1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CƠ CHẾ GIÁM sát HIẾN PHÁP ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG và KIẾN NGHỊ

86 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành trong nước, các nghiên cứu về cơ chế giám sát ở Việt Nam không ngừng được công bố như: “Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở V

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT QUỐC TẾ

HOÀNG THU TRANG MSSV: 0855040251

CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 2

MỤC LỤC

      

LỜI NÓI ĐẦU

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT

HIẾN PHÁP 1

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp 1

1.2 Khái niệm giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp 4

1.3 Phân loại giám sát Hiến pháp 9

1.4 Chủ thể và đối tượng giám sát Hiến pháp 13

1.4.1 Chủ thể giám sát Hiến pháp 13

1.4.2 Đối tượng giám sát Hiến pháp 14

1.5 Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới 16

1.5.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung 16

1.5.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung 23

1.5.3 Mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp 37

1.5.4 Mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp đồng thời là cơ quan lập hiến 37

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ GIÁM SÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ PHƯƠNG HƯỚNG ĐỔI MỚI 39

2.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam qua bốn bản Hiến pháp 39

2.1.1 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 39

2.1.2 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 41

2.1.3 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 43

2.1.4 Cơ chế giám sát Hiến pháp theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các văn bản pháp luật hiện hành 45

2.2 Thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 49

Trang 3

2.3 Tiền đề xây dựng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam 56

2.3.1 Tiền đề về mặt chính trị 56

2.3.2 Tiền đề về mặt nhận thức 58

2.3.3 Tiền đề về tâm lý xã hội 59

2.3.4 Tiền đề về pháp lý 60

2.4 Phương hướng đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay 61

2.4.1 Các mô hình đổi mới 61

2.4.2 Lựa chọn mô hình giám sát Hiến pháp và một số kiến nghị 65

KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

      

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Hiện nay, xây dựng Nhà nước pháp quyền đã trở thành một xu hướng chung, một xu hướng rất phổ biến đối với nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam cũng

nằm trong số đó Năm 2001, lần đầu tiên, tư tưởng “nhà nước ta là nhà nước pháp

quyền của dân, do dân, vì dân” 1 đã được khẳng định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Và sau đó, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

Nam năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) chính thức ghi nhận: “Nhà

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” 2

Như vậy, “nhà nước pháp quyền” đã trở thành một nguyên tắc hiến định trong tiến trình cải cách chính trị

Bản chất của nhà nước pháp quyền là nhà nước đặt pháp luật ở vị trí tối thượng, cao hơn công quyền Trong đó, Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của nhà nước, cũng là đạo luật trực tiếp và chủ yếu nhất kiểm soát công quyền, quy định những khuôn khổ buộc công quyền phải tuân theo Cho nên, một nhà nước pháp quyền trước hết phải

là một nhà nước hợp hiến

Từ những lập luận trên, có thể khẳng định rằng khi chúng ta đi theo con đường xây dựng nhà nước pháp quyền thì tất yếu phải tìm ra được những biện pháp hiệu quả để bảo vệ Hiến pháp trước bất cứ sự xâm hại nào, bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp – đạo luật cơ bản của nhà nước Nếu không, Hiến pháp sẽ có nguy cơ bị xâm phạm và sự vi hiến đó có thể phá vỡ nền tảng nhà nước, làm tiêu tan niềm tin của người dân về trật tự Hiến pháp cũng như hệ thống pháp luật Một trong những biện pháp cấp bách trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay chính là xây dựng một cơ chế giám sát Hiến pháp phù hợp Xây dựng và thực hiện cơ chế giám sát Hiến pháp không chỉ nhằm mục đích bảo đảm tính tối cao của

Trang 5

hệ thống pháp luật, bảo đảm sự tuân thủ Hiến pháp từ phía các cơ quan nhà nước và các cá nhân có thẩm quyền mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ các quyền và tự do của công dân được quy định trong Hiến pháp

Ở Việt Nam, mặc dù đã hình thành một cơ chế giám sát việc tuân theo Hiến pháp nhưng các quy định còn tản mạn, chồng chéo, bất cập; chủ thể của hoạt động này cũng được giao cho nhiều cơ quan có thẩm quyền mà chưa có cơ quan chuyên trách Các hoạt động giám sát Hiến pháp chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Tuy nhiên, Quốc hội chưa thực sự làm tròn nhiệm vụ của mình Những vi phạm Hiến pháp trong các lĩnh vưc lập pháp – hành pháp – tư pháp vẫn tồn tại nhưng không có một cơ chế hiệu quả nào xử lý Thực tiễn đã đặt ra yêu cầu phải thiết lập một cơ chế giám sát Hiến pháp hữu hiệu hơn nhằm bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp được tuân thủ Trước tình hình đó, vào năm 2006, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã đề ra chủ

trương: “Xây dựng cơ chế phán quyết những hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt

động lập pháp, hành pháp và tư pháp” 3 Gần đây nhất, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI năm 2011 tiếp tục khẳng định quyết tâm chính trị trong việc

đổi mới cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam: “Khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi,

bổ sung Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) phù hợp với tình hình mới Tiếp tục xây dựng, từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền” 4

Có thể nói, chủ trương của Đảng là tiền đề, là cơ sở chính trị quan trọng

để hoàn thiện hơn cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam

Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả đã chọn đề tài: “Cơ chế giám sát

Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và kiến nghị” để nghiên cứu và làm

khóa luận tốt nghiệp với mục đích góp một phần bé nhỏ của mình vào việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở nước ta hiện nay

3

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, năm 2006, tr 127

4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, 2011, tr 89

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình khoa học, các bài viết đăng tạp chí, các Hội thảo nghiên cứu khoa học do Quốc hội, các Viện nghiên cứu tổ chức nghiên cứu về cơ chế giám sát Hiến pháp Đầu tiên phải kể đến hội thảo nghiên cứu khoa

học về “Cơ chế bảo hiến” được Ban công tác lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc

hội tổ chức vào năm 2005 Từ năm 2006, Viện nhà nước và pháp luật đã tổ chức một chục cuộc hội thảo khoa học về chủ đề giám sát Hiến pháp tiêu biểu có thể kể

đến hội thảo “Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp

ở Việt Nam” đã được xuất bản thành sách năm 2007 Sau đó, tháng 3 năm 2009,

Văn phòng Quốc hội đã phối hợp với Văn phòng Dự án phối hợp hỗ trợ cải cách pháp luật và tư pháp (JOPSO) tổ chức một hội nghị khoa học quốc tế với quy mô lớn về chủ đề bảo hiến Cũng có nhiều sách chuyên khảo bàn về giám sát Hiến pháp

như:“Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta

hiện nay” (Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Nxb Công an Nhân dân,

2003); “Cơ chế bảo hiến” (Đặng Văn Chiến (chủ biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005); “Bảo hiến ở Việt Nam” (Bùi Ngọc Sơn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006); “Xây

dựng và bảo vệ Hiến pháp kinh nghiệm thế giới và Việt Nam” (Nguyễn Đăng Dung

– Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí,

Nxb Giáo dục Việt Nam, 2010); “Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người” (Vũ Văn Nhiêm – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang, Nxb

Giáo dục Việt Nam, 2012) Trên các tạp chí nghiên cứu khoa học chuyên ngành trong nước, các nghiên cứu về cơ chế giám sát ở Việt Nam không ngừng được công

bố như: “Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam” (Hồ Anh Đức, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6, 2006); “Cơ chế giám sát Hiến pháp theo

các Hiến pháp Việt Nam và vấn đề xác định tài phán Hiến pháp ở nước ta hiện nay” (Trương Đắc Linh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 1, 2007); “Các điều kiện của việc xây dựng cơ chế giám sát và phán quyết các hành vi vi phạm Hiến pháp ở Việt Nam” (Phạm Hữu Nghị, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5, 2009); “Lựa chọn mô hình tài phán Hiến pháp – Những vấn đề phổ biến và đặc thù quốc gia”

Trang 7

(Võ Trí Hảo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1+2, 2012); “Bảo hiến, chủ nghĩa lập

hiến và nhà nước pháp quyền” (Đào Trí Úc – Võ Công Giao, Tạp chí Nghiên cứu

lập pháp số 1+2, 2012) Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung phân tích về chủ thể, đối tượng, các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới, đồng thời nhấn mạnh đến việc phải thiết lập một cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam

Trên cơ sở tham khảo, tiếp thu, học hỏi những kết quả trên đây, tác giả đã cố gắng đúc kết và làm hoàn thiện hơn những kiến thức đó với mục đích đưa ra những kiến nghị để có thể xây dựng cơ chế giám sát ở Việt Nam hoạt động thực sự có hiệu quả và phù hợp với hoàn cảnh hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khóa luận:

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là nhằm làm rõ những vấn đề cơ bản nhất về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn của cơ chế giám sát Hiến pháp Qua

đó, đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở nước ta hiện nay

Để đạt được mục đích nêu trên, khóa luận có nhiệm vụ làm rõ các vấn đề sau đây:

- Khái niệm giám sát Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp

- Chủ thể, đối tượng của cơ chế giám sát Hiến pháp

- Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới

- Phân tích, đánh giá thực trạng của cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở nước ta trong điều kiện hiện nay

4 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp nghiên cứu khóa luận được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước và Pháp luật Ngoài ra, các phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, phương pháp so sánh cũng được kết hợp để tăng tính hiệu quả khi nghiên cứu đề

Trang 8

tài Các phương pháp trên được sử dụng xuyên suốt khóa luận nhưng tùy từng chương mà mức độ áp dụng có thể khác nhau

5 Kết cấu của khóa luận:

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm hai chương:

- Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giám sát Hiến pháp

- Chương II: Thực trạng cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay và

phương hướng đổi mới

Trang 9

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ

CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP

      

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp

Trước hết có thể khẳng định là cơ chế giám sát Hiến pháp ra đời thay thế thuyết nghị viện tối cao bằng thuyết Hiến pháp tối cao Cuộc cách mạng Anh năm

1688 – 1689 đã xác lập nguyên tắc về quyền tối cao của Nghị viện Hệ quả của nguyên tắc này là mọi đạo luật và mọi thứ thuế đều do Nghị viện quy định; không một ai ngoại trừ Nghị viện có thể chấm dứt hiệu lực của đạo luật 5 Do đó, người

Anh có quan niệm rằng “những đạo luật của Nghị viện không bao giờ sai” 6 Quyền

tối cao của Nghị viện có thể được diễn đạt thông qua câu ngạn ngữ “Nghị viện có

quyền được làm tất cả, trừ việc biến đàn ông thành đàn bà” 7

Chính vì vậy nơi nào

thuyết Nghị viện tối cao thắng thế thì nơi đó không có cơ chế giám sát Hiến pháp và nước Anh là một minh chứng điển hình cho điều này

Mặc dù vậy, trong lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, tư tưởng giám sát Hiến pháp được hình thành ở Anh vào thế kỷ XVII Theo đó, Hội đồng cơ mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các nước thuộc địa Anh ban hành

là trái với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung Do đó, văn bản này không thể có hiệu lực và cần phải bãi bỏ 8

Tuy nhiên, tư tưởng giám sát Hiến pháp theo nghĩa hiện đại lần đầu tiên được đề cập đến tại Hội nghị lập hiến Philadephia – Mỹ năm 1787 Cơ chế giám sát Hiến pháp được hình thành đầu tiên ở Mỹ như một thiết chế để giới hạn quyền lực của Nghị viện Những người ủng hộ cho việc thiết lập chế độ tài phán Hiến pháp ở

