Vì những lý do trên, đề tài “Đánh Giá Mức Độ Tác Động Của Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Sự Tuân Thủ Trong Việc Kê Khai – Nộp Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Các Doanh Nghiệp” tiến hành nghiên cứu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
TRẦN THỊ THANH THƯ
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ TRONG VIỆC
KÊ KHAI – NỘP THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ – LUẬT
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CỬ NHÂN QUẢN TRỊ - LUẬT
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ TUÂN THỦ TRONG VIỆC
KÊ KHAI – NỘP THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn
Người thực hiện
MSSV
Lớp
: : :
:
ThS Nguyễn Thị Ngọc Trần Thị Thanh Thư
1551101030127
63 - QTL 40
TP Hồ Chí Minh - Năm 2020
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
TÁC GIẢ KHÓA LUẬN
TRẦN THỊ THANH THƯ
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong khoảng thời gian là sinh viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã được truyền đạt nhiều kiến thức quý giá Luận văn này là kết quả của quá trình nghiên cứu kết hợp với những kiến thức mà tôi đã tích góp được thông qua năm năm học tập và nghiên cứu dưới sự hỗ trợ của nhà trường và thầy cô giảng viên
Vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực và cố gắng của bản thân, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến tất cả các giảng viên của trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nói chung
và tập thể giảng viên Khoa Quản trị của trường nói riêng đã trang bị cho tôi những kiến thức nền tảng cùng các kỹ năng để hoàn thành đề tài luận văn này
Đặc biệt, tôi kính gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn Thị Ngọc – giảng viên khoa Quản trị trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là giảng viên hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Cô Ngọc
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn, xin chân thành cám ơn cô!
Tiếp theo, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người đã hỗ trợ tôi trong việc trả lời phỏng vấn, trả lời bảng khảo sát của nghiên cứu, cám ơn mọi ý kiến đóng góp của tất cả mọi người
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã hỗ trợ rất lớn về mặt tinh thần, động viên, giúp đỡ tôi vượt qua những khó
khăn để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Tp HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
GTGT : Giá trị gia tăng
VAT : Valued add tax (thuế giá trị gia tăng)
EFA : Exploratory Factor Analysis (Phân tích nhân tố khám phá SPSS : Statistical Package for the Social Sciences (Phần mềm
phân tích thống kê)
Trang 7DANH SÁCH BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Bảng tổng hợp các mô hình nghiên cứu trước 19
Bảng 2 2 Thống kê mô tả thông tin khảo sát chung .36
Bảng 2 3 Thang đo các yếu tố trong kê khai - nộp thuế GTGT làm giảm sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp 37
Bảng 2 4 Thống kê mô tả dữ liệu phục vụ đề tài nghiên cứu 39
Bảng 2 5 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha) 41
Bảng 2 6 Giá trị tiêu chuẩn của hệ số tải Factor Loading 43
Bảng 2 7 Kết quả EFA thang đo 44
Bảng 2 8 Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy (1) 45
Bảng 2 9 Tổng hợp kết quả phân tích hồi quy (2) 46
Bảng 3 1 Đề xuất phân loại và sắp xếp hóa đơn, chứng từ 53
Trang 8DANH SÁCH ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1 1 Biểu đồ số thu theo sắc thuế hàng năm trong giai đoạn 2016 - 2018 2 Hình 1 2 Sơ đồ tổng quan công việc kê khai - nộp thuế GTGT 11 Hình 2 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22 Hình 2 2 Mô hình nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế trực tiếp và gián tiếp của Mohd Rizal Palil (2010) 23 Hình 2 3 Số tiền thuế truy thu năm 2019 27 Hình 2 4 Quy trình nghiên cứu (tham khảo quy trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009)) 34 Hình 2 5 Kết quả phân tích hồi quy 47 Hình 3 1 Đề xuất thực hiện công việc kê khai - nộp thuế GTGT theo thời gian 50
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH SÁCH BẢNG BIỂU
DANH SÁCH ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 Khái niệm về thuế 7
1.2 Thuế giá trị gia tăng (GTGT) 7
1.2.1 Khái niệm thuế GTGT 7
1.2.2 Đặc điểm và nội dung thuế GTGT 8
1.3 Công tác kê khai - nộp thuế GTGT 11
1.3.1 Khấu trừ thuế GTGT 11
1.3.2 Kê khai - nộp thuế GTGT .13
1.4 Khái niệm tuân thủ pháp luật thuế 15
1.5 Lý thuyết nền tảng liên quan 17
1.6 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu 19
1.6.1 Tổng quan các mô hình nghiên cứu trước 19
1.6.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 21
1.6.3 Các giả thuyết nghiên cứu 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ KÊ KHAI – NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
2.1 Thực trạng tuân thủ về kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp 26
Trang 102.2 Những sai sót trong quá trình kê khai – nộp thuế GTGT tại doanh nghiệp 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 33
2.3.2 Nghiên cứu định tính 34
2.3.3 Nghiên cứu định lượng 35
2.3.4 Đánh giá độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha) 40
2.3.5 Phân tích nhân tố khám phá EFA - Exploratory Factor Analysis 42
2.3.6 Phân tích hồi quy 44
CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KÊ KHAI - NỘP THUẾ GTGT TẠI DOANH NGHIỆP 49
3.1 Kiến nghị hoàn thiện công tác kê khai – nộp thuế GTGT 49
3.1.1 Hoàn thiện nghiệp vụ kê khai, nộp thuế GTGT 49
3.1.2 Hoàn thiện công tác khấu trừ thuế GTGT 51
3.1.3 Hoàn thiện công tác về hóa đơn, chứng từ .53
3.1.4 Hoàn thiện kiến thức về thuế GTGT 55
3.1.5 Hoàn thiện công tác thực hiện sổ sách kế toán 57
3.2 Những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu trong tương lai 58
3.2.1 Những hạn chế của nghiên cứu 58
3.2.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai 59
KẾT LUẬN 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC I: BẢNG KHẢO SÁT
PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
PHỤ LỤC III: MỨC PHẠT VI PHẠM VỀ THUẾ
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử cho thấy từ lâu thuế đã giữ vai trò quan trọng trong việc giúp nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế vĩ mô và thúc đẩy các hoạt động sản xuất, thương mại, xuất nhập khẩu, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp các nước Thuế cũng chính
là nguồn thu chủ lực của ngân sách nhà nước (NSNN) để tạo ra phúc lợi xã hội, nâng cao đời sống và tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh cũng như quan hệ kinh tế quốc tế Nhà nước ban hành pháp luật thuế để quản lý trên cơ sở điều tiết nền kinh
tế và các quan hệ liên quan Nhưng bản chất nền kinh tế luôn có sự biến động dẫn đến việc phải điều chỉnh pháp luật thuế thường xuyên Chính vì vai trò quan trọng của thuế và sự thay đổi thường xuyên pháp luật thuế nên doanh nghiệp cần có sự tìm hiểu và tuân thủ pháp luật thuế khi hoạt động kinh doanh tại bất kì Quốc gia nào
Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc quản lý thuế toàn dân, nhất là nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Ngoài việc sử dụng pháp luật thuế để quản lý, nhà nước cũng đề cao sự phối hợp từ bộ phận kế toán thuế tại các doanh nghiệp Hiện tại, công tác kế toán thuế đóng vai trò trung gian giữa doanh nghiệp và nhà nước trong mối quan hệ quản lý – tuân thủ thuế: vừa hỗ trợ Cơ quan Thuế (CQT) trong việc đánh giá tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp, CQT dựa vào công tác kế toán thuế để kiểm soát theo kế hoạch cụ thể đối với từng doanh nghiệp; vừa đại diện thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp và thể hiện được tiếng nói của doanh nghiệp trong việc giải trình, liên hệ với CQT Nhìn chung, nếu công tác kế toán thuế hoàn thành tốt thì sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp sẽ được đánh giá cao, doanh nghiệp tránh được những vi phạm về thuế làm ảnh hưởng đến lý lịch pháp lý
Như vậy, có thể khẳng định tầm quan trọng của kế toán thuế trong việc là cầu nối giữa một bên là CQT và một bên là doanh nghiệp Đặc biệt đối với công tác kế toán thuế giá trị gia tăng (GTGT) – sắc thuế trọng thu của NSNN và có ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Theo số liệu thống kê từ năm 2016 đến 2019 của Bộ Tài Chính, tỷ trọng thu NSNN từ thuế GTGT tăng nhanh, đạt 24,3% tổng thu ngân sách và trở thành nguồn động viên ngân sách quan trọng nhất hiện nay Kết hợp với sự không ngừng tăng lên về số lượng doanh nghiệp tại
