1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tổ chức bộ máy và xây dựng chính quyền cấp xã (Tập 1) Phần 2 NXB Tư pháp

186 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 392,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhândân thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh, thực hiệnchức năng vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện đườnglối, chủ trương của Đảng và

Trang 1

Phần IV THựC HIệN QUY CHế DÂN CHủ ở CƠ Sở

I NHữNG VấN Đề CHUNG

1 Các khái niệm cơ bản

1.1 Dân chủ

Dân chủ là một khái niệm chính trị học, xuất hiện từ thời kỳ

Hy Lạp cổ đại Trong ngôn ngữ Hy Lạp, “dân chủ” (Dèmoskratia)

có nghĩa là quyền lực của nhân dân

Về bản chất, từ “dân chủ” có nghĩa là quyền lực thuộc về nhândân, tức là người dân thực sự làm chủ đất nước, làm chủ bản thânmình Một xã hội dân chủ là một xã hội mà ở đó mọi người dân đượctham gia quyết định các vấn đề liên quan đến đời sống kinh tế, chínhtrị, xã hội của mình Với tính chất là một chế độ xã hội, nền dân chủkhông chỉ phản ánh trình độ phát triển và sự tiến bộ của xã hội loàingười, mà còn thể hiện bản chất của một chế độ chính trị

Nội dung dân chủ được thể hiện thông qua quyền và khả năngcủa người dân được biết (được thông tin), được tham gia đóng góp

ý kiến (được bàn luận) và được quyết định những vấn đề liên quan

đến quyền lợi của mình trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, vănhoá, xã hội thông qua các hình thức khác nhau

Có hai hình thức dân chủ là dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp

- Dân chủ trực tiếp: chủ thể trực tiếp thể hiện ý chí của mình

về những vấn đề quan trọng nhất Do đó, bộ máy quản lý của chủ

Trang 2

thể chỉ đơn thuần đóng vai trò tổ chức và bảo đảm các điều kiện đểthực hiện ý chí đó ở đây có sự đồng nhất giữa người quản lý vàngười bị quản lý Chủ thể của quyền lực tự mình giải quyết các vấn

đề chung: về lập pháp, về hành pháp và về tư pháp Ngày nay,những biểu hiện phổ biến nhất của hình thức dân chủ trực tiếp là:trưng cầu dân ý (ở phạm vi toàn quốc), thực hiện sáng kiến phápluật, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cáccấp, người dân tham gia các hoạt động quản lý nhà nước, hoạt độngcủa các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, các hình thức tự quản ở cơ sở

- Dân chủ gián tiếp (hay còn gọi là dân chủ đại diện): hình thứcdân chủ chung nhất nếu xét từ góc độ cơ chế thực hiện quyền lựccủa dân, là chế độ mà việc ra những quyết định chủ yếu thuộcthẩm quyền của hội nghị những người đại diện Ví dụ: thông quacác đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân Những ngườinày cùng với hội nghị là do chủ thể quyền lực bầu ra và lập nên.Chủ thể quyền lực giữ cho mình quyền được giám sát và tác độngvào hoạt động của cơ quan đại diện ở Việt Nam, Quốc hội và Hội

đồng nhân dân các cấp là loại hình chủ yếu của hình thức dân chủ

đại diện (Điều 83 và Điều 119 Hiến pháp năm 1992)

1.2 Dân chủ và pháp luật

Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự có tính bắt buộcchung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giaicấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xãhội, được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước, nhằm điều chỉnh cácquan hệ xã hội với mục đích trật tự, ổn định xã hội vì sự phát triểnbền vững của xã hội(1)

Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia, H.2005.

Trang 3

Pháp luật là công cụ, phương tiện mà Nhà nước sử dụng để

điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội Bên cạnh pháp luật,Nhà nước có thể sử dụng các phương tiện khác, như chính sách,quy phạm xã hội, đạo đức…, nhưng pháp luật có một vị trí đặcbiệt Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật

và bảo đảm thực thi pháp luật Đối với Nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mànội dung thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân lao động, có tính bắtbuộc chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Phápluật đó được Nhà nước bảo đảm thực hiện trên cơ sở kết hợp giữagiáo dục, thuyết phục và cưỡng chế; thu hút sự tham gia tích cựccủa toàn xã hội vào các hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật.Dân chủ có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật Dân chủ được xâydựng và vận hành theo những nguyên tắc và chuẩn mực của pháp luật,không tách rời pháp luật Pháp luật đóng vai trò điều tiết hành vi củacon người trong xã hội, vừa mở rộng thực hành dân chủ, vừa bảo vệ nềndân chủ, vừa tạo ra giới hạn, khuôn khổ, hành lang vận động của dânchủ Pháp luật của một Nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân làpháp luật phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phù hợp vớitiến bộ xã hội và giàu tính nhân văn Hệ thống pháp luật của một quốcgia phản ánh mức độ dân chủ của một xã hội Tuy nhiên, chỉ có thể có

được dân chủ thực sự khi những quy định pháp luật đó đi vào đời sốngxã hội bằng một cơ chế bảo đảm thực hiện đúng, công khai, minh bạch,hiệu quả Bởi vậy, trong thực tiễn chúng ta thường thấy nhắc đến “dânchủ hình thức” (hay “dân chủ giả hiệu” ) và “dân chủ đích thực” - nềndân chủ thực sự Người dân quan tâm đến việc dân chủ được triển khaitrong cuộc sống như thế nào hơn là một nền dân chủ chỉ được nhắc đến

và “bất động” trong những quy định của pháp luật

1.3 Cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở

Khái niệm “cơ sở” và “hệ thống chính trị ở cơ sở” có thể được

Trang 4

tiếp cận trên quan điểm xã hội học chính trị, quản lý xã hội Cơ sở

có thể được hiểu là bất kỳ một đơn vị nào như gia đình, cơ quan,công sở, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp… Khi đề cập đếndân chủ ở cơ sở có nghĩa là phát huy và bảo đảm thực hiện quyềnlàm chủ, quyết định của những con người trong các đơn vị đó Tuy nhiên, cơ sở được nghiên cứu trong tài liệu này với tư cách

là một cấp trong hệ thống quản lý hành chính nhà nước hiện hành,cơ sở đó chính là xã, phường, thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhànước Phường là cấp cơ sở ở đô thị được đặc trưng bởi quản lý đôthị, còn xã và thị trấn là cấp cơ sơ ở khu vực nông thôn - là một địabàn rộng lớn, chiếm số lượng lớn (85%) trong tổng số đơn vị cơ sở ởnước ta Cơ sở đó phải được nhận thức:

- Nơi diễn ra mọi hoạt động và cuộc sống của dân, nơi chínhquyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở sống và làm việc hàng ngày cùngvới dân, có điều kiện gần gũi trực tiếp và thường xuyên với dân

- Nơi triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng vàpháp luật của Nhà nước, nơi thể hiện rõ nhất nghị quyết của Đảng

được tổ chức thực hiện và đi vào cuộc sống như thế nào, đến mứcnào và có tác dụng, hiệu quả ra sao

- Hình ảnh thu nhỏ của xã hội và đời sống xã hội Tuy là cấp thấpnhất nhưng cơ sở lại là địa chỉ quan trọng nhất không thể thiếu, đòihỏi sự vận hành tổng thể của hệ thống chính trị trong cả nước phải

đến được một cách thông suốt, nhanh chóng, không ách tắc, trì trệ Khi nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở có nhiều cách tiếpcận khác nhau(1)

Chẳng hạn, tiếp cận theo hệ thống tổ chức cho thấy hệ thống

trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, H.2004, tr.7-11.

Trang 5

chính trị ở cơ sở là một tổng thể bao gồm các tổ chức hợp thành màmỗi tổ chức đó có vai trò, chức năng và thẩm quyền khác nhau.Trong đó, tổ chức Đảng là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ hệ thống.Nhà nước (chính quyền) là trụ cột của hệ thống, với vai trò quản

lý, điều hành toàn bộ các hoạt động trên địa bàn cơ sở Nhà nướcthực hiện sự quản lý xã hội bằng việc ban hành pháp luật và tổchức thực hiện pháp luật Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhândân (thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh,…) thực hiệnchức năng vận động quần chúng nhân dân ở cơ sở thực hiện đườnglối, chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng như chủtrương của cơ sở; đồng thời thực hiện chức năng giám sát đối vớihoạt động của chính quyền Cách tiếp cận này cho ta thấy tổ chứcpháp lý của hệ thống chính trị ở cơ sở

Cách tiếp cận thứ hai không chỉ về mặt tổ chức pháp lý mà cònbao gồm cả các yếu tố thể hiện bản chất của hệ thống chính trị nóichung và những điều kiện bảo đảm cho các bộ phận của hệ thống

đó vận hành được Qua đó, chúng ta có thể thấy được các quyền dânchủ của người dân ở cơ sở được triển khai như thế nào Với cách tiếpcận này, khi đề xuất các giải pháp để củng cố và nâng cao chấtlượng của hệ thống chính trị ở cơ sở thì không chỉ đề cập đến tổ chứcpháp lý mà còn phải đề cập cả về cơ chế thực hiện dân chủ Có nhưvậy mới tạo ra động lực thực sự thúc đẩy sự phát triển ở cơ sở.Với các cách tiếp cận nói trên, hệ thống chính trị ở cơ sở đượchiểu là toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chínhquyền, các đoàn thể nhân dân, được tổ chức và hoạt động theonhững nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thựchiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huyquyền dân chủ của nhân dân ở cấp cơ sở

