Quy định về tài sản trong BLDS 2005 cũng rất rõ, nhưng hiện nay có 1 số trường hợp phát sinh trên thực tế mà theo người viết thì quy định này chưa đi kịp sự phát triển của xã hội, gây ản
Trang 1PHẠM VĂN ĐOÀN EM
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
Trang 2PHẠM VĂN ĐOÀN EM
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hình Sự
Mã số: 60.38.40
Người hướng dẫn khoa học: TS Hồ Thế Hòe
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi; các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực; nếu các số liệu, kết quả, thông tin trong luận văn được sử dụng từ các công trình đã được công bố hoặc sử dụng từ các tác giả khác đều được trích dẫn nguồn cụ thể và chính xác Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực này./
Tác giả luận văn
Phạm Văn Đoàn Em
Trang 5Lời cam đoan
Danh mục chữ viết tắt
Mục lục
MỞ ĐẦU 1 Chương 1
6
6
n 6 1.1.2
24 2.1.3
Trang 628
32
42
Chương 49
50
định hướng hoàn thiện 50
57
61
3.2.1 61
3.2.2 66
3.2.3 hoàn thiện 69
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
––
Trang 8
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
–
nhà nước về bồi thường nhà nước”, ứu lập pháp, số 4; Nguyễn
Thị Hoài Phương (2010) “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự của nhà nước ở
Việt Nam - nhìn từ góc độ bảo đảm quyền con người”, Tạp chí khoa học pháp lý, số
Quỳ và Trần Đại Thắng (2005) “Tìm hiểu về bồi thường thiệt hại cho người bị oan
trong tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới”, Tạp chí kiểm sát, số 16; Hồ Sỹ
Trang 9Sơn (2010), “Các giải pháp phòng chống oan sai trong tố tụng hình sự nhìn từ góc
độ cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay”, Tạp chí tòa án nhân dân, số 1…
t
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích: Làm rõ lí luận
3.2 Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt ra những vấn đề
và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 104 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Thời gian nghiên cứu: Người viết chọn thời gian nghiên cứu của đề tài từ năm
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng đề tài
Việc nghiên cứu biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại trong luật hình sự hiện hành chủ yếu tập trung nghiên cứu lý luận và nội dung pháp luật hiện hành quy định về biện pháp tư pháp này, bên cạnh đó còn phân
Trang 11tích thực trạng áp dụng biện pháp tư pháp này trên thực tiễn Người viết tìm hiểu những khó khăn và hạn chế trong thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; từ đó tìm hiểu nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế và đề ra những giải pháp có liên quan nhằm khắc phục những khó khăn đó
7 Bố cục của luận văn
Chương 1
trong luật hình sự Chương 2 Nội dung pháp lý của biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại trong luật hình sự hiện hành
Chương 3 Những bất cập và giải pháp liên quan đến biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
Trang 12i là biện pháp tư pháp rất quan trọng luật hình sự Việt Nam, nghiên cứu lý luận về biện pháp này tạo ứu nội dung pháp lý cũng như việc
áp dụng biện pháp tư pháp này nhằ ả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hạ ứu về lý luận, các vấn đề đặt ra như: khái niệm tài sản, khái niệm bồi thường thiệt hại, khái niệm đặc điểm và ý nghĩa của biện pháp tư pháp Bên cạnh đó sơ lược tiến trình phát triển của biện pháp
tư pháp này trong lịch sử lập pháp của nước ta
1.1.1
Thuật ngữ “tài sản” (biens – property) có thể được hiểu theo hai cách:(1)
Thứ nhất, về phương diện pháp lý, tài sản là của cải được con người sử dụng
Của cải là một khái niệm luôn luôn biến đổi và hoàn thiện cùng với sự phát triển của quan niệm về giá trị vật chất Ở xã hội La Mã cổ xưa, nhắc đến tài sản người ta liên tưởng ngay đến những của cải trong gia đình như ruộng đất, nhà cửa, gia súc… Còn trong xã hội hiện đại ngày nay, ngoài của cải trong gia dình, thì còn có một số loại tài sản đặc biệt như năng lượng mặt trời, thủy năng, phần mềm máy tính
Thứ hai, trong ngôn ngữ thông dụng hàng ngày, tài sản là môt vật cụ thể mà
có thể nhận biết bằng các giác quan và được con người sử dụng trong đời sống hang ngày Vì vậy, tài sản được nói đến ở đây chỉ là tài sản hữu hình mà thôi
Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Dân sự năm
1995, tại Điều 172: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng
1 Nguyễn Ngọc Điện (2008), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1), Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ,
tr 99
Trang 13tiền và các quyền tài sản” Tiếp đó, Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: „tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Khái niệm tài sản theo Bộ luật Dân sự 2005 đã mở rộng hơn Bộ luật Dân sự 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, mà theo đó, không chỉ những “vật có ở hiện tại” mới được gọi là tài sản mà cả những vật hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản Tuy nhiên, cũng giống như Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật Dân sự 2005 cũng đưa ra khái niệm theo hình thức liệt kê Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản
- Vật: Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người
có thể cảm giác được bằng giác quan của mình ví dự như xe, nhà, gia súc… Vật chỉ
có ý nghĩa khi nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật Nếu bộ phận của thế giới vật chất mà con người không thể kiểm soát, chiếm hữu dược nó thì đồng nghĩa với việc con người không thể tác động được vào nó Do đó, không không khí, gió, mưa thuộc về vật chất nhưng không thể coi là tài sản về mặt pháp lý Hơn nữa, là đối tượng trong quan hệ pháp luật, vật phải đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ Như vậy, không phải mọi vật đều được xem là tài sản, muốn trở thành tài sản thì vật phải thỏa mãn những điều kiện sau: là bộ phận của thế giới vật chất; con người chiếm hữu được; mang lợi ích cho chủ thể; có thể đang tồn tại hoặc hình thành trong tương lai
- Tiền: Tiền theo kinh tế chính trị học, là giá trị đại diện cho giá trị thực của hàng hóa.(2) Tiền là vật ngang giá chung được dung làm thước đo giá trị của các loại tài sản khác Vì vậy, tiền được xem là loại tài sản đăc biệt Ngoài ra, về mặt chính trị, tiền còn là đại diện cho chủ quyền của một quốc gia Do đó, đòi hỏi người có tiền (chủ sở hữu) không thể có toàn quyền định đoạt loại tài đặc biệt này mà phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt của Nhà nước Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 đã bỏ qua quy định tiền thanh toán phải là tiền Việt Nam như quy định tại Bộ luật Dân sự 1995 nên về mặt pháp lý tiền có thể được hiểu là nội tệ và ngoại
