và khách mờiThủ tướng Việt Nam và một số lãnh đạo các nước, cùng lãnh đạo các tổ chức quốc tế lớnnhư Liên hợp quốc UN, Ngân hàng Thế giới WB, Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF, Tổ chứcThương mại T
Trang 1Môn: Lý thuyết tài
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
ĐỀ TÀI: TÀI CHÍNH TRONG XU THẾ
BÀI TIỂU LUẬN NHÓM: @
BÌNH DƯƠNG, THÁNG 6 NĂM 2021
Trang 2GVHD: ThS Võ Thị Thu
tệ
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN
TÀI CHÍNH 1
1.1 BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY 1
1.1.1 Vòng đàm phán Doha: 1
1.1.2 Hội nghị thượng đỉnh tài chính 1
1.2 NHỮNG XU HƯỚNG TÀI CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI 2
1.2.1 Tự do hoá dịch vụ tài chính - tiền tệ 2
1.2.2 Tự do hoá hoạt động đầu tư 3
1.3 NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC VÀ TIÊU CỰC ĐỐI VỚI NỀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 3
1.3.1 Những tác động tích cực 3
1.3.2 Tác động tiêu cực 4
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 5
2.1 THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH 5
2.1.1 Thị trường tiền tệ 5
2.1.2 Thị trường vốn 7
2.2 CÁC CHỦ THỂ TÀI CHÍNH 8
2.2.1 Tài chính công 8
2.2.2 Tài chính doanh nghiệp 8
2.2.3 Các trung gian tài chính 9
2.2.4 Tài chính cá nhân và hộ gia đình 9
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NỀN TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 10
3.1 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA NHTW: 10
3.2 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
3.3 GIẢI PHÁP TỪ PHÍA DOANH NGHIỆP: 12
3.4 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC TỪ PHÍA CHÍNH PHỦ: 12
Trang 3Bộ môn Lý thuyết Tài chính tiền tệ là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tínhthực tế cao Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên.Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡngỡ Mặc dù nhóm chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó cóthể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét vàgóp ý để bài tiểu luận của chúng em được hoàn thiện hơn.
Nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn!”
Trang 4GVHD: ThS Võ Thị Thu Thảo
Môn: Lý thuyết tài chính tiền tệ
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN TÀI CHÍNH.
1.1 Bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thương mại thế giới đã
bị ảnh hưởng nặng nề Theo ước tính của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì thươngmại toàn cầu bị sụt giảm hơn 10% trong năm 2009; một con số trầm trọng nhất so với nhiềuthập niên qua Mặc dù sự sụt giảm này là hệ quả của cuộc suy thoái, việc phục hồi đẩy mạnhgiao thương sẽ là một trong những đầu tàu quan trọng kéo nền kinh tế thế giới đi lên Hơnbao giờ hết, những diễn biến và xu hướng của thương mại quốc tế sẽ tạo ra những ảnhhưởng nhất định trong nền kinh tế và tài chính thế giới Trong Hội nghị Bộ trưởng Thươngmại của các nước thành viên WTO vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2009, nhiều nước đãkêu gọi cần kết thúc vòng Doha trong năm 2010 Nhưng khả năng này phụ thuộc rất lớn vàođộng thái của Mỹ Do đó, liệu Mỹ có đủ quyết tâm chính trị để giúp đạt được một kết cụctrong năm 2010 hay không là câu hỏi đang được đặt ra
Thông qua các vòng đàm phán đã kết thúc, các nước thành viên WTO đã đi đến nhiềucam kết ràng buộc nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại ngày càng mạnh mẽ hơn Tuynhiên, sự trì trệ của vòng đàm phán Doha trong hơn chín năm qua đã cho thấy những giớihạn nhất định của việc thúc đẩy tự do hóa thương mại đa phương Mặc dù vòng Doha đượccho là để giúp đỡ các nước đang phát triển hưởng được nhiều lợi ích hơn từ thương mại,những bất đồng về tự do hóa lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn quá lớn để đi đến một thỏa hiệpthật sự vì mục đích phát triển
