 8 kỳ họp thứ 3 đã thông qua Bộ luật TTHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đây là Bộ luật TTHS đầu tiên của Việt Nam

mà trong đó chế định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được quy định là một trong các biện pháp ngăn chặn độc lập

Trang 24

Ngoài những văn bản pháp luật được Chính phủ Việt Nam ban hành trong thời kỳ chiến tranh, để duy trì và bảo vệ chính quyền của mình, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa cũng đã ban hành Bộ luật hình sự tố tụng năm 1972, trong đó tại Điều 146, Phụ tiết 2, Chương 1, Thiên 3 quy định về tạm giam có đề cập đến tiền bảo chứng, cụ thể như sau:

Tiền bảo chứng: Điều kiện để được tự do

1 Ngày nay, theo Bộ luật hình sự tố tụng 1972, tiền bảo chứng không những được dùng khi chấm dứt sự tạm giam mà còn được dùng khi bị can chưa bị tống giam nữa; tiền bảo chứng trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì

sự tự do của bị can Vì vậy, trong biện pháp kiểm soát tư pháp, tiền bảo chứng được dùng như một thứ bảo đảm cho sự tuân hành biện pháp này, và bảo đảm

sự xuất diện của y khi có trát đòi

2 Theo Bộ luật hình sự tố tụng 1972, việc bắt bị can đóng một số tiền

là một yếu tố của biện pháp kiểm soát tư pháp, dùng để bảo đảm sự xuất hiện của y mỗi khi được đòi hoặc tránh những bất tiện do sự khiếm diện của y gây

ra Vì mục đích này, nên Dự thẩm có thể quyết định bất cứ lúc nào trong suốt thủ tục trước khi hay đang khi bị can bị tạm giữ

Ngoài ra, tiền bảo chứng còn có thể được áp dụng trong trường hợp tự

do tạm do đơn xin mà thôi Bị can được tự do tạm theo luật định, không bị buộc phải đóng tiền bảo chứng

Tính cách nhiệm ý của tiền bảo chứng đối với Dự thẩm

3 Điều 146 dành cho thẩm phán thụ lý vụ án được toàn quyền quyết định về tiền bảo chứng trong trường hợp cho bị can tạm giam Vị thẩm phán

có thể không buộc bị can đóng tiền bảo chứng hoặc buộc phải có tiền bảo chứng và ấn định giá ngạch số tiền

- Hình sự tố tụng 1972 không chấp nhận sự bảo đảm của một đệ tam nhân có đủ khả năng tài chính như dự liệu tại Điều 120 Hình sự tố tụng Pháp

Tiền bảo chứng có 2 dụng đích

4 Điều 146 định rằng tiền bảo chứng gồm có 2 phần:

a Phần thứ nhất: của tiền bảo chứng dùng để bảo đảm sự có mặt của bị can trong mọi thủ tục tại phòng dự thẩm cũng như trước phiên tòa và cũng để bảo đảm sự thi hành án văn

Trang 25

- Tiền bảo chứng sẽ phải hoàn lại cho bị can nên y được miễn tố hay tha bổng, ngược lại nếu y không đến hầu một khi có lệnh đòi hay bất tuân các nghĩa vụ trong biện pháp kiểm soát tư pháp và không thi hành án Tòa tiền bảo chứng sẽ sung vào công quỹ Thẩm phán phải ghi điều này trong phần dẫn lý và truyền tịch thu phần bảo chứng này sau khi kết phạt

b Phần thứ hai: dùng để bảo đảm sự thanh toán theo thứ tự sau đây:

1 Lệ phí do dân sự nguyên cáo ứng trước, tiền bồi thường thiệt hại, cấp dưỡng v v ;

2 Lệ phí phát sinh do việc hành xử Công tố quyền;

3 Ngân hình;

Tiền cấp dưỡng nói ở đây là khoản tiền mà bị can phải cấp dưỡng cho người phối ngẫu và các con của y trong trường hợp y bị truy tố về tội bỏ phế gia đình 8

Căn cứ vào các quy định nêu trên, có thể thấy, Bộ luật hình sự tố tụng 1972 quy định tiền bảo chứng là một trong các biện pháp kiểm soát tư pháp, về bản chất việc dùng tiền bảo chứng là nhằm đổi lấy sự tại ngoại tránh bị tạm giam

Mục đích áp dụng: nhằm bảo đảm sự có mặt của bị can khi có lệnh trình diện (giấy triệu tập)

Thời gian áp dụng: Thẩm phán, dự thẩm có thể quyết định áp dụng bất cứ lúc nào trong suốt thủ tục tố tụng, trước hoặc đang bị tạm giữ Nghĩa là trước khi sắp bị tạm giam

họ có quyền đặt tiền bảo chứng để không bị giam hoặc sau khi bị giam, họ dùng tiền đặt

để được tự do

Thủ tục xử lý tiền bảo chứng: Bộ luật hình sự tố tụng 1972 quy định cụ thể cách

xử lý tiền đã đặt, trước tiên, số tiền dùng để bảo đảm sự có mặt của bị can trong mọi thủ tục đến khi xét xử và để bảo đảm sự thi hành án

Tiền sẽ được trả lại cho bị can khi họ được miễn truy tố hoặc được trả tự do (do không có tội) Nếu bị can không thực hiện các nghĩa vụ quy định và không chấp hành án thì tiền đã đặt sẽ sung vào công quỹ Bên cạnh đó, tiền bảo chứng còn được sử dụng như một nguồn kinh phí để thanh toán các khoản phí phát sinh trong thời gian thụ lý vụ án,

8 Hoàng Tuấn Lộc – Đào Minh Lượng (1973), Hình sự tố tụng chú giải, quyển 1 “Hành Sử công tố quyền và thẩm vấn, tr.394 - tr.396