Trang 12Việt Nam tính đến ngày 31/12/2019 có 758.610 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm 2018 1
Ngành Thuế cũng đã tổ chức thống kê, đánh giá kết quả thực hiện thu thuế giai đoạn ba năm (2016 – 2018) để nhìn nhận lại và nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện mục tiêu cải cách hệ thống thuế giai đoạn 5 năm (2011 – 2020):
Hình 1 1 Biểu đồ số thu theo sắc thuế hàng năm trong giai đoạn 2016 - 2018
(Nguồn: Báo cáo tổng hợp kết quả đánh giá của Tổng cục Thuế 2016 – 2018)
Biểu đồ trên cho thấy trong giai đoạn ba năm, số thu thuế GTGT luôn ở mức cao nhất trong 5 sắc thuế trọng yếu của Việt Nam Sắc thuế này vốn được xem như một bảng mã chi tiết thể hiện quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do thuế GTGT được đánh trên giá trị tăng thêm có ở tất cả các khâu trong lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng Vì vậy, bất kì sai sót nào xảy ra trong công tác kế toán thuế, đặc biệt là quá trình kê khai - nộp thuế GTGT hiện nay đều dẫn đến sự tác động đáng
kể, cụ thể là sự tác động theo chiều hướng tiêu cực làm giảm sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng đến sự quản lý của các CQT
Vì những lý do trên, đề tài “Đánh Giá Mức Độ Tác Động Của Các Nhân Tố
Ảnh Hưởng Đến Sự Tuân Thủ Trong Việc Kê Khai – Nộp Thuế Giá Trị Gia Tăng Tại Các Doanh Nghiệp” tiến hành nghiên cứu các nhân tố kê khai - nộp thuế GTGT
tại doanh nghiệp, cụ thể là những sai sót hoặc vi phạm có thể xảy ra trong quá trình
kế toán thuế thực hiện nghiệp vụ kê khai – nộp thuế GTGT và cho thấy mức độ tác động của những nhân tố này làm giảm sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp, đồng thời phân tích nhằm tìm ra nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những sai phạm trên Từ đó, nghiên cứu đưa ra kiến nghị hoàn thiện công tác kê khai - nộp
thuế GTGT tại doanh nghiệp
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trang 13Lịch sử nghiên cứu đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến sự tuân thủ - không tuân thủ pháp luật thuế nói chung Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc
tế nói chung và Việt Nam nói riêng cụ thể như sau:
Nghiên cứu của Hanlon và cộng sự (2005); Zainal Abidin và cộng sự (2010); Noor và cộng sự (2012); Yusof và cộng sự (2014) đã đưa ra mô hình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc không tuân thủ thuế của doanh nghiệp Trong đó, các biến độc lập là các chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính (BCTC) và nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp Sự không tuân thủ thuế được tác giả lấy cơ sở từ việc khai báo sai thu nhập chịu thuế hoặc từ các căn cứ tính thuế
Tác giả Yalama và Gumus (2013); Awan và Hanna (2014); Yahyapour và cộng sự (2015) sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng bằng việc khảo sát và thu nhận dữ liệu từ những tổ chức, cá nhân nộp thuế, cán bộ CQT để đánh giá mức
độ tuân thủ đo lường bằng tỷ lệ số thuế phải nộp hằng năm trên tổng thu nhập hoặc bằng hình thức tự đánh giá của chính người được khảo sát
Nghiêm cứu của Vũ Hữu Đức và cộng sự (2009), bằng phương pháp phân tích mô phỏng mối quan hệ giữa các chỉ tiêu của BCTC và số liệu kê khai thuế, tác giả đã chứng minh được một số yếu tố có tác động đến việc gây ra các sai lệch thuế trong quá trình kê khai thuế của doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng chưa đưa ra được
mô hình thực nghiệm
Phan Mỹ Hạnh (2003); Lê Xuân Trường và Nguyễn Đình Chiến (2013) đã chỉ
ra các yếu tố gắn liền với nguyên nhân gây ra gian lận thuế, trong đó đề cập đến những hành vi gian lận thuế dẫn đến thất thu NSNN và đưa ra những giải pháp hạn chế gian lận thuế trên cơ sở thực trạng phát sinh trong quá trình quản lý thuế của Nhà nước nhất là hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế đối với các doanh nghiệp, đồng thời
kế thừa từ kết luận của những nhà khoa học trước đây
Một số nghiên cứu khác của các tác giả về việc hoàn thiện công tác kê khai - nộp thuế GTGT tại Việt Nam đa phần đều lựa chọn nghiên cứu trong phạm vi hẹp (thường tại một doanh nghiệp cụ thể) Đây là mặt hạn chế của các nghiên cứu này khi chưa phân tích tổng quan về kê khai - nộp thuế GTGT trên phạm vi rộng để đánh giá khách quan và hạn chế sự chủ quan khi đi đến kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Việt Hồng Anh (2019) có những điểm mới
và tương đồng với định hướng nghiên cứu của đề tài về việc xác định các yếu tố ảnh
Trang 14hưởng đến sự không tuân thủ thuế của doanh nghiệp Tuy nhiên, nhân tố được tác giả lựa chọn trong mô hình nghiên cứu xuất phát từ các yếu tố thuộc về sự quản lý của Nhà nước và nghiên cứu về nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) của người nộp thuế (NNT)
Nhận thấy, sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT mà luận văn đề cập cũng là một phần của sự tuân thủ thuế GTGT Định hướng nghiên cứu này có sự tương đồng với tổng quan tình hình nghiên cứu trước đây nhưng vẫn có sự khác biệt nhất định
Vì vậy, tiếp thu từ những nghiên cứu trước, chọn lọc ưu điểm và hướng đến mục tiêu đóng góp vào hệ thống nghiên cứu trong lĩnh vực tuân thủ thuế, đề tài nghiên cứu
“Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ trong việc
kê khai – nộp thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp” tiến hành nghiên cứu bằng
cách sử dụng mô hình thực nghiệm, tổng hợp và phân tích số liệu thông qua bảng khảo sát có độ tin cậy cao Mặt khác, đề tài cho thấy điểm mới như việc phân tích nguyên nhân dẫn đến những sai phạm trong công tác kê khai - nộp thuế GTGT làm giảm sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp Một khía cạnh tưởng chừng đơn giản như kê khai - nộp thuế GTGT sẽ được khai thác cụ thể nhưng vẫn đảm bảo nghiên cứu trên phạm vi không gian tương đối rộng Từ đó kết luận những nhân tố kê khai - nộp thuế GTGT tác động đến sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá mức độ tác động của các nhân tố kê khai - nộp thuế GTGT đến sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp trên địa bàn Tp HCM
- Phân tích và tìm ra nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của những nhân tố ảnh hưởng sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp;
- Giúp doanh nghiệp hoàn thiện công tác kê khai - nộp thuế GTGT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Sự tuân thủ trong việc kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Tp HCM
b Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian:
Trang 15• Nghiên cứu tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Tp HCM áp dụng phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam và doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước);
• Nghiên cứu tại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực: thương mại và sản xuất (không bao gồm hoạt động xuất nhập khẩu)
- Phạm vi thời gian: số liệu và thực trạng kê khai – nộp thuế từ 2016 đến 2019
- Giới hạn:
• Luận văn giới hạn nội dung nghiên cứu là công tác kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp được quy định theo Luật thuế GTGT Việt Nam hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành
• Luận văn sử dụng những văn bản pháp luật liên quan đến kê khai – nộp thuế GTGT để phục vụ mục tiêu nghiên cứu nhưng không phân tích về những quy định pháp luật thuế và các văn bản pháp luật có liên quan khác
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như thu thập thông tin - tài liệu, phân tích, tổng hợp và so sánh để tạo cơ sở lý luận chung cho bài nghiên cứu Bên cạnh đó, luận văn sử dụng phương pháp định tính và định lượng để phục vụ mục đích chính là nghiên cứu các nhân tố kê khai – nộp thuế GTGT tác động đến sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp trên địa bàn Tp HCM
- Phương pháp nghiên cứu định tính:
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: thu thập ý kiến và quan điểm từ những người có chuyên môn trong ngành, chuyên viên kế toán tại các doanh nghiệp để tìm
ra những sai sót và vi phạm thường gặp trong công tác kê khai - nộp thuế GTGT nhằm mục đích xây dựng bảng khảo sát định lượng và giải thích những vấn đề liên quan phục vụ nghiên cứu định lượng
