1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí trong luật lao động việt nam

84 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế Độ Bảo Hiểm Xã Hội Hưu Trí Trong Luật Lao Động Việt Nam
Tác giả Đỗ Thị Ngọc Bích
Người hướng dẫn Th.S Đinh Thị Chiến
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật
Thể loại khóa luận cử nhân luật
Năm xuất bản 2006
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 908,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, trước các yêu cầu cấp thiết của công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật Bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng, công tác quản lý bảo hiểm hưu trí…, tá

Trang 1

ĐỖ THỊ NGỌC BÍCH

Đề tài:

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI HƯU TRÍ TRONG

LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM

KHÓA LUẬN CỬ NHÂN LUẬT NIÊN KHOÁ : 2001 - 2006

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

  

ể có thể hoàn thành khóa luận cử nhân Luật này, bên cạnh những nổ lực cố gắng của bản thân, tác giả còn nhận được sự giúp đỡ hết sức quý báu từ phía các Thầy cô và bạn bè Trước hết, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến tất cảThầy, Cô trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh – những người đã mang đến những kiến thức hết sức cần thiết cho mỗi cử nhân Luật trong tương lai, trong đó có tác giả Tác giả xin gửi lời cảm ơn và lòng tri ân sâu sắc đến Thạc sĩ Đinh Thị Chiến – giảng viên Khoa Luật Dân sự, người đã trực tiếp hướng dẫn tác giả hoàn thành khóa luận này Với những kiến thức và kinh nghiệm của mình, Cô đã giúp tác giả vượt qua những khó khăn ban đầu trong việc tiếp cận vấn đề, lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp Đó là sự giúp đỡ hết sức cần thiết và quý báu, mà nếu không có nó, tác giả sẽ khó lòng hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể các nhân viên thư viện Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh và các nhân viên thư viện Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh – những người đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho tác giả trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo để bổ sung cho những phần kiến thức còn khiếm khuyết; từ đó giúp tác giả hoàn thành khoá luận này Cuối cùng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người bạn của tác giả – những người đã giúp đỡ tác giả rất nhiều trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành

khóa luận Xin chân thành cảm ơn

Đ

Trang 3

Lời nói đầu

Chương 1: Khái quát về chế độ hưu trí

1.1 Khái niệm – Đặc điểm của chế độ hưu trí Trang 1 1.1.1 Khái niệm của chế độ hưu trí Trang 1 1.1.2 Đặc điểm của chế độ hưu trí Trang 3 1.2 Ý nghĩa của chế độ hưu trí Trang 5 1.3 Chế độ hưu trí của một số nước trên thế giới Trang 6 1.3.1 Chế độ hưu trí của một số nước trong khu vực Châu Á Trang 7

1.3.1.1 Chế độ hưu trí ở Nhật Bản Trang 7 1.3.1.2 Chế độ hưu trí ở Philippin Trang 9 1.3.2 Chế độ hưu trí ở một số nước Châu Âu Trang 10

1.3.2.1 Chế độ hưu trí ở Đức Trang 10 1.3.2.2 Chế độ hưu trí ở Anh Trang 11 1.4 Chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật Việt Nam Trang 12 1.4.1 Lịch sử phát triển của chế độ hưu trí Trang 12 1.4.2 Chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật hiện hành Trang 16

1.4.2.1 Đối tượng tham gia chế độ hưu trí Trang 16 1.4.2.2 Các điều kiện hưởng chế độ hưu trí Trang 19

 Điều kiện về tuổi đời Trang 19

 Điều kiện về thời gian đóng BHXH Trang 22 1.4.2.3 Mức đóng và mức trợ cấp Bảo hiểm hưu trí Trang 24

 Mức đóng Trang 24

 Mức trợ cấp hưu trí Trang 24 1.4.2.4 Độ dài thời gian hưởng trợ cấp hưu trí Trang 32

Chương 2: Thực trạng chế độ hưu trí ở nước ta – Một số kiến

nghị hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí

2.1 Thực trạng chế độ hưu trí ở nước ta Trang 33

Trang 4

2.1.1.2 Thực trạng chi trả trợ cấp hưu trí Trang 39

 Số người hưởng trợ cấp hưu trí ngày càng tăng Trang 39

 Công tác chi trả trợ cấp hưu trí Trang40 2.1.2 Thực trạng tài chính của chế độ hưu trí Trang42 2.1.2.1 Thực trạng thu Bảo hiểm xã hội hưu trí Trang 42 2.1.2.2 Công tác quản lý – bảo toàn và đầu tư tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội Trang 45

 Công tác quản lý quỹ Bảo hiểm xã hội Trang 45

 Công tác bảo toàn – đầu tư và tăng trưởng quỹ Bảo hiểm xã hội Trang 47 2.1.2.3 Thực trạng quỹ Bảo hiểm xã hội Trang 49 2.2 Một số giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế

độ hưu trí Trang 55 2.2.1 Các giải pháp nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ Trang 56 2.2.1.1 Tăng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ Trang 56 2.2.1.2 Giảm tối đa 5 tuổi đời cho một số đối tượng Trang 60 2.2.1.3 Tăng mức đóng Trang 61 2.2.2 Các giải pháp đảm bảo sự công bằng giữa những người

tham gia Bảo hiểm xã hội Trang 62 2.2.2.1 Tính lương bình quân cho người lao động giữa khu

vực Nhà nước và ngoài quốc doanh Trang 62 2.2.2.2 Những biện pháp xử lý đối với những doanh nghiệp

trốn, nợ Bảo hiểm xã hội Trang 63

Kết luận

Phụ lục

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 5

LỜI NÓI ĐẦU

  

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói rằng, sau tiền lương hoặc tiền công thì trợ cấp bảo hiểm xã hội được người lao động rất quan tâm, đặc biệt là vấn đề trợ cấp bảo hiểm xã hội cho chế độ hưu trí vì nó có ý nghĩa thiết thân đối với đời sống của họ khi bị mất thu nhập do tuổi già không còn khả năng lao động Chế độ hưu trí là chế độ đã được nhà nước quan tâm thực hiện nhưng một số các quy định của pháp luật về chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí trong thời điểm hiện nay vẫn còn bộc lộ nhiều nhược điểm cả trên bình diện lý luận cũng như thực tiễn, cả trong văn bản pháp luật cũng như tổ chức thực hiện Chính vì vậy, những nghiên cứu về chế độ bảo hiểm hưu trí là rất cấp thiết

Bảo hiểm hưu trí là một lĩnh vực rất phức tạp liên quan nhiều đến kinh tế – xã hội, chính trị của đất nước Do đó, vấn đề bảo hiểm hưu trí luôn luôn là vấn đề được quan tâm nhiều nhất khi nói đến Bảo hiểm xã hội của hầu hết các quốc gia trên thế giới Bảo hiểm xã hội đã được thực hiện ở nước ta từ những năm 30, nhưng nó chỉ thực sự trở thành một chính sách xã hội lớn kể từ năm 1962 Từ thời điểm này trở đi cho đến khi ra đời Bộ Luật Lao động đầu tiên và cho đến thời điểm hiện nay thì chế độ hưu trí trong hệ thống bảo hiểm xã hội đã và đang có những bước chuyển tốt nhưng bên cạnh đó, việc thực hiện chế độ này vẫn còn có nhiều vướng mắc cần khắc phục Vì thế, trước các yêu cầu cấp thiết của công tác hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật Bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng, công tác quản lý bảo hiểm hưu trí…, tác giả đã

chọn đề tài: “Chế độ Bảo hiểm xã hội hưu trí trong Luật Lao động Việt

Nam” để nghiên cứu là viết khoá luận của mình với mong muốn góp phần làm

sáng tỏ về lý luận và thực trạng thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí, từ đó tác giả sẽ đưa ra những kiến nghị để nhằm hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí ở Việt Nam

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Trang 6

 Tìm hiểu nhữnh vấn đề lý luận và pháp lý cơ bản của chế độ Bảo hiểm xã hội hưu trí

 Tìm hiểu thực trạng thực hiện chế độ Bảo hiểm hưu trí ở nước ta

 Tìm ra một số giải pháp hoàn thiện pháo luật về Bảo hiểm hưu trí

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luôn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, ngoài ra còn áp dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp phân tích hệ thống, so sánh đối chiếu, phân tích thống kê

Trong quá trình nghiên cứu có sử dụng những số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương Binh Xã Hội, cơ quan Bảo hiểm xã hội của các Tỉnh, Thành phố, tham khảo nhiều bài viết, tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước, Luật Bảo hiểm xã hội của nhiều nước trên thế giới

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

 Giúp người đọc hiểu rõ về những vấn đề lý luận và những quy định của pháp luật hiện hành về chế độ hưu trí ở nước ta

 Tham khảo được các quy định của pháp luật về chế độ hưu trí của một số nước trên thế giới, để từ đó có những nhận xét một cách tổng thể đối với chế độ hưu trí của nước ta so với các nước khác và học tập những kinh nghiệm về pháp luật của nước bạn để hoàn thiện hơn các quy định pháp luật của nước mình

 Đề tài giúp người đọc thấy được thực trạng việc thực hiện chế độ hưu trí trong thời gian qua (kể từ khi ban hành điều lệ Bảo hiểm cho đến nay), bên cạnh đó đã nêu ra được những mặt tồn tại trong quá trình thực hiện và những hướng giải quyết cụ thể cho những tồn tại đó

 Đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế độ Bảo hiểm xã hội hưu trí ở nước ta

5 Kết cấu của khoá luận

Trang 7

Khoá luận được kết cấu phù hợp với mục đích, phạm vi và nhiệm vụ của việc nghiên cứu, cơ cấu của khoá luận bao gồm:

 Lời nói đầu

 Nội dung khoá luận có 2 chương:

 Chương 1: Khái quát về chế độ hưu trí

 Chương 2: Thực trạng chế độ hưu trí ở nước ta – Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí

 Kết luận

Trang 8

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

1.1 Khái niệm – Đặc điểm của chế độ hưu trí

1.1.1 Khái niệm

Chế độ hưu trí là một trong những chế độ rất quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội Chính vì thế khi nghiên cứu về khái niệm chế độ hưu trí ta cần hiểu rõ khái niệm về bảo hiểm xã hội nói chung

Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết cần phải ăn, mặc, ở… Để có cái ăn, mặc, ở người ta phải lao động làm ra những sản phẩm cần thiết Nhưng con người ai cũng có quá trình sinh ra, trưởng thành, già rồi chết Khi còn nhỏ phải dựa vào những người đã trưởng thành nuôi dưỡng, khi trưởng thành thì lại phải lao động để tự nuôi sống mình và những người phụ thuộc Trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường Trong cuộc sống, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất lợi phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như: bị ốm đau, tai nạn hoặc khi tuổi già khả năng lao động và khả năng tự phục vụ bị suy giảm…

Khi rơi vào những trường hợp nêu trên, các nhu cầu cần thiết của cuộc sống không vì thế mà mất đi Trái lại, có cái còn tăng lên, thậm chí, có thể xuất hiện thêm những nhu cầu mới như khi ốm đau cần được chữa bệnh… Bởi vậy, muốn tồn tại, con người và xã hội loài người phải tìm ra cách giải quyết và một trong những biện pháp hữu hiệu để khắc phục những khó khăn đó là Bảo hiểm xã hội

“Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất, giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” [6 – Trang 11]

Trang 9

Bảo hiểm xã hội gồm rất nhiều chế độ khác nhau Có những chế độ được thực hiện trong quá trình lao động nhằm giúp người lao động vượt qua những khó khăn tức thời trong cuộc sống như: chế độ ốm đau; tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp; chế độ thai sản; và có những chế độ được thực hiện sau quá trình lao động nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi họ hết tuổi lao động, không tham gia lao động nữa như chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí được quy định trong luật pháp đầu tiên năm 1886 ở nước Phổ, từ đó đến nay đã có 145 nước có quy định về hưu trí Tuy chế độ hưu trí ở mỗi nước có một số quy định khác nhau nhưng về mục đích, bản chất và những tiêu chuẩn cơ bản để hưởng trợ cấp thì giống nhau Theo tổ chức Lao Động Quốc tế (ILO) cũng đã đưa ra khái niệm về chế

độ hưu trí như sau: “Chế độ hưu trí là một dạng trợ cấp trong hệ thống trợ cấp bảo hiểm xã hội dành cho người tuổi cao không thể tiếp tục làm việc bình thường được nữa”

Như vậy, chế độ hưu trí được thực hiện sau quá trình lao động trên cơ sở đóng góp của người lao động trong suốt quá trình lao động Trong suốt thời gian tham gia vào quá trình lao động, người lao động có nhiệm vụ đóng phí bảo hiểm, khi đến tuổi về hưu (hết tuổi lao động) hoặc không thể tham gia vào quan hệ lao động nữa và hội đủ những điều kiện do pháp luật quy định thì mới được nhận trợ cấp hưu trí Như vậy, khác với một số chế độ Bảo hiểm xã hội khác như: chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, khi tham gia chế độ hưu trí người lao động chắc chắn sẽ được hưởng trợ cấp

Như vậy, có thể nói: “Chế độ hưu trí là một chế độ bảo hiểm xã hội được thực hiện sau quá trình lao động, nhằm bù đắp thu nhập cho người lao động khi họ

Trang 10

bị mất thu nhập do tuổi già không thể tiếp tục làm việc bình thường được nữa trên

cơ sở những đóng góp của họ vào quỹ Bảo hiểm xã hội trong quá trình lao động”

1.1.2 Đặc điểm của chế độ hưu trí

Từ khái niệm đã nêu trên, ta có thể đưa ra được một số đặc điểm về chế độ hưu trí như sau:

Thứ nhất: bảo hiểm hưu trí là một chế độ Bảo hiểm xã hội được thực hiện

sau quá trình lao động Trong các chế độ của Bảo hiểm xã hội thì chỉ có chế độ hưu trí và tử tuất là được thực hiện sau quá trình lao động Nhưng giữa 2 chế độ này vẫn có sự khác nhau cơ bản, đó là: chế độ tử tuất thì sẽ do thân nhân người lao động hưởng còn chế độ hưu trí là do chính người lao động hưởng Mục đích của chế độ hưu trí là nhằm ổn định thu nhập cho người lao động khi họ không còn khả năng lao động do tuổi già Người lao động chỉ được nhận trợ cấp hưu trí khi đã hết tuổi lao động, không còn tham gia vào quan hệ lao động nữa, nói cách khác Bảo hiểm hưu trí chỉ được thực hiện đối với người lao động sau quá trình lao động

Thứ hai: chế độ hưu trí được thực hiện theo nguyên tắc “lấy số đông bù số ít

– lấy của số đông những người đang tham gia bảo hiểm xã hội bù cho những người đã đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí” Nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” là nguyên tắc của Bảo hiểm nói chung, nhưng trong chế độ hưu trí thì nguyên tắc này cũng rất quan trọng Chế độ hưu trí là một chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc

vì nó là một trong những chế độ quan trọng nằm trong hệ thống Bảo hiểm xã hội của nước ta hiện nay, như vậy, khi người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội thì đương nhiên chế độ hưu trí cũng là một trong những chế độ mà người lao động sẽ phải tham gia và chắc chắn được hưởng Tuy nhiên, trong số đông lao động tham gia ấy thì chỉ những người lao động đã hết tuổi lao động, có đủ các điều kiện cần thiết thì mới được trả trợ cấp Bảo hiểm xã hội Những người lao động chưa đủ điều kiện để hưởng chế độ hưu trí thì phần đóng góp của họ là để cho người khác được hưởng nhưng không vì thế mà họ bị thiệt thòi Một lúc nào đó, khi hết độ tuổi lao động, chắc chắn họ cũng sẽ được hưởng trợ cấp hưu trí Khi đó, trợ cấp mà họ được hưởng cũng là do nhiều người khác đang tham gia Bảo hiểm xã hội đóng góp

Trang 11

Thứ ba, mức hưởng bảo hiểm hưu trí phụ thuộc vào thời gian và mức đóng

Bảo hiểm xã hội của người lao động Đây là một đặc điểm đặc thù của chế độ hưu trí so với các chế độ khác ví dụ như: chế độ tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp thì mức trợ cấp phụ thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động và căn cứ vào tiền lương tối thiểu chứ không phụ thuộc vào thời gian và mức đóng Bảo hiểm xã hội; hoặc đối với chế độ thai sản thì mức trợ cấp không phụ thuộc vào thời gian đóng Bảo hiểm xã hội Nếu một lao động nữ khi mới vào làm việc mà mang thai thì họ vẫn được nhận trợ cấp Bảo hiểm xã hội không phụ thuộc vào việc họ đã đóng Bảo hiểm xã hội bao lâu Đặc điểm này còn thể hiện nguyên tắc phân phối theo lao động của Bảo hiểm xã hội trong chế độ hưu trí Vì thời gian đóng Bảo hiểm xã hội càng dài, mức lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội càng cao thì khoản đóng góp của người lao động vào quỹ Bảo hiểm xã hội càng nhiều, do vậy, họ sẽ được hưởng mức trợ cấp hưu trí càng cao Có thể nói theo một cách đơn giản hơn, đó là: người lao động khi đến tuổi về hưu sẽ nhận được một khoản trợ cấp, khoản trợ cấp này sẽ tương ứng với khoảng thời gian và mức đóng mà người lao động đã đóng góp khi còn trong quá trình lao động Điều này cũng đã góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội

Thứ tư, thời gian hưởng bảo hiểm hưu trí không phụ thuộc vào thời gian

đóng bảo hiểm xã hội mà phụ thuộc vào tuổi thọ của người lao động Đối với chế độ trợ cấp ốm đau thì thời gian đóng bảo hiểm xã hội sẽ là cơ sở để quy định về thời gian tối đa cho người lao động được hưởng trợ cấp ốm đau Riêng chế độ hưu trí thì khoảng thời gian mà người lao động được hưởng trợ cấp hưu trí chỉ phụ thuộc vào tuổi đời của họ Nếu người lao động có tuổi thọ cao thì thời gian hưởng chế độ hưu trí sẽ dài và ngược lại nếu người lao động có tuổi thọ thấp thì thời gian hưởng chế độ hưu trí sẽ ngắn Nói cách khác, trợ cấp hưu trí là khoản trợ cấp mà người lao động sẽ nhận được trong suốt khoảng thời gian từ lúc người lao động thực hiện xong quá trình lao động cho đến khi người lao động chết Do vậy, tuổi thọ của con người là một trong những căn cứ để quy định tuổi nghỉ hưu

1.2 Ý nghĩa của chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí trong hệ thống bảo hiểm xã hội đã và đang đóng một vai trò không thể thiếu với bất kỳ một quốc gia nào muốn có nền kinh tế ổn định và phát

Trang 12

triển Chế độ Bảo hiểm hưu trí ý nghĩa rất quan trọng đối với cả người lao động và người sử dụng lao động

Đối với người lao động: chế độ hưu trí có ý nghĩa rất quan trọng giúp ổn

định cuộc sống cho người lao động khi họ về già không còn khả năng lao động Chế độ hưu trí còn góp phần kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái lao động sản xuất vì khác với một số chế độ bảo hiểm khác, khi tham gia chế độ Bảo hiểm xã hội hưu trí thì chắc chắn người lao động sẽ được hưởng trợ cấp Bảo hiểm hưu trí là một chỗ dựa quan trọng cho người lao động khi họ về già không còn thu nhập như trong khoảng thời gian còn khỏe mạnh, làm việc bình thường

Đối với người sử dụng lao động: từ việc người lao động yên tâm sản xuất,

gắn bó với công việc, với nơi làm việc, tập trung hết năng lực và trí lực cho công việc thì năng suất lao động sẽ tăng cao, làm lợi cho doanh nghiệp hay cho chính người sử dụng lao động

Đối với xã hội:

Bảo hiểm hưu trí là một công cụ hỗ trợ cho điều kiện sống của người

lao động trong hoàn cảnh già yếu không còn thu nhập hoặc thu nhập không còn như trước Nếu như mọi người khi về già đều có khoản thu nhập như vậy sẽ góp phần ổn định đời sống xã hội nói chung Đời sống xã hội có ổn định thì kinh tế đất nước mới có thể phát triển

Quỹ hưu trí chiếm một phần rất lớn trong quỹ bảo hiển xã hội nói

chung, nó vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao và là điều kiện hay cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống bảo hiểm xã hội tồn tại và phát triển