Mỹ vào lúc này là: Rufus King, Jame Madison, George Mason, Jame Wilson,

5 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, Nxb Công an nhân dân,

8 Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở

nước ta hiện nay, Nxb Công an Nhân dân, 2003, tr 556

Trang 10

Gouverneur Morris, Hugh Williamson và Luther Martin Trong hội nghị, Wilson

nói: “Các thẩm phán là người giải thích luật nên phải có cơ hội bảo vệ các quyền

Hiến định Luật pháp có thể bất công, có thể thiếu sự sáng suốt, có thể nguy hiểm,

có thể có tính phá hoại và còn có thể bất hợp hiến nên cần phải để cho các thẩm phán phản ứng lại điều đó” 9 Mặc dù vậy, Hội nghị vẫn không thông qua một điều khoản nào về quyền tài phán Hiến pháp của ngành tư pháp Tuy nhiên, Alexander Hamilton – một trong những nhà soạn thảo Hiến pháp Mỹ, sau này trở thành Bộ

trưởng Bộ Tài chính đầu tiên của Mỹ cho rằng: “Mặc dù Hiến pháp liên bang không

trực tiếp đề cập đến chế định giám sát tư pháp tính hợp hiến của các văn bản luật, tuy nhiên, nội dung khoản 2 Điều 6 quy định về tính tối cao của Hiến pháp liên bang đã bắt buộc các văn bản luật phải phù hợp với Hiến pháp và các cơ quan phán quyết sự phù hợp này chính là Tòa án” 10 Việc chuyển hóa tư tưởng giám sát Hiến pháp vào thực tiễn phải kể đến sự đóng góp đặc biệt quan trọng của Chánh án John Marshall Năm 1803, trong vụ án Marbury chống Madison, John Marshall, lúc

đó là Chánh án Tòa án tối cao Mỹ đã đưa ra các tuyên bố sau: 1) Hiến pháp là luật tối cao của đất nước; 2) Những luật hay quyết định được đưa ra bởi cơ quan lập pháp là một bộ phận của Hiến pháp và không được trái với Hiến pháp; 3) Thẩm phán, người từng tuyên thệ bảo vệ Hiến pháp, phải tuyên bố hủy bỏ những luật lệ, quy định nào của cơ quan lập pháp mâu thuẫn với Hiến pháp 11 Ba tuyên bố trên đây đã xác lập chức năng bảo hiến của Tòa án và quyền tài phán của Tòa án về các quyết định của lập pháp và hành pháp liên quan đến Hiến pháp Với những tuyên bố này và những đóng góp lớn lao cho ngành tư pháp, John Marshall được coi là Chánh án Tòa án tối cao vĩ đại nhất Hoa Kì 12 Theo gương Mỹ, các nước Brazin (năm 1891), Uragoay (năm 1917) lần lượt xác lập quyền bảo hiến của Tòa án Ở

9 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 12

10

Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở

nước ta hiện nay, Nxb Công an Nhân dân, 2003, tr 559

11 Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2001, tr.42

12 William A Dergregorio, 42 đời tổng thống Hoa Kỳ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.88

Trang 11

châu Âu, trước chiến tranh thế giới thứ hai, các nước như Nauy, Hy Lạp, và một số bang của Thụy Sỹ cũng thiết lập quyền bảo hiến của Tòa án giống mô hình của Mỹ

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước châu Âu đã xây dựng mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp riêng của mình Người khởi xướng ra mô hình này

chính là Hans Kelsen Ông cho rằng: “Hiến pháp là nguồn cơ bản của nhà nước,

các văn bản pháp luật khác do cơ quan nhà nước ban hành phải phù hợp với Hiến pháp Để đảm bảo sự phù hợp này cần thiết lập cơ chế giám sát tư pháp hợp hiến của các đạo luật” 13 Tòa án Hiến pháp chính thức được ghi nhận trong Hiến pháp Cộng hòa Áo năm 1920 Tiếp theo Áo, nhiều nước đã thành lập ra Tòa án Hiến pháp trong cơ cấu tổ chức nhà nước của mình như: Italia (năm 1948), Cộng hòa liên bang Đức (năm 1949), Ấn Độ (năm 1949) Mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp của các học giả châu Âu dựa trên nền tảng của ba luận thuyết cơ bản sau:

- Luận thuyết về tính thống nhất: Theo luận thuyết này, Hiến pháp là văn bản của quyền lực gốc, quyền lực nguyên thuỷ (quyền lực thiết lập) Các văn bản do các cơ quan Nhà nước được thiết lập bởi Hiến pháp ban hành có hiệu lực thấp hơn quyền lực gốc, do vậy phải phù hợp với Hiến pháp, không được trái với Hiến pháp;

- Luận thuyết về tính hệ thống: Theo luận thuyết này, Hiến pháp thiết lập nguyên tắc tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước Trong hoạt động của mình, các

cơ quan Nhà nước phải tuân thủ những nguyên tắc đó Không một cơ nào được xâm phạm thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước khác Trong Nhà nước liên bang, cần phải có sự phân định thẩm quyền của liên bang và các chủ thể của liên bang;

- Luận thuyết về pháp luật tự nhiên (luận thuyết khế ước xã hội): Theo luận thuyết này, Hiến pháp thiết lập nguyên tắc chung của mối quan hệ giữa Nhà nước

và cá nhân, trước hết là những nguyên tắc bảo đảm các quyền con người và quyền công dân và nguyên tắc giám sát Hiến pháp về việc tuân thủ các quyền con người

và quyền công dân 14

13

Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước

ở nước ta hiện nay, Nxb Công an Nhân dân, 2003, tr 560 – 561

14 Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở

nước ta hiện nay, Nxb Công an Nhân dân, 2003, tr 561 - 562

Trang 12

Tóm lại, thông qua quá trình hình thành chế độ giám sát Hiến pháp ở Mỹ và châu Âu có thể nhận thấy rằng: Cơ chế giám sát Hiến pháp ra đời gắn liền với việc thay thế thuyết Nghị viện tối cao bằng thuyết Hiến pháp tối cao Cơ chế giám sát Hiến pháp được hình thành với mục đích giới hạn quyền lực của Nghị viện, giám sát quyền lực của ngành lập pháp Nếu không có mục đích này, cơ quan giám sát Hiến pháp tư pháp sẽ không còn tồn tại theo nghĩa của nó

1.2 Khái niệm giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp

Hiện nay, ở nước có nhiều quan điểm về khái niệm giám sát Hiến pháp và cơ chế giám sát Hiến pháp

Quan điểm thứ nhất cho rằng giám sát Hiến pháp “là tổng hợp các biện pháp

giữ gìn, chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp” 15 Đây

là quan điểm hiểu khái niệm giám sát Hiến pháp theo nghĩa rộng và đã đồng nhất giám sát Hiến pháp với bảo đảm thi hành Hiến pháp Tuy nhiên, giám sát Hiến pháp không có nghĩa là bảo đảm thi hành Hiến pháp Cơ chế giám sát được thành lập để bảo vệ quyền và tự do của con người cũng như xử lý những vi phạm Hiến pháp của công quyền Cơ chế giám sát Hiến pháp chỉ được vận hành khi có sự vi phạm Hiến pháp của công quyền Do đó, hai đặc điểm của giám sát Hiến pháp là: thứ nhất, hoạt động giám sát Hiến pháp chỉ được tiến hành khi có hành vi vi phạm hiến pháp xảy ra; thứ hai, đối tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp là công quyền 16

Quan điểm thứ hai lại coi giám sát Hiến pháp “là hoạt động của chủ thể có

thẩm quyền ra phán quyết về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến của văn bản pháp luật, qua đó làm phát sinh hệ quả pháp lý vô hiệu hóa văn bản pháp luật vi hiến” 17 Quan điểm này thu hẹp nội hàm của khái niệm giám sát Hiến pháp, coi giám sát Hiến pháp chỉ bao gồm hoạt động xem xét và bảo đảm tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, cách hiểu giám sát Hiến pháp chỉ là kiểm soát các văn bản quy phạm pháp luật là một cách hiểu khá chật hẹp Thực tiễn giám sát Hiến

15

Đặng Văn Chiến (chủ biên), Cơ chế bảo hiến, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005, tr 17

16 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 9 – 10

17 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

6, 2006, tr 32

Trang 13

pháp ở các nước cho thấy các chế định giám sát Hiến pháp không chỉ đơn thuần là giám sát tính hợp hiến của hành vi lập pháp Ví dụ như Tòa án Hiến pháp ở các quốc gia châu Âu, bên cạnh việc giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, các Tòa án này còn thực hiện các chức năng khác để bảo vệ nội dung và tinh thần của Hiến pháp như: giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, giữa liên bang và tiểu bang, giữa trung ương và địa phương; kiểm soát tính hợp hiến trong các hành vi của Tổng thống cũng như các quan chức trong bộ máy nhà nước Do đó, giám sát Hiến pháp nên được hiểu theo nghĩa bao trùm hơn là kiểm soát các tính hợp hiến trong các chế định chính trị được ấn định trong Hiến pháp Tuy nhiên, ý nghĩa cốt lõi của giám sát Hiến pháp vẫn là kiểm soát tính hợp hiến trong hành vi lập pháp

Tóm lại, cơ chế giám sát Hiến pháp là hệ thống những thành tố, hình thức, thiết chế, thủ tục mà qua đó Hiến pháp được bảo vệ Cơ chế giám sát Hiến pháp thực chất là công cụ, phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, nhằm quyền lực đó thuộc về nhân dân Giám sát Hiến pháp là tư duy của pháp quyền Phương thức tư duy của giám sát Hiến pháp là hướng tới giám sát quyền lực nhà nước để bảo vệ các quyền và tự do của con người Chế độ giám sát Hiến pháp là một chế độ xử lý những hành vi vi phạm hiến pháp của công quyền 18

Một điểm đáng lưu ý là cơ chế giám sát Hiến pháp Hiến pháp chỉ tồn tại trên

cơ sở một Hiến pháp cương tính Hiến pháp cương tính là Hiến pháp được sửa đổi theo một thủ tục đặc biệt Tính đặc biệt này tạo nên giá trị pháp lý tối cao của Hiến pháp so với các thường luật khác Còn đối với Hiến pháp nhu tính (Hiến pháp được sửa đổi bởi chính cơ quan lập pháp thường, theo những thủ tục sửa đổi thường luật), người ta không đặt ra vấn đề giám sát Hiến pháp Ví dụ như Hiến pháp bất thành văn ở Anh là một dạng Hiến pháp nhu tính nên ở Anh không tồn tại chế độ giám sát Hiến pháp

18 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 21

Trang 14

Phân biệt giám sát Hiến pháp, cơ chế giám sát Hiến pháp với các thuật ngữ có liên quan:

- Giám sát Hiến pháp và bảo hiến:

Trong giới Luật học hiện nay, có nhiều quan điểm về hai khái niệm này Một

số luật gia cho rằng khái niệm giám sát Hiến pháp đồng nghĩa với khái niệm bảo hiến Họ cho rằng đây chỉ là vấn đề thuật ngữ vì trong nhiều tài liệu pháp lý, người

ta sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để mô tả về việc bảo vệ Hiến pháp hay giám sát việc tuân thủ Hiến pháp như: bảo vệ Hiến pháp, bảo hiến, giám sát Hiến pháp, giám sát bảo hiến Chính về thế, quan điểm thứ nhất này đã thống nhất hai khái niệm giám sát Hiến pháp và bảo hiến với nhau Bởi lẽ, cả hai khái niệm này đều bao hàm hoạt động quan trọng nhất của là hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền Tuy nhiên, cũng có nhiều luật gia quan niệm rằng hai khái niệm này là không đồng nhất nhau Lê Phương Hoa (Viện Nhà nước và pháp luật) cho rằng giám sát Hiến pháp rộng hơn khái niệm bảo hiến vì khi phân tích từng khái niệm theo từ điển học sẽ nhận thấy sự khác biệt của hai khái niệm này Theo Từ