Ngoài những đặc trưng chung của hệ thống chính trị nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thống chính trị ở cơ sở(cấp xã) có những điểm đặc thù:

Trang 6

- Cấp gần với cộng đồng dân cư, tổ chức và hoạt động mangtính tự quản cao;

- Cấp triển khai tổ chức thực hiện trên thực tế các đường lối,chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước (không còn là chủtrương, chính sách… trên văn bản, giấy tờ nữa mà là những xử sự

cụ thể của người dân và của cán bộ);

- Cấp có bộ máy đơn giản nhất, có đội ngũ cán bộ chịu nhiềubiến động hơn so với các cấp khác, trực tiếp chịu sự chi phối củanhân dân;

- Cấp mà quan hệ họ hàng, văn hoá làng xã, truyền thống,phong tục tập quán… có thể tác động mạnh nhất vào xử sự củamỗi người;

- Cấp đầu tiên đối mặt với những bức xúc, yêu cầu của dânchúng, những mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống nhân dân

2 Phát huy dân chủ ở cơ sở là một chủ trương lớn của ĐảngCộng sản Việt Nam

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã chỉ rõ:

“Xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dânbàn, dân làm, dân kiểm tra đối với các chủ trương chính sách lớncủa Đảng và Nhà nước”(1) Tư tưởng đó của Đảng thực sự là một

định hướng quan trọng đối với nhiệm vụ xây dựng nền dân chủ xãhội chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩaViệt Nam của dân, do dân và vì dân Đó là phương châm hành

động tạo điều kiện mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy vaitrò làm chủ của mọi tầng lớp nhân dân, động viên mọi tiềm năng

VIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr.127

Trang 7

sáng tạo, đẩy mạnh phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân Bước đột phá trong quá trình phát huy dân chủ ở cơ sở đượcthể hiện bằng việc ngày 12.8.1998 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị

số 30-CT/TW Chỉ thị này đã định ra những nội dung quan trọngcủa chủ trương phát huy dân chủ ở cơ sở, như sau:

- Cần phải phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hútnhân dân tham gia quản lý nhà nước, tham gia giám sát nhà nước,khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạntham nhũng

- Vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện thông qua Quốchội, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp; vừa thực hiệntốt chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và quyết

định trực tiếp những công việc quan trọng thiết thực gắn liền vớilợi ích của mình

- Phải có hình thức báo cáo công khai trước dân công việc củachính quyền về sản xuất và phân phối, về việc sử dụng công quỹ,tài sản công, về thu, chi tài chính, các khoản đóng góp của nhândân, quyết toán các công trình xây dựng cơ bản, chế độ thu và sửdụng học phí, viện phí

- Nhân dân phải được bàn và quyết định dân chủ đối vớinhững loại việc liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân trên

địa bàn (huy động sức dân để xây dựng kết cấu hạ tầng và các côngtrình phúc lợi, các khoản đóng góp, lập quỹ ); chính quyền tổ chứcthực hiện theo ý kiến của đa số nhân dân, có sự giám sát, kiểm tracủa nhân dân

- Nhân dân ở cơ sở hoặc trực tiếp hoặc thông qua Mặt trận, các

đoàn thể, Ban Thanh tra nhân dân thực hiện việc kiểm tra, giámsát hoạt động của chính quyền

- Mở rộng các hình thức tự quản để nhân dân tự bàn bạc và

Trang 8

thực hiện những công việc mang tính chất xã hội hoá, như xâydựng hương ước, xây dựng tổ hoà giải, tổ an ninh, phong trào vệsinh môi trường, đền ơn đáp nghĩa, giúp đỡ người nghèo ).

- Tổ chức chính quyền có trách nhiệm báo cáo định kỳ côngviệc trước dân, tự phê bình, tổ chức để nhân dân góp ý kiến vànghiêm túc tiếp thu những ý kiến này

3 Quy chế dân chủ ở cơ sở

Quy chế dân chủ ở cơ sở là tập hợp các quy định pháp luật vềphát huy các quyền dân chủ ở cấp cơ sở Quy chế có hiệu lực thihành bắt buộc đối với mọi người dân, mọi cán bộ công chức và viênchức nhà nước thuộc phạm vi và đối tượng điều chỉnh của Quy chế.Quy chế dân chủ được triển khai ở ba loại cơ sở là xã (phường, thịtrấn), doanh nghiệp nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước.Chính phủ đã ban hành ba văn bản pháp luật quan trọng (3 nghị

định) nhằm triển khai và bảo đảm thực hiện trên thực tế các quyềndân chủ của người dân ở ba loại cơ sở này Cụ thể là:

- Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11.5.1998, ban hành Quychế thực hiện dân chủ ở xã Nghị định này đã được thay thế bằngNghị định số 79/2003/NĐ-CP, ngày 07.7.2003, ban hành Quy chếthực hiện dân chủ ở xã (áp dụng đối với cả phường và thị trấn) Vănbản này quy định cụ thể những việc mà chính quyền xã phải thôngtin kịp thời và công khai để dân biết; những việc dân bàn và quyết

định trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến trước khi cơ quannhà nước quyết định; những việc dân giám sát, kiểm tra và cáchình thức thực hiện Quy chế dân chủ ở xã

- Nghị định số 71/1998/NĐ-CP ngày 08.9.1998, ban hành Quychế thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan Văn bản này ápdụng với tất cả các cơ quan hành chính nhà nước từ cấp trung ươngtới cấp tỉnh và cấp huyện Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt

Trang 9

động của cơ quan có nội dung nhằm phát huy không chỉ dân chủtrong nội bộ cơ quan nhà nước (tức là dân chủ trong quan hệ giữacán bộ, công chức với Thủ trưởng cơ quan), mà còn hướng tới tăngcường dân chủ trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước với nhân dân.

- Nghị định số 07/1999/NĐ-CP ngày 13.2.1999, ban hành Quychế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước Nội dung chínhcủa văn bản này là nhằm phát huy dân chủ giữa người lao động vớiGiám đốc doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.Khẳng định quyền của người lao động được biết, được tham gia ýkiến, được tự quyết định trong một số công việc và kiểm tra giámsát đối với công việc của lãnh đạo doanh nghiệp

Ngoài ra, Nhà nước còn ban hành các văn bản pháp luật khác

để cụ thể hoá các quy định cũng như để hướng dẫn thống nhất việcthực thi Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở(1)

Việc thực hiện dân chủ không chỉ là một quyết tâm chính trị,một chủ trương lớn của Đảng, mà đã được quy định trong phápluật và được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Mọi công dânViệt Nam, dù ở địa vị nào, giữ chức vụ gì đều có nghĩa vụ tuântheo Quyền dân chủ của nhân dân trong mối quan hệ với Nhànước đã được quy định một cách rõ ràng, đầy đủ trong Hiến pháp

- đạo luật cơ bản của Việt Nam, có giá trị và hiệu lực pháp luậtcao nhất Điều 8 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Các cơ quannhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước phải tôn trọng nhân dân,tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắngnghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; kiên quyết đấutranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu,hách dịch, cửa quyền”

Phần này.

Trang 10

4 Nguyên tắc trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sởTuy dân chủ cho phép công dân có khả năng và quyền tự doquyết định, tự do tham gia góp ý kiến với hoạt động của Nhà nước,nhưng sự tự do trong dân chủ cũng phải có giới hạn, sự tự do quyết

định của cá nhân này không thể và không được làm ảnh hưởng hoặcxâm hại đến tự do, quyền lợi của cá nhân khác cũng như xâm hại

đến lợi ích của Nhà nước, tới trật tự chung của xã hội Chẳng hạn,người dân không thể lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng

để lôi kéo, ép buộc hoặc dụ dỗ người khác phải theo hoặc không theomột tôn giáo nào, vì làm như vậy chính là đã gây tác động xâm hạitới quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của người khác

Chính vì vậy, dân chủ không thể không có giới hạn, dân chủ phải

được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật Công dân phải thực hiện cácquyền tự do dân chủ của mình trong khuôn khổ pháp luật quy định

Ví dụ: công dân có quyền tự do kinh doanh, nhưng không đượckinh doanh những ngành nghề hoặc mặt hàng mà pháp luật cấmkinh doanh, gây tổn hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xãhội hoặc đến lợi ích của các cá nhân khác, như vũ khí, ma tuý, vănhoá phẩm độc hại, đồi trụy

Việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phải quán triệt nhữngnguyên tắc sau đây:

- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân phải gắn liền với cơchế “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Đây làbản chất của hệ thống chính trị ở Việt Nam

- Phát huy chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng vàhiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương, đồng thời thựchiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trựctiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liềnvới quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân

Trang 11

- Dân chủ trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; quyền đi

đôi với nghĩa vụ; dân chủ đi đôi với trật tự, kỷ cương

- Kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạmHiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tậpthể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của nhân dân

5 Vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sởTrong lịch sử, khi cả dân tộc Việt Nam còn bị đặt dưới sự thốngtrị của thực dân xâm lược, nền dân chủ của cả dân tộc và dân chủcủa mỗi người Việt Nam đã bị tước đoạt Dân tộc Việt Nam đãkhông được làm chủ vận mệnh của mình, bị đặt dưới sự đô hộ củachế độ thực dân Trong bối cảnh bị mất quyền làm chủ bản thân,làm chủ đất nước, nhân dân ta đã kiên cường và dũng cảm đấutranh giành lại độc lập dân tộc Chủ quyền của nhân dân đượckhẳng định Nhà nước của nhân dân Việt Nam được thành lập.Nhân dân Việt Nam giành được cơ hội làm chủ xã hội, làm chủ tàinguyên thiên nhiên của mình Nền dân chủ nhân dân được thiếtlập Đây là thành quả của quá trình đấu tranh đầy gian khổ củadân tộc Việt Nam trên con đường phát triển vì một xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh

Ngày nay, dân chủ tiếp tục là mục tiêu phấn đấu của cả dân tộcViệt Nam Với nền độc lập dân tộc trọn vẹn và một chính quyền củanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, việc thực hiện các quyền dânchủ của nhân dân là một đòi hỏi tất yếu khách quan và được tiếnhành trong bối cảnh chính trị thuận lợi hơn rất nhiều so với trướckia Trong bối cảnh hiện nay, dân chủ phải được tăng cường với sự

nỗ lực của chính quyền và sự tham gia tích cực của nhân dân.Phát huy dân chủ là phát huy sức mạnh vật chất và tinh thầntrong nhân dân vì sự phát triển, xoá đói và giảm nghèo Khi nhândân thực hiện quyền quyết định các công việc của làng, xã, ý thức

Trang 12

làm chủ của nhân dân được khẳng định rõ rệt Với ý thức làm chủ,mọi sáng kiến, nguồn lực của mỗi người dân được phát huy mộtcách tốt nhất để vượt qua những thách thức và khó khăn nhằm đạttới sự phồn thịnh, phát triển của cộng đồng, tổ chức ý thức làmchủ sẽ là động lực quan trọng giúp họ gìn giữ, bảo quản tốt hơnthành quả đạt được Ví dụ: trường hợp xây dựng hệ thống thuỷ lợinhỏ ở nông thôn Các hộ sử dụng nước được quyền tự quyết định

đóng góp, tự quyết định mức thu thuỷ lợi phí, tự tiến hành bảoquản và duy trì hệ thống công trình Với vai trò quyết định việckhai thác và sử dụng nước cho nông nghiệp như vậy, bà con nôngdân thực sự thực hiện quyền làm chủ của mình, nhiệt tình đónggóp kinh phí, tổ chức quản lý hệ thống thuỷ lợi một cách hiệu quảnhất, giảm thiểu những chi phí không cần thiết Với ý thức làmchủ thực sự, bà con nông dân cùng nhau gìn giữ, bảo dưỡng, tăngtuổi thọ của công trình

Quy chế dân chủ ở cơ sở xã, phường, thị trấn, mang lại lợi íchtrên nhiều mặt cho các đối tượng khác nhau: người dân, chínhquyền cơ sở và cả cộng đồng

- Về phía người dân: Khi có bộ phận dân cư còn chưa hiểu rõ

họ có những quyền dân chủ gì, dẫn tới hai khả năng: Thứ nhất,hoặc là họ trở nên thụ động, ít tham gia vào công việc của cộng

đồng Khi hiểu rõ những quyền dân chủ của mình, người dân sẽtích cực vận dụng chúng vào trong cuộc sống hàng ngày, tham giavào công việc chung Chẳng hạn, khi người dân biết mình có quyền

được bàn bạc, góp ý vào việc có xây dựng, sửa chữa lại tuyến đườngliên thôn hay không, nếu có thì đóng góp bao nhiêu, cách thức chitiêu, sử dụng nguồn vốn góp như thế nào , thì họ sẽ hăng hái bànbạc để tìm ra phương án phù hợp nhất với điều kiện thực tế vàcũng sẽ tự nguyện thực thi việc đó, tránh được tình trạng ấm ức,hiểu lầm, thậm chí xích mích, khiếu kiện về sau; Thứ hai, ngượclại, một bộ phận dân cư có những hành vi lạm dụng quyền dân chủ,

Trang 13

đi ngược lại lợi ích cộng đồng, thậm chí là gây rối, ảnh hưởng tớitrật tự công cộng, dẫn tới hậu quả đáng tiếc cho bản thân cũng nhưcho cộng đồng Ví dụ: khi bất đồng với chính quyền về một vấn đềgì đó, người dân do không biết được thủ tục, trình tự để giải quyếtnên có thể kéo nhau đến trụ sở Uỷ ban nhân dân địa phương, cơquan hữu quan để khiếu nại, tố cáo, cản trở giao thông, gây rối,manh động và có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý về các hành

vi đó Quy chế dân chủ ở cơ sở cho phép người dân hiểu rõ quyền

và nghĩa vụ của mình khi tham gia vào hoạt động của cộng đồng

- Về phía chính quyền: rõ ràng, Quy chế dân chủ ở cơ sở là một

“áp lực” đối với chính quyền Với nghĩa vụ đã được quy định thànhluật, chính quyền cơ sở buộc phải thay đổi tác phong làm việc củamình theo hướng công khai hoá, minh bạch hoá và dân chủ hoá.Các công việc trước đây do chính quyền áp đặt xuống dân thì nayphải bàn bạc cùng dân, lắng nghe dân và công khai trước dân, thậmchí nhiều việc phải chuyển xuống để dân tự quyết Tác phong, tưcách của cán bộ cơ sở cũng được chỉnh đốn do thường xuyên chịu sựkiểm tra, giám sát của nhân dân Đời sống cộng đồng cũng có nhiềuthay đổi nhờ sự thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

Ví dụ: do đưa ra thảo luận dân chủ, công khai nên dân thuậntình đóng góp tiền của, công sức để xây dựng các công trình hạtầng cơ sở về điện, đường, trường, trạm ở nông thôn…, dẫn tớinông thôn đổi mới, đời sống vật chất của người dân được cải thiện.Hoặc, với việc xây dựng cộng đồng dân cư theo hướng tự quản, toàndân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, đã tạo nên sức mạnh bàitrừ các tệ nạn cờ bạc, nghiện hút, rượu chè , việc tang lễ, cưới xin

được tổ chức theo hướng văn minh, lành mạnh

Qua sơ kết, tổng kết việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cóthể thấy những lợi ích (kết quả) mà quy chế đó mang lại, cụ thểnhư sau:

Trang 14

đã vận động nhân dân đóng góp tiền của, sức lao động để nâng cấpsửa chữa được 2.540 km đường giao thông nông thôn, 100% trườngtrung học phổ thông, 95% trường trung học cơ sở, 305 trường tiểuhọc, trường mẫu giáo và 50% trạm y tế Tại tỉnh Hải Dương, trongnăm 2000, các ban công tác Mặt trận phối hợp với Trưởng thôn vận

động nhân dân đóng góp được 55 tỷ đồng và 2 triệu ngày công đểxây dựng được gần 100 km đường giao thông nông thôn; quyên góp

được trên 18 tỷ đồng và nhiều vật liệu, ngày công để cơ bản xoáxong nhà tre cho các gia đình chính sách(2)

- Qua tổng kết 5 năm: ở Thừa Thiên - Huế, nhân dân đã tựnguyện đóng góp tiền và ngày công để xây dựng các công trình

điện, thuỷ lợi, giao thông, trường học, trạm xá… trị giá trên 67 tỷ

đồng Nhân dân Hà Tĩnh, với sự hỗ trợ của Nhà nước, đã làm được2.320 km đường giao thông, 1.369 cống, 1.165 km kênh mương trịgiá 160 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp 2/3 Tỉnh Bạc Liêu

đầu tư hàng trăm tỷ đồng, cộng với hàng triệu ngày công do dân

bộ - Chính phủ về tình hình sau ba năm triển khai Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn

chủ ở xã, phường, thị trấn (1998 - 2001), số 01 BC/MTTW ngày 29.01.2002.

Trang 15

tình nguyện đóng góp, đã xây dựng được hơn 2.000 công trình cácloại, trong đó có gần 1.500 công trình thuỷ lợi Tỉnh Trà Vinh, huy

động nguồn vốn trong dân được 1.089 tỷ đồng(1)

5.2 Dân chủ trong bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân

Trong cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2004

-2009, quy định về bầu cử đã được hoàn thiện theo hướng dân chủhơn Đó là những quy định về việc nhất thiết phải có số ứng cử viêntrong danh sách bầu cử nhiều hơn số đại biểu được bầu; bên cạnhviệc các tổ chức chính trị, đoàn thể được giới thiệu người vào danhsách bầu cử, thì cử tri của thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố (gọichung là thôn) được trực tiếp giới thiệu người để bầu làm đại biểuHội đồng nhân dân cấp xã; ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dânphải kê khai tài sản cá nhân… Trong các cuộc bầu cử đại biểu Hội

đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 1999 - 2004 và 2004 - 2009, nhândân một số tỉnh, thành phố đã giám sát chặt chẽ việc tuân thủLuật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.Chẳng hạn, tại một số đơn vị bầu cử ở Thái Bình, Vĩnh Phúc, Nam

Định, Thanh Hoá, Thừa Thiên - Huế, Bắc Ninh, Hà Tây, HảiPhòng, Hải Dương…, nhân dân đã đề nghị đưa ra khỏi danh sáchbầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân những người quan liêu, háchdịch, cửa quyền, tham nhũng và thiếu trách nhiệm với nhân dân 5.3 Tăng tính tự quản cộng đồng

Quy chế dân chủ ở cơ sở bao gồm những quy định khẳng địnhquyền tự quản của xã, thôn và của cộng đồng Việc xây dựng các

trung ương về kiểm tra 5 năm thực hiện Chỉ thị số 30/CT-TW tại các địa phương tương ứng