2 Nguyễn Ngọc Điện (2008), Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 1), Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ,
tr.99
Trang 14
tệ Tuy nhiên, ngoại tệ là loại tài sản hạn chế lưu thông chứ không được lưu hành rộng rãi như tiền Việt Nam Do đó, tiền có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
- Giấy tờ có giá: giấy tờ có giá là loại tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân
sự hiện nay đặc biệt là giao dịch trong các hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Giấy tờ có giá hiện nay được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như: séc, cổ phiều, công trái, hối phiếu, kỳ phiếu… Khác với tiền chỉ do
cơ quan duy nhất là ngân hàng Nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có rất nhiều cơ quan ban hành như: Chính phủ, ngân hàng, kho bạc và các công ty cổ phần Việc thực hiện quyền định đoạt về số phận thực tế đối với giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việt định đoạt tiền
Cần lưu ý là các loại giấy tờ xác nhận quyền sử dung đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, giấy đăng ký ô tô, sổ tiết kiệm không phải là giấy tờ có giá Nó chỉ được coi là một vật thuộc sở hữu của người đứng tên trên vật đó
- Quyền tài sản được định nghĩa tại Điều 181 Bộ luật Dân sự 2005 là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ Theo đó thì quyền tài sản trước tiên phải được hiểu là xử sự được phép của chủ thể mang quyền Quyền ở đây chính là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Quyền này phải trị giá được bằng tiền hay nói cách khác phải tương đương với một đại lượng vật chất nhất định Quyền tài sản thì có rất nhiều nhưng chỉ những quyền tài sản nào có thể trở thành đối tượng trong các giao dịch dân sự thì mới coi là tài sản tại Điều 163 Bộ luật Dân
sự 2005 Hiện nay, pháp luật Dân sự Việt Nam công nhận một số quyền tài sản như quyền sử dụng đất, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản bị xâm phạm, quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ
Trang 15Tóm lại, tài sản bao gồm của cải, vật chất và những gì mang lại lợi ích cho con người, đồng thời phải trị giá được bằng tiền Ngoài ra, của cải hay vật chỉ có thể
là tài sản nếu chúng thuộc sở hữu của một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự
Quy định về tài sản trong BLDS 2005 cũng rất rõ, nhưng hiện nay có 1 số trường hợp phát sinh trên thực tế mà theo người viết thì quy định này chưa đi kịp sự phát triển của xã hội, gây ảnh hưởng không nhỏ cho việc áp dụng pháp luật nói chung và áp dụng biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại trong luật hình sự nói riêng
Trong thực tiễn hình thành và phát triển của xã hội, hành vi gây thiệt hại thì phải bồi thường là chân lý cốt yếu nếu bên bị xâm phạm và bị thiệt hại là lợi ích được cộng đồng, nhà nước bảo vệ Do vậy, bồi thường thiệt hại là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật dân sự Trải qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, ở những quốc gia khác nhau thì việc bồi thường thiệt hại được quy định khác nhau về chủ thể, điều kiện, mức, hình thức và phương thức bồi thường(3)
Bồi thường thiệt hại có thể hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự phát sinh khi có hành vi xâm phạm các lợi ích được pháp luật dân sự bảo vệ (tính mạng, sức khoẻ, tài sản…) và gây thiệt hại Theo đó, người gây thiệt hại phải bồi thường những tổn thất về vật chất và tinh thần cho người bị xâm phạm lợi ích được pháp luật dân sự bảo vệ Bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ dân sự phát sinh do lỗi
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.(4)
3 NHIEM-BOI-THUONG-CUA-NHA-NUOC.aspx
http://www.vibonline.com.vn/Phobienphapluat/1835/DAC-SAN-TUYEN-TRUYEN-VE-LUAT-TRACH-4 NHIEM-BOI-THUONG-CUA-NHA-NUOC.aspx
Trang 16
Bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại Trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có các điều kiện cần và đủ sau:
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại;
- Có lỗi của người gây thiệt hại
Có nhiều cách phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nhưng cách phân loại phổ biến nhất được chia thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng
và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
+ Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự
mà một bên trong quan hệ hợp đồng có hành vi vi phạm nghĩa vụ đã quy định hợp đồng như việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng, gây ra thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những tổn thất mà mình gây ra + Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự mà khi một người có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra, ở đây không tồn tại mối quan hệ hợp đồng
Cùng với hình phạt, các BPTP cũng là những biện pháp cưỡng chế hình sự
có vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm Việc áp dụng các biện pháp tư pháp là cần thiết vì khi áp dụng chúng có khả năng tác động hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt Vai trò của các BPTP rất quan trọng trong việc giải quyết triệt để những vấn đề phát sinh trong một vụ án hình sự mà hình phạt chưa thể giải quyết hết Tuy nhiên cả BLHS 1985 trước đây lẫn BLHS hiện hành hiện nay nhà làm luật nước ta đều không ghi nhận khái niệm pháp lý: “Biện pháp tư pháp” là gì? Chính vì nguyên nhân này mà dưới góc độ lý luận hiện nay còn nhiều quan điểm không thống nhất xung quanh khái niệm các biện pháp tư pháp
Tác giả Trần Minh Hưởng trong những nghiên cứu của mình cho rằng: “Các biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được các cơ quan
Trang 17tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm tội hoặc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây ra nguy hiểm cho xã hội
và giáo dục họ trở thành những công dân có ích cho xã hội”(5) Quan điểm này theo người viết là chưa nêu ra được vai trò và vị trí của của biện pháp tư pháp, cũng như chưa đưa ra được biện pháp tư pháp là biện pháp hình sự mà chỉ nói chung là biện pháp cưỡng chế Nhà nước Tác giả Trần Minh Hưởng trong quan điểm của mình chưa nói lên được biện pháp tư pháp được quy định ở luật nào, nhưng ưu điểm của quan điểm này là nêu lên được đối tượng bị áp biện pháp này là người phạm tội hoặc người có hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trong từ điển pháp luật hình sự lại định nghĩa như sau: “Biện pháp tư pháp