Phương pháp quan sát: tác giả hiện đang làm việc tại một đơn vị kế toán – thuế tại Tp HCM để thực hiện quan sát và đưa ra quan điểm trong luận văn Đồng thời, tác giả có thể kiểm nghiệm lại kết quả sau quá trình phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng có chuyên môn về kế toán – thuế ở các doanh nghiệp khác
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Trang 16Phương pháp điều tra: điều tra bằng bảng khảo sát về những nhân tố kê khai
- nộp thuế GTGT, đối tượng chủ yếu là chuyên viên kế toán - thuế tại các doanh nghiệp
Phương pháp xử lý số liệu: sau khi thu thập số liệu định tính và định lượng từ các nguồn thông tin, tác giả tiến hành xử lý, chọn lọc để đưa vào bài nghiên cứu thông qua công cụ xử lý dữ liệu SPSS (Statistical Package for the Social Sciences)
Phương pháp phân tích số liệu: dựa trên dữ liệu khảo sát để phân tích, đánh giá tính tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT và tìm ra nhân tố về kê khai – nộp thuế GTGT có tác động làm giảm sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT bằng việc ứng dụng mô hình nghiên cứu nhân tố khám phá (EFA - Exploratory Factor Analysis) và các mô hình liên quan
6 Kết cấu luận văn
Luận văn cấu trúc gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Thực trạng tuân thủ kê khai – nộp thuế của doanh nghiệp, phương pháp
và kết quả nghiên cứu
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện công tác kê khai – nộp thuế GTGT tại doanh nghiệp
Trang 17CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm về thuế
Hiện nay, có nhiều quan điểm về khái niệm thuế Tuy có sự mâu thuẫn nhưng nhìn chung các quan điểm đều bổ trợ cho nhau ở một số khía cạnh nhất định:
Theo trường phái triết học, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê Nin cho rằng:
“Thuế là một khoản bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và không hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế và thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật” (Lê Thị Thanh Hà và cộng sự (2007))
Trên phương diện kinh tế học, dù vẫn còn một số bất đồng về khái niệm thuế nhưng hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước Tính chất cưỡng chế của thuế không có nghĩa
là thực hiện chính sách cưỡng ép vô điều kiện mà phải xuất phát từ khả năng thực tế của người dân gắn liền với việc đảm bảo nguyên tắc công bằng xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế” (Nguyễn Thanh Tuyền và Nguyễn Ngọc Thanh (2001))
Dưới góc độ pháp lý: “Thuế là nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước Nghĩa
vụ này được thể hiện bằng pháp luật và đảm bảo thực thi bằng công cụ pháp luật Nhà nước có “đặc quyền” thu thuế và ấn định nghĩa vụ nộp thuế của các chủ thể khác thông qua việc ban hành pháp luật thuế và tổ chức thực hiện pháp luật thuế”2
Như vậy, thuế được hiểu là một khoản đóng góp kinh tế bắt buộc bằng tiền vào NSNN từ đối tượng nộp thuế, đánh vào các đối tượng chịu thuế trên cơ sở đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì mục đích công cộng Nhà nước sử dụng pháp luật thuế như một công cụ quyền lực bắt buộc mọi cá nhân phải tuân thủ để đảm bảo tạo nguồn thu cho NSNN
1.2 Thuế giá trị gia tăng (GTGT)
1.2.1 Khái niệm thuế GTGT
2 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật thuế, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 16
Trang 18Thuế GTGT hay còn được gọi là thuế VAT (tên tiếng anh: Value Added Tax) lần đầu tiên được nêu ý tưởng bởi một doanh nhân người Đức – Wilhelm Von Siemens vào năm 1920 Sau đó, ý tưởng này được xây dựng thành hệ thống bởi Cục Trưởng cơ quan quyền lực ở Pháp vào năm 1954, người được mệnh danh là cha đẻ của VAT - Maurice Laure3 Như vậy, khái niệm và hệ thống thuế GTGT có nguồn gốc từ nước Pháp
Ở một số nước khác như Úc, Canada, New Zealand, Singapore thì thuế GTGT được gọi là “goods and service tax” (GST) có nghĩa là thuế hàng hóa và dịch vụ, tại Nhật Bản thuế này có tên gọi là “thuế tiêu thụ”, khái niệm thuế GTGT ở Na Uy, Đan Mạch và Thụy Điển là “thuế doanh thu”, ở Hoa Kỳ thuế GTGT được áp dụng như là hình thức “thuế kinh doanh tổng hợp” (SBT – Single Business Tax),… Thuế GTGT được áp dụng rộng rãi trên thế giới và trở thành nguồn thu ngân sách chính của các Quốc gia Theo thống kê của Ngân Hàng Thế giới, tính đến năm 2012 đã có hơn 150 Quốc gia áp dụng thuế GTGT
Hầu hết ở tất cả các Quốc gia cũng như ở Việt Nam, thuế GTGT được hiểu là loại thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở tất cả các khâu trong lưu thông từ sản xuất đến tiêu dùng Như vậy, người tiêu dùng
sẽ là người chịu thuế GTGT cuối cùng Do bản chất thuế GTGT đánh vào tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trên lãnh thổ Quốc gia nên những hoạt động tiêu dùng nước ngoài như xuất khẩu không phải chịu thuế GTGT và được hoàn thuế khi xuất khẩu
Luật thuế GTGT số 57/2007/L-CTN ngày 10 tháng 05 năm 1997 của Việt Nam lần đầu tiên đã được Quốc hội khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999, thay thế cho Luật thuế doanh thu và hệ thống pháp luật thuế GTGT tiếp tục phát triển đến nay Theo đó, khái niệm thuế GTGT theo định nghĩa tại Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 là một loại thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong tất cả các quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.4
1.2.2 Đặc điểm và nội dung thuế GTGT
a Các đặc điểm cơ bản
3 Alain Charlet and Jeffrey Owens (2010), An International Perspective on VAT, Tax notes international, volume 59 (issue 12), 943
4 Luật số 13/2008/QH12 ngày 03 tháng 06 năm 2008 quy định về thuế GTGT được sửa đổi, bổ sung bởi Luật
số 31/2013/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2013, Luật số 71/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014, Luật số 106/2016/QH13 ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Quốc Hội (Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12)
Trang 19Thứ nhất, thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rất rộng Vì thuế GTGT là thuế
gián thu và đánh trên giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ nên hầu hết các hoạt động làm gia tăng giá trị hàng hóa, dịch vụ từ khâu sản xuất đến tiêu dùng đều chịu thuế Đồng thời, đặc điểm đánh thuế ở tất cả các khâu trong lưu thông hàng hóa, dịch
vụ khi có giá trị tăng thêm là đặc điểm phân biệt sắc thuế này so với những loại thuế gián thu khác
Thứ hai, thuế GTGT mang tính công bằng xã hội cao Thuế GTGT khác với
các loại thuế trực thu đánh trên thu nhập, thuế GTGT không phân biệt thu nhập của người chịu thuế mà chỉ đánh vào giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ và được áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam với mọi đối tượng
Thứ ba, thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm mà không đánh trên
toàn bộ giá trị của hàng hóa, dịch vụ Điều này vừa không gây nên sự biến động giá quá lớn, vừa đáp ứng mục đích thu NSNN một cách công bằng
b Đối tượng chịu thuế GTGT
Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân nước ngoài) là đối tượng chịu thuế GTGT 5 trừ các đối tượng không chịu thuế quy định tại Điều 5 của Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 và hàng hóa, dịch vụ được sản xuất, kinh doanh hoặc tiêu dùng ở nước ngoài không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tại Việt Nam
d Căn cứ tính thuế GTGT
Thuế GTGT được tính dựa trên giá tính thuế và thuế suất như sau:
Thuế GTGT = Giá tính thuế x Thuế suất thuế GTGT Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ là: (1) giá bán; (2) giá tương đương giá bán hàng hóa, dịch vụ cùng loại; (3) giá nhập khẩu; (4) giá gia công hoặc (5) số
Trang 20tiền cho thuê và (6) các loại giá tính thuế thuộc trường hợp đặc thù khác Giá tính thuế là giá chưa có thuế GTGT nhưng đã gồm thuế nhập khẩu (nếu có), thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và thuế bảo vệ môi trường (nếu có)7 Giá tính thuế bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng và được xác định
Thứ nhất, kế toán khi áp dụng phương pháp khấu trừ phải thực hiện đầy đủ
chế độ kế toán bao gồm cả việc ghi sổ sách, lưu trữ, phân loại tất cả hóa đơn, chứng
từ để hạch toán phần thuế GTGT đầu ra và đầu vào
Thứ hai, kế toán thuế phải nắm rõ quy định và xác định đúng đối tượng cũng
như từng trường hợp được khấu trừ, hoàn thuế GTGT tránh sai sót khi kê khai, nộp thuế GTGT dẫn đến vi phạm
Trên thực tế các trường hợp doanh nghiệp lựa chọn phương pháp khấu trừ thường là những doanh nghiệp có số thuế GTGT đầu vào gần bằng hoặc bù trừ được với số thuế GTGT đầu ra để hạn chế số thuế GTGT phải nộp