Bảo hiểm hưu trí góp phần phân phối lại thu nhập vì những người sử

dụng lao động cũng bắt buộc phải đóng góp vào quỹ Bảo hiểm xã hội Phần đóng góp này không trực tiếp phục vụ cho người sử dụng lao động mà dành cho người lao động do mình sử dụng, thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với những rủi ro của người lao động

Trang 13

Bảo hiểm hưu trí là một yếu tố quan trọng của tiết kiệm nội bộ có thể

góp phần mở rộng đầu tư vì nó được thực hiện trên nguyên tắc “lấy số đông bù số ít” Nước ta là nước có dân số trẻ, do vậy tỷ lệ người tham

gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay bảo hiểm hưu trí sẽ có sự chênh lệch, nghĩa là số người đóng bảo hiểm hưu trí sẽ tương đối nhiều hơn số người hưởng chế độ này Trong điều kiện nước ta hiện nay, ý nghĩa này còn có phần bị hạn chế, do ngân sách nhà nước phải tiếp tục bao cấp, trợ cấp hưu trí cho một số lượng công nhân viên chức và sĩ quan lực lượng vũ trang từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp chuyển sang Tuy nhiên, do thu hút được nhiều lao động trẻ, việc chi những khoản trợ cấp dài hạn (như hưu trí, tử tuất) không lớn nên quỹ bảo hiểm sẽ là một nguồn tiết kiệm quan trọng để hình thành vốn và đầu tư phát triển

1.3 Chế độ hưu trí của một số nước trên thế giới

Chế độ hưu trí là một chế độ rất quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội,

do vậy, hệ thống bảo hiểm xã hội của bất kỳ một quốc gia nào cũng đều có quy định về chế độ hưu trí Chúng ta tham khảo chế độ hưu trí của một số nước để thấy được kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chế độ hưu trí của họ

1.3.1 Chế độ hưu trí của một số nước trong khu vực Châu Á

1.3.1.1 Chế độ hưu trí ở Nhật Bản

Nhật Bản là nước có hệ thống bảo hiểm xã hội tương đối phát triển bao gồm các chế độ: Chế độ chăm sóc y tế, chế độ bảo hiểm việc làm, chế độ bồi thường tai nạn lao động và chế độ hưu trí Vì phạm vi bài viết này đang nghiên cứu về chế độ hưu trí nên trong phần này cũng sẽ là những nét sơ lược về chế độ hưu trí ở Nhật Bản Chế độ hưu trí ở Nhật Bản bao gồm hai hình thức:

 Thứ nhất là, chế độ hưu trí phổ thông được áp dụng cho mọi công dân nhằm đảm bảo một cuộc sống tối thiểu cho người dân khi hết tuổi lao động (bảo hiểm hưu trí bắt buộc)

Trang 14

 Thứ hai, công dân Nhật còn được hưởng các chế độ hưu trí từ Quỹ Bảo hiểm hưu trí của người lao động hoặc Hiệp hội tương trợ lẫn nhau trên cơ sở đóng góp của họ vào các quỹ này (bảo hiểm hưu trí tự nguyện)

Theo dự báo, quỹ Bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản đang có nguy cơ thâm hụt do tuổi thọ của người dân tăng Theo số liệu thống kê năm 2003, ở Nhật Bản tuổi thọ bình quân của nam là 78,4, nữ là 85,3 và tỷ lệ người già trong xã hội vẫn đang tiếp

tục tăng [Xem thêm phần Phụ lục I] [68 – Trang 39-40]

Cũng theo số liệu dự báo, đến giữa thế kỷ 21, một phần ba dân số Nhật Bản sẽ từ 65 tuổi trở lên do tuổi thọ dân số ngày càng tăng (dự kiến năm 2025 thời gian nhận lương hưu bình quân sau tuổi 65 của nam là 19 năm, nữ là 25 năm) và tỷ suất sinh ngày càng giảm Còn theo số liệu thống kê, tỷ suất sinh năm 2003 của Nhật Bản là 1,29, thấp hơn rất nhiều so với tiêu chuẩn (2,08) để duy trì số dân hiện có trong tương lai

Số liệu dự báo thống kê cũng cho thấy, đến năm 2025 ở Nhật Bản cứ 2 người làm việc phải nuôi 1 người già, điều này có nghĩa là gánh nặng xã hội đang ngày càng tăng đối với thế hệ trẻ Chính vì thế, để đảm bảo cân bằng và ổn định tài chính của hệ thống bảo hiểm xã hội trong tương lai, giảm bới gánh nặng tài chính đối với các thế hệ trẻ sau này, Chính phủ Nhật Bản dự kiến thực hiện một số biện pháp cải cách, riêng đối với chế độ hưu trí thì từ tháng 2/2004, Chính phủ đã thông qua việc xem xét lại chính sách hưu trí với mục đích xây dựng một hệ thống hưu trí bền vững về tài chính và linh hoạt đáp ứng được những thay đổi của nền kinh tế – xã hội với những nội dung chính như sau:

 Tăng tỷ lệ đóng góp của Nhà nước cho hệ thống lương hưu cơ bản từ 1/3 lên 1/2 bắt đầu từ năm 2004 đến năm 2009

 Tăng mức đóng góp của người lao động vào quỹ bảo hiểm xã hội, cụ thể là:

 Đối với hệ thống lương hưu cơ bản: Nâng mức đóng từ 13.300 yên/tháng hiện nay lên 16.900 yên/tháng vào năm 2017 (mỗi năm mức đóng hàng tháng tăng 280 yên)

Trang 15

 Đối với hệ thống lương hưu của người lao động: Nâng mức đóng từ 13.58%/tháng hiện nay lên 18.3%/tháng vào năm 2017 (mỗi năm mức đóng hàng tháng tăng 0,354%)

 Giảm tỷ lệ hưởng trợ cấp: Mức hưởng trợ cấp đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội sẽ giảm dần từ 59,3% hiện nay xuống còn 50,2% vào năm 2023 trở đi

Như vậy, chế độ hưu trí ở Nhật Bản được phân thành hai hình thức rõ rệt: bắt buộc và tự nguyện Ở Việt Nam cũng đã có quy định về Bảo hiểm xã hội tự nguyện nhưng chưa được thực hiện trên thực tế, người lao động chỉ thực hiện Bảo hiểm xã hội theo chế độ bắt buộc Vấn đề tài chính trong Bảo hiểm xã hội ở Nhật cũng đã và đang gặp phải những khó khăn vì dân số Nhật có xu hướng già đi quá nhanh Đây là một đặc điểm không thuận lợi khi thực hiện chế độ hưu trí cho bất kỳ một quốc gia nào Nhật Bản cũng đang triển khai một số biện pháp để đối phó với nguy cơ thân hụt quỹ, do vậy, Việt Nam cũng cần phải tham khảo

1.3.1.2 Chế độ hưu trí của Philippin

Ở Philippin có 2 hệ thống bảo hiểm xã hội chính Một, tạm dịch là bảo hiểm xã hội của công chức viết tắt là GSIS (Government Service Insurance System) Hai là, cơ quan bảo hiểm xã hội của những người làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân viết tắt là SSS (Social Security System) Theo quy định của luật pháp Philippin, tất cả những người làm việc trong các tổ chức đơn vị, cơ quan của chính phủ, trường công lập, doanh nghiệp trong khu vực nhà nước đều phải bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội, số lao động làm việc trong khu vực này khoảng 1.382.000 người và do Quỹ của GSIS quản lý Đối với những người làm việc ở khu vực tư nhân cũng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (nếu có thu nhập hoặc lương lớn hơn hoặc bằng 1.000 Pêsô tương đương gần 400 ngàn đồng Việt Nam) Như vậy, có thể nói số lượng tham gia bảo hiểm xã hội ở Philippin là rất lớn, theo một vài số liệu thống kê cho thấy thì số lao động có bảo hiểm xã hội ở Philippin là 26 triệu

580 ngàn người trên tổng số 32 triệu lao động, tương đương khoảng 83% Tuổi lao động ở Philippin khá dài 65 là tuổi nghỉ hưu cho cả nam và nữ Chỉ có thợ mỏ là nghỉ hưu ở tuổi 55 Tuy nhiên Luật cũng quy định người lao động có thể về hưu ở

Trang 16

tuổi 60 nếu: đã đóng bảo hiểm xã hội 15 năm (khu vực Nhà nước) hoặc 10 năm (khu vực tư nhân) Đối với khu vực Nhà nước, sau khi đủ tiêu chuẩn nghỉ hưu, người lao động có thể hưởng theo 2 phương án: một là, nhận 1 lần giá trị bằng 60 tháng lương cơ bản Sau 5 năm, nếu vẫn còn sống thì nhận lương hưu hàng tháng Có tới 80% số người theo cách này Hai là, nhận 1 lần giá trị bằng 18 tháng lương

cơ bản và nhận lương hưu hàng tháng ngay Có 20% số người theo cách này

Như vậy, điểm khác biệt lớn nhất giữa Bảo hiểm xã hội ở Philippin và Việt Nam đó là: ở Philippin có 2 hệ thống Bảo hiểm xã hội: một dành cho công chức Nhà nước; một dành cho người làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân Ở Việt Nam thì bảo hiểm hưu trí cho cán bộ công chức cũng được áp dụng cho người lao động làm công ăn lương trong khu vực quốc doanh và tư nhân Số lượng người tham gia Bảo hiểm xã hội ở Philippin là rất cao so với Việt Nam Ở Philippin chiếm khoảng 83% dân số, ở Việt Nam thì chỉ có 11% dân số là tham gia Bảo hiểm xã hội Đây là một vấn đề mà hiện nay Việt Nam cũng đã và đang xem xét khắc phục vì việc tham gia Bảo hiểm xã hội không chỉ có lợi cho người lao động mà còn mang lại một lợi ích đáng kể cho nước nhà Độ tuổi nghỉ hưu của người lao động ở Philippin cao hơn so với Việt Nam 5 tuổi (Philippin 65 tuổi; Việt Nam 60 tuổi) Độ tuổi này ở Philippin được áp dụng cho cả 2 giới; ở Việt Nam thì lao động nữ lại được giảm xuống 5 năm Thiết nghĩ Việt Nam nên áp dụng kinh nghiệm của Philippin để giảm nguy cơ thâm hụt quỹ Bảo hiểm hưu trí [49 – Trang 28 + 29]