là các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong BLHS do Tòa án áp dụng bổ sung cho hệ thống hình phạt với mục đích thay thế hoặc hổ trợ cho hình phạt.”(6)
Về quan điểm này cũng có một số ưu điểm nhất định, nhưng theo người viết là chưa đầy đủ, vì biện pháp bắt buộc chữa bệnh có thể do Viện kiểm sát áp dụng, quan điểm này cho rằng biện pháp tư pháp do Tòa án áp dụng là chưa đầy đủ,
mà phải là cơ quan tư pháp áp dụng
Ngoài ra, biện pháp tư pháp cũng được định nghĩa như sau: “Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được quy định trong BLHS, do các cơ quan tư pháp
áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt”.(7)
Quan điểm của người viết cũng giống như quan điểm thứ ba, định nghĩa như thế theo người viết là phù hợp Quan điểm này ngắn gọn, dễ hiểu và thể hiện đầy đủ nội hàm của một định nghĩa về biện pháp tư pháp từ bản chất nó là biện pháp hình
sự quy định trong BLHS cho đến đối tượng bị áp dụng là người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, chủ thể có thẩm quyền là cơ quan tư pháp, cũng như vai trò hổ trợ
5 Trần Minh Hưởng (2002), Tìm hiểu BLHS nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Phần chung), Nxb
Lao động, tr 198
6 Nguyễn Ngọc Hòa và Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp
7 Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) (2007), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Tập 1), Nxb Công an Nhân
dân, Hà Nội, tr 249
Trang 18hoặc thay thế hình phạt và vị trí của các biện pháp tư pháp trong mối tương quan với dạng thể hiện chính của trách nhiệm hình sự là hình phạt Đây cũng là quan điểm được thừa nhận rộng rãi nhất trong lý luận hình sự hiện nay
1.1.2
- :
có những đặc điểm như sau:
Thứ nhất: Là biện pháp cưỡng chế về hình sự được quy định trong BLHS BPTP này chỉ được áp dụng đối với những hành vi vi phạm pháp luật hình
sự, và cũng có thể xuất hiện khi có sự việc phạm tội (vì không có tội phạm thì cũng không thể có BPTP với tính chất là biện pháp cưỡng chế về hình sự), những hành vi
vi phạm các quy định pháp luật chuyên ngành khác như hành chính, dân sự… thì không thể bị áp dụng BPTP này
Hơn nữa, với tính chất là một trong các dạng trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất, việc áp dụng BPTP này cũng đem lại những hậu quả pháp lí bất lợi cho người phạm tội (hoặc người bị kết án) về mặt tài sản, vì vậy để tránh việc áp dụng tùy tiện gây ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia tố tụng (người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc người bị kết án) BPTP này phải được quy định trong BLHS để làm căn cứ pháp lí cho việc áp dụng và thi hành trên thực tế
Thứ hai: Được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó cấu thành tội phạm
Điều 42 BLHS hiện hành quy định: Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra
Trong trường hợp phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần; Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại
Điều 42 BLHS hiện hành quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị hại trong các vụ án hình sự như quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm
Trang 19phạm về tính mạng sức khỏe, danh dự, nhâm phẩm của công dân đã được quy định trong hiến pháp Đồng thời khẳng định rõ thái độ của Nhà nước trong việc bảo vệ tài sản thuộc các hình thức sở hữu khác nhau, không cho phép xâm phạm đến tài sản của bất kì ai Khi vụ án hình sự xảy ra thì bên cạnh việc phát sinh quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội còn làm phát sinh mối quan hệ giữa người phạm tội và những người có liên quan Do đó quá trình giải quyết vụ án cần phải giải quyết cả vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
Như vậy, biện pháp tư pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại được áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành
vi đó cấu thành tội phạm và cũng chính là người phạm tội
Thứ ba: Được áp dụng bởi cơ quan tư pháp hình sự
Với tính chất là một trong các dạng trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất, mặc dù không giống như hình phạt, song việc áp dụng biện pháp tư pháp này cũng đem lại hậu quả pháp lí bất lợi cho người phạm tội, do đó việc áp dụng biện pháp này trên thực tế đòi hỏi phải hạn chế tối đa sự tùy tiện, chính vì thế BLHS hiện hành giao thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp này cho cơ quan tư pháp hình sự
Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại là BPTP được BLHS quy định do Tòa án áp dụng với người phạm tội gây ra thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại và những người có liên quan
Trang 20Được áp dụng với tư cách là biện pháp nhằm hỗ trợ cho hình phạt thì biện pháp tư pháp này chỉ là biện pháp song song mang tính chất dân sự, giải quyết những vấn đề còn lại trong vụ án hình sự mà không có chức năng giải quyết, chứ không hoàn toàn thuộc nội dung của Trách nhiệm hình sự
-
ính chất dân
sự nhằm giải quyết triệt để những khía cạnh pháp lí nảy sinh trong vụ án hình sự mà hình phạt không có chức năng giải quyết như vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Có ý nghĩa đối với việc bảo đảm tôn trọng các quyền cơ bản của công dân Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật thì công dân được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Mọi hành vi gây thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và xâm hại tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, của cá nhân đều phải bồi thường và xử lý theo pháp luật
B
được quy định trong BLHS hiện hành, đó là một phần quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có ý nghĩa đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được chính xác, nhanh gọn, đỡ tốn kém về thời gian, công sức, bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi liên quan khi bị tội phạm xâm hại Nhiều chứng cứ trong vụ án hình sự có thể làm cơ sở cho việc giải quyết vấn đề dân
sự Ngoài ra, những đặc điểm đặc trưng của tố tụng hình sự về các nguyên tắc, thủ tục, thời hạn, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng so với những đặc điểm của
tố tụng dân sự cũng góp phần tăng tính khả thi trong việc thực hiện các quyết định
về dân sự trong vụ án hình sự
Giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác Phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, thông qua việc áp dụng trách nhiệm, các quy định của pháp luật giúp các chủ thể nhận thức được hậu
Trang 21quả bất lợi mà mình sẽ phải gánh chịu khi có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật, và
do đó có tác dụng phòng ngừa
Trong lịch sử pháp luật Việt Nam thì mãi cho đến khi thực hiện pháp điển hóa lần thứ nhất của Bộ luật hình sự Việt Nam (năm 1985) thì thuật ngữ: “Các biện pháp tư pháp” mới lần đầu tiên được sử dung, tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa
là các BPTP đã không được sử dụng trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Pháp luật hình sự Việt Nam ở khía cạnh nào cũng luôn thể hiện tính kế thừa và sự tiếp thu mang tính chọn lọc, nói như vậy có nghĩa là các quy định của Luật hình sự hiện hành nói chung và BPTP nói riêng cũng ít nhiều mang tính chất kế thừa có tính chọn lọc các quy định của các bộ luật trong lịch sử dân tộc
Đầu tiên là trong thời kì phong kiến, với hơn 1000 năm tồn tại, các vương triều phong kiến Việt Nam đã cho ra đời nhiều bộ luật khác nhau, một mặt vừa đáp ứng nhu cầu quản lí hành chính Nhà nước và bảo vệ sự thống trị của vương triều, một mặt vừa thể hiện được tính tự chủ dân tộc, có thể kể đến các bộ luật như: Hình thư nhà Lí ban hành dưới triều vua Lí Thánh Tông năm 1042, Quốc triều hình luật ban hành năm 1483 và Hồng Đức thiện chính thư (không rõ năm ban hành) của triều Lê dưới triều vua Lê Thánh Tông, Hoàng Triều luật lệ ban hành dưới triều Nguyễn năm 1811… Tuy nhiên do những biến động của lịch sử, nhiều bộ luật chúng ta không còn lưu giữ được nữa, do đó ở đây tác giả muốn hướng sự quan tâm đến bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật) và bộ Hoàng việt luật lệ là hai bộ luật còn được lưu giữ khá nguyên vẹn để làm rõ tính chất kế thừa của pháp luật hình sự hiện hành rõ phần quy định về các BPTP
Bộ luật Hồng Đức ban hành năm 1483 dưới triều Lê Thánh Tông là một trong hai văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật hình sự chủ yếu của nhà Lê (cùng với Hồng Đức thiện chính thư), cũng giống như những bộ luật phong kiến khác mục đích chủ yếu là bảo vệ quyền thống trị của nhà nước phong kiến, bảo vệ
Trang 22trật tự phong kiến do đó các chế tài của bộ luật này mang nặng tính chất trừng trị người phạm tội nên không chú trọng đến các biện pháp ngoài hình phạt, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể tìm thấy các biện pháp có tính chất tương tự như BPTP hiện hành, chẳng hạn như ở Điều 16 bộ Quốc triều hình luật viết: “Nếu ăn tộm có tang vật thì ai chứa chấp tang vật phải đền trả” Điều 163 quy định: “Các tướng soái ở phiên trấn của mình mà sách nhiễu tiền bạc của dân trong trấn, châu, huyện mình thì
bị biếm ba bực, phải bồi thường gấp đôi số tiền, trả lại cho dân” Điều 179 quy định: “Nếu phi tầng trong lăng miếu đã chết mà quan lệnh không đem phần thuế nguyên cấp cho người ấy trả vào kho thì phạt 30 quan tiền Nếu lấy nhập phần đó vào tiền mình thì biếm hai tư, vào sổ ấy nhiều thì xử them tội phải đền gấp đôi sung công” Điều 347 quy định: “Nếu lấy tiền hoa lợi làm của mình thì phải bồi thường gấp đôi, nộp vào công khố” Điều 381: “Bán trộm ruộng đất của người ta thì xử biếm, bán 10 mẩu trở lên thì xử tội đồ Trả tiền cho người mua và phải trả them một phần nữa để trả cho chủ đất ruộng và người mua mỗi người một phần Ruộng đất thì trả lại cho chủ Nếu biết rõ sự việc mà cứ mua thì đánh 80 trượng, mất tiền mua”.(8)
Bộ luật Hoàng Triều luật lệ hay còn gọi là bộ luật Gia Long ban hành dưới triều Nguyễn năm 1811, nó mang những đặc điểm chung của pháp luật hình sự phong kiến – chủ yếu nhằm bảo vệ vương triều và trật tự phong kiến cho nên các quy định về hình phạt rất được chú trọng, tuy vậy không phải là không có các biện pháp mang tính chất giống hoặc tương tự BPTP được áp dụng, chẳng hạn như quy định tại Điều 18: “Xử bắt đền lại, bồi phí hoặc bồi thường thiệt hại” Tại Điều 86 quy định: “Khi nào người bị can cứu đúng 10 tuổi trở lên mà chưa đủ 16 tuổi, nếu xét là không biết gì mà phạm tội thì quan tòa sẽ tha cho Nhưng bắt đền lại hoặc bồi tổn phí cho sự chủ bị thiệt hại”
Đến giai đoạn từ sau cách mạng Tháng Tám đến trước lần pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ nhất (1945 – 1985) Vì điều kiện chiến tranh mà trong thời gian này chúng ta không có điều kiện để xây dựng cũng như ban hành các văn bản pháp luật nói chung và luật hình sự nói riêng Các quy phạm hình sự chủ yếu được áp
8 Viện sử học Việt Nam (1991), Quốc triều hình luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội
Trang 23dụng là nằm trong các sắc lệnh do Chủ tịch nước hoặc Hội đồng nhà nước ban hành,
do đó cũng không có bất cứ một văn bản nào quy định về các BPTP, mà chỉ có những sắc lệnh quy định những biện pháp có tính chat tương tự
Trong sắc lệnh 150/SL ngày 12/4/1953 và 167/SL ngày 15/6/1956 xem bồi thường thiệt hại là hình phạt bổ sung Việc quy định này gây khó khăn trong việc áp dụng trước giai đoạn xét xử Đến khi Nhà nước ban hành hai pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN và trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 thì biện pháp này trở thành BPTP chứ không còn là hình phạt Điều 21 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN ngày 21/10/1970 với tên gọi “Trả lại và bồi thường tài sản XHCN đã bị xâm phạm” quy định: “Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản XHCN phải trả lại tài sản đó cho Nhà nước hoặc cho tập thể Nếu tài sản bị xâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường.” Và Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 với tên gọi: “Trả lại và bồi thường tài sản riêng của công dân bị xâm phạm” quy định: “Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản riêng của công dân phải trả lại tài sản cho người có tài sản đó Nếu tài sản bị xâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường.”(9)
Trong lần pháp điển hóa bộ luật hình sự lần thứ nhất năm 1985, lần đầu tiên thuật ngữ “các biện pháp tư pháp” được sử dụng và Bộ luật hình sự 1985 dành hẳn một chương riêng quy định về các biện pháp tư pháp Chương V Bộ luật hình sự
1985 gồm năm biện pháp tư pháp áp dụng chung với người phạm tội đã thành niên (từ Điều 33 đến Điều 36)(10):
Biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai
xin lỗi quy định tại Điều 34 Điều 34 BLHS 1985 quy định về “Trả lại tài sản, sửa
chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.”