Trang 26

dùng để bồi thường thiệt hại, các nghĩa vụ dân sự khác có liên quan Nếu bị phạt tiền, cơ quan tố tụng cũng có quyền sử dụng khoản tiền bảo chứng để thi hành án

Như vậy, thời điểm trước khi có Bộ luật TTHS năm 1988, pháp luật TTHS ở Việt Nam cũng đã xuất hiện chế định biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, mặc dù tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung về bản chất, chế định này đã được quy định một cách rất rõ ràng Tuy nhiên, do đây là điều luật do Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền đối lập với Chính phủ Việt Nam nên những quy định này không được xem là pháp luật của Việt Nam Nhưng cũng không thể phủ nhận tiền bảo chứng được quy định trong Bộ luật hình sự tố tụng 1972 của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa là một chế định tiến bộ, là tiền đề cho việc quy định chế định đặt tiền hoặc tài sản của pháp luật Việt Nam sau này

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003

Trước khi ban hành Bộ luật TTHS năm 1988, pháp luật TTHS nước ta là một mảng chấp nối một cách riêng lẻ, rời rạc Các biện pháp có ý nghĩa là biện pháp ngăn chặn trước đó được quy định tương đối đa dạng, các Sắc lệnh được quy định dựa theo từng thời kỳ và đặc điểm lịch sử lúc bấy giờ Sau 13 năm nghiên cứu soạn thảo, Ban dự thảo Bộ luật TTHS đã đệ trình Quốc hội và ngày 28/6/1988 Quốc hội khóa 8 đã chính thức thông qua Theo đó, tại Điều 76 Bộ luật TTHS năm 1988 quy định về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm như sau:

1 Đối với bị can hoặc bị cáo là người nước ngoài thì cơ quan điều tra, VKS và Tòa án có thể cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt theo giấy triệu tập

Quyết định của cơ quan điều tra về việc cho đặt tiền hoặc tài sản phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

2 Phải lập biên bản về việc đặt tiền hoặc tài sản và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản Biên bản phải ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt

3 Trong trường hợp bị can hoặc bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra, VKS, Tòa án thì số tiền hoặc tài sản đó bị sung quỹ Nhà nước

Trang 27

Theo quy định này thì đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được hiểu là hình thức bảo lĩnh bằng tiền đối với người nước ngoài, biện pháp ngăn chặn này được quy định dưới dạng qui phạm lựa chọn, có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài mà cũng có thể không, luật quy định như vậy nhằm mục đích thực hiện chính sách ngoại giao với các nước nhưng không phải tất cả đối tượng là người nước ngoài đều được áp dụng biện pháp đặt tiền khi thực hiện tội phạm, họ vẫn có thể bị giam Điều luật cũng quy định tương đối rõ ràng về trình tự, thủ tục, chủ thể áp dụng nhưng chưa quy định cụ thể các trường hợp nào bị can, bị cáo được áp dụng mà quy định chung chung, không giới hạn tội phạm mà họ thực hiện có mức độ nghiêm trọng như thế nào Tài sản được nêu trong điều luật mang tính khái quát, đơn giản không ghi nhận là tài sản gì, có giá trị như thế nào Mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 lần đầu tiên ghi nhận và quy định chế định này vào trong luật nhưng cần phải nhìn nhận, thời kỳ này việc quy định biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một quy định tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của xã hội

1.3 Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự một số nước trên thế giới

Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một quy định tương đối phổ biến trên thế giới, tuy tên gọi ở mỗi nước có khác nhau nhưng nhìn chung biện pháp này đều được các nước ghi nhận là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS Các quốc gia phát triển, những nước có bề dày lịch sử và kinh nghiệm lập pháp đều ghi nhận và quy định biện pháp này vào trong luật Một số nước quy định là biện pháp bảo lĩnh, tại ngoại, một số nước quy định là biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Việc tìm hiểu, đối chiếu quy định về biện pháp này của các quốc gia khác nhau giúp chúng ta có thêm nhiều thông tin; trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật TTHS các nước về biện pháp đặt tiền, chúng ta sẽ lựa chọn, rút ra được những điểm hay, tiến bộ và qua đó lựa chọn những quy định phù hợp để hoàn thiện chế định đặt tiền trong pháp luật TTHS Việt Nam thời gian tới

Ở Mỹ, pháp luật không quy định là đặt tiền, tài sản để bảo đảm như ở Việt Nam

mà quy định là biện pháp bảo lĩnh, theo đó, người bị bắt về hình sự sẽ đóng một khoản tiền tiền thế chân hay những vật thế chấp cho Tòa án để được tại ngoại hầu tra, nếu người này không ra Tòa án thì số tiền này sẽ bị mất, và Tòa án sẽ ra một lệnh truy nã để bắt họ

Trang 28

lại Người bị bắt có thể đóng số tiền này cho Tòa án, nếu họ ra Tòa thì họ không mất số tiền thế chân Ngoài ra, nếu không đủ tiền đóng, người bị bắt có thể đóng một số tiền nhỏ, khoảng 10% cho dịch vụ bảo lĩnh thông qua hợp đồng bảo lĩnh (bail bond) Dịch vụ này

sẽ đứng ra đóng số tiền thế chấp cho Tòa và số tiền 10% sẽ thuộc về dịch vụ bảo lĩnh khi người bị bắt đi ra hầu Tòa Mỗi quận có quy định tiền thế chân tùy theo tội hình, tiền bảo lĩnh chủ yếu được tính dựa trên tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà họ thực hiện Ngoài ra quan Tòa còn dựa vào những yếu tố như người bị bắt đã từng trốn không

ra hầu Tòa, ngay cả cho những vụ phạt vi cảnh, những tiền án mà họ đã có hay những liên hệ của họ trong cộng đồng mà xem xét mức tiền đóng bảo lĩnh Có những trường hợp người bị bắt được thả mà không cần trả tiền thế chân (own recognization), nghĩa là họ không cần phải đóng tiền thế chân vì dựa theo hạnh kiểm của họ, quan tòa tin rằng họ sẽ

do cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn này quy định Căn cứ vào tính chất của tội phạm đã thực hiện, nhân thân của người bị tình nghi, bị can và tình trạng tài sản của người đặt tiền, tài sản