1.3.2 Chế độ hưu trí ở một số nước Châu Âu

1.3.2.1 Chế độ hưu trí ở Đức

 Ở Đức áp dụng hai hình thức bảo hiểm hưu trí:

 Bảo hiểm hưu trí bắt buộc: áp dụng cho tất cả những người thực hiện hoạt động được trả công hoặc những người đang học nghề (những người này có

Trang 17

thể tham gia hệ thống bảo hiểm phòng xa tuổi già tư nhân Hệ thống này bắt đầu được thực hiện từ ngày 01/01/2002)

 Bảo hiểm hưu trí tự nguyện: áp dụng cho những người thực hiện một hoạt động độc lập có thể đề nghị được tham gia chế độ bảo hiểm tuổi già theo pháp luật với điều kiện đã làm việc đó không ít hơn 5 năm Trong trường hợp này, họ hưởng cùng chế độ như người làm công ăn lương Theo cách thức chung, tất cả những người trên 16 tuổi thường trú ở Đức và không thuộc bảo hiểm bắt buộc có thể được bảo hiểm tự nguyện

 Độ tuổi về hưu ở Đức được quy định như sau: Tuổi về hưu bình thường là 65 tuổi đối với nam, 60 tuổi đối với nữ (sẽ là 65 tuổi từ năm 2005) Đối với công chức, từ năm 1997 đã tăng từ 62 tuổi lên 63 tuổi, một số có thể về hưu từ năm

61 tuổi

 Mức hưởng trợ cấp hưu trí ở Đức:

 Trung bình, số tiền trợ cấp hưu trí theo chế độ bảo hiểm hưu trí theo pháp luật lên đến 78% của lương cuối cùng

 Đối với người không có một hoạt động nghề nghiệp nào và đã nuôi 2 con, được trợ cấp hưu trí lên đến 75% lương trung bình của toàn bộ những người được bảo hiểm

Có thể nói, bảo hiểm hưu trí ở Đức có rất nhiều điểm khác so với Việt Nam nhưng nhìn chung thì những điểm khác đó đều xuất phát từ việc Đức là một nước có nền kinh tế phát triển hơn Việt Nam rất nhiều nên Đức có rất nhiều ưu đãi cho người dân trong việc thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí (ví dụ như: mức hưởng 78% hoặc người không làm việc mà đã nuôi 2 con cũng được hưởng trợ cấp hưu trí) Một khi Việt Nam có được sự phát triển về kinh tế xã hội như các nước khác thì lúc này Chính phủ Việt Nam cũng sẽ dành cho người dân nhiều ưu đãi hơn so với hiện nay [7 – Trang 333]

1.3.2.2 Chế độ hưu trí ở Anh

 Chế độ hưu trí ở Anh là một chế độ bắt buộc, theo đó, người về hưu sẽ nhận được 1 khoản trợ cấp bổ sung bắt buộc

Trang 18

 Tuổi nghỉ hưu là 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ Thời gian làm việc đầy đủ là 44 năm làm việc đối với nam và 39 năm đối với nữ Từ năm 2010, tuổi nghỉ hưu của nữ sẽ được nâng lên mỗi năm 6 tháng tuổi cho đến 65 tuổi vào năm 2020

 Trợ cấp hưu trí ở Anh chia làm 2 loại: trợ cấp cơ bản và trợ cấp bổ sung

 Trợ cấp cơ bản: là một khoản tiền được trợ cấp theo tuần Khoản tiền này sẽ được tăng lên nếu như một cặp vợ chồng mà chỉ một trong hai người làm việc và trợ cấp cũng được tăng thêm khi có con phải nuôi dưỡng

 Trợ cấp bổ sung: Người cao tuổi trên 80 tuổi được nhận một khoản trợ cấp bổ sung Gồm 3 loại:

 Trợ cấp công: trợ cấp này được Bảo hiểm quốc gia chi trả và bằng khoảng 20% lương trung bình

 Trợ cấp tư: trợ cấp do người sử dụng lao động đóng góp và có thể đạt đến tối đa hai phần ba của lương cuối cùng cho 40 năm làm việc cho cùng một người sử dụng lao động

 Trợ cấp dưới dạng kế hoạch hưu trí cá nhân được cơ quan quản lý tài chính chấp nhận

Chế độ hưu trí ở Anh có sự khác biệt rất lớn so với các nước khác trên thế giới: khoản trợ cấp hưu trí mà họ nhận được hoàn toàn độc lập với lương Sỡ dĩ ở Anh quy định như vậy vì số người làm việc sau tuổi quy định được nghỉ hưu chiếm một tỷ lệ rất lớn Tuổi nghỉ hưu ở Anh đã cao hơn so với nước ta (mỗi giới hơn 5 tuổi), tuy nhiên, vẫn còn đang có xu hướng tăng thêm đối với lao động nữ cho ngang bằng nam

Có thể nói chế độ hưu trí ở một số nước đều có những điểm khác biệt ở quy

định của pháp luật ví dụ như về độ tuổi [Xem phụ lục 2], mức trợ cấp… nhưng nhìn

chung tất cả đều hoạt động vì một mục đích chung là bảo đảm mức sống cơ bản cho người dân khi họ không còn khả năng làm việc như trước nữa [7 – Trang 361 + 362]

1.4 Chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật Việt Nam

1.4.1 Lịch sử phát triển của chế độ hưu trí

Trang 19

Chế độ hưu trí là một trong các chế độ có rất sớm trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Chính vì thế lịch sử phát triển của chế độ hưu trí cũng gắn liền với lịch sử Bảo hiểm xã hội nói chung Trước khi khái niệm về Bảo hiểm xã hội ra đời thì ở nhà nước phong kiến của ta đã có rất nhiều các chính sách gần với bảo hiểm xã hội

ví dụ như là cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội bằng các việc cứu đói, chẩn bần ở các địa phương bị thiên tai, mất mùa, bệnh dịch hoặc những lúc Thái tử lên ngôi vua, Hoàng hậu sinh con trai, Vua chỉ định ngôi Thái tử… Trong đó có chính sách giống chế độ hưu trí là chính sách lương bổng khi người đó còn làm việc cho Triều đình hoặc khi không còn làm việc nữa

Chính sách Bảo hiểm xã hội chính thức được thực hiện ở nước ta từ thời Pháp thuộc Để mua chuộc một số người Việt làm tay sai, song song với chính sách khai thác thuộc địa, người Pháp cũng bắt đầu thực hiện chính sách hưu bổng cho một số người làm việc cho họ hoặc người Việt nhập quốc tịch Pháp nhưng số lượng thì còn rất ít, mới chỉ khoảng 1000 người

Ở miền nam Việt Nam, sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Ngụy quyền cũng lập “Quỹ Văn Giai” để trợ cấp cho công chức, công nhân làm việc trong công sở hoặc cơ sở dịch vụ của chính quyền và “Quỹ Võ Giai” để trợ cấp cho binh lính, sĩ quan quân đội, cảnh sát Ở cấp tỉnh có “quỹ hưu bổng” trực thuộc Bộ Nội Vụ Ngụy quyền Các quỹ này dùng để trả tiền thâm niên ngoài lương khi đang còn làm việc, chi phí chữa bệnh của các công chức ở bệnh viện công, trợ cấp nghỉ việc, hưu trí… Nguồn tài chính của các quỹ này do Mỹ viện trợ, đó như là một phần trong toàn bộ viện trợ cho bộ máy Ngụy quyền miền Nam hoạt động chống lại phong trào giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta

Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời trong phong trào đấu tranh dành độc lập, với lập trường của giai cấp công nhân, song song với nhiệm vụ lãnh đạo đấu tranh giải phóng đất nước, Đảng ta rất quan tâm chăm lo đời sống của người lao động

Do đó, sau Cách Mạng Tháng 8 năm 1945, Đảng đã trình Quốc hội Hiến pháp năm

1946, và trong Điều 14 đã khẳng định: “những người già cả, tàn tật không làm việc được thì được giúp đỡ” Ngày 12/03/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh (có giá trị như luật) số 29/SL về các chế độ đối với công nhân làm việc tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ… Tiếp đó, Hồ Chủ tịch ký ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày

Trang 20

20/05/1950 về “Quy chế công chức” Trong Sắc lệnh này, tại mục III: Quyền lợi, đã có quy định tại Điều 3 như sau: “Công chức có quyền hưởng lương, các thứ phụ cấp và hưu bổng”

Giai đoạn 1960-1975, Chính phủ ban hành nhiều văn bản hoàn thiện hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng ở miền Nam, thống nhất đất nước ví dụ như Nghị định của Hội đồng Chính phủ số 218-CP ngày 27/12/1961 ban hành Điều lệ tạm thời về các chế độ Bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức nhà nước Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và suốt trong thời kỳ kháng chiến, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, Chính phủ đã luôn luôn chăm lo cải thiện đời sống của người dân lao động Đối với công nhân, viên chức Nhà nước,

đi đôi với việc cải tiến chế độ tiền lương, Chính phủ đã ban hành các chế độ trợ cấp mà thực chất là chế độ Bảo hiểm xã hội, như: chế độ trợ cấp khi ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ cấp khi về hưu, trợ cấp khi chết… Các chế độ có tính chất Bảo hiểm xã hội này tuy mới chỉ là bước đầu nhưng đã có tác dụng rõ rệt, đã giải quyết được một phần những khó khăn trong sinh hoạt của công nhân, viên chức Nhà nước, làm cho anh chị em phấn khởi đẩy mạnh sản xuất và công tác Điều 32 Hiến pháp năm 1959 đã ghi rõ quyền của người lao động được giúp đỡ về vật chất khi già yếu, bệnh tật, hoặc mất sức lao động Điều lệ tạm thời này về các chế độ Bảo hiểm xã hội đối với công nhân, viên chức Nhà nước là bước đầu thực hiện điều nói trên của Hiến pháp Điều lệ tạm thời này về các chế độ Bảo hiểm xã hội được xây dựng phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị và xã hội lúc đó, không những có tác dụng động viên công nhân, viên chức và nhân dân lao động ở miền Bắc phấn khởi, nổ lực sản xuất và công tác, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà còn làm cho công nhân, viên chức và nhân dân lao động ở miền Nam thấy rõ tính chất hơn hẳn của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, do đó càng tăng thêm tin tưởng, tăng cường đoàn kết và đấu tranh đòi quyền sinh sống hàng ngày, đồng thời kiên quyết đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà Theo Nghị định 218 thì chế độ trợ cấp hưu trí được quy định ở Tiết 5 từ Điều 42 đến Điều 54, trong đó cũng đã nêu rõ những điều kiện để hưởng chế độ hưu trí cho công nhân, viên chức Nhà nước, ví dụ: Nam đủ 60 tuổi, thời gian công tác nói chung 25 năm,