1.1.2 Hội nghị thượng đỉnh tài chính.
Tham dự Hội nghị thượng đỉnh có lãnh đạo cấp cao của 20 nền kinh tế lớn nhất thế giới(Tổng thống Mỹ, Chủ tịch Trung Quốc, Tổng thống Nga, Thủ tướng Đức ) và khách mời(Thủ tướng Việt Nam và một số lãnh đạo các nước), cùng lãnh đạo các tổ chức quốc tế lớnnhư Liên hợp quốc (UN), Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Hợp tác và Phát triểnKinh tế (OECD), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)
Trang 5Lãnh đạo nhiều nước cũng đề cập vai trò quan trọng của kinh tế số trong ứng phó dịchCOVID-19 và duy trì các hoạt động kinh tế; khẳng định vai trò quan trọng của kết nối vàdòng dữ liệu tự do đi đôi với bảo đảm tin cậy trong phát triển kinh tế số.
1.2 Những xu hướng tài chính trên thế giới.
1.2.1 Tự do hoá dịch vụ tài chính - tiền tệ.
Đây là xu hướng được khởi xướng và thực hiện từ khi chế độ kiểm soát vốn BrettonWoods sụp đổ Tự do hoá dịch vụ tài chính - tiền tệ là quá trình mà các hoạt động này vậnđộng tuân theo quy luật khách quan của thị trường, nhằm loại bỏ sự phân biệt đối xử hay canthiệp bằng mệnh lệnh hành chính Tự do hóa dịch vụ tài chính - tiền tệ được xem xét chủyếu trên những khía cạnh sau:
- Tự do hóa hoạt động dịch vụ ngoại hối: là việc giảm thiểu các hạn chế về quản lý
ngoại hối và điều hành theo tỷ giá hối đoái theo hướng linh hoạt Thực tế ở các nước côngnghiệp phát triển cho thấy việc tự do chuyển đổi không điều kiện, không giới hạn đã khiếncho quá trình lưu chuyển dòng vốn ở các nước này diễn ra mạnh mẽ
- Tự do hóa lãi suất và các loại chi phí dịch vụ tài chính: Là cho phép các ngân hàng,
các tổ chức tài chính được quyền tự do xác định các mức lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vaycũng như tự do ấn định các mức phí đối với hoạt định dịch vụ tài chính của mình Sự pháttriển của khoa học công nghệ, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ thông tin đã khiến cho các thịtrường tài chính trên thế giới xích lại gần nhau hơn, các dòng vốn chu chuyển nhanh hơn,với quy mô lớn hơn
- Tự do hóa hoạt động dịch vụ tín dụng: Là việc các thị trường tài chính quốc gia, khu
vực và quốc tế xóa bỏ các hạn chế và ràng buộc về số lượng tín dụng được phân phối chocác thành phần kinh tế Tự do hóa hoạt động tín dụng sẽ giúp các Tổ chức tín dụng chủ độngtrong huy động vốn, đa dạng hóa phương thức, đối tượng và thời gian cho vay Tự do hóa
Trang 6GVHD: ThS Võ Thị Thu
tín dụng sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức tín dụng từ đó tạo điều kiện đểnền kinh tế phát triển hơn
- Tự do hóa hoạt động dịch vụ của các tổ chức tài chính trên thị trường tài chính: là
việc xóa bỏ những hạn chế về phạm vi hoạt động, phạm vi kinh doanh của các tổ chức tàichính Sẽ không thể tiến tới xu hướng tự do hóa dịch vụ tài chính nếu thiếu điều kiện tự dohóa hoạt động của các tổ chức tín dụng Xu hướng này giúp nâng cao và thúc đẩy mạnh mẽquá trình đổi mới về cơ cấu tổ chức, hình thức tổ chức, và loại hình sở hữu của các tổ chứctài chính