điển Tiếng Việt thì “giám sát là hoạt động theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện

đúng những điều quy định hay không” 19 Khái niệm “bảo hiến” lại được hiểu với nghĩa chung nhất là bảo vệ Hiến pháp Mà “bảo vệ là tổng hợp các biện pháp chống

lại mọi sự xâm phạm, để giữ cho luôn luôn được nguyên vẹn; là bênh vực bằng lý lẽ

để giữ vững quan điểm, ý kiến” 20

Do đó, bảo hiến được hiểu là tổng hợp những biện pháp giữ gìn chống lại sự vi phạm các nguyên tắc và quy phạm của Hiến pháp Xét về phương diện thẩm quyền thì khái niệm bảo hiến và giám sát Hiến pháp đồng nhất vì chúng đều thực hiện những hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm bảo vệ cho Hiến pháp không bị vi phạm Tuy nhiên, xét về mặt chủ thể thực hiện thì hai khái niệm này lại có điểm khác biệt Nếu như nói đến bảo hiến ta không nhắc đến việc xây dựng cơ quan để bảo vệ Hiến pháp mà chỉ đề cập đến việc bảo đảm thực thi

19 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2000, tr 391

20 Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2000, tr 53

Trang 15

đúng Hiến pháp như thế nào thì ở khái niệm giám sát Hiến pháp, nó bao hàm cả hoạt động bảo hiến nhưng ngoài những nhiệm vụ mà bảo hiến thực hiện, nó còn có chức năng là xây dựng cơ quan giám sát Hiến pháp hoàn thiện, có thể thay đổi mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp đó hoặc thay đổi bộ máy, cơ cấu hoạt động của cơ quan đó sao cho nó thực hiện hoạt động giám sát một cách có hiệu quả nhất 21 Bên cạnh đó, Hồ Đức Anh ( Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) lại giải thích khái niệm giám sát Hiến pháp rộng hơn khái niệm bảo hiến theo hướng: phương thức hoạt động của giám sát Hiến pháp rộng hơn, không chỉ bao gồm hoạt động kiểm soát tính hợp hiến của các văn bản pháp luật như bảo hiến mà còn có nhiều hoạt động khác như: xem xét báo cáo, xét việc trả lời chất vấn, thành lập đoàn giám sát 22

- Giám sát Hiến pháp và tài phán Hiến pháp:

Thuật ngữ tài phán Hiến pháp hay “kiểm tra Hiến pháp bằng Tòa án” được

hiểu là cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp Cơ quan giám sát ở đây là Tòa án Ở mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung, thẩm quyền này được giao cho

hệ thống Tòa án thường thuộc nhánh tư pháp Ở mô hình giám sát Hiến pháp tập trung, thẩm quyền này được giao cho cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách Ở

mô hình hỗn hợp, cả Tòa án thường và Tòa án Hiến pháp đều có thẩm quyền này

Cơ quan giám sát thông qua hoạt động tố tụng Hiến pháp sẽ đưa ra những bản án, những quyết định có giá trị như đạo luật trong việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành và hành vi được thực hiện trên cơ sở những văn bản vi hiến xâm phạm đến các quyền và tự do hiến định của công dân Như vậy,

có thể thấy khái niệm tài phán Hiến pháp là khái niệm hẹp hơn khái niệm giám sát Hiến pháp vì cơ quan có thẩm quyền giám sát ở đây chỉ bao gồm các Tòa án, thủ tục là những thủ tục tố tụng trong khi ở giám sát, thẩm quyền được giao cho Tòa án

và cả các chủ thể khác như Quốc hội, Chính phủ , thủ tục không chỉ có thủ tục tố

21

Đào Trí Úc - Nguyễn Như Phát (Chủ biên), Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến

pháp tại Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr 164 – 167

22 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

6, 2006, tr 32

Trang 16

tụng mà có thể là thủ tục hành chính ví dụ như ở một số nước (trong đó có Việt Nam) Quốc hội có quyền bãi bỏ những văn bản vi hiến của các cơ quan cấp dưới

- Giám sát Hiến pháp và bảo đảm thi hành Hiến pháp:

Bảo đảm thi hành Hiến pháp là tổng hợp những biện pháp cần thiết nhằm làm cho các nguyên tắc, quy phạm hiến định chắc chắn được thực hiện trên thực tế

23 Đây là một tư duy của pháp chế xã hội chủ nghĩa hướng đến sự thống nhất của

hệ thống pháp luật bằng hàng loạt các phương thức như tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp, tổ chức đưa Hiến pháp vào cuộc sống Trong khi đó, giám sát Hiến pháp là

tư duy của pháp quyền Phương thức của giám sát Hiến pháp là hướng tới kiểm soát quyền lực nhà nước để bảo vệ các quyền và tự do của con người

- Cơ chế giám sát Hiến pháp và cơ chế phán quyết những hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp

Khái niệm cơ chế phán quyết hành vi vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp là khái niệm được Đảng cộng sản Việt Nam đưa ra tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X năm 2006 Có thể thấy đây là một bước tiến lớn tạo tiền đề cho việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam So sánh khái niệm mà Đảng ta đưa ra với khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp có thể thấy phạm vi của cả hai cơ chế đều rất rộng, bao trùm cả ba lĩnh vực lập pháp, hành

pháp, tư pháp Tuy nhiên, hai khái niệm này khác nhau ở một số điểm sau đây Thứ

nhất, chủ thể tham gia cơ chế phán quyết chưa được quy định nhưng thông qua

những kiến nghị trong thời gian gần đây có bốn mô hình được ủng hộ nhiều nhất: một là lập Ủy ban giám sát Hiến pháp thuộc Quốc hội; hai là giao thẩm quyền này cho Tòa án tối cao; ba là lập Hội đồng Hiến pháp; bốn là thành lập Tòa án Hiến pháp Trong khi đó, chủ thể của giám sát Hiến pháp rộng hơn vì tùy thuộc vào mô hình giám sát Hiến pháp có thể cả cơ quan lập pháp cũng tham gia vào quá trình

này Thứ hai, về thủ tục tiến hành, cơ chế phán quyết mà Đảng đề ra được tiến

hành theo thủ tục tư pháp còn trong giám sát Hiến pháp, ngoài thủ tục tư pháp, thủ

23 Hồ Đức Anh, Bảo vệ Hiến pháp và chủ thể bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

6, 2006, tr 33

Trang 17

tục hành chính cũng được áp dụng (ví dụ: Quốc hội bãi bỏ những văn bản vi hiến

của các cơ quan cấp dưới) Thứ ba, về hậu quả pháp lý, cơ chế phán quyết đưa ra

những quyết định về các hành vi trong lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp có

vi hiến hay không Trong khi đó cơ chế giám sát Hiến pháp không chỉ xem xét tính hợp hiến của văn bản pháp luật hay của một hành vi mà còn có thể ra phán quyết chấm dứt hiệu lực của những văn bản vi phạm Hiến pháp

Nhận thức được đúng khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp cũng như sự khác biệt giữa khái niệm này với khái niệm có liên quan sẽ giúp định hướng rõ ràng hơn về việc hoàn thiện cơ chế giám sát Hiến pháp ở Việt Nam cũng như tạo tiền đề cho nhà nước tiến hành những biện pháp để chủ trương của Đảng sớm được áp dụng trong thực tiễn

1.3 Phân loại giám sát Hiến pháp

Dựa vào một số tiêu chí nhất định, cơ chế giám sát Hiến pháp có thể được phân chia thành các loại khác nhau

Căn cứ vào thời gian tiến hành hoạt động giám sát Hiến pháp: giám sát

Hiến pháp được chia thành giám sát trước và giám sát sau

- Giám sát trước là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật trước khi văn bản đó có hiệu lực pháp lý (trước khi được công bố) Hình thức giám sát này hạn chế việc thông qua những văn bản không hợp hiến đồng thời tránh được việc hủy bỏ những văn bản liên quan đã được ban hành trên cơ sở văn bản không hợp hiến, bảo đảm sự ổn định của lập pháp, hạn chế lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức Nhược điểm của hoạt động giám sát trước là nó tạo điều kiện cho cơ quan giám sát Hiến pháp can thiệp vào công việc lập pháp của Nghị viện, có thể dẫn đến nguy cơ tiềm ẩn chính trị hóa cơ quan giám sát Hiến pháp Nếu một nước chỉ có giám sát trước thì khi phát hiện những văn bản đã có hiệu lực pháp lý chứa những quy định không hợp hiến sẽ không có cách nào để hủy bỏ văn bản vi hiến này

- Giám sát sau là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp lý và hoạt động của các quan chức Nhà nước có

Trang 18

thẩm quyền Ưu điểm lớn nhất của giám sát sau là không can thiệp quá sâu vào quá trình lập pháp, khả năng kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật có tính đến thực tiễn áp dụng của Tòa án và những cơ quan hành chính

Căn cứ vào hình thức thực hiện: giám sát Hiến pháp được chia thành

giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể

- Giám sát trừu tượng là hoạt động kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật mà không gắn với bất cứ một vụ việc nào Tất cả các hoạt động giám sát trước là giám sát trừu tượng (chứ không ngược lại) Ở hầu hết các nước áp dụng giám sát trừu tượng, Hiến pháp sẽ quy định những chủ thể có quyền giám sát Hiến pháp Đó có thể là các cơ quan nhà nước, các quan chức, nghị sĩ và cũng có thể là cá nhân công dân Ví dụ: Điều 125 Hiến pháp Liên bang Nga quy định Tổng thống, Chủ tịch hai viện của Nghị viện, một số lượng nghị sĩ nhất định mới có quyền đề nghị Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật Tuy nhiên, Điều 32A Hiến pháp Hunggary lại cho phép cả công dân cũng có quyền này

- Giám sát cụ thể là là loại giám sát được thực hiện gắn với một vụ việc cụ thể (thông thường là vụ kiện), mà kết quả của việc giải quyết vụ việc này cần phải thông qua quyết định bằng văn bản để xác định tính hợp hiến của vụ việc đó Vì vậy giám sát cụ thể thường là giám sát sau Nếu như giám sát trừu tượng cho phép cơ quan bảo hiến có một cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa văn bản quy phạm pháp luật với Hiến pháp, bảo đảm tính thống nhất và tính nhất quán của hoạt động giám sát, đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc phân chia quyền lực, thì giám sát cụ thể cho phép cơ quan bảo hiến có khả năng bảo vệ các quyền con người, quyền công dân một cách linh hoạt và hữu hiệu nhất

Căn cứ vào vị trí thực hiện hoạt động giám sát: giám sát Hiến pháp được

chia thành giám sát bên trong và giám sát bên ngoài

- Giám sát bên trong là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản do chính cơ quan ban hành văn bản đó thực hiện

Trang 19

- Giám sát bên ngoài là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước ban hành được thực hiện bởi cơ quan Nhà nước khác Giám sát bên ngoài thông thường là hoạt động giám sát sau, vì vậy những dự án luật không thuộc đối tượng của quyền giám sát bên ngoài