Trang 21

thời gian công tác liên tục 5 năm; nữ đủ 55 tuổi, thời gian công tác nói chung 20 năm, thời gian công tác liên tục 5 năm (Điều 42) Có nhiều điều luật quy định khác so với hiện nay, ví dụ ở Điều 47: “Công nhân viên chức Nhà nước có công lao, có thành tích lớn, anh hùng lao động, anh hùng quân đội chuyển ngành, ngoài trợ cấp được hưởng, hàng tháng còn được thêm một khoản trợ cấp ưu đãi từ 5% đến 15% lương chính do Bộ Nội vụ và Bộ Lao động quyết định.” Tuy nhiên, việc quy định như vậy cũng là phù hợp với tình hình đất nước lúc đó

Tiếp theo sau đó là Hiến pháp 1992, rồi đến Bộ luật Lao động 1994 thì vấn đề Bảo hiểm xã hội đã ngày càng được nhà nước quan tâm như một chính sách không thể thiếu cho sự phát triển và ổn định của xã hội Chế độ hưu trí trong hệ thống bảo hiểm xã hội đã được hình thành từ rất lâu và dần được hoàn thiện thông qua các quy định của pháp luật trong từng thời kỳ

Ở các giai đoạn từ 08/1945 đến 1960 thì các chế độ trong hệ thống bảo hiểm xã hội cũng được quy định nhưng với mức trợ cấp thấp, mức tính bình quân không có tính chất lâu dài, trợ cấp hưu trí, mất sức lẫn lộn với tiền lương rất khó hạch toán Lúc này Bảo hiểm xã hội vẫn chưa có quỹ riêng, 100% vẫn là Ngân sách nhà nước

Giai đoạn từ 1961 đến 1985 đã quy định thành 6 chế độ bảo hiểm xã hội cơ bản và chế độ hưu trí - tử tuất là một trong những chế độ đó

Từ khi Bộ Luật Lao động ra đời và tiếp theo đó là Điều lệ Bảo hiểm xã hội được ban hành kèm theo NĐ 12/CP ngày 25/06/1995 thì các quy định về chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng đã tương đối hoàn thiện

Cho đến nay, đã mười năm thực hiện Nghị định 12/CP thì sự nghiệp bảo hiểm xã hội đã có những bước tiến, mang lại nhiều hiệu quả về chính trị, kinh tế, xã hội, góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống người lao động Sự nghiệp bảo hiểm xã hội đã phát triển nhanh, mạnh về số lượng, nghiệp vụ và tổ chức, tạo tiền đề tốt cho những bước phát triển mới trong tương lai

Như vậy chế độ hưu trí đã được thực hiện từ cuối năm 1945, sau khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập Đánh giá tổng quát thì đó là một chế độ đáng tin cậy cho cán bộ, công chức, quân nhân và người lao động Tính đến nay đã có hơn hai triệu người đã và đang được hưởng chế độ hưu trí Những

Trang 22

quy định về hưu trí đã trở thành một quyền lợi đương nhiên của tất cả những người được nhà nước tuyển dụng và đặc biệt nhờ có chế độ trợ cấp mà đời sống vật chất và tinh thần của những người về hưu được bảo đảm ổn định, góp phần tăng cường hạnh phúc gia đình và an toàn xã hội

1.4.2 Chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật hiện hành

1.4.2.1 Đối tượng tham gia chế độ hưu trí

Chế độ hưu trí là một trong những chế độ Bảo hiểm xã hội bắt buộc , đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí cũng chính là đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội nói chung

Điều 3 - NĐ01/2003/CP ngày 09/01/2003 đãû quy định đối tượng áp dụng Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:

1 Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức sau:

a) Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước; b) Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp;

c) Doanh nghiệp thành lập hoạt động theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam;

d) Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội;

đ) Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác;

e) Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác, lực lượng vũ trang;

g) Cơ sở bán công, dân lập, tư nhân thuộc các nghành văn hóa, y tế, giáo dục, đào tạo, khoa học, thể dục thể thao và các nghành sự nghiệp khác; h) Trạm y tế xã, phường, thị trấn;

i) Cơ quan tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tai Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia kí kết có quy định khác;

k) Các tổ chức khác có sử dụng lao động

Trang 23

2 Cán bộ, công chức, viên chức theo pháp lệnh cán bộ công chức

3 Người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt động theo Luật Hợp tác xã

4 Người lao động làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1, khoản 3 và khoản 6 Điều này, làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng, khi hết hạn hợp đồng lao động mà người lao động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng lao động mới đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đó thì phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

5 Người lao động quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 6 Điều này đi học, thực tập, công tác, điều dưỡng trong và ngoài nước mà vẫn hưởng tiền lương hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tượng thực hiện bảo hiểm xã hội bắt buộc

6 Người lao động làm việc và hưởng tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp (trừ trường hợp giao khoán đất)

Như vậy, so với Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 thì theo quy định tại Nghị định số 01/CP ngày 09/01/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995, thì đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đã được mở rộng hơn Ví dụ tại Khoản 1-Điều 1-Nghị định 01/CP bảo hiểm xã hội bắt buộc đã được áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức Như vậy việc ấn định số lượng lao động trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đã được bãi bỏ Quy định pháp luật mới đã không còn khống chế về mặt số lượng lao động nữa và điều này cho thấy các đối tượng tham gia hay đối tượng áp dụng các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ ngày một tăng lên Ngoài

ra, các đối tượng được áp dụng bảo hiểm xã hội còn được mở rộng thêm đối với các cán bộ, công chức, viên chức theo pháp lệnh cán bộ công chức (Khoản 2 - Điều

1 - Nghị định 01/2003/CP); người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ ba tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã (Khoản3 - Điều 1 - Nghị định 01/2003/CP) và

Trang 24

người lao động làm việc và hưởng tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động từ đủ ba tháng trở lên trong các doanh nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp (trừ trường hợp giao khoán đất có quy định riêng)

Có thể nói, việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng sẽ làm cho đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội hưu trí tăng, không chỉ có vậy, nếu như số người tham gia bảo hiểm hưu trí tăng lên thì nguồn quỹ cho chế độ này sẽ ngày một lớn, bên cạnh đó việc chi trả chế độ hưu luôn dựa trên nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”, vì thế đây sẽ là một nguồn tích lũy đáng kể cho các hoạt động khác của Bảo hiểm xã hội

1.4.2.2 Các điều kiện hưởng chế độ hưu trí

Để ràng buộc giữa trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội và để hạn chế sự lạm dụng về bảo hiểm xã hội thì ở mỗi chế độ bảo hiểm xã hội đều có quy định các điều kiện hưởng rất chặt chẽ Đối với chế độ hưu trí cũng vậy, điều kiện để hưởng chế độ hưu trí bao gồm hai nội dung chủ yếu là tuổi đời và thời gian đóng bảo hiểm xã hội

Muốn xây dựng một mức tuổi và thời gian đóng phù hợp thì các quy định phải đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm xã hội và phải dựa trên một hệ thống các cơ sở: cơ sở sinh học của người lao động; điều kiện lao động và môi trường lao động; điều kiện kinh tế-xã hội và quan hệ tài chính bảo hiểm xã hội…

Điều kiện về tuổi đời (tuổi nghỉ hưu)

Tuổi nghỉ hưu là thời điểm mà về mặt sinh học người lao động bị suy giảm khả năng lao động thể hiện ở các mặt như chức năng vận động, phản ứng thần kinh giảm… dẫn đến tình trạng không thể tiếp tục làm việc bình thường được nữa Sự suy giảm về khả năng lao động này xảy ra khi con người đạt đến một độ tuổi nhất định, khi mà sức khỏe về thể chất và tinh thần không cho phép họ

tiếp tục lao động bình thường được nữa

 Cơ sở quy định tuổi nghỉ hưu:

Trang 25

 Cơ sở sinh học: Cơ sở sinh học để quy định tuổi nghỉ hưu dựa vào các yếu tố sau:

 Khả năng lao động của con người: Con người từ lúc sinh ra cho đến lúc chết chỉ có một khoảng thời gian nhất định là có khả năng lao động Và chỉ trong khoảng thời gian đó con người mới được đánh giá là có khả năng lao động hoàn chỉnh Do vậy, việc xây dựng tuổi nghỉ hưu cũng phải dựa trên khoảng thời gian lao động trung bình của một người Đây cũng là một yếu tố xuất phát từ chính bản thân người lao động Mỗi người sẽ có một khả năng lao động riêng, không ai là giống ai, tuy nhiên cần phải có một mức chuẩn để có thể dựa vào đó xây dựng một mức tuổi nghỉ hưu phù hợp Ngoài ra, khả năng lao động của nữ và của nam là không giống nhau, vì thế việc quy định độ tuổi nghỉ hưu khác nhau của hai giới cũng cần phải được xây dựng dựa vào khả năng lao động

 Điều kiện làm việc: Điều kiện làm việc là một yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe và sự suy giảm khả năng lao động của người lao động, do vậy, tuổi nghỉ hưu còn được xây dựng dựa trên điều kiện làm việc của người lao động Lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ làm suy giảm khả năng lao động nhanh hơn, do vậy, tuổi nghỉ hưu trong những trường hợp này cũng cần phải được quy định thấp hơn Nói một cách đơn giản đây chính là điều kiện lao động và cũng là một yếu tố liên quan đến “tuổi thọ lao động” của người lao động Ở cùng một độ tuổi sinh học nhưng người lao động này với điều kiện lao động như vậy là đã đủ già phải nghỉ việc nhưng cũng người lao động đó trong một điều kiện làm việc khác thì vẫn được coi là trẻ, vẫn có thể tiếp tục công việc Vì thế khi xây dựng độ tuổi nghỉ hưu thì cần phải chú ý đến điều kiện làm việc của lao động trong xã hội