Trang 24Người phạm tội phải trả lại những vật, tiền bạc đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường các thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra
Trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, gây thiệt hại về tinh thần, Toà án
có thể buộc người phạm tội công khai xin lỗi người bị hại
BLHS 1985 đã quy định chính thức về việc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hai, nhưng thiệt hại ở đây là thiệt hại về vật chất mà chưa quy định về việc phải bồi thường vật chất trong trường hợp gậy thiệt hại về tinh thần
Sau đó, trong lần pháp điển hóa lần thứ hai (1999), và kể cả lần sửa đổi bổ sung gần nhất năm 2009, BLHS 1999 kế thừa hầu hết các quy định về các BPTP của BLHS 1985
Điều 42 BLHS Việt Nam hiện hành quy định: “Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi”
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hửu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại về vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra
Trong trường hợp phạm tôi gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại
BLHS 1999 hiện hành đã kế thừa quy định về Biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, và có thêm quy định tiến bộ hơn đó là quy định về trách nhiệm bồi thường về vật chất trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại
về tinh thần Quy định này như một bước tiến mới thừa nhận rằng thiệt hại về tinh thần cũng là thiệt hại mà có thể bồi thường được bằng vật chất
Nội dung chương 1 chủ yếu tập trung làm rõ các khái niệm có liên quan đến tài sản,
Bên cạnh đó, ta thấy được lược sử phát triển
ến trình lập pháp của nước ta, cũng như Với vai trò hỗ trợ cho hình phạt, biện phá
ỉ là những
Trang 25biện pháp mang tính chất dân sự nhằm giải quyết triệt để những khía cạnh pháp lí nảy sinh trong vụ án hình sự, tính chất dân sự của điều luật được xuất phát từ trình
tự và mục đích áp dụng của điều luật
Trang 26CHƯƠNG 2 NỘI DUNG PHÁP LÝ CỦA
quy định tại Điều 42 BLHS hiện hành, nhưng việc áp dụng biện pháp này trên thực
tế lại tuân theo những quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do BLDS quy định và có một điểm đặc biệt nữa là hiện nay việc thi hành biện pháp này BLTTHS cũng chỉ quy định một cách chung chung là theo những quy định của pháp luật dân sự chứ không hề có một trình tự riêng nào do BLTTHS quy định Khoản 5 Điều 257 BLTTHS 2003 quy định: Cơ quan thi hành án dân sự thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự Tuy biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại không phải là quyết định dân sự mà chỉ là quyết định có tính chất dân sự, nhưng cũng vì có tính chất dân
sự nên việc thi hành biện pháp này cũng do cơ quan thi hành án dân sự thi hành mặc
dù luật không quy định Chính vì điểm đặc biệt này mà hiện nay có nhiều tranh cãi xung quanh bản chất của biện pháp quy định tại Điều 42 BLHS hiện hành là biện pháp thuộc trách nhiệm hình sự Để làm rõ vấn đề này chúng ta xem xét hai khía cạnh sau:
Thứ nhất, nếu xét trên khía cạnh đối tượng bị áp dụng chế tài quy định tại Điều 42 BLHS là người phạm tội, tức là người đã có hành vi vi phạm pháp luật hình
sự, có lỗi và phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về mặt pháp lý hình sự Dĩ nhiên người phạm tội ở đây không bao hàm chủ thể là pháp nhân Trong khi đó trách nhiệm dân sự lại được áp dụng cho người có hành vi gây ra thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho người khác, bao hàm cả chủ thể là pháp nhân, do vi phạm pháp luật dân sự nhưng không bị coi là người phạm tội
Thứ hai, trên khía cạnh cơ sở xuất phát, thì cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự nói chung và BPTP quy định tại Điều 42 BLHS hiện hành là cấu thành tội phạm của một tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, nghĩa là một người chỉ
Trang 27phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi của trách nhiệm hình sự nói chung và biện pháp cưỡng chế quy định tại Điều 42 nói riêng nếu như hành vi của người đó
đã thỏa mãn những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể Nếu xét trên cùng khía cạnh thì cơ sở của trách nhiệm dân sự là các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS 2005 và được hướng dẫn trong Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Như vậy nếu chúng ta nhìn nhận vấn đề đưới gốc độ trên thì BPTP quy định tại Điều 42 BLHS hiện hành là biện pháp cưỡng chế về hình sự, thể hiện được những vấn đề chung nhất của trách nhiệm hình sự Cùng với đó, nếu chúng ta xem xét BPTP “Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại” ở gốc độ trình tự thủ tục áp dụng trên thực tế và mục đích áp dụng của điều luật là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị hại và nguyên đơn dân sự thì mặc dù là BPTP thuộc trách nhiệm hình sự nhưng biện phá
cũng đồng thời là biện pháp có tính chất dân sự
thủ tục áp dụng lại là luật hình thức, vì vậy mặc dù là quy phạm nội dung của pháp luật hình sự nhưng việc phải sử dụng các quy định của pháp l
Điều 42 BLHS hiện hành ngay từ đầu đã là biện pháp cưỡng chế hình sự có tính chất dân sự, tính chất dân sự của điều luật được xuất phát từ trình tự và mục đích áp dụng của điều luật
Trang 28Biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại là biện pháp cưỡng chế về hình sự, nhưng nó cũng lại là biện pháp có tính chất dân sự Cũng chính vì thế mà những chủ thể có quyền yêu cầu trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại cũng chính là những chủ thể có quyền yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại, mà những thiệt hại này do tội phạm gây ra trong vụ án hình sự Như vậy, chủ thể có quyền yêu cầu trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gồm những chủ thể sau: người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong vụ án hình sự
Quyền và nghĩa vụ của người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp):
Quyền: đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được thông báo về kết quả điều tra;
đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật tố tụng; đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa
án về bồi thường cũng như hình phạt đối với bị cáo Trong trường hợp vụ án được
11 Xem Điều 51 BLTTHS 2003
Trang 29khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì người bị hại hoặc người đại diện của họ được trình bày lời buộc tội tại phiên tòa
Nghĩa vụ: người bị hại phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành
tố tụng; nếu từ chối mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 BLHS
- Nguyên đơn dân sự:
Theo quy định tại Điều 52 BLTTHS 2003(12) thì nguyên đơn dân sự được
Trong trường hợp nguyên đơn dân sự là cơ quan tổ chức thì cơ quan, tổ chức này phải là cơ quan, tổ chức bị người phạm tội gây thiệt hại về tài sản
Quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự (hoặc người đại diện hợp pháp của họ):