- Số thuế GTGT phải nộp được tính theo công thức:
Thuế GTGT = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Số thuế GTGT đầu ra bằng tổng số thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra ghi trên hoá đơn GTGT
Số thuế GTGT đầu vào bằng tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định (TSCĐ)) dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT hoặc số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp
7 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC
8 Điều 8 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12
9 Điều 12 Mục 2 Thông tư 219/2013/TT-BTC
Trang 21thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam
1.3 Công tác kê khai - nộp thuế GTGT
Tổng quan công việc kê khai - nộp thuế GTGT (đối với phương pháp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) của kế toán thuế được hệ thống như sau:
Hình 1 2 Sơ đồ tổng quan công việc kê khai - nộp thuế GTGT
Tham khảo chế độ kế toán được áp dụng theo Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán cho các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế bao gồm cả doanh nghiệp vừa và nhỏ (phòng trường hợp doanh nghiệp không
đủ điều kiện áp dụng Thông tư 133/2016/TT-BTC) Theo phạm vi nghiên cứu sẽ không bàn luận đến quy trình hạch toán của kế toán thuế GTGT
1.3.1 Khấu trừ thuế GTGT
Bản chất việc tính khấu trừ thuế GTGT dựa trên sự bù trừ và đối ứng giữa đầu
ra và đầu vào số thuế GTGT, cũng có nghĩa nếu có hàng hóa, dịch vụ đầu ra chịu thuế GTGT thì phải có đầu vào tương ứng Các trường hợp được khấu trừ thuế GTGT hướng dẫn cụ thể tại Thông tư 219/2013/TT-BTC, kèm theo là các nguyên tắc và
điều kiện khấu trừ thuế GTGT, cụ thể:
a Nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đầu vào 10
Nguyên tắc 1: Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ sản xuất kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ chịu thuế đầu ra
Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hoá chịu thuế GTGT bị tổn thất (thiên tai, hỏa hoạn
và các trường hợp tổn thất không được bảo hiểm bồi thường; hàng hóa mất phẩm chất, quá hạn sử dụng phải tiêu hủy phải có đủ hồ sơ, tài liệu chứng minh)
Tính toán
số thuế GTGT phải nộp/được hoàn
Kê khai, nộp thuế GTGT
Báo cáo tình hình
sử dụng hóa đơn
Điều chỉnh,
bổ sung
Trang 22Trường hợp hàng hóa hao hụt tự nhiên do tính chất lý hóa trong quá trình vận chuyển, bơm rót như xăng, dầu,…thì được kê khai và khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của số lượng thực tế hao hụt nhưng không vượt định mức cho phép
Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ hình thành TSCĐ là nhà ăn ca, nhà nghỉ giữa ca, phòng thay quần áo, nhà để xe, nhà vệ sinh, bể nước phục vụ cho người lao động trong khu vực sản xuất, kinh doanh và nhà ở, trạm y tế cho công nhân làm việc trong các khu công nghiệp (nhà ở nằm trong hoặc ngoài khu công nghiệp) được khấu trừ toàn bộ Trường hợp doanh nghiệp đi thuê nhà ở cho công nhân làm việc trong khu công nghiệp thì tiền thuê được khấu trừ thuế GTGT theo quy định
Nguyên tắc 2: Thuế GTGT đầu vào hàng hóa, dịch vụ sản xuất kinh doanh hàng
chịu thuế và không chịu thuế
Chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế
và không chịu thuế; trường hợp không hạch toán riêng được thì thuế đầu vào được khấu trừ tính theo tỷ lệ (%) giữa doanh thu chịu thuế GTGT so với tổng doanh thu của hàng hoá, dịch vụ bán ra
Cuối năm, kế toán phải thực hiện tính phân bổ lại số thuế GTGT dựa trên doanh thu chịu thuế Nếu số thuế GTGT khấu trừ phân bổ cuối năm lớn hơn số thuế tạm phân bổ, doanh nghiệp phải điều chỉnh tăng số thuế được khấu trừ ở chỉ tiêu số [38] tờ khai 01/GTGT Trong trường hợp số thuế GTGT khấu trừ phân bổ cuối năm nhỏ hơn thì doanh nghiệp điều chỉnh giảm khấu trừ ở chỉ tiêu [37] tờ khai 01/GTGT Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong kỳ nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp kỳ đó
Nguyên tắc 3: Thuế GTGT đầu vào của TSCĐ, máy móc, thiết bị, kể cả thuế GTGT
đầu vào của hoạt động đi thuê và thuế GTGT đầu vào khác liên quan đến tài sản, máy móc, thiết bị như bảo hành, sửa chữa trong các không được khấu trừ mà tính vào nguyên giá của TSCĐ hoặc chi phí được trừ theo quy định của Luật thuế TNDN
và các văn bản hướng dẫn thi hành
Đối với TSCĐ là ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô sử dụng vào kinh doanh, vận chuyển hàng hóa, hàng khách, kinh doanh du lịch, khách sạn, dùng
Trang 23để làm mẫu và lái thử cho kinh doanh ô tô) có giá trị chưa có thuế GTGT vượt trên 1,6 tỷ đồng thì phần giá trị vượt trên 1,6 tỷ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Các nguyên tắc khác: Thuế GTGT đầu vào hàng cho, biếu, tặng, khuyến mại, quảng
cáo; Thuế GTGT đầu vào cho hoạt động không phải kê khai tính nộp thuế; Theo quyết định của cơ quan hải quan; Thuế GTGT đầu vào của các đơn vị đặc thù; Trường hợp hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ ủy quyền; Khấu trừ thuế GTGT cho chi phí chỗ
ở của chuyên gia nước ngoài công tác ở Việt Nam…
b Điều kiện chứng từ khấu trừ thuế GTGT đầu vào 11
Thứ nhất, phải có hoá đơn GTGT hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào
hoặc chứng từ nộp thuế thay các tổ chức nước ngoài hoặc chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu (hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và các chứng từ hợp pháp ở khâu xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ)
Thứ hai, có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng và chứng
từ thanh toán không dùng tiền mặt khác: đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hai mươi triệu đồng trở lên Trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, tặng của tổ chức, cá nhân nước ngoài
Thứ ba, các trường hợp khác như: (1) Kế toán sử dụng bảng kê bán lẻ khi bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thuộc diện lập hóa đơn theo thứ tự bán hàng trong ngày và cuối ngày căn cứ số tiền trên dòng tổng cộng của bảng kê, lập 1 hóa đơn GTGT; (2) Vé cước đường bộ được lập theo Thông tư 191/2010/TT-BTC đáp ứng các điều kiện theo quy định12; (3) Các trường hợp đặc biệt khác quy định tại Điều
15, 16 Thông tư 219/2013/TT-BTC
1.3.2 Kê khai - nộp thuế GTGT 13
a Kỳ kê khai thuế GTGT
Việc kê khai thuế GTGT theo tháng, theo quý hoặc khai thuế theo từng lần phát sinh được quy định tại Điều 15 Thông tư 151/2014/TT-BTC sửa đổi, bổ sung
Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC như sau:
11 Điều 15 Thông tư 219/2013/TT-BTC
12 Công văn số 2782/TCT-CS ngày 26 tháng 06 năm 2017 về việc công bố danh mục thủ tục hành chính thực hiện toàn bộ quy trình tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả của sở y tế tại trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh (Công văn 2782/TCT-CS)
13 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06 tháng 11 năm 2013 hướng dẫn thi hành một số điều của luật quản
lý thuế; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật quản lý thuế và nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của chính phủ (Thông tư 156/2013/TT-BTC)
Trang 24- Kê khai thuế GTGT theo tháng áp dụng với NNT có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ lớn hơn 50 tỷ đồng
- Kê khai thuế GTGT theo quý áp dụng với NNT mới bắt đầu sản xuất kinh doanh hoặc NNT có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống;
- Kê khai thuế GTGT tạm tính theo từng lần phát sinh đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh
Trường hợp đơn vị đang thực hiện khai thuế theo quý muốn chuyển sang khai thuế theo tháng thì gửi thông báo theo Mẫu số 07/GTGT ban hành kèm theo Thông
tư số 151/2014/TT-BTC cho CQT quản lý trực tiếp chậm nhất là cùng thời hạn nộp
tờ khai thuế GTGT tháng đầu tiên của năm bắt đầu khai thuế GTGT theo tháng
b Hồ sơ kê khai thuế GTGT
Hồ sơ kê khai cơ bản của thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 11 Thông tư 156/2013/TT-BTC và sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 1 Thông tư 119/2014/TT-BTC và điểm c khoản 1 Điều 2 Thông tư 26/2015/TT-BTC, cụ thể bao gồm:
• Tờ khai thuế GTGT theo mẫu số 01/GTGT
NNT có hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt, bán hàng vãng lai, chuyển nhượng bất động sản ngoại tỉnh hoặc có cơ sở sản xuất trực thuộc tại địa phương khác nơi đóng trụ sở chính thì người nộp thuế nộp cùng Tờ khai thuế GTGT tài liệu sau:
• Bảng kê số thuế GTGT đã nộp của doanh thu theo mẫu số 01-5/GTGT
• Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán (nếu có) theo mẫu số 01-6/GTGT
• Bảng kê số lượng xe ô tô, xe hai bánh gắn máy bán ra theo mẫu số 01-7/GTGT (áp dụng đối với cơ sở kinh doanh xe ô tô, xe hai bánh gắn máy)
c Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, nộp thuế GTGT 14
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế GTGT theo tháng chậm nhất là ngày thứ 20 (hai mươi) của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT
14 Điều 10 Thông tư 156/2013/TT-BTC
Trang 25Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế GTGT tạm tính theo quý chậm nhất là ngày thứ
30 (ba mươi) của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT
Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế GTGT theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế chậm nhất là ngày thứ 10 (mười), kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế GTGT
Thời hạn nộp tiền thuế chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc thời hạn trên thông báo, quyết định, văn bản Cơ quan có thẩm quyền
d Nơi nộp thuế GTGT
Nơi nộp thuế GTGT được quy định tại Điều 20 Thông tư 219/2013/TT-BTC
1.4 Khái niệm tuân thủ pháp luật thuế
Những nghiên cứu trên thế giới được đề cập sau đây cho thấy tổng quan các cách hiểu khác nhau về khái niệm tuân thủ thuế:
Khái niệm của OECD (2004) từ góc độ của CQT về tuân thủ thuế là việc đáp ứng các nghĩa vụ của NNT theo luật định bao gồm: đăng ký thuế; nộp hồ sơ, cung cấp thông tin kịp thời; thông tin đầy đủ và chính xác; nộp thuế đúng hạn 15
Krichler (2007) đưa ra một định nghĩa đơn giản về tuân thủ thuế là sự sẵn lòng nộp thuế của NNT Sau này, Lewis và cộng sự (2009) định nghĩa rằng tuân thủ thuế liên quan đến việc nộp và khai báo tất cả các thông tin liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT, mọi hành vi này phải được tự bản thân NNT thực hiện và chịu trách nhiệm, tất cả các khoản thuế phải nộp được thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn
Pháp luật thuế Việt Nam cũng đã quy định căn cứ đánh giá sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT Theo đó, Điều 16 Thông tư 204/2015/TT-BTC quy định về áp dụng quản lý rủi ro trong quản lý thuế và được CQT thực hiện đánh giá đối với NNT thông qua hệ thống nội bộ dựa trên các tiêu chí và phân loại như sau:
- Loại 1: NNT đang hoạt động tuân thủ pháp luật thuế tốt (sau đây gọi là NNT tuân thủ tốt) phải thỏa các điều kiện:
• NNT thực hiện đầy đủ, đúng hạn việc kê khai và chấp hành nộp các loại thuế phát sinh theo quy định; số thuế nộp phù hợp quy mô, lĩnh vực đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp Chấp hành tốt chế độ quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế trong thời gian hai (02) năm trở về trước tính đến ngày đánh giá;
• Tỷ trọng nộp các loại thuế liên quan đến sản xuất kinh doanh (thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp ) trên doanh số, đạt trên mức trung
15 Nguyễn Việt Hồng Anh (2019), Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Không Tuân Thủ Thuế Của Doanh Nghiệp,
Luận Án Tiến Sĩ Kinh Tế, Đại Học Ngân Hàng Tp Hồ Chí Minh, tr 5
Trang 26bình so với mức trung bình của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng lĩnh vực, ngành nghề;
• Không nợ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; các khoản phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí; các khoản thu thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của Luật đất đai do CQT quản lý thu; các khoản thu khác thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; trừ số tiền thuế nợ được gia hạn theo quy định pháp luật chưa hết thời gian gia hạn nộp tại thời điểm đánh giá;
• Trong thời gian hai (02) năm liên tục trở về trước tính đến ngày đánh giá không bị một trong các hình thức xử lý vi phạm sau:
(1) Bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, ấn chỉ thuế với tổng mức phạt tiền vượt thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế của Chi cục trưởng Chi cục thuế theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính về thuế
(2) Bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trốn thuế, gian lận thuế (3) Bị xử lý hành chính về hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
(4) Bị thanh tra, kiểm tra, quản lý giám sát đánh giá không tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê Tài chính doanh nghiệp, pháp luật thuế và pháp luật hải quan
(5) Có vụ việc vi phạm bị khởi tố vụ án, người đại diện hợp pháp của NNT
bị khởi tố bị can về các hành vi vi phạm về thuế
- Loại 2: NNT tuân thủ pháp luật thuế ở mức độ trung bình (sau đây gọi là NNT tuân thủ trung bình) không thuộc trường hợp loại 1 và loại 3
- Loại 3: NNT tuân thủ pháp luật thuế ở mức độ thấp (sau đây gọi là NNT tuân thủ thấp) được đánh giá theo các khoản thời gian như sau:
Tính tới thời điểm đánh giá thuộc các trường hợp sau:
• Chưa kê khai, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn ít nhất một phần ba số tờ khai theo quy định trong vòng thời gian 12 tháng;
• Các kỳ kê khai âm về thuế giá trị gia tăng liên tục trên mức trung bình so với bình quân chung của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cùng lĩnh vực, ngành nghề;
• Có số lỗ lũy kế vượt quá 50% (năm mươi phần trăm) vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tính đến thời điểm đánh giá;
• Trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, nợ tiền chậm nộp, tiền phạt, phí, lệ phí hoặc các khoản thu khác phải nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật
Trang 27Trong thời gian 02 (hai) năm liên tục trở về trước tính đến ngày đánh giá; hoặc
từ ngày thành lập đến ngày đánh giá đối với NNT thành lập chưa tròn 02 (hai) năm thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
• Hai (02) lần trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế, ấn chỉ thuế với tổng mức phạt tiền vượt thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm về thủ tục thuế của Chi cục trưởng Chi cục thuế theo quy định của pháp luật
về xử lý vi phạm hành chính về thuế
• Bị các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hành
vi trốn thuế, gian lận thuế; hoặc bị xử phạt vi phạm trong lĩnh vực kế toán
• Bị CQT xử lý hành chính hành vi không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
• Có hành vi vi phạm pháp luật hình sự, bị khởi tố, điều tra
• Bị Cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua thanh tra, kiểm tra, quản lý, giám sát đánh giá không tuân thủ pháp luật thuế, pháp luật hải quan
Hoặc không phân biệt thời gian đánh giá mà có hành vi sử dụng ấn chỉ thuế bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp ấn chỉ thuế
Như vậy, có thể hiểu tuân thủ thuế là việc thực hiện đúng, kịp thời và đầy đủ các quy định của pháp luật thuế, được CQT đánh giá dựa vào các điều kiện trên thông qua hệ thống đánh giá và phân loại nội bộ Điều kiện đánh giá theo CQT chủ yếu bao gồm các vấn đề sau: (1) đăng ký, kê khai, nộp thuế; (2) vấn đề ấn chỉ (hóa đơn, chứng từ); (3) hành vi vi phạm về thuế và pháp luật liên quan
Tác giả sử dụng căn cứ đánh giá này để xác định mức độ tuân thủ kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp Mức độ tuân thủ của doanh nghiệp sẽ giảm nếu không đáp ứng được điều kiện tuân thủ loại 1 liên quan đến kê khai – nộp thuế GTGT Bên cạnh đó, để xét đến hành vi vi phạm kê khai – nộp thuế của doanh nghiệp, tác giả căn cứ vào quy định xử phạt hành chính thuế theo Thông tư 166/2013/TT-BTC ban hành ngày 15/11/2013 và các quy định xử phạt liên quan khác (Tổng hợp chi tiết tại phụ lục III)
1.5 Lý thuyết nền tảng liên quan
1.5.1 Lý thuyết răn đe
Mô hình răn đe trốn thuế của Allingham và Sandmo (1972) miêu tả rằng những NNT cố gắng tối đa hóa tiện ích của trốn thuế bằng cách xem xét ba yếu tố chính: cơ hội bị bắt, quy mô của hình phạt và mức độ ác cảm rủi ro của họ Theo mô hình này, NNT được cho là không có đạo đức cũng như nghĩa vụ công dân đối với các khoản
Trang 28thanh toán thuế đối với NSNN Thay vào đó, họ chọn mức trốn thuế tối ưu để tối đa hóa tiện ích như dự kiến của họ và trốn thuế là một lựa chọn rủi ro Theo đó, họ sẽ phải dự kiến một khoản chi trả cao do trốn thuế từ các hình phạt sẽ được áp dụng bởi