 Tuổi thọ: Tuổi thọ là một yếu tố rất quan trọng để quy định tuổi nghỉ hưu

vì tuổi thọ cũng phản ánh sức khỏe của con người và ảnh hưởng đến thời gian hưởng chế độ hưu trí Sức khỏe con người tốt hơn dẫn đến việc tăng tuổi thọ và việc tăng tuổi thọ này sẽ làm cho thời gian hưởng trợ cấp trí dài hơn Nếu như việc xây dựng mức tuổi nghỉ hưu không dựa trên tuổi

Trang 26

thọ trung bình thì sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến quỹ hưu trí và dẫn đến tình trạng quỹ hưu trí mất khả năng chi trả cho các đối tượng

Tuổi nghỉ hưu là điều kiện quan trọng để nghỉ hưu và là một trong những nội dung rất được quan tâm khi xây dựng chế độ hưu trí, vì mục đích của chế độ hưu trí là trợ cấp cho người lao động khi đã cao tuổi Việc xác định đúng độ tuổi nghỉ hưu của người lao động có ý nghĩa quan trọng đối với việc sử dụng lực lượng lao động trong xã hội, sự phát triển kinh tế xã hội và sự bền vững của quỹ bảo hiểm xã hội

 Cơ sở kinh tế – xã hội: Để xác định tuổi nghỉ hưu, ngoài yếu tố sinh học còn phải căn cứ vào khả năng kinh tế xã hội của đất nước Ngoài các yếu tố trên thì cơ sở kinh tế-xã hội cũng sẽ có ảnh hưởng gián tiếp đến người lao động ví dụ như: khả năng hoặc tiềm lực phát triển kinh tế của đất nước; chính sách lao động việc làm; trình độ dân trí và nhận thức xã hội… Lấy chế độ hưu trí ra làm ví dụ thì trong việc xác định độ tuổi nghỉ hưu để tăng cường lực lượng trẻ cho nền kinh tế quốc dân thì có thể thay đổi các chế độ lao động bằng cách giảm tuổi nghỉ hưu Ngược lại khi dân số già hóa hoặc cần tăng thu cho quỹ Bảo hiểm xã hội thì có thể nâng tuổi nghỉ hưu lên vì tăng hoặc giảm 1 tuổi nghỉ hưu ảnh hưởng rất lớn đến lực lượng lao động trong xã hội và vấn đề thu – chi của quỹ Bảo hiểm xã hội

 Quy định tuổi nghỉ hưu theo pháp luật hiện hành (Điều lệ Bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo NĐ 12/CP ngày 26/01/1995)

 Người lao động làm việc trong điều kiện bình thường: Nam đủ 60 tuổi; nữ đủ 55 tuổi

 Người lao động làm việc nặng nhọc, độc hại, ở những khu vực khó khăn hoặc có 10 năm công tác ở các chiến trường miền Nam, Lào trước 30/04/1975 hoặc ở Campuchia trước 31/08/1989: Nam đủ 55 tuổi; nữ đủ

50 tuổi

 Người lao động bị suy giảm khả năng lao động: Nam đủ 50 tuổi; nữ đủ 45 tuổi

Tóm lại, theo quy định chung của nhà nước ta, tuổi về hưu đối với nam là đủ

60 tuổi và đối với nữ là đủ 55 tuổi Ở những khu vực khó khăn hoặc các ngành nghề nặng nhọc, độc hại, tuổi về hưu có thể giảm xuống 5 năm cho mỗi giới Tuy nhiên, do nhiều lần sửa đổi và vận dụng, nên một số người nghỉ hưu trước tuổi quy

Trang 27

định khá lớn Ví dụ tổng số nghỉ hưu của nam và nữ dưới 45 tuổi chiếm 16,2%,

trong khi số người nghỉ hưu từ 60 tuổi trở lên thì chỉ chiếm 13,47% [Xem phụ lục 3]

Điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội

Người lao động để được hưởng chế độ hưu trí thì ngoài điều kiện về tuổi đời đã được nêu ở phần trên thì điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội cũng là một trong những điều kiện thiết yếu không thể thiếu Thời gian này là tổng thời gian người lao động làm việc có đóng bảo hiểm xã hội Đây là điều kiện không thể thiếu trong chế độ hưu trí và là cơ sở tính toán mức lương hưu Về bản chất, điều kiện này nhằm cân đối tài chính giữa quá trình đóng và quá trình hưởng, bảo đảm sự điều tiết hợp lý giữa cống hiến và hưởng thụ của những người tham gia bảo hiểm xã hội

Thời gian đóng bảo hiểm xã hội được quy định cụ thể cho từng đối tượng lao động và phù hợp với độ tuổi của lao động đó Thời gian này cũng được xây dựng dựa trên các điều kiện và môi trường lao động cũng như hoàn cảnh kinh tế xã hội của từng thời kỳ Cụ thể:

 Các trường hợp bình thường: 20 năm trở lên

 Các trường hợp đặc biệt (hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức lương hưu thấp hơn): 15 năm đến dưới 20 năm

Có thể tóm tắt về độ tuổi và thời gian đóng bảo hiểm xã hội của những người lao động hưởng chế độ hưu trí theo Nghị định 12/CP thành bảng sau:

Theo Điều 25 Điều lệ Bảo hiểm xã hội Khoản Tuổi Năm đóng bảo

hiểm xã hội Điều kiện áp dụng

>; = 20 năm  Đủ 15 năm làm nghề hoặc

công việc nặng nhọc, độc hại

Trang 28

 Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên

 Đủ 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/04/1975 hoặc ở Campuchia trước ngày 31/08/1989

Theo Điều 26 Điều lệ Bảo hiểm xã hội Khoản Tuổi Năm đóng bảo

hiểm xã hội Điều kiện khác

 20 năm Trong 20 năm đóng bảo hiểm xã

hội có đủ 15 năm làm việc đặc biệt nặng nhọc và khả năng lao động suy giảm ít nhất 61%

Trang 29

1.4.2.3 Mức đóng và mức trợ cấp Bảo hiểm hưu trí

Mức đóng

Quỹ hưu trí là một yếu tố vô cùng quan trọng trong chế độ hưu trí Quỹ được xây dựng dựa trên sự nghiên cứu rất kỹ lưỡng về mức đóng cũng như phương pháp để bảo tồn và phát triển quỹ Mức đóng trong chế độ hưu trí sẽ được quy định cụ thể đối với người lao động, người sử dụng lao động trong quá trình đóng và là cơ sở để tính mức hưởng hưu trí hàng tháng Việc quy định mức đóng cho chế độ hưu trí được xác định riêng theo một tỷ lệ trên thu nhập hay tiền lương của người lao động và phía người sử dụng lao động cũng đóng một tỷ lệ trên tổng quỹ lương của những người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Mức đóng Bảo hiểm hưu trí của người lao động và người sử dụng lao động được quy định như sau:

 Người lao động: đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi các chế độ hưu trí và tử tuất (Điều 36 – Khoản 2 – NĐ12/CP)

 Người sử dụng lao động: đóng bằng 10% để chi các chế độ hưu trí và tử tuất (Điều 36 – Khoản 1 – NĐ12/CP)

Mức trợ cấp hưu trí

 Mức trợ cấp hưu trí hay mức lương hưu là số tiền mà một người về hưu nhận được hàng tháng hoặc một lần kể từ khi nghỉ hưu Lương hưu phụ thuộc vào các yếu tố sau:

 Thời gian đóng bảo hiểm xã hội: Độ dài quá trình đóng bảo hiểm xã hội là khoảng thời gian mà người lao động tham gia bảo hiểm xã hội Thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội phản ánh phần đóng góp của người lao động vào quỹ Bảo hiểm xã hội, do vậy, người đóng bảo hiểm xã hội với một khoảng thời gian dài thì khi về hưu khoản trợ cấp mà họ nhận được sẽ cao hơn những người có thời gian đóng bảo hiểm xã hội ngắn (tối đa là 75%) Thời gian

Trang 30

đóng Bảo hiểm xã hội còn thể hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, đảm bảo sự công bằng giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội

 Thu nhập hoặc tiền lương lúc đang làm việc làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cũng phản ánh phần đóng góp của người lao động vào quỹ Bảo hiểm xã hội Mức lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội cao thì người lao động sẽ đóng vào quỹ Bảo hiểm xã hội nhiều hơn và đương nhiên họ sẽ được hưởng nhiều hơn Tuy nhiên, mức trợ cấp hưu trí phải thấp hơn mức thu nhập khi đang làm việc Trợ cấp thay thế cho tiền lương, tiền công và trợ cấp có tính chất hỗ trợ thêm tương ứng với mức thu nhập trước đây Chính vì vậy mức trợ cấp này về mặt nguyên tắc phải thấp hơn mức tiền lương khi đang làm việc Nếu như mức tiền lương chi trả cho người lao động bằng hoặc lớn hơn mức trợ cấp bảo hiểm xã hội thì sẽ không một ai cố gắng làm việc, tích cực làm việc để nhận lương mà họ sẽ mong về hưu sớm để không phải làm việc mà cũng nhận được lương hưu như mức lương bình thường

 Mức sống trung bình của người lao động trong xã hội: không thể nói người nghỉ hưu sẽ có một cuộc sống đầy đủ, tiện nghi như họ mong muốn chỉ dựa trên khoản lương hưu mà Nhà nước chi trả Khoản trợ cấp này chỉ có thể đảm bảo cho người lao động khi nghỉ hưu có một cuộc sống ở mức trung bình Muốn đưa ra được một mức lương hưu phù hợp (không quá cao, không quá thấp) cho người lao động thì Nhà nước phải dựa trên những nhu cầu sống thực tế của lao động trong xã hội, để từ đó có thể quyết định một mức lương hưu hợp lý Đây được xem là một định mức đảm bảo vừa mang tính nhân văn, vừa mang tính hiện thực – tức nó phải tạo nên được ấn tượng và tác dụng xã hội, mặt khác nó cũng đảm bảo tính thiết thực đối với đời sống của con người mà không phải chỉ là sự tượng trưng Pháp luật đã quy định mức lương hưu không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định

 Cách tính trợ cấp hưu trí:

Cách tính trợ cấp hưu trí hàng tháng:

Người lao động có thời gian đóng Bảo hiểm xã hội đủ 15 năm thì được tính bằng 45% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội,

Trang 31

sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng Bảo hiểm xã hội được tính thêm 3% đối với lao động nữ và 2% đối với lao động nam Mức lương hưu hàng tháng tối đa bằng 75% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn A có 35 năm đóng bảo hiểm xã hội, lương hưu được tính như sau:

 15 năm đầu được tính 45%

 Từ năm thứ 16 đến năm thứ 35 là 20 năm, được tính: 20 năm x 2%/năm

= 40%

 Tỷ lệ để tính lương hưu hàng tháng là: 45% + 40% = 85%

Trường hợp này lương hưu hàng tháng chỉ tính bằng 75% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

16 17 18 … 25 … 30

Nam

45% 2% 47% 49% 51% … … … 75% Nữ 3% 48% 50% 53% … 75%

[74 – Trang 12]

Đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa bằng 75% mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội:

 Đối với nam có thời gian đóng bảo hiểm xã hội 30 năm

 Đối với nữ có thời gian đóng bảo hiểm xã hội 25 năm

Cách tính trợ cấp hưu trí hàng tháng với mức thấp hơn:

Người hưởng lương hưu với mức thấp hơn hay những trường hợp nghỉ hưu trước tuổi do bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên cứ mỗi năm nghỉ việc trước tuổi thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội Cụ thể:

 Đối với người lao động làm nghề bình thường: Người lao động hưởng chế độ hưu trí hàng tháng với mức lương hưu thấp hơn theo quy định

Trang 32

tại khoản 2 Điều 26 Điều lệ Bảo hiểm xã hội (nam đủ 50 tuổi, nữ đủ

45 tuổi, đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 trở lên, suy giảm khả năng lao động 61% trở lên) thì cách tính lương hưu vẫn thực hiện theo cách tính lương hưu đối với trường hợp hưởng lương hưu hàng tháng, nhưng cứ mỗi năm nghỉ việc trước 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Ví dụ: Bà Trần Thị D nghỉ hưu từ 01/02/2003, khi nghỉ hưu 52 tuổi, có 22 năm đóng bảo hiểm xã hội, bị suy giảm khả năng lao động 61% Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng của bà D được tính như sau:

 Tỷ lệ % để tính lương hưu:

15 năm đầu được tính 45%

Từ năm thứ 16 đến năm thứ 22 là 7 năm được tính thêm 21% (7 năm x 3%/năm = 21%)

 Tổng cộng: 45% + 21% = 66%

 Tỷ lệ % tính giảm do khi nghỉ hưu trước tuổi 55: (55 tuổi – 52 tuổi) x 1% = 3%

 Tỷ lệ % để tính lương hưu là: 66% - 3% = 63%

 Trường hợp theo khoản 2 Điều 25 Điều lệ Bảo hiểm xã hội thì: Người lao động có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên hoặc có 10 năm công tác ở miền Nam, ở Lào trước ngày 30/04/1975 hoặc ở Campuchia trước 31/08/1989

Nam đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi, nữ đủ 45 tuổi đến dưới 50 tuổi, có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì cách tính lương hưu thực hiện theo ví dụ ở phần trên, nhưng cứ mỗi năm nghỉ việc trước 55 tuổi đối với nam, 50 tuổi đối với nữ thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Ví dụ: Ông Trần Văn Đ là công nhân nghỉ hưu từ 01/04/2003, khi nghỉ hưu 50 tuổi, có 29 năm đóng bảo hiểm xã hội trong đó có 15 năm làm việc nặng nhọc, độc hại,

Trang 33

bị suy giảm khả năng lao động 61% Tỷ lệ lương hưu hàng tháng của ông Đ được tính như sau:

 Tỷ lệ % để tính lương hưu:

 15 năm đầu được tính 45%

 Từ năm thứ 16 đến năm thứ 29 là 14 năm được tính thêm 28%

 Tổng cộng: 45% + 28% = 73%

 Tỷ lệ % tính giảm do nghỉ hưu trước tuổi 55: (55 tuổi – 50 tuổi) x 1% = 5%

 Tỷ lệ % để tính lương hưu là: 73% - 5% = 68%

 Trường hợp theo khoản 3 Điều 26 Điều lệ Bảo hiểm xã hội thì: người lao động có ít nhất 15 năm làm nghề đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đã có đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên mà bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên (không phụ thuộc vào tuổi đời) thì cách tính lương hưu vẫn theo quy định như trên nhưng cứ mỗi năm nghỉ việc hưởng lương hưu trước 55 tuổi đối với nam, 50 tuổi đối với nữ thì giảm 1% mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn H, có 25 năm đóng bảo hiểm xã hội, trong đó có

15 năm làm nghề đặc biệt nặng nhọc Do sức khỏe yếu, ông H được Hội đồng Gíam định Y khoa khám và kết luận suy giảm khả năng lao động 61% và được nghỉ hưu tháng 2/2003, khi nghỉ hưu ông H đủ 48 tuổi Tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng của ông H được tính như sau:

 Tỷ lệ % để tính lương hưu:

15 năm đầu được tính 45%

Từ năm thứ 16 đến năm thứ 25 là 10 năm được tính thêm 20% (7 năm x 3%/năm = 21%)

Trang 34

 Riêng đối với lao động khi nghỉ việc có đủ 3 điều kiện dưới đây thì được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng mà không phải giảm tỷ lệ % lương hưu do về hưu trước tuổi:

 Nam đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi, nữ đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi

 Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 30 năm trở lên

 Có đơn tự nguyện nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí

Ví dụ: Ông Nguyễn Văn K có đơn tự nguyện nghỉ hưu tháng 3/2003, khi nghỉ hưu đủ 55 tuổi, có đủ 30 năm làm việc và đóng bảo hiểm xã hội Tỷ lệ tính hưởng lương hưu của ông K được tính đủ bằng 75%

 Cách tính trợ cấp một lần khi nghỉ hưu:

Đối với những người có trên 30 năm đóng bảo hiểm xã hội (đối với nam) và trên 25 năm (đối với nữ) thì ngoài lương hưu hàng tháng còn được trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, cứ mỗi năm đóng thêm, người lao động được nhận thêm 0,5 của mức bình quân của tiền lương đóng bảo hiểm xã hội

Mức trợ cấp một lần tối đa không quá 5 tháng

Ví dụ: Bà Trần Thị L nghỉ hưu khi đủ 55 tuổi và có 30 năm đóng bảo hiểm xã hội Tính trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu của bà L như sau: Từ năm thứ 26 trở lên, bà L có 5 năm đóng bảo hiểm xã hội, trợ cấp 1 lần bằng: 5 năm x 0,5 tháng/năm = 2,5 tháng mức bình quân của tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

 Cách tính trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần:

 Các trường hợp sau đây được nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần:

 Người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu (60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ), nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội (15 năm) để hưởng chế độ hưu trí

 Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo Khoản 2-Điều 25 Điều lệ Bảo hiểm xã hội (nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi) nhưng chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội

 Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội (20 năm) để hưởng chế độ hưu trí

Trang 35

 Người đi định cư hợp pháp ở nước ngoài (người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép xuất cảnh để đi sinh sống ở nước ngoài)

 Người lao động có hợp đồng lao động trước 31/12/2002, chấm dứt từ 01/01/2003 về sau và có đơn tự nguyện nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội 1 lần

 Mức hưởng: cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng 1 tháng mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

Trang 36

CÁCH TÍNH MỨC BÌNH QUÂN CỦA TIỀN LƯƠNG THÁNG LÀM CĂN CỨ ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI (A) ĐỂ LÀM CƠ SỞ TÍNH LƯƠNG HƯU HÀNG THÁNG VÀ TRỢ CẤP BẢO HIỂM XÃ HỘI 1 LẦN

 Người hưởng tiền lương theo thang, bảng lương do Nhà nước quy định thì sẽ là bình quân mức tiền lương tháng trong 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu

 Đối với người không đóng theo các mức tiền lương tháng trong hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định thì sẽ là bình quân toàn bộ các mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội

 Đối với người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo tiền lương trong các hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội không theo các mức lương trong hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định thì tính bình quân gia quyền các mức tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian Cụ thể là trước hết, tính tổng số tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định bằng cách lấy mức lương bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 5 năm cuối nhân với tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội theo thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định Sau đó, tính tổng số tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội không theo thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định bằng cách cộng tổng giá trị tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của từng tháng trong khu vực Liên doanh, Tư nhân… rồi cộng tổng giá trị tiền lương

Tổng số tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 60 T trước

Trang 37

đóng bảo hiểm xã hội của cả 2 giai đoạn đem chia cho tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội của cả 2 giai đoạn

1.4.2.4 Độ dài thời gian hưởng trợ cấp hưu trí

Độ dài thời gian hưởng trợ cấp hưu trí là thời gian kể từ khi người lao động nghỉ hưu đến khi qua đời Thời gian hưởng lương hưu của mỗi người khác nhau vì tuổi nghỉ hưu và tuổi thọ của mỗi người không giống nhau Để có căn cứ tính toán thời gian hưởng lương hưu làm cơ sở xác định mức độ chi trả của chế độ hưu trí, các nhà nghiên cứu thường lấy số bình quân thời gian hưởng lương hưu của những người nghỉ hưu trong cùng hệ thống bảo hiểm xã hội

Trên đây là những yếu tố cơ bản của chế độ hưu trí, tuy nhiên việc nghiên cứu các yếu tố trên để xây dựng chế độ hưu trí cần phải được xem xét một cách tổng thể trong điều kiện tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia

Tổng số tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội

+

+++

=

Tổng số tiền lương tháng làm

căn cứ đóng bhxh theo thang,

bảng lương NN quy định

Tổng số tháng đóng bảo hiểm xã hội A=

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ Ở NƯỚC TA – MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ

2.1 Thực trạng chế độ hưu trí ở nước ta

2.1.1 Thực trạng thực hiện chế độ hưu trí ở nước ta

2.1.1.1 Thực trạng tham gia Bảo hiểm xã hội hưu trí

Bảo hiểm hưu trí là một chế độ bảo hiểm trong hệ thống Bảo hiểm xã hội bắt buộc ở nước ta Do vậy, thực trạng tham gia bảo hiểm hưu trí cũng chính là thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội nói chung Thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay có một số nét chính sau:

 Số người tham gia Bảo hiểm xã hội ngày càng tăng:

 Qua số liệu của một số địa phương, ta thấy số người tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng tăng ở tất cả các địa phương trong cả nước Ví dụ như:

 Ở Thành phố Hồ Chí Minh: trong năm 2004, toàn Thành phố có 13.571 đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc với số lao động 1.314.561 người, tăng 11% so với năm 2003 Trong đó lao động ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 584,149 người, tăng 57.062 lao động