Theo quy định của Bộ luật TTHS Liên Bang Nga năm 2001 thì đối tượng bị áp dụng có thể là người bị tình nghi thực hiện tội phạm, bị can đã bị khởi tố, ngoài ra những thể nhân, pháp nhân cũng có thể đặt tiền để được tại ngoại, luật quy định việc đặt tiền nhằm đảm bảo sự có mặt của họ khi được triệu tập và phòng ngừa họ thực hiện tội phạm mới Điều luật không quy định hình thức và mức tiền cụ thể, tuy nhiên hình thức đặt như thế nào và bao nhiêu, pháp luật trao quyền cho người có thẩm quyền quyết định dựa vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can,

9 http://www.viendongdaily.com/Contents.aspx?item=0&contentid=8043

Trang 29

người bị tình nghi Biện pháp ngăn chặn này được áp dụng ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào

Ở Nga, ngoài việc đặt tiền để tại ngoại còn có quy định cho đặt tiền để được giam giữ tại nhà10 Bên cạnh đó, pháp luật còn cho phép những người khác (không phải là bị can, người bị tình nghi) khi họ có điều kiện về tài chính bảo đảm cho việc đặt tiền để bảo lĩnh người bị tình nghi, bị can tại ngoại, họ sẽ đứng ra bảo lĩnh thay, đương nhiên luật cũng quy định quyền và nghĩa vụ của họ đối với người bị tình nghi, bị can mà họ nhận bảo lĩnh, họ sẽ chịu trách nhiệm trước cơ quan Công tố, Tòa án về nghĩa vụ đã cam đoan11

Về hậu quả pháp lý khi người bị tình nghi, bị can không thực hiện nghĩa vụ đã cam đoan thì số tiền đã đặt bị sung quỹ Nhà nước theo quyết định của Tòa án12 Quy định này so với pháp luật TTHS Việt Nam về cơ bản giống nhau, nhưng ở Nga pháp luật trao quyền hẳn cho Tòa án ra quyết định tịch thu sung công quỹ Hay, khi Tòa án ra bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án thì Tòa án quyết định việc trả lại tiền hoặc tài sản đã đặt cho người đặt tiền hoặc tài sản Trong trường hợp ĐTV, dự thẩm viên, nhân viên điều tra ban đầu đình chỉ vụ án thì việc trả lại tiền hoặc tài sản cho người đã đặt tiền hoặc tài sản được nêu trong quyết định đình chỉ vụ án13 Do cùng ảnh hưởng của hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nên phần nào chế định về biện pháp đặt tiền của Việt Nam và Nga

có điểm tương đồng với nhau, về tên gọi là hoàn toàn giống nhau, nhưng đi sâu vào phân tích điều luật thì chế định này ở Nga có những quy định rõ ràng, chặt chẽ hơn về mặt thủ tục, tuy nhiên cũng còn nhiều nội dung cần so sánh, nghiên cứu thêm

Ở Nhật, luật không quy định thành biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm như Nga và Việt Nam Khoản 1 Điều 87 Bộ luật TTHS Nhật Bản 1991 quy định

“khi các căn cứ hoặc sự cần thiết để tạm giam không còn nữa thì Tòa án theo yêu cầu của công tố viên, bị cáo đang bị tạm giam hoặc luật sư bào chữa của họ, người đại diện hợp pháp, người phụ trách, vợ hoặc chồng, người thân, anh chị em của bị cáo hoặc tự mình hủy bỏ việc tạm giam bằng một quyết định”

Trang 30

Luật TTHS Nhật Bản quy định một cách chặt chẽ biện pháp bảo lĩnh, đây là một quy định tiến bộ được áp dụng phổ biến ở Nhật Theo quy định thì khi có đơn yêu cầu cho phép bảo lĩnh thì Công tố viên, Thẩm phán phải giải quyết cho bị cáo được bảo lĩnh, luật quy định các trường hợp không được áp dụng biện pháp bảo lĩnh tương đối cụ thể và

rõ ràng; cụ thể là trừ một số loại tội có khung hình phạt lên đến tử hình hoặc có đủ căn cứ

để nghi ngờ rằng bị cáo có thể hủy chứng cứ14 Bị cáo hoặc người thân của họ đều có quyền đứng ra dùng tiền để bảo lĩnh tại ngoại, chỉ có Tòa án mới có quyền quyết định việc cho bảo lĩnh hay không trước khi tham khảo ý kiến của Công tố viên Khi quyết định cho bảo lĩnh thì Tòa án xác định số tiền bị cáo sẽ đặt là bao nhiêu, khoản này đủ để bảo đảm sự có mặt của bị cáo có xem xét đến bản chất của vụ án và các tình tiết khác có liên quan đến hoạt động phạm tội của bị cáo, cũng như chứng cứ chống lại người đó, có xem xét đến đạo đức hạnh kiểm và khả năng tài chính của họ Khi được bảo lĩnh, bị cáo còn

có thể bị hạn chế đi lại trong một phạm vi nhất định Ở Nhật, luật quy định không nhất thiết phải là bị cáo mới có quyền bảo lĩnh, Tòa án có thể cho phép một người không phải

là bị cáo được Tòa thừa nhận là hợp lý đệ trình các séc có thể đổi thành tiền mặt hoặc giấy bảo đảm để thay thế cho khoản tiền bảo lĩnh15 Về hậu quả pháp lý mà bị cáo phải chịu khi không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết như là:

- Bị cáo không có mặt mà không có lý do chính đáng khi đã được triệu tập

- Bị cáo đã bỏ trốn hoặc có đủ căn cứ để nghi ngờ rằng bị cáo có thể bỏ trốn Tòa án sẽ áp dụng một quyết định khác tịch thu toàn bộ hoặc một phần số tiền mà

bị cáo đã mang ra bảo lĩnh trước đó

Ở Singapore, biện pháp bảo lĩnh được pháp luật quy định từ rất sớm, tuy có khác nhau về tên gọi nhưng về bản chất, đây cũng là một biện pháp mang tính cưỡng chế tố tụng, dùng tiền hoặc tài sản để bảo lĩnh tại ngoại chờ xử lý Mà theo đó, một người có thể

sử dụng tiền mặt để đảm bảo cho sự có mặt của mình, hoặc nếu không có tiền, họ có thể nhờ một cá nhân nào đó bất kỳ có khả năng tài chính đứng ra bảo lĩnh thay, giống với dịch vụ “bail bond” ở Mỹ Một người có thể nhờ nhiều người khác đứng ra bảo lĩnh nếu một người không đủ tiền Ở Singapore, hầu hết tất cả các loại tội đều có thể dùng tiền để bảo lĩnh, trừ khi người phạm tội thực hiện tội phạm có khung hình phạt đến chung thân

14 Khoản 4, Điều 89 Bộ luật TTHS Nhật Bản 1991

15 Khoản 3, Điều 94 Bộ luật TTHS Nhật Bản năm 1991

Trang 31

hoặc tử hình, ở Nhật thì luật quy định dưới dạng liệt kê khung hình phạt đến bao nhiêu năm thì được bảo lĩnh bằng tiền Số tiền bảo lĩnh do Cơ quan Cảnh sát quyết định, tùy theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của vụ án, người đứng bảo lĩnh phải chứng minh được khả năng tài chính của họ thông qua các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu như nhà,

xe, các quyền về tài sản khác Điều kiện để được bảo lĩnh theo quy định của luật TTHS Singapore cũng đơn giản hơn, tuy nhiên người được bảo lĩnh trong thời gian tại ngoại không được rời khỏi lãnh thổ Singapore nếu không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền (cơ quan cho bảo lĩnh), những người đứng ra bảo lĩnh phải bảo đảm sự có mặt của

bị can, bị cáo

Về hậu quả pháp lý khi bị cáo không có mặt theo lệnh triệu tập thì Cơ quan Cảnh sát hoặc Tòa án sẽ ban hành một trát bắt giữ ngay lập tức và số tiền đặt bảo lĩnh trước đó

có thể bị mất một phần hoặc toàn bộ, trong trường hợp này người đứng ra bảo lĩnh thay

sẽ bị phạt16 Tác giả luận văn nhận thấy, đây là một quy định mang tính tiến bộ, thể hiện tính cương quyết của pháp luật đối với bị can, bị cáo khi họ không thực hiện nghĩa vụ đã cam đoan Tại Việt Nam, luật quy định khi bị can, bị cáo không có mặt theo giấy triệu tập, số tiền đã đặt sẽ bị sung vào công quỹ Nhà nước và bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác (khoản 4 Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003) Biện pháp ngăn chặn khác chỉ có thể là bắt bị can, bị cáo để tạm giam mặc dù biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú

và bảo lĩnh là hai biện pháp cưỡng chế tố tụng, nhưng nếu áp dụng để thay thế biện pháp đặt tiền để bảo đảm sẽ không đảm bảo hiệu quả và mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn sẽ không đạt được Do đó, khoản 4 Điều 93 của Bộ luật TTHS năm 2003 của Việt Nam cần có những thay đổi cho phù hợp

Theo quy định tại Điều 132 Bộ luật TTHS Đức, thì một người bị nghi ngờ là đã thực hiện tội phạm mà không có nơi ở cố định hoặc nơi thường trú trong phạm vi lãnh thổ

mà Bộ luật TTHS có hiệu lực và các căn cứ cho việc ra lệnh bắt giam không được thỏa mãn thì Thẩm phán có thể ban hành một quyết định nhằm bảo đảm thủ tục TTHS được tiến hành đối với người bị áp dụng, cụ thể là buộc họ nộp một khoản tiền đủ cho tiền phạt

có thể được tuyên và án phí Trong trường hợp bị cáo không thực hiện nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thì số tiền đã đặt sẽ bị tịch thu; trong trường hợp khẩn cấp,

16 http://policy.mofcom.gov.cn/en/flaw!fetch.html?libcode=flaw&id=980ca650-65bd-4693-bd21-c030415f2f61

Trang 32

Cơ quan Công tố cũng có quyền ra quyết định cho tại ngoại qua hình thức bảo lãnh bằng tiền.17

17 http://www.iuscomp.org/gla/statutes/StPO.htm#132

Trang 33

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VÀ TRỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP ĐẶT TIỀN HOẶC