Quyền: đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; được thông báo về kết quả điều tra;
đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật tố tụng; đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bồi thường; tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa
án về bồi thường thiệt
Nghĩa vụ: nguyên đơn dân sự phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng và trình bày những tình tiêt liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại
- Người đại diện hợp pháp:
12 Xem Điều 52 BLTTHS 2003
Trang 30Theo qui định tại Điều 130 BLDS 2005(13) thì đại diện được hiểu là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự trong phạm
vi đại diện
Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật hoặc theo ủy quyền Theo Điều
140 BLDS quy định: Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định Người đị diện theo pháp luật bao gồm: Cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người đứng đầu pháp nhân hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình; tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác; những trường hợp khác theo quy định của pháp luật Đại diện theo ủy quyền theo quy định tại Điều 142 BLDS được hiểu là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện
Như vậy, người đại diện hợp pháp có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền Những người này với tư cách là người đại diện của người bị hại, nguyên đơn dân sự sẽ thực hiện quyền đại diện của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân sự, cũng như quyền yêu cầu trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra trong
vụ án hình sự
Từ định nghĩa biện pháp tư pháp: “Biện pháp tư pháp là các biện pháp hình
sự được quy định trong BLHS, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt”, cho thấy biện pháp tư pháp là do cơ quan tư pháp áp dụng, do đó biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 42 luật hình sự hiện hành cũng do cơ quan tư pháp áp dụng
13 Xem Điều 130 BLDS 2005
Trang 31Theo Hiến pháp 1992 thì Tòa án nhân dân là một trong bốn cơ quan quan trọng của bộ máy Nhà nước Trong hệ thống bộ máy Nhà nước thì Hiến pháp quy định Tòa án là cơ quan duy nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyền xét xử Tòa án có nhiệm vụ xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật các
vụ án hình sự, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng Cụ thể, trong hoạt động tố tụng hình sự, Tòa án nhân dân có nhiều nhiệm vụ
và trong đó có nhiệm vụ: xét xử vụ án hình sự, quyết định hình phạt; ra quyết định thi hành án và các quyết định khác trong giai đoạn thi hành án
Điều 42 BLHS quy định “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra
Trong trường hợp phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần; Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.”
Như vậy, Tòa án là chủ thể duy nhất có quyền xét xử và quyết định hình phạt, kể cả quyết định về việc áp dụng các biện pháp tư pháp với vai trò hỗ trợ hình phạt như biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại là BPTP được bộ luật hình sự quy định
do Tòa án áp dụng với người phạm tội gây ra thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại và những người có liên quan
Biện pháp tư pháp nói chung do các cơ quan tư pháp “áp dụng đối với người
có hành vi nguy hiểm cho xã hội”, như vậy biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại cũng được áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội
Theo quy định tại Điều 42 BLHS hiện hành quy định: “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra Trong trường hợp phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần; Tòa án buộc người phạm
Trang 32tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Với quy định tai Điều 42 BLHS cho thấy “hành vi nguy hiểm cho xã hội” chính là hành vi phạm tội, hành vi phạm tội này gây thiệt hại về vật chất, tinh thần, nên buộc phải bồi thường, buộc người có hành vi phạm tội ở đây chính là tội phạm phải trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Điều 42 quy định nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị hại trong các vụ án hình sự như quyền sở hữu tài sản, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng sức khỏe, danh dự, nhâm phẩm của công dân đã được quy định trong hiến pháp Đồng thời khẳng định rõ thái độ của Nhà nước trong việc bảo vệ tài sản thuộc các hình thức sở hữu khác nhau, không cho phép xâm phạm đến tài sản của bất kì ai Khi vụ án hình sự xảy ra thì bên cạnh việc phát sinh quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nước và người phạm tội còn làm phát sinh mối quna hệ giữa người phạm tội và những người có liên quan
Do đó quá trình giải quyết vụ án cần phải giải quyết cả vấn đề trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
Như vậy đối tượng bị áp dụng biện pháp tư pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại chính là người phạm tội trong vụ án hình sự Người phạm tội trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản người phạm tội chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị huỷ hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
Nội dung của biện pháp tư pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại được quy định ngắn gọn tại Điều 42 BLHS “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra Trong trường hợp phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần; Tòa án buộc người phạm tội phải bồi
Trang 33thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại” Việc trả lại tài sản và sửa chữa tài sản phải làm như thế nào? Việc bồi thường thiệt hại dựa vào căn cứ nào? Giải quyết vấn đề bồi thường này như thế nào? thì BLHS không quy định, có thể xem Điều 42 như một nguyên tắc là có chiếm đoạt tài sản thì phải trả, tài sản chiếm đoạt
hư hỏng thì phải sửa, có thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường Vì đây là biện pháp tư pháp có tính chất dân sự, nên nó mang một phần nội hàm của vấn đề dân sự trong
vụ án hình sự Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ có phạm
vi áp dụng đối với những quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện
do việc thực hiện tội phạm Có nhiều vấn đề dân sự phát sinh do việc thực hiện tội phạm gây thiệt hại cho các quan hệ dân sự, bao gồm: Hành vi phạm tội xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tài sản thì ngoài việc làm phát sinh trách nhiệm hình sự còn làm phát sinh trách nhiệm dân sự của những người tham gia tố tụng Hoặc những vấn đề có liên quan đến tiền và tài sản như: tang vật, án phí, tịch thu vật, tiền hoặc tài sản do phạm tội mà có, đòi lại tài sản, đòi bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, không phải tất cả vấn đề dân sự nào liên quan đến tiền hoặc tài sản