Căn cứ vào kết quả của hoạt động giám sát: giám sát Hiến pháp được chia

thành giám sát chính trị và giám sát tư pháp

- Giám sát chính trị là hoạt động giám sát tính hợp hiến của văn bản hay hành vi chỉ mang tính chất kiểm tra nhắc nhở chứ không gắn với hậu quả pháp lý (không quy kết trách nhiệm pháp lý)

- Giám sát tư pháp gắn với hậu quả pháp lý Ví dụ: việc cơ quan giám sát Hiến pháp tuyên bố một văn bản quy phạm pháp luật không phù hợp với Hiến pháp

sẽ dẫn đến việc chấm dứt hiệu lực pháp lý của văn bản đó Thông thường quyền giám sát Hiến pháp mang tính chất tư pháp

Căn cứ vào cơ sở phát sinh thẩm quyền của cơ quan giám sát Hiến pháp:

giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát bắt buộc và giám sát không bắt buộc

- Giám sát bắt buộc được nói đến trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật buộc phải được cơ quan giám sát Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến trước khi ban hành (trước khi có hiệu lực)

- Giám sát không bắt buộc là hoạt động giám sát của cơ quan bảo hiến thực hiện theo yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền Đa số các trường hợp giám sát Hiến pháp là giám sát không bắt buộc

Căn cứ vào đối tượng: quyền giám sát Hiến pháp được chia thành giám sát

Trang 20

Căn cứ vào nội dung của hoạt động giám sát Hiến pháp: giám sát Hiến

pháp được chia thành giám sát hình thức và giám sát nội dung

- Giám sát hình thức là hoạt động kiểm tra việc tuân thủ những yêu cầu, điều kiện của Hiến pháp đối với văn bản quy phạm pháp luật, tức là kiểm tra văn bản đó

có phải do cơ quan có thẩm quyền ban hành hay không, và việc ban hành có tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục hay không

- Giám sát nội dung là hoạt động kiểm tra nội dung của văn bản hay quy phạm pháp luật có phù hợp với quy định của Hiến pháp hay không

Căn cứ vào hiệu lực theo thời gian (hiệu lực hồi tố): giám sát Hiến pháp

được chia thành giám sát Hiến pháp có hiệu lực hồi tố và giám sát Hiến pháp không

có hiệu lực hồi tố

- Giám sát Hiến pháp có hiệu lực hồi tố nghĩa là văn bản hay quy phạm pháp luật bị tuyên bố vi hiến sẽ bị coi là không có hiệu lực kể thời điểm ban hành Như vậy các mối quan hệ pháp luật phát sinh hay hình thành trên cơ sở văn bản hay quy phạm đó sẽ bị bãi bỏ, quay trở lại nguyên trạng như trước khi ban hành văn bản hay quy phạm đó Các cơ quan Nhà nước hữu quan phải bồi thường thiệt hại do việc ban hành văn bản hay quy phạm đó gây ra Việc áp dụng như vậy sẽ gây ra nhiều phiền toái, nhiều khi vượt ra ngoài khả năng của các cơ quan hữu quan, nhất là trong trường hợp văn bản hay quy phạm đã có hiệu lực trong một thời gian tương đối dài

- Giám sát Hiến pháp không có hiệu lực hồi tố nghĩa là văn bản quy phạm pháp luật bị tuyên bố vi hiến chỉ có hiệu lực đối với tương lai Điều này có nghĩa là các quan hệ xã hội đã được phát sinh hay thiết lập trên cơ sở của văn bản hay quy phạm vẫn có hiệu lực Kể từ ngày tuyên bố về tính không hợp hiến của văn bản hay quy phạm thì những quan hệ đó không được thiết lập nữa 24

24 Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở

nước ta hiện nay, Nxb Công an Nhân dân, 2003, tr 564 – 567

Trang 21

1.4 Chủ thể và đối tƣợng giám sát Hiến pháp

1.4.1 Chủ thể giám sát Hiến pháp

Thời kì đầu của nền lập hiến thế giới, người ta quan niệm cơ quan dân cử ở vào vị thế thuận lợi nhất để bảo vệ Hiến pháp Do đó, ý tưởng trao quyền giám sát Hiến pháp cho cơ quan chính trị được hình thành Thông thường, chủ thể có thẩm quyền giám sát Hiến pháp là cơ quan lập hiến Theo đó, thẩm quyền giám sát Hiến pháp có thể được trao cho một hội nghị dân cử, một Ủy ban của Quốc hội hoặc một trong hai viện Quốc hội Đến nay, vẫn có một số nước theo mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp đồng thời là cơ quan lập hiến như Việt Nam, Cu ba, Lào, Trung Quốc

Tuy nhiên, những lập luận về trao thẩm quyền giám sát Hiến pháp cho một

cơ quan chính trị dân cử đã sớm trở nên lỗi thời và con đường giám sát Hiến pháp bằng cơ quan chính trị đã không được áp dụng phổ biến trên thế giới Lý luận Hiến pháp học phân tích rằng cơ quan chính trị có khuynh hướng nghiên cứu vấn đề trên phương diện chính trị nhiều hơn là pháp lý Mà kiểm soát tính hợp hiến lại là một hành vi hoàn toàn pháp lý Lập pháp và hành pháp là hai nhánh quyền lực đại diện cho công quyền, có quyền lực mạnh, có nguy cơ lạm quyền và vi phạm Hiến pháp cao Lập pháp có quyền ấn định cách hành xử của cả xã hội còn hành pháp hàng

ngày, hàng giờ tác động vào đời sống con người Hamilton cho rằng: “Ngành hành

pháp không những có quyền phân phối các vinh dự mà lại có quyền sử dụng vũ lực Ngành lập pháp không những kiểm soát tài chính mà lại còn có quyền quy định các luật lệ chi phối sự sinh hoạt của các công dân” 25 Trong khi đó, tư pháp lại là một

nhánh quyền lực yếu hơn: “Ngành tư pháp không có quyền sử dụng vũ lực hoặc

quyền kiểm soát tài chính, không có quyền chi phối tài sản lẫn sức mạnh của xã hội,

và cũng không có một quyền quyết định tích cực nào cả Có thể nói được rằng là ngành tư pháp vừa không có lực lượng lại vừa không có ý chí, mà chỉ có trí phán đoán mà thôi, và cần phải dựa trên sự trợ tá của ngành hành pháp mới có thể thi

25 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 12

Trang 22

hành được quyết định của trí phán đoán của mình” 26 Do đó, tư pháp không những

là ngành quyền lực ít có nguy cơ lạm quyền, ít nguy hiểm đối với các quyền hiến định của công dân mà còn là một ngành quyền lực được tạo ra nhằm để giải quyết giải quyết các khiếu nại của công dân khi các quyền hiến định của công dân bị chính quyền vi phạm 27 Vậy nên, về phổ biến, cơ quan giám sát Hiến pháp là một

cơ quan tư pháp Chủ thể giám sát Hiến pháp ở mô hình của Mỹ là Tòa án thường;

ở mô hình của châu Âu là một Tòa án chuyên biệt thường được gọi là Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng bảo hiến; ở mô hình hỗn hợp cả Tòa án thường và Tòa án Hiến pháp đều là những cơ quan giám sát Hiến pháp

1.4.2 Đối tượng giám sát Hiến pháp

Đối tượng giám sát Hiến pháp bao gồm hai nhóm đối tượng là các văn bản

có giá trị thấp hơn Hiến pháp và hành vi của các cá nhân có vai trò chủ chốt trong

bộ máy nhà nước

Đối tượng đầu tiên của hoạt động giám sát Hiến pháp là các văn bản có giá

trị thấp hơn Hiến pháp Thứ nhất phải kể đến là các văn bản quy phạm pháp luật

Tất cả các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước cũng như các cá nhân giữ chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước ban hành đều phải tuân thủ theo các quy định của Hiến pháp Ngay cả những văn bản quy phạm pháp luật do Nghị viện (Quốc hội) ban hành cũng là đối tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp Có thể nói, trong các đối tượng của giám sát Hiến pháp thì giám sát tính hợp hiến của các đạo luật là cơ bản và quan trọng nhất Như nhà Hiến pháp học người Pháp

L.Favorue đã từng viết: “Không thể có hoạt động bảo hiến nếu không có thẩm

quyền cơ bản là quyền giám sát tính hợp hiến của các đạo luật” 28 Một trường hợp đặc biệt là nếu đạo luật được thông qua bởi trưng cầu ý dân thì không đặt ra việc kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của đạo luật ấy Bởi lẽ trưng cầu ý dân là hình thức

cao nhất thể hiện quyền lực của nhân dân, thể hiện chủ quyền của nhân dân Thứ

Trang 23

hai, tại nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha quy chế của Nghị viện cũng là đối

tượng của hoạt động giám sát Hiến pháp Giám sát Hiến pháp đối với quy chế của Nghị viện là giới hạn quyền hạn của Nghị viện trong việc chủ động quyết định những vấn đề tổ chức và hoạt động của mình Sự giám sát như vậy lại có tác dụng đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp của Nghị viện khi quyết định những vấn đề đó, đồng thời bảo đảm các quyền của Nghị viện nói chung và từng thành viên nói riêng

Thứ ba, điều ước quốc tế cũng là được coi là văn bản có giá trị thấp hơn Hiến pháp,

thuộc đối tượng của giám sát Hiến pháp Theo quy tắc chung, đối tượng của giám sát Hiến pháp không phải là các điều ước quốc tế đã được phê chuẩn mà là những

dự thảo của chúng Trong trường hợp, điều ước quốc tế mâu thuẫn với chính bản thân Hiến pháp thì hầu hết các quốc gia đưa ra giải pháp chỉ ký kết điều ước quốc tế sau khi Hiến pháp đã sửa đổi Ví dụ: Điều 95 Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1978

quy định: “Việc ký kết điều ước quốc tế bao gồm điều khoản trái với Hiến pháp này

chỉ được tiến hành sau khi sửa đổi Hiến pháp Chính phủ hay một trong hai viện của Nghị viện có thể yêu cầu Tòa án bảo hiến quyết định có sự mâu thuẫn giữa Hiến pháp với điều ước quốc tế hay không” Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hòa

Pháp quy định: “Trong trường hợp Hội đồng bảo hiến, theo đề nghị của Tổng thống

Cộng hòa hoặc của Thủ tướng Chính phủ hay một trong hai viện của Nghị viện, tuyên bố rằng điều ước quốc tế bao hàm những điều khoản trái với Hiến pháp, thì việc quyết định đưa điều ước quốc tế đó ra phê chuẩn hay phê duyệt chỉ được tiến hành sau việc sửa đổi Hiến pháp”

Bên cạnh đó, hành vi của những cá nhân giữ vai trò chủ chốt trong bộ máy nhà nước cũng là đối tượng của giám sát Hiến pháp Những người này có thể là Tổng thống, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước tùy thuộc vào quy định của mỗi quốc gia Việc xác định hành vi vi hiến của các cá nhân nêu trên có thể dẫn đến sự phế truất những người đó ra khỏi chức vụ đang đảm nhận Thủ tục để xem xét tính hợp hiến hành vi của các quan chức nhà nước giống như thủ tục Impeachment – thủ tục luận tội của Hoa Kỳ Tuy nhiên, cơ sở của thủ tục luận tội Impeachment không nhất thiết là hành vi không hợp hiến