TÀI SẢN CÓ GIÁ TRỊ ĐỂ BẢO ĐẢM

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Biệp pháp đặt tiền để bảo đảm là một trong các biện pháp ngăn chặn quy định tại Chương 5 Bộ luật TTHS năm 2003 Đây là biện pháp ngăn chặn thể hiện tính nhân đạo cao nhất trong hệ thống các biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật TTHS Mặc dù, trước đó, tại Điều 76 Bộ luật TTHS năm 1988 đã có quy định biện pháp này, nhưng chỉ cho áp dụng với đối tượng là người nước ngoài nên tạo ra sự bất bình đẳng giữa bị can, bị cáo là người nước ngoài với bị can, bị cáo là người Việt Nam Để khắc phục hạn chế của quy định này, theo tinh thần cải cách tư pháp, Bộ luật TTHS năm 2003

đã được sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hơn, theo đó biện pháp đặt tiền để bảo đảm cũng được quy định theo hướng mở rộng đối tượng áp dụng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng rõ ràng, cụ thể hơn so với quy định của Bộ luật TTHS 1988 Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định như sau:

1 Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập

2 Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Quyết định của những người quy định tại điểm d khoản 1, Điều 80 của Bộ luật này phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

3 Cơ quan ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản

Trang 34

4 Trong trường hợp bị can, bị cáo đã được Cơ quan điều tra, VKS, Tòa

án triệu tập mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì số tiền hoặc tài sản đã đặt sẽ bị sung quỹ Nhà nước và trong trường hợp này bị can, bị cáo sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác

Trong trường hợp bị can, bị cáo chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ đã cam đoan thì cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm trả lại cho họ số tiền hoặc tài sản đã đặt

5 Trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc giá trị tài sản phải đặt để bảo đảm, việc tạm giữ, hoàn trả, không hoàn trả số tiền hoặc tài sản đã đặt được thực hiện theo quy định của pháp luật

2.1.1 Căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm và thực hiện nhiệm vụ của TTHS, pháp luật quy định cho phép các cơ quan, người tiến hành tố tụng

áp dụng những biện pháp cưỡng chế tố tụng cần thiết phục vụ cho công tác phát hiện, chứng minh, xử lý tội phạm đúng pháp luật Trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng là phải đưa ra được các căn cứ xác đáng để đánh giá, lựa chọn áp dụng biện pháp ngăn chặn thích hợp nhằm mang lại hiệu quả cho quá trình tố tụng Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn có tính lựa chọn, mà theo đó, các cơ quan, người tiến hành tố tụng cần phải cân nhắc giữa hai biện pháp tạm giam và đặt tiền Việc lựa chọn áp dụng biện pháp nào phải dựa trên những căn cứ nhất định Trong quá trình áp dụng, các chủ thể tiến hành tố tụng phải đánh giá toàn diện các căn cứ

để bảo đảm đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can,

bị cáo

Khoản 1 Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: „„…Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản

có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập”

Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là một trong ba biện pháp ngăn chặn mang tính chất không giam giữ thuộc hệ thống các biện pháp ngăn chặn được quy định trong pháp luật TTHS Mặc dù về bản chất, biện pháp đặt tiền để bảo đảm không tước đi quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo khi tham gia tố tụng nhưng quyền sở hữu về tài

Trang 35

sản của họ sẽ bị can thiệp ở một mức độ nhất định Quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với khối tài sản mang đặt bảo đảm bị hạn chế, do đó các căn cứ áp dụng phải được quy định rõ ràng, thống nhất

Trước hết, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn để thay thế biện pháp tạm giam Như vậy, theo tinh thần của điều luật này thì bị can, bị cáo thuộc diện đối tượng bị tạm giam nhưng không bị áp dụng biện pháp tạm giam khi có thêm những căn cứ khác Điều này có nghĩa không phải bị can, bị cáo nào thuộc diện bị tạm giam đều được đặt tiền để tại ngoại và cũng không nhất định rằng bị can, bị cáo sẽ bị bắt tạm giam khi thuộc diện cần phải tạm giam để đảm bảo hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án như mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung, mà đây là một chế định mở, khi bị can, bị cáo có đầy đủ các căn cứ theo quy định thì sẽ được cho đặt tiền, cụ thể là: “Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án có thể quyết định cho họ đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập”18

Như vậy, ngoài những căn cứ chung theo quy định tại Điều 79, các trường hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 88, Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 có quy định các căn

cứ để áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, đó là:

+ Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Khi đánh giá căn cứ này, các chủ thể tiến hành tố tụng dựa vào tội danh, loại tội phạm mà bị can, bị cáo thực hiện

để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Căn cứ này chủ yếu dựa theo quy định của pháp luật để đánh giá

+ Nhân thân của bị can, bị cáo Khi xem xét vấn đề này, về lý luận cho đến nay chúng ta cũng chưa có văn bản pháp lý nào hướng dẫn nhân thân bị can, bị cáo như thế nào

là tốt, là xấu Do chưa có tiêu chí phân loại cụ thể nên khi đánh giá căn cứ nhân thân của bị can, bị cáo, người thụ lý vụ án chủ yếu dựa vào cảm tính khi tiếp xúc với bị can, bị cáo và thông qua việc tìm hiểu các mối quan hệ xã hội, thông tin từ chính quyền địa phương mà xem xét, đánh giá chứ chưa có quy định hay hướng dẫn về việc này Đây cũng là những hạn chế, thiếu sót cần sớm được hoàn thiện

18 Khoản 1 Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003

Trang 36

+ Tình trạng tài sản của bị can, bị cáo Đây là một trong các căn cứ quan trọng có tính quyết định đối với việc đánh giá có cho đặt tiền, tài sản hay không Vì nếu căn cứ này không thỏa mãn thì không thể áp dụng biện pháp đặt tiền được Luật bắt buộc bị can,

bị cáo phải có một khoản tiền, tài sản nhất định để cơ quan, người tiến hành tố tụng xem xét Để đánh giá một cách xác đáng căn cứ này, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng cần phải dựa trên nhiều tiêu chí, trong đó, quan trọng nhất vẫn là đề nghị bị can, bị cáo tự chứng minh khả năng tài chính của bản thân, vì các cơ quan, người tiến hành tố tụng không thể xác minh tình trạng tài sản của bị can, bị cáo được