Trang 16

công trình phúc lợi như điện, đường giao thông, trường học, trạm

y tế, nghĩa trang, công trình văn hoá - thể thao, trước đây là côngviệc của chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện Nhưng sau khi có Quychế dân chủ thì người dân ở thôn được trao quyền quyết định chủtrương cũng như mức độ huy động nguồn lực tài chính, nhân công

và việc sử dụng những nguồn lực đó Cũng theo Quy chế dân chủ,người dân ở thôn có quyền quyết định các công việc nội bộ của thônmình, như tổ chức bảo vệ sản xuất, vệ sinh môi trường, xây dựnghương ước, quy ước…

Qua 5 năm thực hiện Quy chế dân chủ, đã có những tỉnh mà ở

đó 100% số thôn xây dựng được hương ước, quy ước của mình, dựatrên cơ sở pháp luật và phù hợp với phong tục, tập quán của vùngmiền, địa phương Chẳng hạn, Thái Bình có trên 50% số xã,phường, thị trấn đã xây dựng từ 11 đến 15 bản quy chế, quy định;gần 40% số xã, phường, thị trấn có trên 15 bản quy chế; cá biệt cóxã xây dựng trên 20 bản ở Hà Tĩnh, 100% xã, phường, thị trấn cóquy ước, 1.819/2.847 thôn có hương ước Quá trình xây dựng hương

ước, quy ước được thực hiện dân chủ với sự tham gia của đại diệncác đoàn thể, hội quần chúng, đại diện dòng họ và những người cótrình độ, uy tín trong cộng đồng dân cư

Khi được trao quyền tự quản cộng đồng, người dân cảm thấymình thực sự có vai trò làm chủ đối với các công việc của cộng đồng,nên phấn khởi, chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động của cộng

đồng Từ đó, sự năng động, sáng kiến của người dân được phát huy,góp phần thúc đẩy sự phát triển đa dạng, bền vững ở các vùng,miền của đất nước Điều này có thể thấy rõ qua thực tiễn thực hiệnQuy chế dân chủ ở cơ sở

5.4 Cải thiện mối quan hệ giữa nhân dân với chính quyềnDân chủ thúc đẩy sự minh bạch Sự minh bạch, rõ ràng trong

Trang 17

các hoạt động kinh tế - xã hội được bảo đảm khi người dân đượcbiết, được kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền, nhất làtrong lĩnh vực thu, chi tài chính Điều này có ý nghĩa rất quantrọng, làm hạn chế những hành vi lạm dụng quyền lực, thamnhũng của cán bộ, công chức chính quyền

Dân chủ thúc đẩy quan hệ gần gũi và hợp tác giữa chính quyềnvới nhân dân Khi dân chủ được phát huy, tệ tham nhũng, lạmdụng quyền lực, quan liêu sẽ bị hạn chế và dần bị loại bỏ khỏi đờisống xã hội; chính quyền trở nên minh bạch, thực sự trở thànhchính quyền phục vụ nhân dân và vì nhân dân Sự tin cậy củanhân dân đối với chính quyền sẽ ngày càng tăng Nhân dân sẽquan hệ chặt chẽ và hợp tác với chính quyền

II NộI DUNG QUY CHế DÂN CHủ ở Xã, PHƯờNG, THị TRấN

1 Hoàn cảnh ra đời

Thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương

Đảng về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, ngày11.5.1998 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP vềquy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã).Bản quy chế này có nội dung rất phong phú, bao gồm những việccần thông báo để nhân dân biết; những việc nhân dân bàn và quyết

định trực tiếp; những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, Hội

đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã quyết định; những việcnhân dân giám sát, kiểm tra và trách nhiệm xây dựng cộng đồngdân cư thôn

Cuộc vận động thực hiện quy chế dân chủ ở xã và ở các loạihình cơ sở khác đã được tiến hành nhiều năm và năm 2001 đã sơkết 3 năm, năm 2003 tổng kết 5 năm việc thực hiện Qua tổng kết,phát hiện một số điểm trong Quy chế được ban hành theo Nghị

định số 29/1998/NĐ-CP đã bộc lộ những thiếu sót, chưa phù hợp

Trang 18

với thực tiễn, thậm chí có điều khoản bị lạm dụng trên thực tế dẫn

đến những biểu hiện “dân chủ quá mức” Vì vậy, Chính phủ đãthay thế Quy chế này bằng quy chế mới được ban hành theo Nghị

và đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phụctình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ,

đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, theo định hướng xãhội chủ nghĩa

2.1 Quyền dân biết

Quyền “dân biết” là sự cụ thể hoá một quyền cơ bản của côngdân được ghi nhận trong Hiến pháp, đó là quyền được thông tin.Trong một xã hội dân chủ, người dân có quyền được biết về tất cảmặt hoạt động xã hội, đặc biệt là các hoạt động quản lý nhà nước

mà biểu hiện cụ thể nhất qua các chính sách, văn bản pháp luật.Dân có biết thì mới hiểu rõ và làm đúng các quy định của phápluật Nếu dân biết, họ sẽ tự bảo vệ được các quyền, lợi ích củamình, tránh sự xâm hại từ phía các cá nhân khác, hoặc thậm chí

từ phía chính quyền (do vô ý sơ xuất, do thiếu trách nhiệm hoặc domột số người có thẩm quyền trục lợi) Dân biết, đó là cơ sở để họthực hiện được các quyền dân chủ tiếp theo như “bàn”, “làm” và

“kiểm tra”

Trang 19

Theo Nghị định số 79/2003/NĐ-CP, chính quyền xã có tráchnhiệm thông tin kịp thời và công khai để nhân dân biết 14 loại vấn

- Những quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về

đối tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác

đối với nhân dân theo quy định của pháp luật hiện hành

Công khai để người dân biết được các thủ tục của Nhà nướcliên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ Ví dụ: để được cấp

sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), người dân phải có các

hồ sơ, giấy tờ gì, phải mang các giấy tờ đó đến cơ quan nào, cơ quannào xem xét, kiểm tra và cơ quan nào ra quyết định cấp sổ đỏ, thờihạn bao lâu sẽ giải quyết; cách thức, trình tự khiếu nại, tố cáo, thủtục khởi kiện vụ án; thủ tục tạm trú, tạm vắng, đăng ký hộ khẩu,

đăng ký khai sinh, thủ tục mua bán nhà, xin giấy phép xây dựng,giấy phép kinh doanh Những thủ tục hành chính để giải quyếtcông việc liên quan đến dân, hiểu rộng ra còn bao gồm các quy địnhcủa chính quyền xã về lịch tiếp dân, thời gian giải quyết công việc,người có thẩm quyền giải quyết; hoặc đơn giản nhất, là sơ đồ trụ

sở của chính quyền xã

b) Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng nămcủa xã

Thông tin để mỗi người dân sinh sống trên địa bàn xã biết được

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, để họ tự điều

Trang 20

chỉnh hoạt động của bản thân và gia đình Đó là các kế hoạch dàihạn, như kế hoạch chuyển đổi cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mùa vụ,giống cây trồng và các kế hoạch hàng năm, như kế hoạch gieocấy, thu hoạch mùa vụ, kế hoạch làm đường, xây trạm điện ở xã… c) Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai

Ví dụ: quy hoạch đất; phân bố đất ở, đất canh tác, đất sản xuấtcông nghiệp, đất kinh doanh dịch vụ, đất 5%; dự kiến đối tượng

được giao đất hoặc bị thu hồi đất…

d) Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm

Trong dự toán ngân sách cho năm sau, có các nội dung: dự trùcác nguồn thu (do ngân sách cấp trên rót xuống, các nguồn thuriêng của xã); dự trù chi (chi vào các loại việc gì, bao nhiêu ).Tương tự, vào cuối năm, chính quyền xã cũng phải công khai quyếttoán ngân sách của xã mình: các khoản thu và chi đã thực hiệntrong thực tế; số dư hoặc thâm hụt trong năm Biết được dự toán

và quyết toán ngân sách xã sẽ tạo điều kiện để người dân kiểm tra,giám sát hoạt động của chính quyền, đánh giá năng lực cũng nhưphẩm chất của cán bộ

đ) Dự toán, quyết toán các quỹ, chương trình, dự án, các khoảnhuy động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các côngtrình phúc lợi công cộng của xã, thôn và kết quả thực hiện

Khi xây dựng cơ sở hạ tầng (đường xá, cầu cống, trạm điện,trạm cấp nước…) và công trình phúc lợi công cộng (nhà trẻ, sânbóng…) có hai khả năng xảy ra: thứ nhất, những công trình này

được Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí, phần còn lại do dân đónggóp; thứ hai, kinh phí hoàn toàn do dân được thụ hưởng cơ sở hạtầng, công trình phúc lợi đó đóng góp (sửa lại đường, làm một cốngthoát nước ở một thôn) Trong cả hai trường hợp trên, trước khihuy động sự đóng góp của dân, phải thông báo công khai: số kinh

Trang 21

phí dự chi, số được cấp phát, số dự kiến sẽ huy động Khi hoànthành, cũng phải công khai trước nhân dân ở cơ sở về số thực thu,thực chi và kết quả thực hiện Công khai dự toán để dân hiểu và

đóng góp tích cực, đẩy nhanh tiến độ công trình; công khai quyếttoán đến dân giám sát, chống tham nhũng, tránh các chuyện nghingờ, xích mích sau này

e) Các chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và cánhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã

Đó là các chương trình có liên quan trực tiếp đến việc cải thiện

đời sống của người dân trong xã, ví dụ: dự án nước sạch, dự án xử

lý nước thải, dự án cải tạo môi trường, dự án khôi phục làng nghề

Đầu tư cho các dự án này có thể là Nhà nước; hoặc là tài trợ của tổchức phi chính phủ nước ngoài (UNICEP, FAO, SIDA ), đôi khi làmột cá nhân hảo tâm (thường là đối với các dự án nhỏ, như trùng

tu lại đình, chùa làng, xây nhà trẻ, nhà tình thương) Vì là sự đầutư chung, phục vụ lợi ích mọi người dân trong cộng đồng nên cầncông khai cho tất cả mọi người cùng biết và cùng kiểm tra, giám sát.g) Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xoá đóigiảm nghèo

Các chương trình thực hiện chủ trương, kế hoạch về lĩnh vựcnày do Nhà nước chủ trì, với phương thức thông qua ngân hàng địaphương, cho vay vốn với lãi suất thấp, ít điều kiện ngặt nghèo(được tín chấp chẳng hạn) để tạo thuận lợi cho người dân nghèo cóvốn đầu tư phát triển sản xuất Ví dụ: chương trình phụ nữ làmkinh tế gia đình, chương trình trồng rừng, khuyến nông, khuyếnlâm hay chương trình đánh bắt (cá) xa bờ Vì có liên quan mậtthiết tới lợi ích của từng người dân nên chính quyền cơ sở cần công

bố rộng rãi nội dung, điều kiện, đối tượng và thủ tục hưởng chươngtrình, để người dân biết và có điều kiện thực hiện

Trang 22

h) Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chínhliên quan đến xã

Điều chỉnh địa giới xã bao gồm việc tách, nhập, thành lập mộtxã mới Vấn đề này được quy định bằng một nghị định của Chínhphủ; tuy vậy, kế hoạch điều chỉnh phải được công khai với nhữngngười dân trên địa bàn xã dự kiến điều chỉnh, và sau khi có quyết

định điều chỉnh chính thức cũng phải công bố cho họ biết

Điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính liên quan đến xã, cóthể hiểu là việc tách, nhập hay đổi tên huyện hoặc tỉnh mà xã đótrực thuộc; trong trường hợp này cũng phải công khai đến ngườidân trong huyện, tỉnh đó Mặt khác, còn có thể hiểu là việc lập,tách, nhập, đổi tên các thôn Đây không phải là các đơn vị hànhchính - lãnh thổ, song là nơi quần cư liên quan trực tiếp đến ngườidân Việc tách nhập, đổi tên các thôn không được quy định trongvăn bản pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương, trên thực

tế thường do các văn bản của uỷ ban nhân dân cấp tỉnh điềuchỉnh Đây là một dạng văn bản của chính quyền địa phương, cầnthông báo công khai cho nhân dân ở cơ sở

i) Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực,tham nhũng của cán bộ xã, thôn

Chính quyền địa phương phải thông báo cho dân ở cơ sở biết vềthực trạng giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật của cán bộ làmviệc trong Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân xã và trong các đoànthể của xã (Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, HộiCựu chiến binh), các Trưởng thôn, Phó trưởng thôn Nội dung thôngbáo: có vi phạm hay không có, nếu có thì cách xử lý như thế nào (khởi

tố hình sự, phạt hành chính, xử lý kỷ luật, đền bù thiệt hại)

k) Công tác văn hoá - xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, giữgìn an ninh, trật tự an toàn xã hội trong xã

Các hoạt động văn hoá - xã hội do chính quyền chỉ đạo hoặc

Trang 23

quản lý ở cơ sở cần phải thông tin cho người dân biết Ví dụ: kếhoạch tổ chức sinh hoạt hè cho thiếu nhi trong xã; phát động mộthội thi thể thao hoặc văn nghệ ở xã; lễ phát động ngày hành độngvì môi trường xanh - sạch - đẹp trong xã Việc thông báo côngkhai, rộng rãi sẽ thu hút người dân tham gia, hưởng ứng, tăngcường tác dụng của các hoạt động nói trên Những hoạt động phòng,chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội trongxã là những nội dung quản lý của chính quyền, nhằm bảo đảm sựyên ổn trong đời sống cộng đồng dân cư trong xã Đó là các loại việcnhư: tổ chức phát hiện và đưa đi cai nghiện đối với các đối tượngnghiện hút; phát động phong trào quần chúng tố giác tội phạm; tổchức và hoạt động của dân quân tự vệ, thanh niên xung kích; tổchức giáo dục tại xã đối với một số đối tượng vi phạm hành chínhthường xuyên, người chưa thành niên phạm tội Khi tiến hành cáccông việc này, chính quyền phải thông báo cụ thể về đối tượng, vềchủ thể tiến hành, thời gian, quyền và nghĩa vụ của họ, để thu hút

sự tham gia của dân, cũng như để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng.l) Sơ kết, tổng kết hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ bannhân dân xã

Thông báo nội dung này là biện pháp cần thiết để dân nắm

được hoạt động của chính quyền cơ sở, từ đó thực hiện quyền kiểmtra, giám sát Cứ sáu tháng một lần, Hội đồng nhân dân, Uỷ bannhân dân xã tổ chức sơ kết và mỗi năm một lần tổ chức tổng kết,

để nhìn lại tình hình hoạt động của chính quyền trong thời gianqua, những mặt được và chưa được, nguyên nhân của những ưu

điểm và hạn chế, yếu kém, xác định phương hướng, nhiệm vụ trongthời gian kế tiếp Trong tổng kết, sơ kết có thể đề cập đến các sựkiện nổi bật (các công trình, dự án đã làm được, các vi phạm phápluật ở địa bàn và cách xử lý), thậm chí có cả vấn đề nhân sự (bãinhiệm, miễn nhiệm, cách chức ) Những thông tin đó giúp chongười dân hiểu thêm về hoạt động của chính quyền xã, từ đó phát

Trang 24

huy vai trò làm chủ trong công tác xây dựng chính quyền cũng nhưtrong các mặt công tác khác ở xã.

m) Phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyển dịch cơ cấukinh tế, phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xãn) Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và

được nhận nhà tình thương; thực hiện chính sách đối với gia đình

có công với cách mạng, gia đình liệt sỹ, thương, bệnh binh (tặngnhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thẻ bảo hiểm y tế )

0) Kết quả lựa chọn, thứ tự ưu tiên và tổ chức thực hiện cáccông trình thuộc các chương trình, dự án của Nhà nước, của các tổchức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã

So với Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, các việc được nêu ở điểmm,n,0 nói trên là những việc mới được bổ sung trong Nghị định số79/2003/NĐ-CP Trong thực tiễn, tại các địa phương, các chương trìnhcho những hộ nghèo vay vốn thường hạn chế số lượng Vì vậy, khôngphải tất cả các hộ nghèo đều được vay vốn như nhau để phát triển sảnxuất Khi đó các địa phương cần tiến hành bình xét Cũng tương tựnhư vậy, các chương trình, dự án do Nhà nước, tổ chức và cá nhân tàitrợ trực tiếp cho địa phương cũng có giới hạn Việc bình xét, các tiêuchuẩn bình xét, thứ tự ưu tiên cần phải thông báo cho người dân vàcác hộ gia đình biết Có như vậy, những người dân, hộ gia đình đượcbình xét, cũng như chưa được bình xét trong từng đợt mới “tâm phục,khẩu phục”, hạn chế các kiện tụng, tranh chấp sau này

Phương thức thực hiện quyền dân biết:

Chính quyền địa phương có thể áp dụng các cách thức sau đây

để bảo đảm cho người dân thực hiện được quyền dân biết của họ:

- Gửi văn bản (gửi tới hộ gia đình hoặc Trưởng thôn);

- Niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã và cáctrung tâm dân cư, văn hoá;

Trang 25

- Thông qua hệ thống truyền thanh, các tổ chức văn hoá, thôngtin, tuyên truyền…;

- Thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các thành viên của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và các cuộc họp của thôn

2.2 Quyền dân bàn và dân làm (quyết định trực tiếp)

Nhà nước ta là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân” Vì vậy,nhân dân có quyền tham gia bàn bạc công việc chung, tham gia vàohoạt động quản lý nhà nước Điều đó đã được ghi nhận trong Hiếnpháp 1992 và nhiều văn bản pháp luật khác Trong Nghị định số79/2003/NĐ-CP, quyền dân bàn và dân làm được ghi nhận rất cụthể cả về nội dung cũng như về cách thức thực hiện

Quyền “dân làm” ở đây được hiểu là quyền của người dân đượcbàn bạc và quyết định trực tiếp một số công việc nhất định trongkhuôn khổ pháp luật cho phép Đây là đỉnh cao của hình thức dânchủ trực tiếp của người dân, biểu hiện ở việc tự mình quyết địnhhướng đi, cách xử lý công việc của cộng đồng

Dân có quyền bàn và làm nhiều loại việc khác nhau, tuỳ vàoloại hoạt động, vị trí, chức danh công tác của người đó Tuy nhiên,Nghị định số 79/2003/NĐ-CP chỉ quy định về những quyền màngười dân ở cấp cơ sở được bàn và được làm Chỉ ở những đơn vịhành chính - lãnh thổ hoặc những đơn vị quần cư nhỏ nhất thì mới

có điều kiện để thực hiện quyền “bàn” và “làm” một cách trực tiếpnhất: họp toàn thể nhân dân, lấy ý kiến của tất cả chủ hộ