Trang 24

1.5 Các mô hình giám sát Hiến pháp trên thế giới

Xét về góc độ lịch sử, sự phổ biến và hiệu quả tác động thì hiện nay trên thế giới có bốn mô hình giám sát Hiến pháp chính là: mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung, mô hình giám sát Hiến pháp tập trung, mô hình giám sát Hiến pháp hỗn hợp và mô hình cơ quan giám sát Hiến pháp đồng thời là cơ quan lập hiến

1.5.1 Mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung (Decetrallised constitutional control)

Chủ thể giám sát Hiến pháp

Trong mô hình này, thẩm quyền giám sát Hiến pháp được giao cho các Tòa

án có thẩm quyền chung thực hiện Hình thức này có hai dạng

Thứ nhất, ở một số nước giám sát Hiến pháp do tất cả các Tòa án có thẩm

quyền chung thực hiện (ví dụ như Mỹ, Nhật Bản, Phillippin, các nước Bắc Âu) Bất

kì Tòa án nào cũng có thể phán quyết về tính hợp hiến của văn bản pháp luật Tuy nhiên phán quyết của Tòa án cao cấp nhất thường có ưu thế hơn vì chỉ những phán quyết đó mới có tính ràng buộc đối với mọi Tòa án khác Hình thức giám sát Hiến pháp do tất cả các tòa có thẩm quyền chung thực hiện được gọi là giám sát Hiến pháp phi tập trung (Decetrallised constitutional control)

Thứ hai, ở một số nước như Gana, Namibia, Papua – New Gvineia, Srilanca,

Estonia giám sát Hiến pháp được trao cho Tòa án cấp cao nhất thực hiện Ở một

số nước liên bang, bên cạnh Tòa án cấp cao nhất của quốc gia thì Tòa án cấp cao nhất của các chủ thể liên bang cũng có quyền giám sát Hiến pháp (nhưng thông thường chỉ liên quan đến pháp luật địa phương, ví dụ như ở Canada – các Tòa cao nhất ở các tỉnh, ở Ấn Độ - các Tòa án tối cao của tiểu bang) Tuy nhiên, tại các nước này, Tòa án tối cao liên bang là Tòa án cấp chung thẩm khi giải quyết một vấn

đề về tính hợp hiến của luật Mặc dù vậy, có thể nói ở đó có mức độ phi tập trung hóa nhất định vì Tòa án thường vẫn đồng thời là cơ quan bảo hiến Tóm lại, ở cả hai dạng trên vai trò quyết định đều thuộc về cấp Tòa án cao nhất (gọi chung là Tòa án tối cao) với cơ cấu tổ chức do Hiến pháp quy định

Trang 25

Thành phần của Tòa án tối cao có số lượng không lớn và dao động từ 7 đến

20 thẩm phán Các thành viên của Tòa án tối cao là những thẩm phán chuyên nghiệp, có thâm niên làm việc lâu năm trong các cơ quan Tòa án hoặc trong ngành luật sư Nhìn chung, vai trò quyết định trong việc thành lập Tòa án tối cao đều thuộc

về nguyên thủ quốc gia hoặc Chính phủ Ở phần lớn các nước này, thẩm phán tối cao có nhiệm kì cho đến độ tuổi nhất định (thường là 65 – 70 tuổi) nhưng ở Mỹ thẩm phán Tòa án tối cao được bổ nhiệm suốt đời Thẩm phán Tòa án tối cao chỉ bị

bãi miễn trong trường hợp theo luật định nhưng thường là do nguyên nhân “sự bất

lực về trí tuệ hoặc thể chất” Hiến pháp các nước thường quy định trình tự phế truất

phức tạp đối với thẩm phán tối cao ví dụ như: một số nước theo thủ tục luận tội; một số nước theo quyết định của đa số tuyệt đối trong Nghị viện; một số nước khác thì lập một ủy ban điều tra đặc biệt và trên cơ sở của kết luận của ủy ban, nguyên thủ quốc gia sẽ đưa ra quyết định

Thẩm quyền

Thứ nhất, thẩm quyền cơ bản, quan trọng hàng đầu của các Tòa án được

trao cho chức năng giám sát Hiến pháp là xem xét tính hợp hiến của các văn bản pháp luật Mặc dù, quyền tài phán thuộc về tất cả các Tòa án tuy nhiên phán quyết của Tòa án tối cao sẽ có hiệu lực cao nhất, buộc các Tòa án cấp dưới phải tuân theo

Ví dụ như ở Mỹ, năm 1850, trên cơ sở tiền lệ của vụ án Marbury chống Madison, căn cứ vào quy định của Hiến pháp, Tòa án tối cao Mỹ đã tuyên bố bác bỏ những biểu quyết của Quốc hội nhằm duy trì chế độ nô lệ cho miền Nam Trong giai đoạn

từ năm 1861 – 1937, Tòa án Tối cao Mỹ đã tiếp tục làm vô hiệu hóa 72 đạo luật của Quốc hội và hàng trăm luật khác của các tiểu bang Tính tối cao của Hiến pháp Mỹ được bảo vệ ngay trong cả giai đoạn nước Mỹ tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Một số văn bản trong thời kỳ này mâu thuẫn với Hiến pháp cũng bị Tòa án tối cao Mỹ tuyên bố là vi hiến như Luật phục hồi công nghiệp quốc gia, Luật điều chỉnh nông nghiệp và nhiều dự án luật khác trong chương trình cả gói do F D Rossevelt khởi xướng 29

29 Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb Thống kê, 2001, tr.42

Trang 26

Thứ hai, các Tòa án có thẩm quyền giải thích Hiến pháp và các đạo luật

Thông thường, ở các quốc gia theo mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung hệ thống án lệ là nguồn luật chủ yếu có vai trò vô cùng đặc biệt Trong quá trình xét

xử, việc các thẩm phán thường tiến hành giải thích pháp luật đã thể hiện thẩm quyền của cơ quan tư pháp trong việc bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp, nhằm bảo đảm cho tinh thần Hiến pháp được thể hiện và áp dụng đúng đắn trong các văn bản pháp luật cũng như trong từng trường hợp cụ thể Chánh án Marshall trong vụ án Mabury chống Madison đã đưa ra lời tuyên bố được xem như khuôn vàng thước ngọc cho

nhiệm vụ giải thích pháp luật của tư pháp: “Thẩm quyền và nhiệm vụ minh bạch của

ngành tư pháp là giải thích luật pháp Tòa án áp dụng luật vào những trường hợp riêng biệt nên phải minh giải pháp luật Nếu hai luật chống nhau, Tòa án phải ấn định cách thi hành một luật Nếu thông luật ngược với hiến luật, nếu cả thông luật

và hiến luật cùng được áp dụng cho một trường hợp nhất định, Tòa án phải phán quyết là nên theo thông luật hay hiến luật Đó là nhiệm vụ của tư pháp Giả sử Hiến pháp được kính trọng hơn thông luật của ngành lập pháp thì hiến luật sẽ được áp dụng” 30 Ví dụ điển hình là trong vụ Gibbons kiện Ogden, Tòa án tối cao Mỹ đã

giải thích quy định của Hiến pháp trao cho Quốc hội Mỹ quyền “điều tiết thương

mại giữa một số bang ” như sau: “Bản thân thuật ngữ “điều tiết” đã ám chỉ đầy

đủ quyền lực đối với sự vật được điều tiết Nó không bao hàm hoạt động điều tiết của tất cả những chủ thể khác đối với cùng sự vật” 31 Chính giải thích này của Tòa

án đã hạn chế các bang trong việc duy trì kiểm soát đối với các vấn đề kinh tế

Thứ ba, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống pháp lý của các

quốc gia mà các Tòa án có chức năng giám sát Hiến pháp còn có các thẩm quyền khác Ví dụ như ở Mỹ, Tòa án không chỉ xem xét và tuyên bố một đạo luật nào đó

do Quốc hội ban hành là vi hiến mà còn có quyền xem xét và tuyên bố bất kì một quyết định nào đó của Tổng thống và Chính phủ là vi hiến Năm 1952, Tòa án tối cao liên bang đã tuyên bố rằng việc Tổng thống Truman ra lệnh trưng dụng ngành

30 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 110 – 111

31 Tạp chí điện tử của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 4 năm 2005

Trang 27

công nghiệp thép là vi hiến vì đã vượt quá thẩm quyền mà Hiến pháp quy định Tòa

án tối cao cũng đã xem xét hành động trái Hiến pháp của Tổng thống Nixon khi ông này quyết định sử dụng trái mục đích những khoản tiền mà Quốc hội đã phân bổ để chi dùng cho việc ban hành các đạo luật đặc biệt Đặc biệt, qua vụ án Watergate năm 1974, vai trò của Tòa án tối cao càng được khẳng định mạnh mẽ khi Tòa án ra quyết định buộc Tổng thống Nixon phải nộp các tài liệu liên quan đến vụ án Watergate mặc dù Nixon đã dùng chiêu bài cuối cùng là đặc quyền của Tổng thống trong việc giữ bí mật các tài liệu của mình theo quy định tại Chương II Hiến pháp Chính quyết định này của Tòa án tối cao đã mở đường cho Nghị viện với thủ tục luận tội (Impeachment) cách chức các Tổng thống trước hạn Tòa án cũng có thẩm quyền ban hành các bản án, quyết định chống lại các cơ quan hành pháp khi họ vi phạm pháp luật Năm 1971, Tòa án tối cao liên bang đã xác nhận quyền của tờ báo

“New York Time” được quyền xuất bản những bản báo cáo của Lầu Năm Góc của

Daniel Ellsburg, nhân viên của Bộ Quốc phòng, bất chấp sự phản đối của Chính phủ

Mỹ 32

Trình tự, thủ tục

Xuất phát từ quan niệm coi kiểm tra tư pháp là hoạt động bình thường của Tòa án nên việc nghi ngờ tính hợp hiến của một đạo luật chỉ được đặt ra khi có khiếu kiện và không có thủ tục đặc biệt nào để xem xét tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật hoặc giải quyết những vụ việc liên quan đến Hiến pháp Ví

dụ như ở Mỹ, việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản luật và giải quyết những vấn đề liên quan đến Hiến pháp được thực hiện theo thủ tục thông thường Trong khi xét xử một vụ việc cụ thể, nếu vấn đề xem xét tính hợp hiến của các đạo luật được đặt ra và Tòa án cho rằng đạo luật được áp dụng có dấu hiệu trái với Hiến pháp thì theo yêu cầu của các bên liên quan hoặc Tòa án tự mình đệ đơn lên Tòa án tối cao yêu cầu kiểm tra tính hợp hiến của đạo luật đó Như vậy, việc giám sát tính hợp hiến của các đạo luật được thực hiện ngay trong quá trình thực hiện thủ tục

32 Đào Trí Úc – Nguyễn Như Phát (chủ biên), Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến

pháp ở Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 2007, tr.76 – 77

Trang 28

thông thường tại Tòa án Trong phán quyết của Tòa án thường có thêm phần nhận định, đánh giá về tính hợp hiến của đạo luật mà Tòa án cho là vi hiến và không thể được áp dụng để xem xét vụ việc mà Tòa án đang áp dụng Phán quyết của Tòa án tối cao có giá trị pháp lý cao nhất và có tính hướng dẫn cho tất cả các Tòa án khi xem xét những vụ việc tương tự