mà cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết cũng đều nằm trong phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc qui định tại Điều 28 BLTTHS Theo đó, vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự chỉ bao gồm việc đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản người phạm tội chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Nói cách khác, vấn đề dân sự trong vụ án hình
sự chỉ được xác định trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại chương XXI Bộ luật dân sự là những quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức,
cá nhân bị tội phạm xâm hại.(14)
14 Xem Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về “Những vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự”
Trang 34Nội dung của biện pháp tư pháp này cũng trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại chương XXI Bộ luật dân sự là những quan hệ bồi thường thiệt hại phát sinh do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của tổ chức, cá nhân bị tội phạm xâm hại, nhưng chỉ là những vấn đề người phạm tội trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra và nếu phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần thì người phạm tội phải bồi thường về vật chất…có nghĩa là phải có mối quan hệ với hành vi phạm tội, do hành
vi phạm tội gây ra thiệt hại đó
-
Điều 42 BLHS quy định: người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Biện pháp này thường được áp dụng trong các vụ án về trộm cướp tài sản,…
Trả lại tài sản là Tòa án buộc người phạm tội phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp những tài sản mà người phạm tội chiếm đoạt, mà các tài sản đó còn nguyên vẹn không bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại.(15)
Như vậy, áp dụng biện pháp trả lại tài sản là việc Tòa án buộc người phạm tội phải trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp những tài sản mà người phạm tội chiếm đoạt, mà các tài sản đó còn nguyên vẹn không bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại Ở đây, đặt ra vấn đề đó là tài sản đã chiếm đoạt và chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó
+ Tài sản đã chiếm đoạt:
Tài sản đã chiếm đoạt thì phải hoàn trả lại, nhưng việc hoàn trả này cũng phải chú ý đến những quy định của BLDS hiện hành Theo quy định tại Điều 600 BLDS(16) thì tài sản hoàn trả đó phải còn nguyên vẹn không bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại Nếu tài sản không còn nguyên vẹn mà chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp
15 Xem Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về “Những vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự”
16 Xem Điều 600 BLDS 2005
Trang 35pháp đồng ý lấy lại tài sản đó và yêu cầu người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại hư hỏng, mất mát thì Tòa án buộc người phạm tội trả lại tài sản đó cho chủ
sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp và buộc người gây thiệt hại sửa chữa hoặc bồi thường phần giá trị bị hư hỏng
Trong trường hợp tài sản là vật đặc định thì phải trả lại đúng vật đó; nếu vật
đó bị mất hoặc hư hỏng thì phải đền bù bằng tiền Trong trường hợp tài sản hoàn trả
là vật cùng loại, nhưng bị mất hoặc hư hỏng thì phải trả vật cùng loại hoặc đền bù bằng tiền
Trong trường hợp những người chiếm hữu, sử dụng tài sản mà được lợi về tài sản thì cũng phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó những tài sản được lợi đó
Ví dụ: A trộm một con bò đang có chửa của B, sau đó bán cho C Sau khi bị phát hiện thì con bò của B mà C mua của A đã đẻ được 1 con bê, thì Tòa án buộc C phải trả cho B một con bò mẹ và 1 con bê
Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt được nếu như tài sản bị chiếm đoạt còn nguyên giá trị như trước khi bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp nếu như tài sản đó không nằm trong danh mục những hàng hóa cấm tàn trữ lưu hành
+ Chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản: vấn đề xác định chủ sở hữu và người quản lý tài sản hiện nay gặp không ít khó khăn, việc xác định đúng 2 loại chủ thể này là rất cần thiết, đặc biệt là việc trả lại tài sản trong các vụ án hình
sự về trộm, cướp tài sản hiện nay
Trang 36khai thác các công dụng, lợi ích, giá trị của tài sản và quyết định về số phận của tài sản đó
Người quản lý tài sản:
Theo Từ điển tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học - NXB Đà Nẵng 2003 thì
“quản lý” được giải thích là: trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.(17)
Từ định nghĩa này, liên hệ với pháp luật hình sự thì người quản lý tài sản là người đang nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản, nhưng lại không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền định đoạt tài sản
Người quản lý tài sản hợp pháp: là trường hợp người được chủ sở hữu giao cho quản lý tài sản một cách hợp pháp; hoặc tuy không phải do chủ sở hữu giao cho nhưng việc sử dụng, quản lý tài sản được coi là hợp pháp; người được người quản
lý hợp pháp tài sản, giao tài sản cho để trông giữ; hoặc người phát hiện và thu giữ các tài sản vô chủ, tài sản bị bỏ quên, chôn giấu, chìm đắm… phù hợp với các điều kiện pháp luật quy định; hay các trường hợp quản lý tài sản theo quyết định, mệnh lệnh của cơ quan Nhà nước
Người quản lý tài sản không hợp pháp: xét về góc độ quyền sở hữu, thì đây
là trường hợp chiếm hữu bất hợp pháp trong quyền chiếm hữu tài sản, trong đó có
cả chiếm hữu tài sản bất hợp pháp ngay tình và không ngay tình Một số trường hợp sau đây được coi là người quản lý tài sản không hợp pháp:
Người có được tài sản do phạm tội mà có;
Người cố ý mua tài sản do người khác phạm tội mà có;
Người có được tài sản do hành vi gian dối, do vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức là tội phạm hình sự…
Đây chỉ là một số những trường hợp điển hình, còn trong thực tế thì có vô số
sự biến tướng của dạng người này Tuy nhiên, chúng có một đặc điểm chung nhất,
dễ nhận biết nhất là: việc chiếm hữu, quản lý tài sản không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận.(18)
17 Viện ngôn ngữ học (2003),Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 800
18 dau-hieu-dac-trung#ixzz2MY9zLGoh
Trang 37http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/26875-NL-Dinh-toi-danh-toi-Trom-cap-tai-san-qua-mot-so
Điều 42 BLHS quy định: người phạm tội phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra Biện pháp này thường được áp dụng trong các vụ án về trộm, cướp tài sản…
Ví dụ: A phạm tội cướp tài sản của B, A đã làm hư hỏng tài sản là chiếc xe gắn máy của B Tòa án đã buộc A phải sửa chữa chiếc xe gắn máy của B mà A đã làm hư hỏng song song với trách nhiệm hình sự là phạt tù
Áp dụng biện pháp sửa chữa tài sản là trường hợp Tòa án buộc người phạm tội phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng do hành vi phạm tội gây ra Ở đây, đặt ra những vấn đề về tài sản bị hư hỏng và có sự thay thế giữa việc sửa chữa và bồi thường thiệt hại vật chất xác định là do hành vi phạm tội gây ra
+ Về tài sản hư hỏng:
Tài sản bị hư hỏng là một loại thiệt hại khi tài sản bị xâm phạm Tài sản bị