Quy định quyền dân bàn, dân làm ở cơ sở có ý nghĩa thiết thực:

nó là phương thức trực tiếp để thực hiện quyền làm chủ của nhândân, để nhân dân thực sự tham gia vào công việc của Nhà nước vàcủa xã hội Khi người dân đã được bàn, được quyết các công việcchung thì họ sẽ tích cực tham gia thực hiện chúng, hạn chế việcxích mích, khiếu kiện tràn lan do không hiểu và không nhất trí Để

Trang 26

dân bàn, các công việc sẽ được giải quyết tốt nhất, bởi lẽ không aihiểu mình cần gì và cần làm như thế nào hơn là chính người dân

ở cơ sở Khi dân được bàn và quyết định sẽ hạn chế và kiểm soát

được chính quyền, tránh tình trạng tham nhũng hay độc đoán,chuyên quyền

Đương nhiên, các quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểmtra đã có từ trước khi ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP vàNghị định số 79/2003/NĐ-CP (nó xuất hiện từ khi nhà nước kiểumới của chúng ta ra đời) Tuy nhiên, việc quy định rõ ràng, xácthực những quyền này trong Nghị định số 29/1998/NĐ-CP và sau

đó là Nghị định số 79/2003/NĐ-CP là nhằm mục đích: một mặtgiúp người dân hiểu rõ hơn những quyền dân chủ của họ, để bảo

vệ quyền, lợi ích của mình mà vẫn không vượt quá giới hạn phápluật; mặt khác, xác định chính quyền có nghĩa vụ tôn trọng, bảo

đảm và tạo điều kiện cho người dân ở cơ sở thực hiện các quyền dânchủ của họ

Nghị định số 79/2003/NĐ-CP quy định người dân có quyềnbàn và quyết định trực tiếp năm vấn đề sau đây:

a) Chủ trương, mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và cáccông trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế,nghĩa trang, các công trình văn hoá, thể thao)

Trong cộng đồng dân cư, có nhiều công việc mà việc thực hiệnchúng cần có sự chủ động của chính người dân, ví dụ: xây đườnggiao thông liên thôn, trong thôn, xây trạm xá trong xã, làm cốngthoát nước, bê tông hoá kênh mương, nạo vét mương máng… Quymô, phạm vi của những công trình đó nói chung là nhỏ, chínhquyền không có điều kiện đứng ra đầu tư, quán xuyến toàn bộ, cóchăng chỉ tài trợ một phần kinh phí Trong trường hợp này, nhữngngười dân trong thôn hoặc trong vài thôn có liên quan phải cùngnhau bàn bạc và quyết định có làm hay không, nếu làm thì mức

Trang 27

đóng góp là bao nhiêu Sau khi đã thống nhất chủ trương và thutiền đóng góp, nhân dân cử đại diện giám sát quá trình thi công.Trước đây, theo Nghị định số 29/1998/NĐ-CP, người dân còn

được quyền quyết định trực tiếp việc lập, thu, chi các loại quỹ trongkhuôn khổ pháp luật Tuy nhiên, trong quá trình thực thi quyềnnày từ năm 1998 đến nay, đã xảy ra không ít tiêu cực, ảnh hưởng

đến quyền lợi của chính người dân Vả lại, đối với những cộng đồngdân cư khác nhau, thì nhu cầu cũng khác nhau, nên quy định nhưvậy sẽ dẫn đến hậu quả là ở những nơi khác nhau người dân cónhững quỹ khác nhau để phục vụ cho hoạt động chung của thôn vànhư vậy là không thống nhất Do đó, Nghị định số 79/2003/NĐ-CP

đã bỏ quyền quyết định việc này và còn quy định chi tiết hơn là:ngoài những khoản đóng góp đã nói trên, những khoản đóng gópkhác của nhân dân ủng hộ với mục đích tương trợ, nhân đạo, từthiện thì Uỷ ban nhân dân xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trân Tổquốc Việt Nam, các thành viên của Uỷ ban Mặt trân Tổ quốc ViệtNam cùng cấp tuyên truyền, vận động nhân dân theo nguyên tắchoàn toàn tự nguyện, không áp đặt, phân bổ bình quân nhất loạt(Điều 8 Nghị định số 79/2003/NĐ-CP)

b) Xây dựng hương ước, quy ước làng văn hoá, nếp sống vănminh, giữ gìn an ninh, trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan,các tệ nạn xã hội

Hương ước, quy ước thôn, bản là những văn bản do cộng đồngdân cư thống nhất lập ra, quy định những cách xử sự chung trongcộng đồng đó, nhằm giữ gìn trật tự trong cộng đồng và hướng cộng

đồng phát triển vừa phù hợp với phong tục, tập quán, với điều kiện

cụ thể vừa theo chiều hướng văn minh, lành mạnh Có hương ước,quy ước chung về mọi mặt đời sống cộng đồng, hoặc quy ước vềtừng lĩnh vực, như quy ước bảo vệ môi trường, quy ước về nếp sốngvăn minh Trong hương ước, cần đề ra các biện pháp bảo vệ tài sản

Trang 28

công cộng và tài sản của công dân, bảo vệ môi trường, danh lamthắng cảnh, bảo vệ thuần phong mỹ tục, xây dựng tình đoàn kết,tương thân tương ái trong cộng đồng Trưởng thôn cùng với Bí thưchi bộ, Ban công tác Mặt trận Tổ quốc chỉ đạo soạn thảo hương ước,sau đó đưa ra toàn thể nhân dân trong thôn thảo luận, lấy biểuquyết thông qua tại hội nghị đại biểu hộ gia đình thôn và trình lên

Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê chuẩn trước khi thi hành

c) Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn phù hợpvới pháp luật của Nhà nước

Việc nội bộ của cộng đồng dân cư do chính dân cư ở cộng đồng

đó quyết định Dân có thể họp và quyết định việc đóng góp haygiúp sức xây nhà tình nghĩa trong thôn, việc tổ chức trồng câyxanh trên các đồi trọc của thôn, tu sửa lại đình chùa miếu mạo, tổchức ngày lễ mừng thọ cho các cụ cao tuổi trong thôn… Nhữngcông việc đó phải phù hợp với pháp luật của Nhà nước và nguyệnvọng của người dân

d) Thành lập ban giám sát công trình xây dựng do dân đóng góp

Để xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộngtrên địa bàn xã, người dân toàn quyền quyết định có làm haykhông và mức đóng góp là bao nhiêu Sau đó việc triển khai xâydựng sẽ do phía chính quyền thực hiện Tuy nhiên, để bảo đảmtính công khai, minh mạch, tránh sự tham nhũng, bớt xén, ngườidân phải có sự giám sát, kiểm tra Cụ thể: người dân trong thônbầu ra đại diện của mình, lập nên Ban giám sát công trình Cácthành viên trong Ban chỉ bị thay đổi theo ý kiến của đa số dân.Ban thực hiện chức năng giám sát trong suốt quá trình thi công vàgiải thể khi đã hoàn thành nhiệm vụ

đ) Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh, giữ gìn trật tự, an toàngiao thông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bànxã, thôn

Trang 29

Công tác bảo vệ trật tự trị an trên địa bàn do chính quyền xãquản lý Còn lại, trong khuôn khổ một số hoạt động sản xuất, kinhdoanh, người dân có thể lập ra các tổ chức bảo vệ của riêng mình.

Ví dụ: Để chống việc trộm cắp hoa màu trồng trên bãi hoặc trên đồi, dân trong thôn lập ra tổ bảo vệ Các thành viên trong tổ phải do dân bầu hoặc qua lấy ý kiến dân và

được đa số tán thành Hoặc trong một làng nghề có thể lập ra đội giám sát để kiểm soát sự thất thoát nguyên vật liệu, sản phẩm Tuy nhiên, hoạt động của các tổ, đội bảo

vệ phải tuân thủ các quy định của pháp luật.

Phương thức thực hiện quyền dân bàn và quyết định trực tiếp:

Uỷ ban nhân dân xã xây dựng phương án, chương trình, kếhoạch, phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấpchỉ đạo, tổ chức nhân dân thảo luận quyết định năm vấn đề trênbằng cách:

- Họp toàn thể nhân dân hoặc chủ hộ gia đình hay cử tri đạidiện hộ gia đình từng thôn, thảo luận biểu quyết công khai hoặc bỏphiếu kín

- Phát phiếu lấy ý kiến các hộ gia đình

Trong mọi trường hợp phải lập biên bản gửi Uỷ ban nhân dânxã về nội dung cuộc họp và kết quả những vấn đề đã biểu quyết Nếu đạt tỷ lệ 50% số người tham gia cuộc họp hoặc lấy ý kiếntán thành thì Uỷ ban nhân dân xã ra quyết định công nhận Nhândân có trách nhiệm chấp hành và thực hiện nghiêm chỉnh

Uỷ ban nhân dân xã phối hợp với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốcViệt Nam cùng cấp chỉ đạo Trưởng thôn và Trưởng ban công tácMặt trận tổ chức thực hiện những việc đã được dân bàn, quyết định

Trang 30

và Uỷ ban nhân dân xã công nhận, có sự giám sát của Thanh tranhân dân hoặc Ban giám sát công trình, dự án do dân bầu.