Việc áp dụng theo thủ tục tố tụng thông thường sẽ giúp các nguyên tắc tiến

bộ trong thủ tục tố tụng được áp dụng trong quá trình giải quyết những vụ việc liên quan đến vi phạm Hiến pháp Tuy nhiên, hạn chế của việc áp dụng thủ tục tố tụng thông thường là khiến cho thời gian giải quyết các vụ việc vi hiến sẽ kéo dài Bên cạnh đó, khi các thủ tục tố tụng thông thường như tố tụng dân sự, tố tụng hình sự thay đổi sẽ khiến thủ tục giải quyết các vụ việc liên quan đến giám sát Hiến pháp cũng thay đổi theo Sự thay đổi này có thể dẫn đến tình trạng Nghị viện có thể tiến hành thay đổi luật tố tụng gây ảnh hưởng đến hoạt động giám sát Hiến pháp

Hệ quả pháp lý và giá trị của phán quyết

Hệ quả pháp lý khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến là đạo luật đó không còn giá trị áp dụng Tuy nhiên, Tòa án không có thẩm quyền hủy bỏ hay tuyên bố đạo luật đó là vô hiệu mà Tòa án chỉ có quyền không áp dụng đạo luật đó trên thực

tế Như vậy, về hình thức đạo luật vẫn còn hiệu lực nhưng thực tế không được áp dụng nữa Các cơ quan hành pháp cũng không thể đưa văn bản vi hiến đó áp dụng vào cuộc sống, bởi lẽ không được Tòa án công nhận Do đó, Nghị viện thường phải bãi bỏ hoặc thay thế các văn bản đó vì trên thực tế nó không còn giá trị pháp lý nữa

Theo mô hình này, phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến thường chỉ có hiệu lực bắt buộc đối với các bên liên quan đến vụ việc và đối với các vụ việc tương

tự Điều này xuất phát từ quan niệm một đạo luật vi hiến không chỉ gây thiệt hại cho một trường hợp cụ thể mà còn có thể ảnh hưởng đến các chủ thể khác và trong những trường hợp khác tương tự cũng như có khả năng phá vỡ trật tự pháp luật của quốc gia Tuy nhiên, về mặt thứ bậc, phán quyết của Tòa án cấp trên thường có tính chất tiền lệ và có hiệu lực bắt buộc đối với Tòa án cấp dưới; phán quyết của Tòa án tối cao có hiệu lực bắt buộc đối với Tòa án các cấp Do đó, phán quyết của Tòa án

Trang 29

cấp dưới có thể không được công nhận và bị Tòa án cấp trên sửa đổi hoặc hủy bỏ Tuy nhiên, thực tiễn xét xử của Tòa án Tối cao Mỹ trong nhiều năm qua cho thấy cơ quan này thường xuyên không tuân thủ án lệ trong việc xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Nếu các thẩm phán nhận thấy phán quyết trong quá khứ không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại thì họ sẽ đưa ra những lập luận để từ chối áp dụng

án lệ Ví dụ như ở Mỹ, thẩm phán xét xử trong vụ Linkletter chống Walker (1965)

đã khẳng định: “Chúng ta tin rằng Hiến pháp không cấm cũng không yêu cầu áp

dụng nguyên tắc án lệ Do đó, để xem giả thuyết đó được chấp nhận theo hướng là chúng ta không bị bắt buộc áp dụng nguyên tắc án lệ, chúng ta phải chú ý tới những giá trị và sai lầm trong từng vụ việc bằng cách nhìn vào lịch sử cụ thể của từng vấn

đề, mục đích và ảnh hưởng của nó” 33

Các đặc điểm của mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung

- Tất cả các Tòa án đều có thẩm quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Các Tòa án độc lập trong việc thực thi quyền giám sát Hiến pháp theo nguyên

tắc phân quyền Tuy nhiên, điều này cũng dễ dẫn đến tình trạng “Chính phủ của

những ông Tòa” tồn tại ở Mỹ từ năm 1880 đến năm 1940 và những hậu quả chính

trị tiêu cực khi Tòa án không những có quyền tuyên bố vi hiến những đạo luật trực

tiếp vi phạm Hiến pháp mà cả những điều khoản của Luật trái với “tinh thần” của

Hiến pháp Việc một điều khoản của luật trái với tinh thần của Hiến pháp đôi khi mang tính chủ quan của các thẩm phán Dựa vào ý chí của riêng mình, Tòa án có khả năng lấn át quyền lực của Quốc hội và Chính phủ Ví dụ điển hình là vào thời

thịnh hành chính sách “Tân kinh tế” của Tổng thống F B Rossevelt, các thẩm phán

Tối cao Mỹ đã lên án các đạo luật tiến bộ như đạo luật cấm làm việc đêm tại các lò nướng bánh, cấm làm việc quá giờ luật định Sau năm 1932, Tòa án tối cao đã ra các quyết định tuyên bố vi hiến các đạo luật về kinh tế xã hội mà chính các đạo luật này có ý nghĩa cứu vãn nền kinh tế ra khỏi cơn khủng hoảng và đình trệ 34

33 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 296

34 Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2006, tr 24

Trang 30

- Quyền giám sát Hiến pháp phải được thực hiện trong điều kiện của một vụ kiện tụng cụ thể, hình thức giám sát chủ yếu là giám sát sau Điều này xuất phát từ

triết lý của người Mỹ “chân lý luôn mang tính cụ thể” 35 Người Mỹ quan niệm rằng

nếu giao cho các Tòa án có thẩm quyền tài phán trừu tượng thì sẽ dẫn đến trường hợp cơ quan tư pháp can thiệp quá sâu vào hoạt động lập pháp của Nghị viện, khiến cho các Tòa án sẽ có khuynh hướng can thiệp nhiều vào hoạt động chính trị Hơn nữa, việc Tòa án thụ lý cả những vụ việc trừu tượng khi chưa có những sự kiện xảy

ra trên thực tế xâm phạm trực tiếp đến quyền lợi của bất cứ một đối tượng cụ thể nào sẽ có khả năng một thiểu số trong Nghị viện áp dụng điều này để cản trở Nghị viện ban hành đạo luật đã được đa số thông qua Bên cạnh đó, giám sát cụ thể cho phép Tòa án có khả năng bảo vệ các quyền con người, quyền công dân một cách linh hoạt và hữu hiệu nhất

- Tòa án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi sự vi hiến đó được chứng minh rõ ràng và không thể phủ nhận được Một đạo luật chỉ được xem xét trong điều kiện các thẩm phán thấy được sự bất hợp hiến đó một cách rõ ràng và Tòa án chỉ tuyên bố một đạo luật là vi hiến khi sự tuyên bố đó là cần thiết để giải quyết vụ

án Ở Mỹ, nếu việc bảo hiến không thực sự cần thiết đến mức làm thay đổi quyền và lợi ích của các bên hoặc nếu có thể có những phương án khác giải quyết yêu cầu của

họ thì Tòa án sẽ không đưa vấn đề bảo hiến ra xem xét Nguyên tắc này được chánh

án Mashall đưa ra trong vụ án Exparte Randolph (1833): “Nếu vấn đề xem xét tính

hợp hiến của một đạo luật trở nên cần thiết và không thể thiếu được thì Tòa án phải đáp ứng và quyết định Nhưng nếu vụ việc đó có thể được xác định theo một chiều hướng khác thì điều đó là không cần thiết” 36

- Khi một đạo luật bị tuyên bố là vi hiến thì nó vẫn có giá trị pháp lý về mặt hình thức nhưng không còn giá trị áp dụng Tuy nhiên, theo nguyên tắc án lệ, khi

35

Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 312

36 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 294 – 295

Trang 31

Tòa án tối cao tuyên bố một đạo luật là vi hiến thì phán quyết của Tòa án tối cao sẽ

có giá trị áp dụng đối với các vụ án tương tự sau này của Tòa án cấp dưới

- Phán quyết về tính hợp hiến thường chỉ có hiệu lực bắt buộc trong phạm vi các bên của vụ việc được giải quyết trừ những trường hợp được áp dụng theo nguyên tắc tiền lệ

- Phán quyết của Tòa án về tính hợp hiến của đạo luật không có hiệu lực pháp lý chung thẩm mà có thể bị xem xét lại bởi một Tòa án cấp trên

1.5.2 Mô hình giám sát Hiến pháp tập trung (Concentrated system)

Chủ thể giám sát

Những nước thuộc nhóm này có các Tòa án chuyên trách về hoạt động giám sát Hiến pháp gồm các Tòa Hiến pháp hoạt động với những hình thức tố tụng gần giống với các tòa có thẩm quyền chung (Bồ Đào Nha, Nga, Thổ Nhĩ Kì, Cộng hòa Séc ) và những cơ quan bán tư pháp như Hội đồng Hiến pháp (Pháp, Mozambic, Marocco, Kazakhstan), Ban Hiến pháp thuộc Tòa án tối cao (Costa Rica, Burkina Faso), Hội đồng điều tra giám sát Hiến pháp (Etiopia)

- Số lượng thành viên của các cơ quan giám sát Hiến pháp thường không lớn, dao động từ 6 đến 19 người tùy thuộc vào từng nước Hiến pháp của phần lớn các nước đều quy định về số lượng thành viên của các cơ quan đó Điều này rất có ý nghĩa vì nếu muốn thay đổi số lượng của các cơ quan giám sát Hiến pháp thì buộc phải sửa đổi Hiến pháp – điều không hề đơn giản Về trình tự thành lập và thành phần của các cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách có nhiều điểm khác Tòa án

có thẩm quyền chung Thứ nhất, thường có một vài nhánh quyền lực tham gia vào

việc hình thành các cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách Ví dụ như ở những nước như Áo, Nga, Pháp các cơ quan này được hình thành với sự tham gia của nhánh lập pháp và hành pháp hay ở những nước như Ý, Hàn Quốc, Tây Ban Nha các cơ quan nói trên lại được hình thành với sự tham gia của ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp Chính điều này đã đảm bảo cho sự độc lập của cơ quan giám sát Hiến pháp, tránh khả năng cơ quan này phụ thuộc quá nhiều vào một nhánh cũng như mang lại cho cơ quan này tính chất đại diện chính trị (vì có sự tham

Trang 32

gia của Nghị viện với thành phần chủ yếu là các đảng phái chính trị) Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ là cơ quan giám sát Hiến pháp do Nghị viện thành lập (ví dụ như ở

Đức) Thứ hai, thành viên của cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách được bổ

nhiệm hoặc bầu ra trong một nhiệm kì nhất định, tương đối ngắn (nhiều nhất là ở Nga – 12 năm) Các nước theo mô hình giám sát Hiến pháp tập trung có quan điểm rằng việc bổ nhiệm thẩm phán suốt đời sẽ cản trở sự thích ứng của các thẩm phán đối với những diễn biến trong đời sống chính trị, có thể dẫn đến mâu thuẫn Hiến pháp sâu sắc và khó giải quyết giữa chúng và các cơ quan quyền lực nhà nước khác Tuy nhiên, phương thức hình thành như vậy cũng tiềm ẩn khả năng làm mất sự độc lập của các cơ quan giám sát Hiến pháp, cũng như cơ quan này có khả năng bị lôi

kéo vào những cuộc đối đầu giữa các lực lượng chính trị Thứ ba, các cơ quan giám

sát Hiến pháp chuyên trách được thành lập rộng hơn về mặt nhân sự Ngoài những thẩm phán, thành viên của cơ quan này có thể là giảng viên luật có tiếng, công chức nhà nước, chính trị gia,