cơ quan thuế nếu bị phát hiện Và lựa chọn trốn thuế của họ sẽ phụ thuộc mức độ ác cảm rủi ro của họ: NNT sẽ tuân thủ thuế nếu độ ác cảm rủi ro của họ đủ lớn khi họ phải chịu một khoản chi phí lớn và mức phạt cao khi bị CQT phát hiện Theo lý thuyết này, để cải thiện sự tuân thủ, cần tăng hình phạt cho việc không tuân thủ Như vậy,
có một mối quan hệ tích cực về mặt lý thuyết giữa phạt thuế và tuân thủ thuế, ví dụ như tăng mức xử phạt vi phạm sẽ dẫn đến tăng tuân thủ thuế và ngược lại
Vì vậy, lý thuyết ngầm thừa nhận sự không tuân thủ thuế xuất phát từ việc trốn thuế và NNT sẽ tìm cách né tránh sự xử lý vi phạm từ phía cơ quan nhà nước CQT theo đó có những hình thức tăng mức độ răn đe làm tăng sự ác cảm rủi ro của NNT
để giảm sự không tuân thủ Tuy nhiên, sự không tuân thủ thuế này của NNT chỉ được khẳng định cho đến khi các CQT phát hiện và ghi nhận xử lý
1.5.2 Lý thuyết tâm lý học
Lý thuyết tâm lý theo Riahi-Belkaoui, A (2004) đặt ra rằng người nộp thuế bị ảnh hưởng để tuân thủ nghĩa vụ thuế của họ bởi các yếu tố tâm lý Nó tập trung vào NNT và đạo đức NNT Lý thuyết cho thấy rằng NNT có thể tuân thủ ngay cả khi xác suất phát hiện thấp
Trái ngược với lý thuyết răn đe nhấn mạnh tăng hình phạt là giải pháp cho các vấn đề tuân thủ, lý thuyết tâm lý học nhấn mạnh vào việc thay đổi thái độ cá nhân đối với hệ thống thuế Do đó, một công cụ thay đổi thái độ của người nộp thuế đối với vấn đề thuế là giáo dục thuế Giả định rằng giáo dục thuế được cải thiện sẽ làm tăng
sự tuân thủ thuế và ngược lại
1.5.3 Lý thuyết về hành vi gian lận
Albrecht và cộng sự (1984) đã tiến hành phân tích 212 trường hợp gian lận, nghiên cứu được Hiệp hội các nhà sáng lập chuyên nghiên cứu về kiểm toán nội bộ tài trợ Phương pháp nghiên cứu của các tác giả này là sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát, đối tượng là kiểm toán viên nội bộ ở các công ty Kết quả nghiên cứu đã xây dựng
lý thuyết bàn cân gian lận dựa trên các dấu hiệu báo động sự gian lận bao gồm ba nhân tố: hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội và tính trung thực của cá nhân Mô hình lý thuyết bàn cân gian lận đã rút ra được là nguy cơ xảy ra gian lận rất cao khi hoàn cảnh
Trang 29tạo ra áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính thấp và ngược lại Theo nghiên cứu, hoàn cảnh tạo ra áp lực có thể liên quan đến những khó khăn tài chính, cơ hội thực hiện gian lận có thể do cá nhân tự tạo ra hay do sự yếu kém của
hệ thống kiểm soát nội bộ 16
1.6 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu
1.6.1 Tổng quan các mô hình nghiên cứu trước
Bảng 2 1 Bảng tổng hợp các mô hình nghiên cứu trước STT Nghiên cứu Biến phụ
thuộc
Nhân tố/các biến độc lập
1 Giles (1998):
Mô hình tuân thủ
thuế của các doanh
nghiệp tại New
Zealand
Sự không tuân thủ thuế: Tỷ lệ
số thuế khai thiếu trên
tổng tài sản
(1) Quy mô doanh nghiệp;
(2) Hiệu quả hoạt động;
(3) Thuế suất hiệu quả;
(4) Công cụ khấu trừ thuế;
lệch kê khai thuế
thiếu/Tổng tài sản
(1) Thuế suất biên;
(2) Quyền sở hữu của giám đốc điều hành;
(3) Quy mô doanh nghiệp;
(4) Mức độ hiệu quả hoạt động;
(5) Chênh lệch thuế trên sổ sách kế toán
3 Mohd Rizal Palil
16 Nguyễn Việt Hồng Anh (2019), Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Không Tuân Thủ Thuế Của Doanh Nghiệp,
Luận Án Tiến Sĩ Kinh Tế, Đại Học Ngân Hàng Tp Hồ Chí Minh, tr 49
Trang 30(6) Thái độ người nộp thuế
tuân thủ thuế của
doanh nghiệp tư
nhân
Sự tuân thủ thuế:
Khả năng nộp thuế đúng hạn
(1) Lợi nhuận trước thuế;
Những tổn thất gian lận hoặc sai sót
về hóa đơn gây thất thu thuế
(1) Nhóm các yếu tố mang tính chất kinh tế: Thu nhập; Thuế suất; Xác suất bị kiểm tra thuế; Mức phạt (2) Nhóm các yếu tố mang tính chất tâm lý – xã hội: Nhận thức về tính công bằng; Ý thức thuế
Trong các nghiên cứu được đề cập và rà soát hiện chưa có nghiên cứu nào lựa chọn nhân tố xuất phát hoàn toàn từ yếu tố vi mô như nghiệp vụ kê khai – nộp thuế GTGT mà hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra mô hình thực nghiệm bao gồm những nhân tố vĩ mô như các yếu tố xã hội, kinh tế, chính trị hoặc nhân tố về đặc điểm của doanh nghiệp, của cơ chế quản lý thuế,…Vì vậy, tác giả quyết định chọn lọc và giữ
Trang 31lại những nhân tố được tổng hợp từ những mô hình nghiên cứu trước phù hợp với
định hướng nghiên cứu: Sử dụng những biến độc lập là các nhân tố kê khai - nộp thuế GTGT để đánh giá mức độ tác động lên sự tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp, cụ thể:
- Zainal Abidin và cộng sự (2010) : Chênh lệch thuế trên sổ sách kế toán
- Giles (1998) : Công cụ khấu trừ thuế
- Awan và Hannan (2014) : Các yếu tố miễn giảm thuế; Thái độ
người nộp thuế
- Mohd Rizal Palil (2010) : Kiến thức thuế
- Nguyễn Minh Hà và Nguyễn
- PGS TS Lê Xuân Trường : Những tổn thất gian lận hoặc sai sót về
hóa đơn gây thất thu thuế
- Sohani Fatehin (2017) : Hành vi của NNT (trong đó có việc sử
dụng bất hợp pháp hóa đơn) Như vậy, để phù hợp với định hướng và hoàn cảnh nghiên cứu, các biến độc lập được giữ lại như trên là cơ sở để xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất, gồm: (1) các biến về kiến thức thuế; (2) các biến về khấu trừ thuế; (3) các biến về kê khai, nộp thuế (xuất phát từ yếu tố miễn, giảm, nộp thuế); (4) các biến về sự chênh lệch sổ sách
kế toán và (5) các biến về hóa đơn, chứng từ
Đối với biến phụ thuộc, hầu hết các nghiên cứu trước đều sử dụng các biến liên quan đến sự vi phạm về thuế như: chênh lệch kê khai thuế thiếu/Tổng tài sản; hành vi gian lận thuế; khả năng nộp thuế đúng hạn,… để đánh giá sự tuân thủ hoặc không tuân thủ thuế của NNT Tác giả dựa trên đặc điểm của các biến phụ thuộc đã
được kiểm chứng để đề xuất biến phụ thuộc là sự giảm tuân thủ kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp, đánh giá dựa vào hành vi vi phạm liên quan đến kê khai –
nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
1.6.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 32Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc từ các mô hình nghiên cứu trước, tác giả xây
dựng mô hình Đánh giá mức độ tác động của những nhân tố kê khai – nộp thuế GTGT ảnh hưởng đến sự giảm tuân thủ kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
gồm 5 thành phần: (1) Kiến thức về thuế GTGT; (2) Vấn đề khấu trừ thuế GTGT; (3) Kê khai, nộp thuế GTGT; (4) Vấn đề về hóa đơn, chứng từ; (5) Thực hiện sổ sách
kế toán
Hình 2 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Hướng tác động của những nhân tố kê khai - nộp thuế GTGT lên sự giảm tuân thủ kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp được dự đoán là hướng tác động thuận chiều (+) vì thang đo sẽ được xây dựng bằng các biến thuộc về những sai sót hoặc vi phạm trong công tác kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
1.6.3 Các giả thuyết nghiên cứu
a Kiến thức về thuế GTGT
Theo Grant Richardson (2006) thì hiểu biết thuế là nhân tố quan trọng đối với tính tuân thủ thuế, nó liên quan đến khả năng hiểu và tuân thủ hay không tuân thủ thuế của NNT Phần lớn nghiên cứu căn cứ vào tác động của cấp độ giáo dục đối với NNT làm phương pháp để đo lường Cranes và Cuccia (1996) cũng cho rằng hiểu biết thuế càng cao thỉ tỷ lệ tuân thủ thuế càng lớn
Mặt khác, sơ đồ kết luận từ nghiên cứu của Mohd Rizal Palil (2010) bao gồm những yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của người dân, trong đó kiến thức về thuế, hiểu biết về quyền và nghĩa vụ thuế có mối tương quan tích cực và trực tiếp với
sự tuân thủ thuế Hơn nữa, nghiên cứu cho thấy đối với người đã từng tham gia hệ thống các khóa học về thuế có sự tuân thủ đáng kể hơn gấp 8 lần những người không
Vấn đề về hóa đơn, chứng từ
(+) (+) (+)
(+) (+)
Trang 33được đào tạo bài bản NNT có nhận thức về việc làm và hành vi phạm tội, hình phạt
và tiền phạt thuế cũng có xu hướng tuân thủ pháp luật thuế nhiều hơn.17
Hình 2 2 Mô hình nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế trực tiếp và gián tiếp
của Mohd Rizal Palil (2010)
(Nguồn: Tax knowledge variables that affect tax compliance-Mohd Rizal Palil
2010)
Các nghiên cứu khác cũng đã gián tiếp cho thấy rằng kiến thức về thuế quan trọng trong việc đánh giá hành vi tuân thủ thuế (Mohamad Ali và cộng sự 2007): Theo Eriksen và Fallan (1996), trình độ học vấn là một yếu tố quan trọng góp phần vào hiểu biết về thuế, đặc biệt là về luật pháp và các quy định về thuế Nghiên cứu của Singh (2003) và Loo (2006) minh họa rằng kiến thức về thuế có mối quan hệ rất chặt chẽ với NNT trong việc hiểu luật pháp và các quy định về thuế và khả năng tuân thủ của họ Như vậy, nếu NNT không có kiến thức về thuế hoặc kiến thứ về thuế chưa tốt đồng nghĩa với sự giảm khả năng tuân thủ thuế của họ