2.3 Quyền dân bàn, tham gia ý kiến, chính quyền xã quyết địnhQuyền “dân bàn” ở phương diện này có nghĩa là người dân cóquyền bàn bạc, thảo luận hoặc tham gia ý kiến về một số công việccủa chính quyền Quyết định vẫn là chính quyền, song có dựa vàocác ý kiến đóng góp bàn bạc của người dân Như vậy, chính quyềnkhông thể quyết định một việc liên quan đến quyền lợi của ngườidân mà không dựa trên đa số ý kiến nhất trí của dân

Nghị định số 79/2003/NĐ-CP quy định 9 loại việc mà ngườidân ở cơ sở được quyền bàn bạc, thảo luận, góp ý trước khi Hội

đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân quyết định Thực chất, đa sốcác việc được người dân tham gia bàn là các dự thảo chính sách,pháp luật của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân về nhữngvấn đề của xã, cụ thể gồm các việc sau đây:

- Dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã;

- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dàihạn, hàng năm của xã, phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sảnxuất, phương án phát triển ngành nghề;

- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở xã và việcquản lý sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích của xã;

- Phương án quy hoạch khu dân cư, đề án định canh, định cưvùng kinh tế mới Dự án huy động và sử dụng các khoản đóng gópcủa dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do xã quản lý;

- Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính xã,

đề án chia, tách, thành lập thôn;

- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình mục tiêu quốcgia trên địa bàn xã;

Trang 31

- Chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, xâydựng cơ sở hạ tầng tái định cư;

- Giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn xã;

- Những việc khác mà chính quyền xã thấy cần thiết

Pháp luật không giới hạn mà mở ra khả năng cho người dânthực hiện quyền dân chủ Tuỳ theo sự cần thiết của vấn đề, Hội

đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân có thể tổ chức lấy ý kiến nhândân về một số loại việc khác; ví dụ: việc cho ai thuê quỹ đất côngích, việc cử người trong thôn đi dự đại hội…

Một điều đáng lưu ý là xử lý các ý kiến đóng góp của người dânnhư thế nào; giá trị những ý kiến đóng góp của công dân đến đâu.Các loại việc trên thực chất là công việc của chính quyền, thuộcthẩm quyền của chính quyền, vì có liên quan trực tiếp đến dân nêncần tham khảo ý kiến dân Do vậy, dân chỉ tham gia ý kiến chứkhông có quyền quyết định, quyền quyết định thuộc về chínhquyền (Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã hoặc cấp trên).Pháp luật không quy định về tính bắt buộc của các cơ quan chínhquyền cấp cơ sở trong việc phải theo ý kiến của dân, có nghĩa là vẫntồn tại khả năng sự quyết định của chính quyền không trùng với ýkiến của đa số dân Trong trường hợp đó, nếu xét thấy quyết địnhcủa chính quyền có dấu hiệu gây thiệt hại và không tôn trọng ýkiến của nhân dân, người dân ở cơ sở có thể thực hiện quyền khiếunại hoặc tố cáo, để cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết.Quyền dân tham gia ý kiến được thực hiện thông qua các cáchthức sau:

- Phát phiếu lấy ý kiến từng hộ gia đình;

- Họp nhân dân, chủ hộ trong thôn;

- Họp các tổ chức kinh tế;

- Đặt hòm thư góp ý

Trang 32

ý kiến của dân tại các cuộc họp, ý kiến góp ý phải được tổnghợp, báo cáo đầy đủ, khách quan để Uỷ ban nhân dân xã xem xét,trình Hội đồng nhân dân xã quyết định theo thẩm quyền hoặctrình cơ quan có thẩm quyền cấp trên xem xét, quyết định.

2.4 Quyền dân được giám sát, kiểm tra

Quy chế dân chủ đã xác định, tại địa phương người dân có

“quyền kiểm tra và giám sát” những công việc sau đây của chínhquyền (11 loại việc):

Một là, hoạt động của chính quyền xã, của các tổ chức chínhtrị - xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức nghề nghiệp ở xã

Công dân ở địa phương có thể kiểm tra, giám sát hoạt động của

Uỷ ban nhân dân xã mình xem có vi phạm pháp luật hay không,

có thực hiện những nghị quyết của Hội đồng nhân dân hay không;giám sát hoạt động của những cán bộ xã phụ trách việc xây dựngtrường học, trạm xá hay những công trình do Nhà nước và nhândân trong xã đóng góp tiền xây dựng

Hai là, kết quả thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân,quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân xã

Ba là, hoạt động và phẩm chất đạo đức của Chủ tịch Hội đồngnhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, hoạt động của đại biểuHội đồng nhân dân xã, cán bộ Uỷ ban nhân dân xã và cán bộ, côngchức nhà nước hoạt động ở địa phương

Ví dụ: Bà Nga thấy ông Bình là cán bộ Uỷ ban nhân dân xã có hành vi ăn bớt tiền do nhân dân đóng góp để sửa chữa đường xá trong xã Bà Nga viết đơn tố cáo ông Bình lên Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã.

Trang 33

Bốn là, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại địa phương.

Ví dụ: Gia đình bà Xuyên có đơn khiếu nại việc Uỷ ban nhân dân xã ra quyết định thu hồi đất và nhà của gia đình bà trái với pháp luật Người dân trong xã có quyền giám sát việc giải quyết khiếu nại của bà Xuyên.Năm là, dự toán và quyết toán ngân sách xã

Các bản dự toán, quyết toán này đã được người dân bàn bạc,thảo luận, đóng góp ý kiến Chính quyền xã có trách nhiệm thôngbáo để người dân biết Mục đích của việc biết ở đây chính là đểngười dân giám sát xem trong thực tế việc thu, chi có đúng như dựtoán ban đầu hay không, những chi phí phát sinh và lý do Tuynhiên, không phải là người dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sáttất cả các mục thu chi bằng cách đòi hỏi chính quyền phải cho xemchi tiết từng phiếu thu, phiếu chi, cũng như sổ sách chứng từ kếtoán của xã Như vậy, dân chủ quá mức, trong nhiều trường hợp làtrái nguyên tắc Trên thực tế không một xã nào có thể đáp ứngnguyện vọng của từng cá nhân người dân trong xã theo kiểu nhưvậy Pháp luật quy định các cách thức khác nhau để người dânthực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình Chẳng hạn, nếunghi ngờ tiêu cực trong một mục thu, chi nào đó, người dân có thể

sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của mình và chínhquyền sẽ giải quyết

Sáu là, quá trình tổ chức thi công công trình, kết quả nghiệmthu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng vàcác chương trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức, cá nhân nướcngoài đầu tư, tài trợ trực tiếp cho xã

Bảy là, các công trình do cấp trên triển khai trên địa bàn xã có

ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, an ninh, trật tự, văn hoá - xã

Trang 34

hội, vệ sinh môi trường và đời sống của nhân dân địa phương.Tám là, quản lý và sử dụng đất đai tại xã.

Chín là, thu chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhànước, các khoản đóng góp của nhân dân

Đây thực chất là những bản dự toán, quyết toán các loại quỹ,

lệ phí theo quy định của pháp luật và do người dân đóng góp.Người dân phải giám sát việc thu, chi này, tránh những biểu hiệntiêu cực, thu, chi sai mục đích đóng góp, cũng như nhằm phát hiện

là những vấn đề rất nhạy cảm, người dân không thoả mãn, dễ dẫntới những hành động manh động Vì vậy, người dân cần được biếtquá trình và kết quả xử lý các vụ việc nêu trên, để kiểm tra, giámsát việc xử lý những vụ việc đó

Mười một là, việc thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc, giúp

đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, những người và gia

đình có công với nước, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội.Các chính sách ưu đãi đối với những đối tượng này, mặc dù trong

Trang 35

thực tế có thể rất tốt, nhân đạo, nhưng quá trình thực thi các chínhsách đó không phải bao giờ cũng làm người dân thoả mãn Việc quy

định họ có quyền được giám sát các hoạt động này nhằm góp phầngiúp người dân bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời cũng giúp chochính quyền xã thực hiện những chính sách đó được tốt hơn

a) Cách thức bảo đảm cho người dân thực hiện quyền kiểm tra,giám sát

- Trước tiên, người dân có thể tham gia trực tiếp (thông quaviệc mời đến làm việc) hoặc thông qua các tổ chức đại diện chomình trong các cuộc họp của chính quyền xã bàn về những vấn đềliên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của mình ở đây, chỉ nhữngngười dân có quyền lợi liên quan trực tiếp mới được mời đến dự,không phải bất kỳ người dân nào thích thực hiện quyền giám sát,kiểm tra là có thể được dự họp

- Người dân tham gia ý kiến về báo cáo tổng kết công tác sáutháng và hàng năm của chính quyền xã

- Đóng góp ý kiến vào bản kiểm điểm công tác và tự phê bìnhcủa Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xãtrong cuộc họp tổng kết công tác cuối năm

- Bỏ phiếu tín nhiệm với các chức vụ do Hội đồng nhân dân xã bầu.Pháp luật Việt Nam luôn quy định một cách công bằng giữaquyền và nghĩa vụ của công dân cũng như của các cơ quan, tổ chức.Công dân được hưởng những quyền nhất định thì cũng đồng thờiphải có những nghĩa vụ tương ứng

b) Khi thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình, người dânphải có những nghĩa vụ sau đây:

- Việc thực hiện quyền dân chủ của người dân, trong đó cóquyền kiểm tra, giám sát, phải tuân thủ một cách nghiêm chỉnhpháp luật của Nhà nước, nghiêm cấm các hành vi lợi dụng dân chủ

Trang 36

để vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm quyền tự do, dân chủcủa nhân dân.