1.2.2 Tự do hoá hoạt động đầu tư.
Trong những thập niên gần đây, dòng vốn đầu tư quốc tế giữa các quốc gia và các khuvực trên thế giới ngày càng tăng lên mạnh mẽ cả số lượng lẫn khối lượng, trung bình hằngnăm tăng lên khoản 20% Nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quantrọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội đối với các nước đang phát triển trong đó có nước ta
Vì vậy, tự do hóa đầu tư được xem như là biện pháp giúp khơi thông dòng chảy của dòngvốn đầu tư trên thế giới
1.3 Những tác động tích cực và tiêu cực đối với nền tài chính Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế.
Tất cả các xu hướng tài chính trong hội nhập quốc tế đều vận động theo hướng bổsung, thúc đẩy và tác động mạnh mẽ lẫn nhau nhằm góp phần tạo dựng nên một nền kinh tếthế giới toàn cầu thống nhất và thị trường tài chính thế giới toàn cầu lành mạnh Các xuhướng còn góp phần làm thay đổi các phương thức giao dịch, giảm nhiều khó khăn về địa lý,cũng như về sự khác biệt về điều kiện kinh tế- chính trị Dưới tác động của xu hướng này,tất cả các thị trường tài chính quốc tế và khu vực, trong đó có Việt Nam đều có quyền trởthành chủ thể tích cực của thị trường tài chính thế giới, bất luận thuộc trình độ phát triển nào
về kinh tế, bất luận màu da, sắc tộc và tôn giáo nào Tham gia vào quá trình này, Việt Nam
có những cơ hội đón nhận những vận hội mới, góp phần thúc đẩy quá trình toàn cầu hóadiễn ra một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa
Các xu hướng mới của thị trường tài chính thế giới đã làm thúc đẩy nhanh tốc độ, làmthay đổi về chất lẫn lượng của nền kinh tế thế giới Dưới tác động của các xu hướng này,các nguồn vốn trên thế giới sẽ được phân bổ một cách hiệu quả hơn trên phạm vi quốc tế,
Trang 7GVHD: ThS Võ Thị Thu
làm tăng cường khả năng huy động vốn trên thị trường tài chính quốc gia và quốc tế Hệ quảnày là một trong những nguyên nhân khiến lượng vốn đầu tư đổ vào nước ta với số lượngngày càng nhiều và quy mô ngày càng lớn Với tốc độ tăng lên nhanh chóng của các dòngvốn; đặc biệt dòng vốn đầu tư quốc tế đã góp phần không nhỏ vào quá trình công nghiệphóa, hiện đại hóa cũng như phát triển các ngành công nghệ cao cần một lượng vốn lớn ở cácnước đang phát triển hiện nay
Mặt dù có những tác động hết sức tích cực như trên, nhưng do nhiều nguyên nhân,trong đó có những nguyên nhân chủ quan cũng như là khách quan, bởi vậy các xu hướngcủa thị trường tài chính thế giới cũng tác động tiêu cực vào nền kinh tế thế giới Những tácđộng này cụ thể như sau:
Dưới tác động của xu hướng được phân tích như trên, đặt biệt là xu hướng tự do hóadịch vụ tài chính tiền tệ diễn ra mạnh mẽ rộng khắp các thị trường tài chính quốc gia và khuvực kiến cho tài chính quốc gia và khu vực phụ thuộc vào nhau nhiều hơn, thậm chí trởthành một bộ phận của thị trường tài chính thế giới thống nhất Chính nhân tố này đã làmcho thị trường tài chính Việt Nam chịu rất nhiều sự chi phối và những tác động nhanh chóng
từ thị trường khác Những ảnh hưởng tiêu cực mang tính chất dây chuyền làm xuất hiện cácnguy cơ khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở quy mô lớn, gây ảnh hưởng trên diện rộng Nhữngcuộc khủng hoảng này thường rất khó kiểm soát, khó tháo gỡ và để lại trong một thời giandài
Trang 8tệ Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, có thể nhận thấy như sau:
- về thị trường liên ngân hàng:
Thị trường nội tệ liên ngân hàng ra đời theo Chỉ thị 07/CT-NH1 ngày 07/10/1992 củaThống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) đượcthực hiện cho vay và đi vay lẫn nhau và chính thức hoạt động từ tháng 7/1993 Theo Quyếtđịnh số 114/QĐ-NH14 ngày 21/6/1993 ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của thịtrường liên ngân hàng và Quyết định số 190/QĐ-NH14 ngày 06/10/1993 về việc bổ sung,sửa đổi Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường liên ngân hàng, thị trường nội tệ liênngân hàng được hình thành dưới hình thức là một thị trường tập trung có tổ chức qua Ngânhàng Nhà nước (NHNN) và gắn liền với các trung tâm thanh toán bù trừ (Thành phố Hồ ChíMinh và thành phố Hà Nội) số lượng thành viên tham gia và doanh số hoạt động rất hạn chế;trong đó, những thành viên là ngân hàng thương mạo (NHTM) nhà nước có khả năng chiphối trên cả giác độ huy động vốn và cho vay vốn do có lợi thế về tài chính và uy tín Từnăm 1997, hoạt động của thị trường diễn ra theo hình thức các ngân hàng trực tiếp vay mượnlẫn nhau không thực hiện thông qua NHNN Các ngân hàng thỏa thuận phương thức giaodịch, thời hạn, lãi suất cũng như điều kiện bảo đảm tiền vay dựa trên mức độ tín nhiệm và có
sự tham gia tích cực của các NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàngnước ngoài Đến nay, phần lớn các giao dịch liên ngân hàng được thực hiện dưới các hìnhthức tín chấp, bảo đảm bằng số dư tiền gửi đối ứng tại ngân hàng cho vay; thậm chí một sốngân hàng đã thực hiện quan hệ vay mượn dưới hình thức gửi tiền lẫn nhau
Đến nay, số lượng thành viên và doanh số hoạt động trên thị trường liên ngân hàng đãtăng đáng kể, phương thức giao dịch của thị trường ngày càng đổi mới, hầu hết các giao dịchđều thực hiện qua mạng, thời hạn của các giao dịch khá linh hoạt (qua đêm, 1 tuần, 2 tuần, 1tháng, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng)
Trang 9GVHD: ThS Võ Thị Thu
tệ
Hiện nay, gần 30 NHTM đã thực hiện giao dịch vốn liên ngân hàng (gửi tiền/cho vay
và nhận tiền gửi/đi vay) thông qua hệ thống của Hãng Reuters Hãng Reuters đã xây dựngđược trang lãi suất giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng Việt Nam (VNIBOR)trên cơ sở chào giá hàng ngày của một số ngân hàng Doanh số giao dịch trên thị trường liênngân hàng từ năm 2002 đến nay tăng trung bình khoảng 20% mỗi năm Kết quả trên đãchứng minh thị trường nội tệ liên ngân hàng đã thực hiện được vai trò điều tiết vốn ngắn hạnbằng đồng Việt Nam giữa các ngân hàng, làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn của cácTCTD an toàn, hiệu quả
- Về thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc:
Nghiệp vụ thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện từ tháng 5/1995 và trảiqua các giai đoạn phát triển sau:
+ Từ năm 1995 đến 1999: phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc;
+ Từ năm 1999 đến 2003: phát hành tín phiếu kho bạc;
+ Từ năm 2003 đến nay: phát hành tín phiếu kho bạc và trái phiếu ngoại tệ (USD, kỳhạn 5 năm)
Theo Thông tư 19/2004/TT-BTC ngày 18/3/2004 của Bộ Tài chính, hiện nay có hailoại trái phiếu đang được đấu thầu tại Ngân hàng Nhà nước là: Tín phiếu kho bạc Nhà nước
và Trái phiếu Chính phủ bằng ngoại tệ (trái phiếu ngoại tệ)
Việc đấu thầu tín phiếu kho bạc qua NHNN đã mở ra một kênh huy động vốn với chiphí thấp cho ngân sách Nhà nước Doanh số và tỷ trọng tín phiếu kho bạc phát hành dướihình thức đấu thầu qua NHNN trong tổng doanh số huy động vốn của Kho bạc Nhà nướctăng qua các năm Điều này phù hợp với xu thế phát triển thị trường và thông lệ quốc tế Bêncạnh đó, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc đã trở thành nguồn cung cấp hàng hóa chủyếu cho các giao dịch nghiệp vụ tiền tệ giữa NHNN với các NHTM, nhất là nghiệp vụ thịtrường mở để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