Giả thuyết H1: Kiến thức về thuế GTGT ảnh hưởng đến sự giảm tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
b Vấn đề khấu trừ thuế GTGT
Tại New Zealand, nghiên cứu của Giles (1998) đã cho thấy mô hình tuân thủ thuế của các doanh nghiệp bao gồm 5 nhân tố và trong đó nhân tố công cụ khấu trừ thuế (chủ yếu nghiên cứu chi phí lãi vay) là một nhân tố ảnh hưởng đối với sự không tuân thủ thuế được đo bằng số thuế khai thiếu trên tổng tài sản doanh nghiệp Chế độ thuế GTGT tại New Zealand cũng là thuế đánh trên hàng hóa, dịch vụ lưu thông và
17 Mohd Rizal Palil (2010), Tax Knowledge And Tax Compliance Determinants In Self Assessment System In Malaysia, A thesis, The University Of Birmingham, Pg 321 - 322
Trang 34cũng sử dụng công cụ khấu trừ thuế tương tự một số điểm trong quy định tính thuế GTGT tại Việt Nam Vì thế, nguồn nhân tố này có thể là một cơ sở tham khảo
Giả thuyết H2: Vấn đề khấu trừ thuế GTGT ảnh hưởng đến sự giảm tuân thủ
kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
c Kê khai, nộp thuế GTGT
Tác giả Phạm Thị Mai (2016) đã đánh giá về chỉ số tuân thủ của NNT thông
qua luận văn thạc sĩ về “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Cục thuế Ninh Bình”, bao gồm 2 chỉ tiêu thành phần là số tờ khai
thuế nộp đúng hạn trên số tờ khai thuế đã nộp và số tời khai thuế chưa nộp trên số tờ khai thuế phải nộp để đánh giá dựa trên mức độ tuân thủ về thời gian nộp tờ khai thuế của NNT trong năm Như vậy, việc nộp tờ khai thuế GTGT của NNT đúng hạn
là một tiêu chí để đánh giá sự tuân thủ thuế của NNT
Hơn nữa, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Loan, Lê Thị Tuyết Hoa và Nguyễn Việt Hồng Anh (2013-2017) về thực trạng không tuân thủ pháp luật thuế TNDN tại Tp HCM đã liệt kê mức độ xảy ra hành vi vi phạm đến từ nhóm vi phạm
do kê khai thiếu doanh thu (Bán hàng không xuất hóa đơn, để ngoài sổ sách kế toán doanh thu tính thuế, thông đồng giữa bên mua và bên bán qua các hợp đồng kinh tế…) được 15 trên 15 chuyên gia thuộc CQT và 7 trên 20 đại diện doanh nghiệp công nhận Vì vậy, việc kê khai thiếu doanh thu cũng là một trong những sai phạm mà doanh nghiệp thường xuyên gặp phải Trong trường hợp kế toán không kịp khai bổ sung, điều chỉnh hoặc không kê khai đủ, đúng kỳ hạn trước khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra có thể dẫn đến trường hợp vi phạm do kê khai sai, làm giảm mức độ tuân thủ thuế của NNT nói chung và doanh nghiệp nói riêng
Giả thuyết H3: Kê khai, nộp thuế GTGT ảnh hưởng đến sự giảm tuân thủ kê
khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
d Vấn đề về hóa đơn, chứng từ
Nghiên cứu của Sohani Fatehin (2017) tại Pakistan về thuế và sự ảnh hưởng được đo bằng hai khía cạnh gồm hành vi trốn thuế và chính sách bắt buộc thực hiện nghĩa vụ thuế của nhà nước cho thấy ngoài nhân tố đặc điểm nhân thân NNT, chính sách chính phủ cũng như xã hội ảnh hưởng đến việc trốn thuế thì thực tế dấu hiệu nhận biết trốn thuế đặc trưng là việc người bán sử dụng hóa đơn giả, lập hóa đơn khống, hóa đơn sai thông tin số tiền thuế,…mục đích để giảm doanh thu tính thuế
Trang 35hoặc hoàn thuế Mức độ thu thuế doanh thu (GTGT) ở nước này thấp chỉ chiếm 27% tổng thu và có đến 9.8 tỷ hồ sơ đăng kí GTGT ở nước này đều bị phát hiệu có dấu hiệu trốn thuế do sử dụng hóa đơn bất hợp pháp Vì vậy, việc sử dụng hóa đơn, chứng
từ không đúng theo quy định cũng gây ảnh hưởng đến việc tuân thủ thuế của NNT
Kết luận của PGS TS Lê Xuân Trường khẳng định vai trò của sai sót về hóa đơn trong việc gây thất thu thuế: “Hóa đơn là một loại chứng từ kế toán đặc biệt Do không giới hạn về mệnh giá nên nhứng tổn thất gian lận hoặc sai sót về hóa đơn gây
ra rất lớn, không chỉ gây thất thu thuế mà còn tiếp tay cho hành vi tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất Bởi vậy, tìm giải pháp phát huy vai trò của công tác quản lý hóa đơn trong quản lý thuế là rất cần thiết”
Giả thuyết H4: Vấn đề về hóa đơn, chứng từ ảnh hưởng đến sự giảm tuân
thủ kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
e Thực hiện sổ sách kế toán
Theo nghiên cứu của Zainal Abidin và cộng sự (2010) cùng mô hình hồi quy
đa biến Tobit gồm những nhân tố ảnh hưởng đến sự không tuân thủ thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong đó, nhân tố chênh lệch thuế trên sổ sách được kết luận có ảnh hưởng thuận chiều đến sự không tuân thủ pháp luật thuế của NNT (được đo bằng biến phụ thuộc: chênh lệch kê khai thuế/tổng tài sản)
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lisowsky (2010) đề ra mô hình thực nghiệm về trốn thuế bằng cách sử dụng thông tin trên BCTC thông qua phân tích hồi quy Logistic, kết quả bao gồm sự ảnh hưởng đến từ sự chênh lệch lợi nhuận giữa sổ sách
kế toán và kê khai thuế
PGS TS Lê Xuân Trường, TS Nguyễn Đình Chiến (2013) cũng nêu lên vấn
đề nhận diện các hành vi gian lận thuế, trong đó việc chênh lệch sổ sách kế toán được kết luận là một trong những dấu hiệu gian lận thuế của doanh nghiệp Điều này vô hình chung làm giảm sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam
Giả thuyết H5: Thực hiện sổ sách kế toán ảnh hưởng đến sự giảm tuân thủ
kê khai - nộp thuế GTGT của doanh nghiệp
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ KÊ KHAI – NỘP THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP, PHƯƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2.1 Thực trạng tuân thủ về kê khai – nộp thuế GTGT của doanh nghiệp 18
2.2.1 Tình hình thanh tra, kiểm tra thuế và nợ thuế
Theo báo cáo của Tổng cục Thuế đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, toàn hệ thống thuế cả nước đã thực hiện được 613.897 cuộc thanh tra, kiểm tra Tổng số tiền kiến nghị, xử lý là 64.525 tỷ đồng Trong đó, số tiền thuế tăng thu là 18.875 tỷ đồng; giảm khấu trừ thuế GTGT là 2.701 tỷ đồng; giảm lỗ là 42.948 tỷ đồng, số tiền thuế nộp vào ngân sách đạt 73% số thuế tăng thu qua thanh tra, kiểm tra
Cũng theo đó, số đơn vị phát hiện vi phạm là 176 đơn vị tương đương số tiền phạt là 23.386 triệu đồng Trong đó, 1.353 triệu đồng đã thu nộp NSNN
Những số liệu trên cho thấy năm 2019 tình hình vi phạm thuế của NNT nói chung và doanh nghiệp nói riêng vẫn còn tiếp diễn với số vi phạm cao và tỷ lệ số tiền thuế bị xử phạt bằng 36.3% tổng số tiền kiến nghị thanh tra, kiểm tra Mặt khác, báo cáo cũng chứng minh rằng vấn đề truy hoàn, truy thu, phạt thuế là vấn đề được CQT chú trọng vì đây là nguồn thu thuế chính sau công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Như vậy, có thể khẳng định việc tuân thủ kê khai - nộp thuế GTGT hiện đang
là vấn đề quan trọng sau CQT thanh tra, kiểm tra Vì hầu hết doanh nghiệp bị phạt thuế đều xuất phát từ vi phạm của những nghiệp vụ này và số tiền truy thu, truy hoàn luôn chiếm tỷ trọng cao Điều này cho thấy vấn đề tuân thủ thuế của doanh nghiệp nói chung và tuân thủ về kê khai – nộp thuế GTGT nói riêng hiện chưa được đánh giá tốt và vẫn là mối quan tâm lớn của CQT
Cũng theo báo cáo của Tổng cục Thuế, tổng số tiền nợ thuế tính đến thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2019 là 80.830 tỷ đồng Tỷ lệ nợ trên tổng thu ngân sách ở mức 6,3% Trong đó, tiền nợ thuế có khả năng thu hồi ở mức 40.602 tỷ đồng, chiếm 50,2% tổng số tiền nợ thuế; nợ thuế không còn khả năng thu hồi là 40.228 tỷ đồng, chiếm 49,8% tổng số tiền nợ thuế Nhìn chung, số tiền thuế nợ đọng đến thời điểm cuối năm 2019 vẫn ở mức cao, chủ yếu là các khoản nợ không có khả năng thu hồi
và các khoản tiền phạt, tiền chậm nộp chiếm tới 71,4% tổng số tiền nợ thuế, cụ thể:
18 Thời báo tài chính Việt Nam Online, “Năm 2019, tăng thu 18.875 tỷ đồng qua thanh tra, kiểm tra thuế”, http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/thue-voi-cuoc-song/2020-01-18/nam-2019-tang-thu-18875-ty-dong- qua-thanh-tra-kiem-tra-thue-81715.aspx , truy cập ngày 05 tháng 04 năm 2020
Trang 37Hình 2 3 Số tiền thuế truy thu năm 2019
Tổng Cục Thuế cũng đánh giá về tỷ lệ tổng nợ trên tổng thu ngân sách do ngành thuế quản lý đã giảm 0,4% so với năm 2018 Tuy nhiên, tổng nợ trên tổng thu vẫn còn cao so với mục tiêu đặt ra là dưới 5% Nếu xét đến tình hình nợ thuế của các địa phương thì có 23/63 địa phương có tỷ lệ nợ ở mức dưới 5%; 40/63 địa phương