Dựa vào quy định của điều luật ta thấy các căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm còn mang tính khái quát cao, chưa cụ thể Điều này dẫn đến thực tế là trong thực tiễn áp dụng pháp luật vào hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, các chủ thể tiến hành tố tụng khi đánh giá căn cứ áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm chỉ dựa vào quy định của pháp luật hình sự đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị can,

bị cáo đã thực hiện và xem xét nhân thân, tình trạng tài chính của bị can, bị cáo mà cân nhắc, quyết định cho áp dụng chứ không dựa trên những căn cứ cụ thể nào Khi đánh giá các căn cứ này, từ hình thức, mức tiền, tài sản được đặt bảo đảm đến việc đánh giá khả năng tài chính của bị can, bị cáo chủ yếu mang tính chủ quan, phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của chủ thể tiến hành tố tụng, điều này đã gián tiếp trao nhiều quyền cho cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc đánh giá các căn cứ, từ đó dễ dẫn đến tình trạng không thống nhất, áp dụng tùy tiện

Về căn cứ áp dụng, một số quan điểm đối lập khác lại cho rằng, việc quy định biện pháp đặt tiền để bảo đảm là biện pháp thay thế biện pháp tạm giam còn nhiều vấn đề cần được xem xét lại Quan điểm này cho rằng, biện pháp đặt tiền để bảo đảm chỉ được áp dụng khi các căn cứ cho việc áp dụng biện pháp tạm giam không còn nữa, hoặc là ngay

từ ban đầu, cơ quan tiến hành tố tụng không có căn cứ để tạm giam bị can, bị cáo Trong trường hợp này, nếu bị can, bị cáo có đề nghị được đặt tiền để bảo đảm thì cơ quan tiến hành tố tụng căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà

bị can, bị cáo gây ra, tình trạng tài chính của bị bị can, bị cáo mà xem xét cho áp dụng hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn Đây cũng là một quan điểm cần được đánh giá, xem xét một cách toàn diện, quy định theo hướng loại trừ các căn cứ bị tạm giam sẽ thu gọn lại đối tượng được áp dụng hơn Theo tác giả luận văn, quan điểm này cũng có những

Trang 37

điểm phù hợp nhất định vì hiện tại, Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: „„Biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam‟‟, mà biện pháp đặt tiền để bảo đảm là một trong các biện pháp ngăn chặn độc lập, do đó, cần quy định căn cứ, đối tượng rõ ràng chứ không quy định chung chung như hiện nay „„là biện pháp ngăn chặn thay thế biện pháp tạm giam‟‟ Quy định này không thể hiện rõ căn cứ áp dụng mà bộc lộ nhiều vấn đề rất khó đánh giá khi áp dụng thực tiễn

2.1.2 Đối tượng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định đối tượng được áp dụng biện pháp này

là bất kỳ bị can, bị cáo nào bao gồm người nước ngoài, người Việt Nam Chính xuất phát

từ yêu cầu của cuộc cải cách tư pháp mà Bộ luật TTHS năm 2003 đã mở rộng diện đối tượng hơn so với quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 (chỉ áp dụng đối với người nước ngoài) Đây là quy định rất đúng đắn, phù hợp với thực tiễn, thể hiện sự bình đẳng trong chính sách hình sự đối với người Việt Nam và người nước ngoài trong giai đoạn hội nhập Bị can, bị cáo chính là người dùng tiền, tài sản của mình để đặt bảo đảm cho chính bản thân họ được tại ngoại Tuy nhiên, không phải bất cứ bị can, bị cáo nào cũng đều được áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm mà phải dựa trên những căn cứ luật định Như vậy, theo quy định hiện hành, thì thân nhân của bị can, bị cáo sẽ không là đối tượng

áp dụng của biện pháp này Ở một số quốc gia trên thế giới, về đối tượng áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, pháp luật còn cho phép thân nhân của bị can, bị cáo có thể dùng tiền, tài sản để bảo lĩnh cho người thân bị can, bị cáo được tại ngoại Đây là một quy định theo hướng mở rộng diện đối tượng áp dụng, thiết nghĩ đây cũng là quy định phù hợp, khi ban hành văn bản hướng dẫn, chúng ta nên đưa nội dung này vào nhằm mở rộng diện đối tượng được áp dụng hơn

Tuy nhiên, điểm hạn chế gây khó khăn cho quá trình áp dụng là hiện nay, dù điều luật quy định tất cả bị can, bị cáo đều thuộc trường hợp có khả năng bị giam hoặc đang bị giam sẽ được Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án xem xét dựa trên tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo mà cho đặt tiền để tại ngoại thay vì bị tạm giam Quy định này không mang tính giới hạn về loại tội

mà bị can, bị cáo thực hiện, vô hình trung được hiểu tất cả bị can, bị cáo dù cho họ phạm tội gì chỉ cần có khả năng bị giam hoặc đang bị giam cũng có thể dùng tiền, tài sản để đặt bảo đảm Nếu trong thực tiễn, dựa vào quy định này để áp dụng sẽ tạo ra dư luận tiêu

Trang 38

cực, bất bình trong xã hội vì có những loại tội phạm mà hành vi của chúng gây ra cho nạn nhân, xã hội những thiệt hại về tinh thần, thì việc tại ngoại của bị can, bị cáo sẽ mang lại

hệ quả xấu, mục đích TTHS không đạt được Do vậy, để được đặt tiền tại ngoại, ngoài những căn cứ theo luật định (điều kiện cần), đối tượng áp dụng cần đảm bảo các điều kiện:

- Nhân thân bị can, bị cáo tốt

- Có khả năng tài chính

- Không phạm vào các tội theo luật định không được phép tại ngoại

Đây là ba điều kiện đủ, có ý nghĩa quyết định đối với việc xem xét có cho tại ngoại hay không

Đặt tiền, tài sản để tại ngoại là một quy định mang tính văn minh, tiến bộ, phù hợp với xu hướng chung của thế giới Ở các nước tư bản, pháp luật quy định mang tính thông thoáng hơn về chế định bảo lĩnh bằng tiền, không giới hạn đối tượng, tội danh Ở Việt Nam, dù đã và đang hội nhập với thế giới, nhưng về mặt ý thức hệ, chúng ta vẫn còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của nền văn minh nông nghiệp, tư tưởng pháp luật xã hội chủ nghĩa chi phối phần lớn hệ thống pháp luật hiện hành, cùng với tình hình tội phạm ở Việt Nam hiện nay, pháp luật cần thiết phải quy định chặt chẽ đối tượng áp dụng biện pháp này, không thể quy định chung chung là biện pháp thay thế biện pháp tạm giam, cũng không phải tất cả bị can, bị cáo nào phạm tội cũng đều được dùng tiền, tài sản để bảo đảm áp dụng tràn lan

2.1.3 Thẩm quyền, thủ tục và thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

2.1.3.1 Thẩm quyền áp dụng

So với Bộ luật TTHS 1988 thì Bộ luật TTHS năm 2003 có những quy định rõ ràng, cụ thể hơn về thẩm quyền áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm Cụ thể, khoản 2 Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: “Những người quy định tại khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên tòa có quyền ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm Quyết định của những người quy định tại

Trang 39

điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành”

Khoản 1 Điều 80 quy định gồm những chủ thể sau:

- Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS nhân dân và VKS quân sự các cấp;

- Chánh án, Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp;

- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa phúc thẩm TAND tối cao; Hội đồng xét xử;

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành

Như vậy, về thẩm quyền áp dụng biện pháp đặt tiền, so với quy định tại Điều 76

Bộ luật TTHS 1988 thì Điều 93 Bộ luật TTHS 2003 đã quy định cụ thể, chỉ rõ người có thẩm quyền là những người có chức danh nào, để xác định trách nhiệm chứ không quy định chung chung là cơ quan có thẩm quyền như trước nữa, điều này là một bước tiến bộ làm cho các chủ thể áp dụng hình dung ra được thẩm quyền, trách nhiệm của mình khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này

2.1.3.2 Thủ tục áp dụng

Thủ tục là nội dung quan trọng trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Khi đề cập đến thủ tục áp dụng có rất nhiều phần việc cũng như nhiều nội dung cần được tiến hành theo thứ tự trước sau và phải dựa theo những biểu mẫu thống nhất chung.Để làm rõ quy định về thủ tục áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, trước tiên, tác giả luận văn phân tích:

- Về thủ tục phê chuẩn: Khoản 2 Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định cụ thể những quyết định của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp phải có sự phê chuẩn của VKS cùng cấp trước khi thi hành Đây là quy định nhằm bảo đảm sự khách quan trong việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm, vì việc xem xét, đánh giá các căn cứ được kiểm sát chặt chẽ thông qua hoạt động phê chuẩn của VKS

- Về thủ tục lập biên bản: Khoản 3 Điều 93 Bộ luật TTHS 2003 quy định: ‟‟Cơ quan ra quyết định về việc đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm phải lập biên bản ghi rõ số lượng tiền, tên và tình trạng tài sản đã được đặt và giao cho bị can hoặc bị cáo một bản‟‟

Trang 40

Quy định về thủ tục lập biên bản ghi nhận việc đặt tiền, tài sản để bảo đảm là một thủ tục cần thiết và quan trọng, không thể thiếu về mặt thủ tục khi áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm Biên bản chứng minh rằng bị can, bị cáo đã đặt số tiền, tài sản như vậy

để được phép tại ngoại và cũng là văn bản có tính ràng buộc đối với bị can, bị cáo, vì khi được cho áp dụng biện pháp đặt tiền, tài sản, bị can, bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Biên bản như là một sự cam kết giữa cơ quan tiến hành tố tụng với bị can, bị cáo; giữa một bên nhận giữ một khoản tiền để buộc bên kia có mặt, một bên mang một khoản tiền đến bên kia gửi giữ để làm tin

2.1.3.3 Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm

Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm là bao lâu và thời điểm chấm dứt là khi nào Do đó, trong thực tế, thời hạn áp dụng còn tùy thuộc rất nhiều vào cơ quan và từng giai đoạn tiến hành tố tụng Mỗi giai đoạn tố tụng có một nhiệm vụ khác nhau, nhưng nhìn chung việc áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm cũng nhằm hướng đến mục đích đảm bảo hoạt động tố tụng của từng giai đoạn được tiến hành theo đúng trình tự, tiến độ Tuy nhiên, trong cùng một vụ án, qua từng giai đoạn tố tụng mỗi chủ thể có cách nhận định về vụ án khác nhau, từ đó dẫn đến việc cùng một vụ án, qua các giai đoạn tố tụng sẽ có các biện pháp ngăn chặn khác nhau được áp dụng Mặt khác, cũng có những vụ án, từ giai đoạn điều tra đến giai đoạn xét xử với một đối tượng chỉ áp dụng duy nhất một biện pháp ngăn chặn