 Ở Tỉnh Vĩnh Long: số lượng tham gia bảo hiểm xã hội tăng lên rất nhanh, từ 142.100 người năm 2003 tăng lên 184.200 người năm 2004

 Ở Tỉnh Bình Dương: nếu năm 1997 toàn Tỉnh mới có 86.090 lao động tham gia (trong đó 18.642 lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) thì năm 2004 đã có gần 250.000 lao động, tăng hơn 2,9 lần, trong đó có 175.251 lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Với số lượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngày một tăng lên thì chế độ hưu trí – một trong những chế độ cơ bản cũng sẽ được đảm bảo vì những con số

Trang 39

phản ảnh ở trên chính là những con số thể hiện cụ thể cho chế độ hưu trí về số lượng tham gia

 Nguyên nhân của việc gia tăng số lượng tham gia Bảo hiểm xã hội hưu trí:

 Tăng dân số: Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển dân số khá nhanh Mặc dù trong những năm gần đây xu hướng tăng chậm lại nhưng tỷ lệ phát triển dân số hàng năm vẫn trên 2% Đây là nguồn nhu cầu tiềm năng rất lớn cho bảo hiểm xã hội nói chung và cho chế độ hưu trí nước ta nói riêng

Năm Dân số (nghìn người)

[Số liệu Tổng kết dân số từ năm 2001 – 2005]

 Số người lao động thuộc diện tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc tăng: Do:

 Cơ cấu lao động thay đổi, từ nông nghiệp chuyển dần sang công nghiệp Nền công nghiệp và kinh tế hàng hoá phát triển đã làm xuất hiện thêm nhiều nhu cầu về lao động để đáp ứng cho tình hình mới, các quan hệ lao động được xác lập nhiều hơn, đối tượng lao động làm công ăn lương phát triển và theo đó là số người tham gia Bảo hiểm xã hội cũng tăng theo

 Sự thay đổi của pháp luật cũng đã làm cho số lượng người tham gia Bảo hiểm xã hội tăng nhanh, ví dụ như đối tượng áp dụng Bảo hiểm xã hội quy định ở NĐ01/CP ngày 09/01/2003 đã được mở rộng hơn so với NĐ12/CP ngày 26/01/1995

Trang 40

Theo số liệu thống kê của Bảo hiểm xã hội Việt Nam thì:

 Năm 1996: số lao động tham gia Bảo hiểm xã hội hưu trí là 3.231.444 lao động Con số này vẫn tiếp tục tăng và đến năm 2000 thì con số này là 4.127.680 lao động

 Đến thời điểm năm 2004 và tháng 9-2005 thì con số này đã là 5.820.000 lao động – 6.205.000 lao động Cụ thể:

Năm

Số lao động tham gia bảo hiểm xã hội (người)

Người tham gia bảo hiểm xã hội so với năm trước (%)

 Vẫn còn tình trạng trốn đóng Bảo hiểm xã hội, nợ Bảo hiểm xã hội

Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tuy đã được mở rộng nhưng số người thực tế tham gia mới chiếm tỷ lệ 14,5% so với lực lượng lao động Hiện nay, cả nước có khoảng trên 40 triệu lao động, trong đó trên 10 triệu người có quan hệ lao động, nhưng thực tế số người tham gia bảo hiểm xã hội chỉ có 5,8 triệu người chủ yếu vẫn là lao động ở khu vực Nhà nước; số lao động làm việc ở các cơ sở sản

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
33. Mac-Ăngghen tuyển tập, tập 2 NXB Sự thật, Hà Nội 1962 34. Mac-Ăngghen, tập 25, quyển 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mac-Ăngghen tuyển tập, tập 2
Tác giả: Mac-Ăngghen
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1962
38. Trần Quang Hùng và PTS Mạc Văn Tiến, “Đổi mới chính sách xã hội đối với người lao động”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội – 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách xã hội đối với người lao động
Tác giả: Trần Quang Hùng, PTS Mạc Văn Tiến
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
39. Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới (Tập 1) – Nhà xuất bản Tư Pháp Hà Nội – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới (Tập 1)
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư Pháp Hà Nội
Năm: 2005
40. Thông tin Khoa học pháp lý – Chuyên đề về BLLĐ 1994 của Việt Nam – Bộ Tư Pháp – Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý.CÁC TÀI LIỆU LÀ BÀI VIẾT TRÊN BÁO CHÍ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin Khoa học pháp lý – Chuyên đề về BLLĐ 1994 của Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư Pháp, Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý
41. TS. Đặng Anh Duệ (Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội) - Bài “Một số nội dung trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội so với quy định hiện hành” - Tạp chí Lao động & Xã hội – Số chuyên đề tháng 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nội dung trong Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội so với quy định hiện hành
Tác giả: TS. Đặng Anh Duệ
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2001
42. Tác giả Nguyễn Xuân Nga (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) – Bài “Một số ý kiến về xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội” - Tạp chí Lao động &Xã hội – Số chuyên đề tháng 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Nguyễn Xuân Nga
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2001
43. TS. Phan Thanh Trâm (Uỷ viên Đoàn Chủ tịch – Trưởng ban Nghiên cứu HLHPN Việt Nam) - Bài “Bàn về tuổi hưu của lao động nữ trong Luật Bảo hiểm xã hội” - Tạp chí Lao động & Xã hội – Số chuyên đề tháng 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tuổi hưu của lao động nữ trong Luật Bảo hiểm xã hội
Tác giả: TS. Phan Thanh Trâm
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2001
44. Tác giả Đào Hồng Lan - Bài “Cơ sở để xác lập chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc trong Luật Bảo hiểm xã hội” - Tạp chí Lao động & Xã hội – Số chuyên đề tháng 11/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở để xác lập chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc trong Luật Bảo hiểm xã hội
Tác giả: Đào Hồng Lan
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2001
45. ThS. Lê Thị Hoài Thu - Bài “Xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội” - Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03 (Tháng 02/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội
46. Tác giả Nguyễn Huy Ban (Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam) – Bài “Một số vấn đề về chính sách hưu trí”Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế – Luật, t.XVIII, N 0 1, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về chính sách hưu trí
Tác giả: Nguyễn Huy Ban
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế – Luật
Năm: 2002
47. TS. Đặng Anh Duệ (Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm xã hội) - Bài “Để thực hiện bảo hiểm xã hội cho lao động ở khu vực kinh tế tập thể và cá thể” - Tạp chí Lao động & Xã hội số 214 (từ 1-15/05/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để thực hiện bảo hiểm xã hội cho lao động ở khu vực kinh tế tập thể và cá thể
Tác giả: TS. Đặng Anh Duệ
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2003
48. Tác giả Đào Hồng Lan (Vụ Bảo hiểm xã hội) - Bài “Vẫn cần tiếp tục giải quyết những bất hợp lý về lương hưu” - Tạp chí Lao động & Xã hội số 214 (từ 1-15/05/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vẫn cần tiếp tục giải quyết những bất hợp lý về lương hưu
Tác giả: Đào Hồng Lan
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2003
49. Tác giả Trần Aùnh Ngọc – Bài “Philippin Bảo hiểm xã hội cho toàn dân” - Tạp chí Lao động & Xã hội số 221 (từ 16-31/8/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Philippin Bảo hiểm xã hội cho toàn dân
Tác giả: Trần Aùnh Ngọc
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2003
50. TS. Doãn Mậu Diệp (Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội) – Bài “Bàn về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ” - Tạp chí Lao động & Xã hội số 221 (từ 16-31/8/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tuổi nghỉ hưu của lao động nữ
Tác giả: TS. Doãn Mậu Diệp
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2003
51. Tác giả Hằng Nga - Bài “Chính sách thu chưa hiệu quả” - Tạp chí Pháp luật - Chuyên đề số 2 tháng 11/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thu chưa hiệu quả
Tác giả: Hằng Nga
Nhà XB: Tạp chí Pháp luật
Năm: 2004
52. ThS. Lê Thị Hoài Thu - Bài “Về tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ” - Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 3 (144)-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tuổi nghỉ hưu đối với lao động nữ
Tác giả: ThS. Lê Thị Hoài Thu
Nhà XB: Tạp chí Dân chủ & Pháp luật
Năm: 2004
53. Tác giả Trần Thị Bích Thuỷ (Bảo hiểm xã hội Việt Nam) - Bài “Thực hiện BHXH bắt buộc trong các doanh nghiệp. Thực trạng và kiến nghị” - Tạp chí Lao động & Xã hội số 250 (từ 1-15/11/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện BHXH bắt buộc trong các doanh nghiệp. Thực trạng và kiến nghị
Tác giả: Trần Thị Bích Thuỷ
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2004
54. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang – Bài “Bám sát tình hình phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn” - Tạp chí Lao động & Xã hội số 238 (từ 1-15/5/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bám sát tình hình phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2004
55. Tác giả Nguyễn Viết Chiểu – Bài “Tất cả vì quyền lợi của người lao động” – Tạp chí Lao động & Xã hội số 237 (từ 16-30/4/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tất cả vì quyền lợi của người lao động
Tác giả: Nguyễn Viết Chiểu
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2004
56. Tác giả Quốc Đạt – Bài “Thực hiện tốt chính sách Bảo hiểm xã hội trên quê hương Bác” – Tạp chí Lao động & Xã hội số 244 (từ 1-15/8/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện tốt chính sách Bảo hiểm xã hội trên quê hương Bác
Tác giả: Quốc Đạt
Nhà XB: Tạp chí Lao động & Xã hội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng số liệu thống kê sau của Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ làm rõ nét  hơn sự tăng trưởng số người hưởng trợ cấp hưu trí: - Chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí trong luật lao động việt nam
Bảng s ố liệu thống kê sau của Bảo hiểm xã hội Việt Nam sẽ làm rõ nét hơn sự tăng trưởng số người hưởng trợ cấp hưu trí: (Trang 44)
SƠ ĐỒ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM - Chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí trong luật lao động việt nam
SƠ ĐỒ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM (Trang 52)
BẢNG THỐNG KÊ TUỔI NGHỈ HƯU CỦA MỘT SỐ - Chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí trong luật lao động việt nam
BẢNG THỐNG KÊ TUỔI NGHỈ HƯU CỦA MỘT SỐ (Trang 75)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w