có tỷ lệ nợ ở mức hơn 5% (Theo Phó Vụ trưởng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế Tổng cục Thuế - Đoàn Xuân Toản)
Tình hình sau thanh tra, kiểm tra cho thấy nợ thuế vẫn tồn tại với mức độ nợ dài hạn và khó thu hồi cao cùng tiền phạt chậm nộp do sự không tuân thủ thuế tốt từ phía NNT Sự giảm tuân thủ thuế của NNT nói chung và doanh nghiệp nói riêng xuất phát từ nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân trực tiếp đến từ những rủi ro kê khai – nộp thuế hoặc do doanh nghiệp cố ý gian lận thuế, làm sai quy định pháp luật thuế
2.2 Những sai sót trong quá trình kê khai – nộp thuế GTGT tại doanh nghiệp
mà Việt Nam đã ký kết với 75 Quốc gia lãnh thổ (theo thống kê của Tổng cục Thuế
- Bộ Tài chính tính đến năm 2016) và các hiệp định thuế quan như GATT1994, Hiệp định ưu đãi thuế quan,…Số lượng văn bản pháp luật lớn, phức tạp và thường xuyên thay đổi nên nếu kế toán thuế doanh nghiệp không cập nhật kiến thức về thuế GTGT thuế kịp thời dễ dẫn đến tình trạng hiểu sai, thực hiện sai so với quy định
Số tiền Thuế truy thu năm 2019
Nợ thuế có khả năng thu hồi Nợ thuế không có khả năng thu hồi Tiền phạt chậm nộp
Trang 38Ví dụ như theo quy định hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu tại khoản 4 Điều 18 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì số thuế GTGT chưa được khấu trừ từ 300 triệu đồng trở lên được hoàn từ hoạt động xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ theo tháng hoặc quý trong kỳ không bị giới hạn số tiền thuế được hoàn Tuy nhiên, khi Thông tư 25/2018/TT-BTC sửa đổi, bổ sung Thông tư 219/2013/TT-BTC được ban hành ngày 06 tháng 03 năm 2018 đã giới hạn số tiền thuế GTGT được hoàn không vượt mức 10% của doanh thu hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đó Trong trường hợp kế toán thuế không cập nhật thông tin thay đổi này và doanh nghiệp vẫn kê khai khấu trừ vượt mức quy định mà không có sự điều chỉnh kịp thời sẽ dẫn đến doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính do khai sai dẫn đến việc tăng số tiền thuế được hoàn (theo quy định xử phạt tại Điều 12 Thông tư 166/2013/TT-BTC)
Nhìn chung, bản chất hệ thống pháp luật thuế là sự phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội - đều là những lĩnh vực thường xuyên biến động nên việc nhà nước điều chỉnh pháp luật thuế là không thể tránh khỏi Chính vì vậy, nếu kế toán thuế không có kiến thức về thuế GTGT và pháp luật liên quan dẫn đến tình trạng hiểu sai, thực hiện sai quy định làm giảm sự tuân thủ kê khai – nộp thuế của doanh nghiệp
b Khấu trừ thuế GTGT
Nghiệp vụ kê khai - nộp thuế GTGT có những nguyên tắc nhất định về khấu trừ thuế và kế toán thường gặp phải rủi ro khi thực hiện nghiệp vụ:
Thứ nhất, trường hợp kế toán khấu trừ thuế GTGT sai dẫn đến giảm số thuế
phải nộp, tăng số thuế được hoàn hoặc tăng thuế miễn, giảm cụ thể gồm:
- Không phân loại được thuế GTGT đầu vào phục vụ để sản xuất, kinh doanh;
- Khai thiếu doanh thu tính thuế làm giảm số thuế phải nộp;
- Không điều chỉnh giảm số thuế khấu trừ trong trường hợp hao hụt, tổn thất,
giảm giá trị, giảm số lượng hàng hóa thực tế (trừ các trường hợp pháp luật cho phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hóa chịu thuế GTGT bị tổn thất);
- Ghi nhận khấu trừ tài sản chuyển mục đích sử dụng từ phục vụ cho hoạt động
chịu thuế GTGT sang phục vụ cho hoạt động không chịu thuế GTGT mà không
có sự điều chỉnh kịp thời trước khi doanh nghiệp bị thanh tra, kiểm tra
Trang 39Đối với các khoản chi cụ thể quy định tại Điều 15 thông tư này yêu cầu phải đáp ứng thêm các điều kiện được khấu trừ kèm theo mà kế toán kê khai khi chưa đủ điều kiện dẫn đến vi phạm do kê khai sai
Vào cuối năm, kế toán phải thực hiện tính phân bổ lại số thuế GTGT dựa trên doanh thu chịu thuế, không chịu thuế và tổng doanh thu dùng chung cho hoạt động
chịu thuế và không chịu thuế Ở nghiệp vụ này, nếu kế toán không thực hiện khai bổ
sung, điều chỉnh số thuế GTGT được khấu trừ cuối năm đến khi CQT phát hiện sai sót và điều chỉnh số tiền thuế được khấu trừ nhỏ hơn số tiền trong năm tạm phân bổ thì số tiền thuế này sẽ bị truy thu và đây là hành vi phạm vì khai sai tờ khai GTGT tạm tính theo tháng hoặc quý theo quy định tại Thông tư 166/2013/TT-BTC
Thứ hai, kế toán thuế khi thực hiện nghiệp vụ khấu trừ thuế GTGT phải đảm
bảo tính hợp pháp, hợp lệ của hóa đơn, chứng từ đáp ứng điều kiện khấu trừ hoặc hóa đơn xuất ra theo quy định trước khi thanh tra, kiểm tra phát hiện sai phạm (vấn
đề này sẽ được nêu cụ thể hơn ở phần các vấn đề về hóa đơn chứng từ)
Thứ ba, khi thực hiện nghiệp vụ khấu trừ thuế nhằm mục đích bù trừ số thuế
GTGT đầu vào, kế toán thuế các doanh nghiệp thường mắc sai lầm hoặc cố ý kê khai khấu trừ nhiều lần trên một hóa đơn hay tính trên nhiều hóa đơn giống nhau cho cùng
1 giao dịch thực tế để giảm số thuế GTGT phải nộp Hành vi này khi bị phát hiện và
xử lý vi phạm sẽ bị xét có dấu hiệu gian lận thuế theo Điều 13 Thông tư số 166/2013/TT-BTC
Thứ tư, khi phát hiện sai số liệu tính toán dẫn đến sai tờ khai hoặc nộp thiếu
tiền thuế thì kế toán phải lập tức bổ sung, điều chỉnh trước thời điểm CQT thanh tra, kiểm tra phát hiện sai phạm trên tờ khai thuế GTGT tránh bị CQT kết luận vi phạm
vì hành vi khai sai số thuế GTGT dẫn đến làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng thuế được hoàn, tăng số thuế miễn, giảm (nếu có) theo quy định xử phạt liệt kê tại Điều
13 Thông tư 166/2013/TT-BTC Sai phạm này tuy không quá khó để khắc phục nhưng lại là sai phạm thường xuyên gặp phải trong quá trình kế toán thực hiện nghiệp
vụ và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc khai - nộp tiền thuế GTGT
c Nghiệp vụ kê khai, nộp thuế GTGT
Hiện tại, chính sách thuế cho phép NNT thực hiện tự kê khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm cùng cơ chế kê khai trước kiểm tra sau Vì vậy, chỉ sau khi thanh tra,
Trang 40kiểm tra thì CQT mới phát hiện và tiến hành xử phạt những vi phạm trong suốt quá trình kế toán thuế thực hiện nghiệp vụ kê khai, nộp thuế
Thứ nhất, kế toán thuế nếu không nắm rõ thời hạn với mỗi loại kỳ khai thuế
GTGT (theo tháng, theo quý hoặc từng lần phát sinh) sẽ dẫn đến hậu quả gần nhất là doanh nghiệp trễ hạn kê khai và chậm nộp tiền thuế, theo quy định doanh nghiệp sẽ
bị tính phạt chậm nộp trên cả việc trễ hạn tờ khai và chậm nộp tiền thuế GTGT quy định tại luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 và các Luật về thuế
Thứ hai, khi thực hiện nghiệp vụ kê khai sai dẫn đến trường hợp giảm số thuế
phải nộp, tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm hay sai sót khi nộp thiếu tiền thuế vào NSNN mà không bổ sung, điều chỉnh kịp thời trước khi CQT thanh tra, kiểm tra Các sai phạm trên sẽ bị CQT nhắc nhở, lập biên bản kiểm tra, kết luận thanh tra thuế và yêu cầu kê khai điều chỉnh và nộp đủ số thuế còn thiếu Trường hợp doanh nghiệp vẫn không tuân thủ, CQT có quyền xử phạt vi phạm theo quy định về hành
vi khai man, trốn thuế trừ khi doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ và đây là
vi phạm lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ thì CQT xem xét lập biên bản xử phạt theo mức phạt tiền đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng
số thuế được hoàn, tăng số tiền thuế miễn, giảm 20
Thứ ba, thực tế cho thấy rất nhiều trường hợp kế toán nộp tiền thuế ghi sai
thông tin mã chương (đại diện cho mã doanh nghiệp được phân loại theo cấp chính quyền quản lý), tiểu mục (đại diện cho các loại thuế, phí quy định trong phụ lục III của Thông tư 324/2016/TT-BTC) hoặc sai thông tin kho bạc nhà nước Nhưng thủ tục điều chỉnh tại các Cơ quan chức năng hiện nay lại rất phức tạp (thủ tục điều chỉnh theo Điều 17 Thông tư 84/2016/TT-BTC) Đặc biệt trong trường hợp nộp sai tiểu mục, kho bạc mà chưa điều chỉnh thì khi quá thời hạn nộp thuế, hệ thống CQT vẫn ghi nhận doanh nghiệp nợ tiền thuế Đây nghiệp vụ dễ xảy ra sai sót, nhất là khi hiện nay chính sách thuế chưa tạo điều kiện khắc phục lỗi này đơn giản và kịp thời hơn
Thứ tư, việc đảm bảo số tiền thuế nộp NSNN phải khớp với tờ khai và thời
hạn kê khai từng kỳ rất quan trọng vì thông thường hệ thống của CQT sẽ tự động ghi nhận trong quá trình NNT nộp tiền và tờ khai nhưng đến khi thanh tra, kiểm tra thì CQT mới có thông báo về số chênh lệch đến NNT để bổ sung, điều chỉnh Vô hình chung, những khoản tiền thuế chậm nộp, thiếu hụt so với thời hạn bị tính mức phạt
20 Điều 12 Thông tư 166/2013/TT-BTC