- Vị trí pháp lý của các thành viên cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách cũng không khác với của các thẩm phán Tòa án thường Đối với họ cũng có yêu cầu

về sự không kiêm nhiệm Bên cạnh đó, thành viên của cơ quan giám sát Hiến pháp không bị bãi miễn trong suốt thời gian họ được bổ nhiệm, trừ một số trường hợp luật định (ví dụ như từ chức tự nguyện, trong trường hợp mất năng lực hành vi hay

có những hành vi vi phạm kỉ luật ) Vị trí pháp lý của thành viên các cơ quan này cũng bảo đảm quyền bất khả xâm phạm

- Bổ nhiệm chánh án: Thông thường có hai phương thức để bổ nhiệm chánh

án cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách: một là, chánh án được các thành viên

của cơ quan này bầu ra từ các thành viên nhằm bảo đảm sự độc lập của cơ quan

giám sát Hiến pháp; hai là, nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm chánh án mà không cần

sự tham khảo ý kiến hay sự thỏa thuận với một cơ quan quyền lực nhà nước nào khác, kể cả với cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách (ví dụ như Pháp) Ngoài

ra, còn có một số phương án khác như: ở Đức, chánh án do Nghị viện bầu ra; ở Áo, chánh án do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Chính phủ

Trang 33

- Cơ cấu tổ chức: Hầu hết ở các nước, cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách đều có tổ chức đơn giản, thường chỉ bao gồm bộ máy hành chính mà không có

cơ quan nào khác Những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan này thông thường được toàn bộ thành viên xem xét trong phiên họp chung (chỉ cần có số lượng thành viên hợp lệ) Tuy nhiên, ở một số nước (ví dụ như Áo), luật pháp quy định những

vụ việc nhất định do một hội đồng hẹp hơn xét xử Các phiên xét xử công khai, toàn thể được dành cho những vụ việc có ý nghĩa chính trị đặc biệt

Thẩm quyền

- Thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp: Phạm vi thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp rộng hay hẹp phụ thuộc vào những điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội và quan điểm lập pháp của từng nước Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp ở các nước đều có các thẩm quyền chung Thẩm quyền đầu tiên, thẩm quyền cơ bản của bất cứ Tòa án Hiến pháp nào cũng như các thiết chế bảo hiến khác chính là giám sát tính hợp hiến của các đạo luật, điều ước quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật khác Việc giám sát tính hợp hiến của các đạo luật có thể theo hình thức giám sát trước hoặc giám sát sau Trên thực tế, Tòa án Hiến pháp không tự mình quyết định việc xem xét tính hợp hiến mà phải thông qua yêu cầu của các chủ thể do Hiến pháp quy định Về thẩm quyền giám sát trước, thông thường Tòa án được quyền giám sát trước đối với các điều ước quốc tế (như Nga, Đức, Hunggari ) và ở một số ít quốc gia (như Hunggari, Italia, Ba Lan, Thái Lan ) Tòa án Hiến pháp cũng có quyền giám sát trước đối với các đạo luật Tòa án thực hiện quyền giám sát trước các đạo luật và các điều ước quốc tế theo yêu cầu của Nghị viện, nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, một số lượng nghị sĩ nhất định, Tòa án tối cao, cơ quan lập pháp hoặc hành pháp của các bang Quyền yêu cầu này được thực hiện trong thời gian đạo luật đã được thông qua nhưng chưa được người đứng đầu nhà nước kí công bố Căn cứ vào mức

độ vi phạm của Hiến pháp mà Tòa án Hiến pháp tuyên bố toàn bộ hay một phần đạo luật đó là vi hiến, theo đó đạo luật không thể được công bố Và ngược lại, nếu Tòa

án cho rằng đạo luật hoàn toàn phù hợp thì nguyên thủ quốc gia phải công bố đạo luật đó theo đúng quy định Thẩm quyền giám sát sau được các nước trao cho hầu

Trang 34

hết các Tòa án Hiến pháp Đối tượng của giám sát sau chính là các đạo luật, các văn bản quy phạm pháp luật đã có hiệu lực thi hành và đang còn hiệu lực Tuy nhiên, nếu đạo luật được thông qua bằng trưng cầu ý dân thì về nguyên tắc không thể bị Tòa án Hiến pháp xem xét lại Bên cạnh đó, Tòa án Hiến pháp còn có thẩm quyền giải thích Hiến pháp; giải quyết khiếu kiện đối với các văn bản, hành vi vi phạm Hiến pháp của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền; giải quyết tranh chấp

về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước thuộc các nhánh quyền lực khác nhau, giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương, giữa chính quyền liên bang với chính quyền bang, giữa chính quyền các bang với nhau; giải quyết tranh chấp trong các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân; xem xét các vấn đề liên quan đến việc miễn nhiệm nghị sĩ và cách chức các các quan chức; tham gia vào việc luận tội các quan chức cao cấp; phán quyết tính hợp hiến trong mục đích và hoạt động của đảng chính trị, giải tán đảng chính trị

- Thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến: Nhìn chung, thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến nhiều nước tương tự như thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến của Pháp Thẩm quyền quan trọng trước nhất của Hội đồng bảo hiến Pháp là giải thích Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của các đạo luật Việc giải thích Hiến pháp mang tính chính thức và bắt buộc đối với mọi cơ quan (lập pháp, hành pháp, tư pháp), tổ chức, cá nhân và chính Hội đồng bảo hiến Tuy nhiên, thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến hẹp hơn so với Tòa án Hiến pháp Hội đồng bảo hiến chủ yếu tập trung vào hoạt động giám sát trước, giám sát các cuộc bầu cử và trưng cầu ý dân Giám sát trước luôn là hoạt động giám sát trừu tượng, giám sát về nội dung và sự phù hợp với Hiến pháp Đối tượng giám sát Hiến pháp là các đạo luật đã được thông qua, đang trong thời gian chờ công bố và các điều ước quốc tế đang trong thời gian chờ kí kết hoặc phê chuẩn Hội đồng bảo hiến thường không có quyền tự mình giám sát mà quyền này được thực hiện trên cơ sở của các chủ thể do Hiến pháp quy định như nguyên thủ quốc gia, Chính phủ, Chủ tịch Nghị viện, một số nghị sĩ nhất định Bên

cạnh đó, Hội đồng bảo hiến còn có các thẩm quyền như: một là, giải quyết tranh chấp về bầu cử và trưng cầu ý dân Hai là, tư vấn trong quá trình thiết lập vị trí

Trang 35

Tổng thống khi Tổng thống đương nhiệm không thực thi được nhiệm vụ của mình, đưa ý kiến tư vấn chính thức theo đề nghị của Tổng thống khi cần ban bố tình trạng khẩn cấp trên toàn quốc cũng như tư vấn cho Chính phủ về việc ban hành các văn bản, quyết định trong việc tổ chức bầu cử Tổng thống và trưng cầu ý dân theo yêu

cầu của Chính phủ Ba là, giám sát Hiến pháp trong việc giải quyết tranh chấp về việc ban hành văn bản giữa Nghị viện và Chính phủ Bốn là giám sát Hiến pháp về

vấn đề quyền con người Tuy nhiên, tùy thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, truyền thống lập pháp của từng nước mà Hội đồng bảo hiến được giao những thẩm quyền nhất định Hiện nay, Hội đồng bảo hiến được coi là một mô hình hạn chế bởi cơ quan này chỉ có thẩm quyền giám sát trước, không được xem xét tính hợp hiến của các đạo luật đã có hiệu lực Xu thế chung của các nước là cần mở rộng thẩm quyền giám sát Hiến pháp cho Hội đồng bảo hiến, cụ thể là thêm đối tượng giám sát Hiến pháp bao gồm các đạo luật đã có hiệu lực, mở rộng quyền giám sát cụ thể và thẩm quyền giải quyết khiếu kiện Hiến pháp

Trình tự, thủ tục

- Tòa án Hiến pháp: Cơ quan này thực hiện thẩm quyền giám sát Hiến pháp của mình thông qua một thủ tục đặc biệt, khác với thủ tục giải quyết các vụ án thường khác Chính việc quy định những thủ tục đặc biệt trong việc nhận yêu cầu

khởi kiện giúp Tòa án Hiến pháp không trở thành “túi đựng” của mọi loại tranh

chấp trong xã hội, đồng thời vẫn bảo đảm được tính độc lập trong hoạt động xét xử Thông thường mỗi vụ việc liên quan đến giám sát Hiến pháp trải qua một quy trình gồm các bước: thụ lý, xem xét sơ bộ, quyết định (đưa ra phán quyết) Việc thụ lý các yêu cầu liên quan được giao cho Tổng thư kí, Chánh án Tòa án Hiến pháp, một Hội đồng nhỏ (Small Bench) gồm 3 đến 5 thẩm phán hoặc do chính Hội đồng toàn thể (Full Bench) quyết định Tiếp theo đó, Tòa án Hiến pháp sẽ xem xét sơ bộ thông qua việc kiểm tra quyền yêu cầu của chủ thể, sự phù hợp giữa yêu cầu với thẩm quyền xét xử của Tòa án Hiến pháp, cơ sở pháp lý của yêu cầu Sau khi thụ lý và xem xét sơ bộ, vụ việc được giao cho một Hội đồng nhỏ hoặc với sự chuẩn bị của Chánh án, vụ việc được trình Hội đồng có thẩm quyền xem xét tại phiên họp Việc

Trang 36

xét xử của Tòa án Hiến pháp được tiến hành thông qua hoạt động của Hội đồng xét

xử Tùy theo vụ việc đơn giản hay phức tạp mà mỗi nước quy định khác nhau về số lượng thẩm phán tham gia xét xử Các thẩm phán tham gia Hội đồng xét xử thảo luận và ra phán quyết theo nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số

- Hội đồng bảo hiến: Hội đồng bảo hiến tổ chức phiên họp để ra quyết định trên cơ sở đơn gửi đến Thành viên của Hội đồng bảo hiến làm việc tập thể và quyết định theo đa số Các phiên họp của Hội đồng bảo hiến được coi là hợp lệ khi có sự tham gia của đa số thành viên (thường là 2/3 số thành viên) Hội đồng bảo hiến thực hiện quyền giám sát Hiến pháp theo các trình tự, thủ tục khác nhau đối với từng loại

vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật Trình tự thủ tục làm việc có thể chia thành thủ tục xem xét tính hợp hiến của đạo luật, điều ước quốc tế, công bố kết quả bầu cử, trưng cầu ý dân Thủ tục cụ thể được quy định trong luật về tổ chức và hoạt động hoặc nội dung hoạt động của Hội đồng bảo hiến

Hệ quả pháp lý và hiệu lực của phán quyết

- Tòa án Hiến pháp: Quy trình xét xử, giải quyết một vụ việc tại Tòa án Hiến pháp được kết thúc bằng việc Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết dưới hình thức quyết định Tùy theo nội dung, tính chất của vụ việc và đối tượng được đưa ra xem xét, Tòa án Hiến pháp có thể xác định các hệ quả pháp lý khác nhau:

+ Về tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật: Trường hợp xét thấy văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi hiến thì Tòa án Hiến pháp có thể ban hành một trong các quyết định sau đây: thứ nhất, trực tiếp hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật; thứ hai, đình chỉ thi hành văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời

đề nghị cơ quan ban hành văn bản vi phạm Hiến pháp ra quyết định hủy bỏ Ngoài

ra, một số nước quy định trong trường hợp phát hiện ra đạo luật vi hiến, Tòa án Hiến pháp sẽ thông báo cho Nghị viện Nghị viện sẽ có một khoản thời gian để sửa đổi đạo luật vi hiến; hết thời gian này, các quy định của đạo luật bị tuyên vi hiến đương nhiên hết hiệu lực Hệ quả pháp lý trong quyết định của Tòa án Hiến pháp ở một số nước còn phụ thuộc vào thời điểm phát hiện có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp của văn bản pháp luật Trường hợp phát hiện ra văn bản quy phạm pháp luật có dấu

Trang 37

hiệu vi hiến khi văn bản đó chưa được ban hành hoặc đã đã kí kết ban hành nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì cơ quan đã ban hành văn bản phải sửa đổi hoặc hủy

bỏ văn bản đó trong một thời gian nhất định Hết thời hạn này, nếu văn bản không được sửa đổi hoặc hủy bỏ thì không còn hiệu lực Trường hợp phát hiện văn bản quy phạm pháp luật vi hiến khi văn bản đó đã có hiệu lực thì có nước quy định Tòa

án Hiến pháp không có quyền hủy bỏ, đình chỉ văn bản đó mà chỉ có quyền đề nghị nhưng cũng có nước trao thẩm quyền này cho Tòa án Hiến pháp Thời điểm đạo luật vi hiến bị coi là vô hiệu thông thường được các nước quy định là thời điểm Tòa

án Hiến pháp ra phán quyết về tính không hợp hiến của đạo luật Tuy nhiên, cũng

có một số ít các nước quy định văn bản này sẽ không có hiệu lực từ thời điểm ban hành

+ Về việc giải thích Hiến pháp: Đối tượng được xem xét ở đây chính là những quy định của Hiến pháp Tòa án Hiến pháp sẽ xác định phải hiểu một một quy định của Hiến pháp như thế nào là đúng và sự giải thích này sẽ có giá trị bắt buộc cho từng vụ kiện hoặc cho tất cả các vụ kiện tương tự

+ Về hành vi vi phạm Hiến pháp: Trong trường hợp có khiếu kiện về vấn đề này, Tòa án Hiến pháp có thể xem xét và đưa ra kết luận về sai phạm của công chức nhà nước; đề nghị xử lý kỷ luật với công chức vi phạm; đề nghị truy tố hình sự nếu

có hành vi vi phạm pháp luật hình sự; trong trường hợp cần thiết có thể đưa ra quyết định điều tra, khởi tố vụ án; kết luận về biện pháp chấn chỉnh các sai phạm của công chức nhà nước Ngoài ra, cá nhân có thể phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi hiến của mình gây ra

+ Về những tranh chấp về thẩm quyền: Quyết định của Tòa án Hiến pháp phải nêu rõ thẩm quyền thuộc về cơ quan nào và tuyên bố vô hiệu những văn bản vi phạm quy định về thẩm quyền đó

+ Về việc giám sát kết quả bầu cử, trưng cầu ý dân: Ở một số nước, Tòa án Hiến pháp có quyền tuyên bố về tính hợp hiến của cuộc trưng cầu ý dân cũng như giải quyết tranh chấp về bầu cử, giám sát quá trình bầu cử, đảm bảo cho cuộc bầu

cử được tiến hành một cách hợp pháp Quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành

Trang 38

ngay sau khi được công bố, có giá trị bắt buộc đối với mọi đối tượng và không được kháng cáo kháng nghị

- Hội đồng bảo hiến: Trường hợp Hội đồng bảo hiến tuyên bố một đạo luật bị xem xét có một hoặc một số điều khoản trái với Hiến pháp và các điều khoản này là phần không thể tách rời của đạo luật thì đạo luật vẫn có thể được công bố nhưng các điều khoản vi hiến sẽ bị loại trừ Trường hợp quy chế hoạt động của Nghị viện có khoản vi hiến thì Nghị viện phải sửa đổi bổ sung điều khoản vi hiến đó hoặc phải ban hành một quy chế mới để thay thế Trường hợp điều ước quốc tế có quy định trái với Hiến pháp thì việc gia nhập hoặc phê chuẩn điều ước quốc tế đó không thể được thực hiện cho đến khi Hiến pháp sửa đổi Trường hợp bầu cử Tổng thống, bầu

cử Nghị viện hay trưng cầu ý dân không hợp lệ thì phải tổ chức bầu cử lại theo quy định của pháp luật Quyết định của Hội đồng bảo hiến là quyết định chung thẩm, không thể bị xem xét hay xét xử lại bởi bất cứ cơ quan, tổ chức nào và có hiệu lực pháp lý bắt buộc đối với tất cả các bên có liên quan Quyết định của Hội đồng bảo hiến phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng bảo hiến, Tổng thư ký và các bên có liên quan Quyết định của Hội đồng bảo hiến sẽ được công bố và đăng trên công báo và thông báo cho các bên có liên quan Ngoài ra, trong một số trường hợp quyết định còn được gửi cho Tổng thống, Nghị viện và Chính phủ

Các đặc điểm của mô hình giám sát Hiến pháp tập trung

- Giám sát Hiến pháp theo mô hình bảo hiến tập trung là mô hình giám sát Hiến pháp chủ yếu thông qua thiết chế Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến

Về thẩm quyền, đây là cơ quan chuyên trách về giám sát Hiến pháp, là cơ quan duy nhất có thẩm quyền phán xử các vụ việc thuộc phạm vi giám sát Hiến pháp, đặc biệt

là thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật do Nghị viện ban hành Mặt khác, đây cũng là cơ quan được thành lập trên cơ sở Hiến pháp và chỉ được trao quyền giải quyết các vụ việc về giám sát Hiến pháp , không xét xử các vụ án thông thường về hình sự, dân sự cũng như không thực hiện các chức năng phúc thẩm, tái thẩm như Tòa án tối cao

Trang 39

- Giám sát Hiến pháp theo mô hình này không những là giám sát tư pháp cụ thể (Concrete judicial review) mà còn là giám sát trừu tượng (Abstract judicial review) vì vấn đề xem xét tính hợp hiến của một đạo luật có thể gắn liền với một vụ việc nào đó hoặc có thể đưa ra theo đề nghị của một tổ chức, cá nhân cơ thẩm quyền (bao gồm Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch thượng viện hoặc hạ viện, thanh tra Nghị viện, Chánh án Tòa án tối cao hoặc một số đại biểu Nghị viện nhất định)

- Giám sát Hiến pháp theo mô hình này bao gồm cả giám sát trước và giám sát sau Việc Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng bảo hiến có thể xem xét các đạo luật trước khi được ban bố sẽ củng cố thêm cho nguyên tắc thống nhất hệ thống pháp luật của các quốc gia này Giám sát trước cũng giúp cho các điều ước quốc tế đảm bảo tính hợp hiến trước khi được kí kết Tuy nhiên, giám sát trước cũng có những nhược điểm lớn vì khiến hoạt động của cơ quan giám sát Hiến pháp can thiệp quá sâu vào hoạt động lập pháp của Nghị viện Mô hình phòng hiến của Hội đồng bảo hiến Pháp nhiều khi đã tạo điều kiện cho phe thiểu số trong Nghị viện cản trở việc ban hành những đạo luật đã được đa số thông qua Cơ quan giám sát Hiến pháp này

bị biến thành một cơ quan chính trị, thành “một viện lập pháp thứ ba” 37

Hơn nữa,

Hội đồng bảo hiến Pháp chỉ thực hiện giám sát trước nên khi phát hiện những văn bản đã có hiệu lực pháp lý chứa những quy định không hợp hiến thì không có cách nào để hủy bỏ văn bản vi hiến đó

- Các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp hay Hội đồng bảo hiến được giải quyết theo một thủ tục đặc biệt, không giống với thủ tục áp dụng tại các tòa tư pháp Thủ tục được áp dụng tại các Tòa án tư pháp nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong vụ việc còn thủ tục được tiến hành tại Tòa án Hiến pháp nhằm hướng tới việc tuyên bố một văn bản, hành vi là phù hợp hay không phù hợp với Hiến pháp Việc quy định thủ tục đặc biệt cho hoạt động giám sát Hiến pháp có ý nghĩa bảo đảm sự ổn định lâu dài trong hoạt động bảo hiến, tránh trường hợp Nghị viện thay đổi những quy định trong luật tố tụng dân sự, hình sự

37 Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm

quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 315

Trang 40

dẫn đến sự thay đổi thủ tục giám sát Hiến pháp như ở mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung mắc phải Bên cạnh đó, thủ tục tố tụng đặc biệt cũng giúp giảm bớt áp lực chính trị do một vụ án Hiến pháp gây ra và bảo vệ tốt hơn sự độc lập của cơ quan bảo hiến

- Cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật Thẩm phán Hiến pháp phải là những người có trình độ uyên thâm, được lựa chọn và bổ nhiệm theo một trình tự đặc biệt

- Phán quyết của cơ quan này có hiệu lực chung thẩm, không thể bị kháng cáo hay xem xét lại bởi bất cứ cơ quan nào và có giá trị pháp lý bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước

So sánh mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung và tập trung

Sự khác biệt của mô hình giám sát Hiến pháp phi tập trung và mô hình giám sát Hiến pháp tập trung được thể hiện bằng bảng so sánh sau đây 38

- Thuộc nhánh quyền lực tư pháp

- Chỉ có cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách (Tòa án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến) có quyền giám sát Hiến pháp, các tòa khác thường chuyển các vấn

đề giám sát Hiến pháp đến các cơ quan giám sát Hiến pháp chuyên trách này

- Không thuộc nhánh quyền lực hành pháp, lập pháp và tư pháp

38 Dẫn theo “Vũ Văn Nhiêm - Nguyễn Mạnh Hùng - Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc

bảo đảm quyền con người, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012, tr 135 – 136”

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
15. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.II. Sách chuyên khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X", Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
16. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb. Công an Nhân dân, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
17. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và pháp luật thế giới
18. Đặng Văn Chiến (chủ biên), Cơ chế bảo hiến, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế bảo hiến
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
19. Lê Vinh Danh, Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1935 – 2001
Nhà XB: Nxb. Thống kê
20. Nguyễn Đăng Dung – Trương Đắc Linh – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang – Nguyễn Văn Trí, Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam , Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
21. Trần Ngọc Đường, Một số vấn đề về phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phân công phối hợp và kiểm soát quyền lực trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
22. Mongtesquieu Charles De Secondat, Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh thần pháp luật
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
23. Vũ Văn Nhiêm – Nguyễn Mạnh Hùng – Lưu Đức Quang, Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người
Nhà XB: Nxb. Giáo dục Việt Nam
24. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học
25. Bùi Ngọc Sơn, Bảo hiến ở Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiến ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
26. Bùi Ngọc Sơn, Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và nhà nước pháp quyền
Nhà XB: Nxb. Tư pháp
27. Bùi Ngọc Sơn, Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
28. Đào Trí Úc – Nguyễn Nhƣ Phát (chủ biên), Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam, Nxb. Công an Nhân dân, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài phán Hiến pháp và vấn đề xây dựng mô hình tài phán Hiến pháp ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
29. Đào Trí Úc – Võ Khánh Vinh (chủ biên), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay, Nxb. Công an Nhân dân, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb. Công an Nhân dân
30. William A Dergregorio, 42 đời tổng thống Hoa Kỳ, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.III. Tạp chí khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: 42 đời tổng thống Hoa Kỳ, "Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
41. Website Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh: http://phapluattp.vn/ Link
42. Website Đại sứ quan hợp chủng quốc Hòa Kỳ: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/vi/index.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w