Trang 10Một là, đã và đang hình thành, tiến tới định hình một thị trường vốn đa dạng, cởi mở hơn và
đáp ứng cơ bản tốt hơn cho nhu cầu vốn của nền kinh tế Nếu như năm 2000, vốn hóa thịtrường cổ phiếu là 0,28% GDP, thị trường trái phiếu là khoảng 1% GDP thì đến năm 2019mức tăng lần lượt của thị trường cổ phiếu và trái phiếu là 72,6% GDP và 40% GDP
Hai là, số lượng và các thành phần tham gia thị trường ngày càng tăng Năm 2019, số lượng
tài khoản giao dịch chứng khoán là hơn 2,37 triệu, số công ty chứng khoán hoạt động là 82,trong đó có 8 công ty có 100% vốn nước ngoài, Hiệp hội Kinh doanh trái phiếu có 76 hộiviên
Ba là, từng bước hoàn thiện pháp lý cho thị trường theo thông lệ quốc tế, tạo môi trường
kinh doanh ổn định nhằm thu hút cả dòng vốn ngoại và nội Đơn cử như: Năm 2019 đã cóthương vụ bán vốn lớn cho nhà đầu tư nước ngoài như: Tỷ phú Thái Lan mua SABECO gần
5 tỷ USD
Trang 11GVHD: ThS Võ Thị Thu
Thảo
Môn: Lý thuyết tài chính tiền tệ
Giai đoạn 2011-2019, thị trường vốn tăng trưởng cao đạt bình quân 35%/năm, đáp ứng bìnhquân 28% cung ứng vốn cơ bản cho nền kinh Trong khi đó, thị trường tín dụng vẫn chiếm vịtrí chủ đạo trong cung ứng vốn cơ bản cho nền kinh tế, nhưng dự nợ tín dụng chỉ tăng bìnhquân đạt 15%/năm và tương tương 136% GDP
Báo cáo của World Bank (2019) về thị trường vốn Việt Nam cho thấy, một quốc gia đangphát triển thường phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của ngân hàng, ngoài rủi ro kỳ hạn thì còngây cản trở cho sự phát triển khu vực tư nhân vốn năng động và khó đáp ứng nhu cầu vốnngày càng cao cho phát triển kinh tế
Việt Nam sớm ý thức được tầm quan trọng của các kênh thu hút nguồn vốn tài trợ phi ngânhàng với kỳ hạn dài bằng Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển thịtrường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 nhằm thay thế dần các
nguồn từ ngân hàng và thu hút thêm các nguồn vốn từ bên ngoài (FDI, FII) Chính phủ ViệtNam bước đầu tập trung vào thị trường trái phiếu, bằng những văn bản định hướng: Quyếtđịnh số 1191/QĐ-TTg năm 2017 của Thủ tướng phê duyệt lộ trình phát triển thị trường tráiphiếu Việt Nam giai đoạn 2017-2020, nhằm xây dựng thị trường bền vững hơn để huy độngtài chính trung và dài hạn; mở rộng mạng lưới các nhà đầu tư về quy mô và chất lượng
2.2 Các chủ thể tài chính.
Tài chính công được đặc trưng bằng các quỹ tiền tệ của các định chế thuộc khu vựccông gắn liền với việc thực hiện các chức năng của nhà nước Trong khuôn khổ đề tài này,nhóm tác giả xin tập trung làm rõ nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước
Tài chính doanh nghiệp được đặc trưng bằng các loại vốn hay các quỹ tiền tệ phục vụcho hoạt động của các công ty, các đơn vị kinh tế trong việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ
Xét về cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thì khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thểhiện khả năng độc lập về tài chính là cao nhất, với tỷ lệ hơn 40% vốn chủ sở hữu trong tổngnguồn vốn Khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước khá tương đối độc lập ở mức gần 40%.Trong khi đó, khu vực nhà nước chủ yếu là nợ phải trả, nguồn vốn phụ thuộc chủ yếu vào