hư hỏng “là trường hợp tài sản bị xâm hại vẫn còn nhưng bị mất hoặc giảm sút giá trị sử dụng torng tình trạng vẫn có thể khôi phục lại tính năng vốn có của nó thông qua việc sửa chữa”.(19)
Bộ luật dân sự hiện hành để “tài sản bị hủy hoại” (thêm vào điều luật trong bộ luật dân sự) bên cạnh tài sản “bị hư hỏng”, “bị mất” và không có
sự phân biệt Việc phân biệt “hư hỏng” và “hủy hoại” đôi khi cần thiết về nhận thức Nếu tài sản bị “hư hỏng” thì chúng ta có thể sửa chữa, khắc phục Ngược lại, nếu tài sản bị “hủy hoại” thì chúng ta không thể khắc phục và buộc phải thay thế hay thanh toán khoản tiền tương ứng với thiệt hại đã mất.(20) Nếu tài sản bị mất, bị hủy hoại thì có thể bồi thường bằng vật chất tương đương hoặc bằng tiền tương ứng với giá trị tài sản bị mất, bị hủy hoại Nếu là vật bị hư hỏng thì bồi thường bằng cách tự sửa chữa vật, thuê người khác sửa chữa hoặc trả chi phí cho người bị thiệt hại tự sửa chữa vật
Người phạm tội phải sữa chữa các thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra được áp dụng khi vật bị chiếm đoạt không còn nguyên giá
19 Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, tr 457
20 Đỗ Văn Đại (1010), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam Nxb Chính trị quốc gia, tr 165
Trang 38trị ban đầu do đã bị hư hỏng, và những hư hỏng này có thể sữa chửa được Việc sửa chữa này có thể do người phạm tội tiến hành trước khi trả lại tài sản hoặc vì một lí
do nào đó mà việc sửa chữa không thể tiến hành được thì người phạm tội phải trả toàn bộ chi phí cho việc sửa chữa vật bị thiệt hại (tiền vật liệu, tiền gia công…)
+ Về sự thay thế, chọn lựa giữa sửa chữa tài sản và bồi thường thiệt hại vật chất:
Việc buộc người phạm tội phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng do hành vi phạm tội gây ra chỉ áp dụng đối với trường hợp người chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản yêu cầu người gây thiệt hại phải sửa chữa tài sản đã bị hư hỏng, nếu chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản không yêu cầu người phạm tội bồi thường giá trị tài sản bị hư hỏng thì tùy từng trường hợp mà Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường giá trị tài sản bị hư hỏng
+ Về việc xác định thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra: thiệt hại vật chất này phải có mối liên hệ nhân với hành vi phạm tội và phải xác định rằng thiệt hại vật chất này là do hành vi của người phạm tội gây ra mà không phải của hành vi nào khác hay của 1 chủ thể nào khác
Điều 42 BLHS quy định: Người phạm tội phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã xác định cho hành vi phạm tội gây ra, nếu phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần thì người phạm tội phải bồi thường về vật chất Biện pháp này cũng thường được áp dụng đối với các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của người khác như “Tội làm nhục người khác” (Điều 121 BLHS), “Tội vu khống” (Điều 122 BLHS)…
Đòi bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra là người bị thiệt hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ yêu cầu nười gây thiệt hại hoặc người
có nghĩa vụ theo pháp luật phải bồi thường các thiệt hại do tội phạm gây ra cho người bị thiệt hại.(21)
21 Xem Hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về “Những vấn đề dân sự trong vụ
án hình sự”
Trang 39Như vậy, có thể hiểu việc áp dụng biện pháp bồi thường thiệt là việc buộc người người phạm phải bồi thường các thiệt hại (gồm thiệt hại vật chất, thiệt hại về tinh thần) do tội phạm gây ra cho người bị hại, chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Ở đây, đặt ra vấn đền đó là: thiệt hại về tài sản, thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự uy tính, thiệt hại về tinh thần
Thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín do tội phạm gây ra được coi như là thiệt hại do: tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS hiện hành; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định Khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại Khoản 1 Điều
611 BLDS đã được hướng dẫn rất cụ thể tại Nghị quyết số 03/2006/NQ/HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra:
+ Tài sản bị chiếm đoạt nhưng cơ quan tiến hành tố tụng không thu hồi được; tài sản bị hủy hoặc bị hư hỏng;
Trong trường hợp tài sản bị chiếm đoạt không còn nữa do không thu hồi lại được, hoặc do hư hỏng không thể sửa chữa được, hoặc do đã bị hủy hoại thì người phạm tội có trách nhiệm phải bồi thường 100% giá trị tài sản (vật, tiền) đã bị chiếm đoạt vào thời điểm vụ án được giải quyết cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp của tài sản đó
+ Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị chiếm đoạt;
Khi một tài sản bị tiêu hủy, hủy hoại, mất thì chủ sở hữu có thể được bồi thường hai loại thiệt hại: giá trị tài sản bị tiêu hủy, hư hỏng, mất và giảm lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản này Chẳng hạn, một cổ máy bị tiêu hủy thì người gây thiệt hại phải bồi thường giá trị cổ máy và lợi ích khai thác bị mất đi Trong một số trường hợp, tài sản không bị tiêu hủy nhưng lợi ích sử dụng, khai thác
bị mất, giảm nên chỉ phần lợi ích bị mất, giảm phải bồi thường Đây là khoản lợi ích đáng lẽ thu được từ tài sản nếu tài sản không bị xâm phạm.(22)
22 Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình luật dân sự, Nxb Công an nhân dân, tr 458
Trang 40+ Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại về tài sản Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại là thiệt hại phải được bồi thường chỉ những chi phí hợp lý mới được bồi thường
Tài sản bị thiệt hại tài sản do tội phạm gây ra thuộc trường hợp phải bồi thường là tài sản bị mất; tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản nhưng không thuộc trường hợp trả lại hoặc sửa chữa được
Ví dụ: A lừa đảo chiếm đoạt một chiếc xe máy của B, sau đó A đã bán chiếc
xe này cho một người không quen biết, sau khi vụ án bị phát hiện, Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc xe máy đó thì A phải bồi thường cho B giá trị chiếc xe máy đó vào thời điểm chiếm đoạt
- Thiệt hại về sức khỏe do tội phạm gây ra:
+ Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại
Chỉ khi thu nhập thực tế bị giảm hay mất thì người bị thiệt hại mới được bồi thường mất, giảm thu nhập, Thực chất, “đây được coi là một phần thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bởi chính việc gây thiệt hại cho sức khỏe nạn nhân đã dẫn đến hậu quả là người đó mất đi một khoản thu nhập mà đáng lẽ họ được hưởng nếu không có sự kiện gây thiệt hại Vì vậy, người gây thiệt hại phải có trách nhiệm bồi thường những tổn thất đó”.(23) Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không đặc vấn đề bồi thường do mất, giảm thu nhập Nếu trước khi bị hại chủ thể liên quan có thu nhập nhưng sau
đó vẫn như trước đây thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.(24)