Tác giả luận văn giả thuyết rằng, trong thực tế, biện pháp đặt tiền để bảo đảm chỉ được áp dụng ở một giai đoạn tố tụng nhất định thì thời hạn đặt tiền là thế nào Thời điểm phát sinh là từ lúc cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định cho đặt tiền, nhưng đến thời điểm nào phải trả lại tiền cho bị can, bị cáo? Cụ thể như ở giai đoạn điều tra, khi kết thúc

hồ sơ chuyển sang VKS đề nghị truy tố, VKS thay thế biện pháp ngăn chặn khác, không

áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm nữa thì việc đặt tiền để bảo đảm kết thúc tại thời điểm nào, thủ tục bàn giao hồ sơ ra sao Khi VKS chuyển hồ sơ sang Tòa án, Tòa lại áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm thì thủ tục giải quyết như thế nào Giai đoạn này có thể xác định thời điểm áp dụng biện pháp đặt tiền để bảo đảm được tính từ lúc Tòa án ra quyết định cho đặt tiền để bảo đảm nhưng thời điểm kết thúc là khi nào? Thời hạn áp dụng biện pháp đặt tiền kéo dài đến giai đoạn thi hành án có được không? Đây là vấn đề chưa có sự thống nhất

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ luật tố tụng hình sự 1991 của Nhật Bản (bản tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự 1991 của Nhật Bản
7. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 của Liên bang Nga (bản tiếng Việt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2001 của Liên bang Nga
12. Tòa án nhân dân tối cao (1976), Tập hệ thống hóa luật lệ về Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập hệ thống hóa luật lệ về Tố tụng hình sự
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 1976
13. Bộ Công an (2005), Quyết định số 596/2005/QĐ-BCA (X13) ngày 19/5/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ điều tra viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp trong lực lượng Công an nhân dân.II. Các tài liệu tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 596/2005/QĐ-BCA (X13) ngày 19/5/2005 về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ điều tra viên cao cấp, trung cấp, sơ cấp trong lực lượng Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2005
14. Phạm Ngọc Ánh (2010), Những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, Tạp chí Tòa án nhân dân, (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Phạm Ngọc Ánh
Năm: 2010
15. Phạm Thanh Bình (2007), “Nâng cao hiệu quả biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (02) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả biện pháp ngăn chặn đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Năm: 2007
16. Nguyễn Mai Bộ (1997), Những biện pháp ngăn chặn trong TTHS, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp ngăn chặn trong TTHS
Tác giả: Nguyễn Mai Bộ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
17. Trần Trung Dũng (2010), “Thực hiện pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 của Cơ quan an ninh điều tra - kết quả và những vấn đề đặt ra”, Tạp chí Công an nhân dân, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 của Cơ quan an ninh điều tra - kết quả và những vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Công an nhân dân
Tác giả: Trần Trung Dũng
Năm: 2010
18. Hoàng Tuấn Lộc, Đào Minh Lượng (1973), Hình sự tố tụng chú giải, quyển 1 “Hành Sử công tố quyền và thẩm vấn”, tr.394 - tr.396 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình sự tố tụng chú giải, quyển 1 "“Hành Sử công tố quyền và thẩm vấn”
Tác giả: Hoàng Tuấn Lộc, Đào Minh Lượng
Năm: 1973
19. Vũ Mộc (2005), Một số suy nghĩ về qui định đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm tại Điều 93 Bộ luật TTHS, Tạp chí Kiểm sát, (07) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Vũ Mộc
Năm: 2005
20. Nguyễn Hoài Nam (2007), Điều 93 Bộ luật TTHS năm 2003 cần được giải thích và hướng dẫn thực hiện, Tạp chí Kiểm sát, (09) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Hoài Nam
Năm: 2007
21. Nguyễn Vạn Nguyên (1995), Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng
Tác giả: Nguyễn Vạn Nguyên
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 1995
22. Trần Thế Quân (2009), Vấn đề hoàn thiện pháp luật về công tác tạm giữ, tạm giam trong tiến trình cải cách tư pháp, Kỷ yếu hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện công tác giam giữ, tạm giam, Bộ Công an, tr.21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hoàn thiện pháp luật về công tác tạm giữ, tạm giam trong tiến trình cải cách tư pháp
Tác giả: Trần Thế Quân
Năm: 2009
23. Trịnh Văn Thanh (2003), Một số ý kiến về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong dự thảo Bộ luật TTHS, Kỷ yếu hội thảo khoa học - Khoa luật hình sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong dự thảo Bộ luật TTHS
Tác giả: Trịnh Văn Thanh
Năm: 2003
1. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2001), Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung 2001) Khác
2. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1988), Bộ luật tố tụng hình sự 1988 Khác
3. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2003), Bộ luật tố tụng hình sự 2003 Khác
4. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2010) Khác
8. Chính phủ (1998), Nghị định số 88/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 về ban hành Quy chế về tạm giữ, tạm giam Khác
9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2004), Pháp lệnh số 23/2004/PL-UBTVQH ngày 20/8/2004 về tổ chức điều tra hình sự Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG THỐNG KÊ ÁN THỤ LÝ, BẮT GIAM GiỮ, ĐIỀU TRA, XỬ LÝ TỘI PHẠM CỦA TỔNG CỤC CẢNH SÁT - Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự việt nam
i Ữ, ĐIỀU TRA, XỬ LÝ TỘI PHẠM CỦA TỔNG CỤC CẢNH SÁT (Trang 82)
Hình sự                           25,016   77.61%                          42,493   81.07%  Kinh tế                                 533   1.65%                                873   1.67% - Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong tố tụng hình sự việt nam
Hình s ự 25,016 77.61% 42,493 81.07% Kinh tế 533 1.65% 873 1.67% (Trang 89)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w