- Nếu công dân thực hiện quyền khiếu nại thì cũng phải cónghĩa vụ khiếu nại đến đúng cơ quan có thẩm quyền; trình bàytrung thực, cung cấp thông tin, tài liệu cho cơ quan có thẩm quyền

và chịu trách nhiệm với thông tin đó; chấp hành nghiêm chỉnhquyết định giải quyết khiếu nại

- Nếu công dân thực hiện quyền tố cáo thì cũng phải trình bàymột cách trung thực và chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu tốcáo sai sự thật

- Khi công dân đến cơ quan nhà nước thực hiện quyền kiểmtra, giám sát của mình thì phải nghiêm chỉnh chấp hành nội quynơi tiếp công dân và hướng dẫn của cán bộ tiếp dân

Mặc dù trong Quy chế dân chủ ở cơ sở có quy định quyền kiểmtra, giám sát của người dân ở cơ sở, song không có nghĩa là bất kỳkhi nào có thắc mắc người dân đều có quyền trực tiếp yêu cầuchính quyền giải trình tại chỗ, mà phải tuân thủ theo các quy địnhcủa pháp luật và tôn trọng thủ tục hoạt động của chính quyền, nhưgặp đúng người có thẩm quyền, đúng lịch tiếp dân, yêu cầu, kiếnnghị đúng thể thức và trình tự Quy định như vậy là để tránh việckhiếu nại, tố cáo tràn lan gây hậu quả không tốt cho xã hội.Quy chế cũng quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cánhân đối với hoạt động kiểm tra, giám sát của nhân dân (Điều 14Nghị định số 79/2003/NĐ-CP), cụ thể là:

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm mời đại diện

Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên cùng cấp,các đối tượng có liên quan trực tiếp tham dự cuộc họp của chínhquyền cấp xã bàn bạc về các vấn đề có liên quan trực tiếp đếnquyền và lợi ích của nhân dân địa phương

Trang 37

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm xem xét, giảiquyết các kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền

và thông báo kết quả giải quyết cho tổ chức, cá nhân có kiến nghị

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm trình cơ quan

có thẩm quyền các vụ việc vượt quá thẩm quyền

- Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã

có trách nhiệm gửi cho Trưởng thôn bản kiểm điểm công tác và tựphê bình tại cuộc họp tổng kết hàng năm, để Trưởng thôn tổ chứcnhân dân đóng góp ý kiến

- Hàng năm, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức lấyphiếu tín nhiệm của các thành viên Mặt trận Tổ quốc với các chức

vụ chủ chốt do Hội đồng nhân dân xã bầu ra Nếu số phiếu tínnhiệm đạt tỷ lệ dưới 50% số người tham gia thì Mặt trận Tổ quốcViệt Nam xã đề nghị Hội đồng nhân dân xã xem xét, miễn nhiệm

- Trưởng thôn phối hợp với Trưởng ban công tác Mặt trận tổchức cuộc họp thu thập ý kiến của nhân dân về các vấn đề do nhândân tự quyết định; tổng hợp, báo cáo bằng văn bản với chính quyềnxã một cách chính xác, khách quan, trung thực ý kiến đóng góp củanhân dân

3 Trách nhiệm của hệ thống chính trị ở cơ sở trong thực hiệnQuy chế dân chủ ở cơ sở

3.1 Tổ chức Đảng

Đối với nước ta hiện nay, Đảng Cộng sản là chính đảng duynhất trong xã hội và là đảng cầm quyền Vì vậy, việc bảo đảm vàphát huy dân chủ trong xã hội phụ thuộc rất lớn vào hoạt độngcủa Đảng

Quá trình thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở cho thấy, khôngphải lúc nào và ở đâu cán bộ, đảng viên cũng nhận thức và hành

Trang 38

động đúng với trách nhiệm của mình Do vậy, để dân chủ thực sự

được phát huy trong nhân dân, cần nâng cao nhận thức và chấtlượng hoạt động của đảng viên, nhất là đảng viên công tác ở cơ sở Thực tiễn áp dụng Quy chế dân chủ ở cơ sở trong những nămqua còn cho thấy, nơi nào cấp uỷ đảng nhận thức được ý nghĩa củachủ trương phát huy dân chủ trong nhân dân, quyết tâm dành chongười dân cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định của chínhquyền, thì nơi đó dân chủ có điều kiện thuận lợi để phát huy.3.2 Chính quyền cấp xã (Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân)

Hệ thống cơ quan nhà nước, từ trung ương đến địa phương,

đều có chức năng và nhiệm vụ cụ thể trong việc bảo đảm thi hànhquyền dân chủ của nhân dân Đối với cấp cơ sở, Uỷ ban nhân dân

và Hội đồng nhân dân xã là những cơ quan chính quyền gần gũi,trực tiếp liên hệ với nhân dân Những quyết định do chính quyềnxã ban hành và tổ chức thực hiện đều tác động trực tiếp đến đờisống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và quyền dân chủ của nhândân ở cơ sở

Vai trò của chính quyền xã trong việc thúc đẩy, đôn đốc và bảo

đảm việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, được khẳng định quacác điểm mấu chốt sau đây:

- Thứ nhất, chính quyền cơ sở giữ vai trò chủ đạo trong việc tổchức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Có nhiều loại việc mà đểthực hiện được chúng, nhất thiết cần đến vai trò của chính quyềncơ sở Ví dụ: để bảo đảm quyền dân được biết về chính sách, phápluật của Nhà nước, về quyết toán công trình xây dựng do dân đónggóp, về sơ kết, tổng kết hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷban nhân dân chính quyền cơ sở phải thông báo đến dân trong cuộchọp, niêm yết công khai tại nơi công cộng, qua hệ thống loa truyềnthanh Để dân có thể tham gia bàn bạc, quyết định một số việc,

Trang 39

chính quyền cơ sở phối hợp với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thểnhân dân trong xã tổ chức họp nhân dân, họp chủ hộ, phát phiếulấy ý kiến đến từng hộ gia đình.

- Thứ hai, chính quyền cơ sở tạo điều kiện cho dân thực hiệncác quyền dân chủ Ví dụ: nhằm giúp người dân có thể bàn bạc, góp

ý kiến về kế hoạch huy động tiền của dân để xây dựng đường sá,trường học, trạm y tế, về phương án đền bù giải phóng mặt bằng,chính quyền cơ sở phải lập kế hoạch, lên phương án, phổ biến cácvăn bản pháp luật có liên quan đến những loại việc này cho dân

- Thứ ba, khi dân đã thực hiện các quyền dân chủ của mình(bàn bạc, quyết định, kiểm tra), chính quyền có nghĩa vụ lắngnghe, tiếp thu và xử lý nghiêm túc

- Thứ tư, các hành vi vi phạm trong việc thực thi quy chế dânchủ ở cơ sơ làm ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của cán bộ có hành

vi vi phạm đó Chế tài trước hết và nặng nề nhất, đó là sự bất tínnhiệm của nhân dân đối với cán bộ chính quyền cơ sở

Nếu vi phạm Quy chế dân chủ ở cơ sở, chính quyền cơ sở sẽ phải

bị xử lý nghiêm minh và chịu trách nhiệm theo pháp luật Cán bộ

có nghĩa vụ tổ chức thực hiện mà không thực hiện hoặc thực hiệnkhông đúng sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc tuỳ theo từng mức độ vi phạm

mà chịu những dạng trách nhiệm pháp lý khác theo quy định củapháp luật: trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự

3.3 Trưởng thôn

Trưởng thôn vừa là người đại diện cho nhân dân trong mộtcộng đồng dân cư, vừa là người giúp việc cho Uỷ ban nhân dân xã,

đại diện cho Uỷ ban nhân dân xã ở thôn Trưởng thôn có nhiệm vụ

tổ chức cho dân thực hiện các quyền dân chủ ở cơ sở và giúp Uỷ bannhân dân xã thực hiện một số công việc nhằm thực hiện quy chếdân chủ ở thôn mình

Trang 40

Quyền và nghĩa vụ của Trưởng thôn do pháp luật và các vănbản của chính quyền địa phương quy định Quy chế dân chủ ở xã,phường, thị trấn, có nhiều quy định về Trưởng thôn Trong triểnkhai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh

đã ban hành các quy chế, quy định tạm thời về tổ chức, hoạt độngcủa thôn, trong đó ít nhiều quy định về chức năng, nhiệm vụ củaTrưởng thôn Theo đó, trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ

sở, Trưởng thôn có một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương,chính sách, pháp luật của Nhà nước và các văn bản của chínhquyền địa phương về dân chủ ở cơ sở;

- Tổ chức và chủ trì các cuộc họp thôn bàn những vấn đề theoquy định của Quy chế dân chủ ở cơ sở; tổ chức thực hiện các nghịquyết của hội nghị thôn;

- Dự họp Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân xã khi bàn

về nội dung có liên quan đến dân chủ ở cơ sở, nếu được mời;

- Tổ chức nhân dân xây dựng hương ước, quy ước của thôn;

- Công khai các khoản thu, khoản đóng góp của nhân dântrong thôn tại hội nghị thôn;

- Phối hợp hoà giải kịp thời các tranh chấp, mâu thuẫn trongnội bộ nhân dân;

- Tập hợp ý kiến, nguyện vọng chính đáng của nhân dân trongthôn để phản ánh với Uỷ ban nhân dân xã;

- Định kỳ sáu tháng, báo cáo công tác và tự phê bình, kiểm

điểm trước nhân dân tại hội nghị thôn

3.4 Các đoàn thể

Nhà nước giữ vai trò chính yếu trong việc điều hành và quản

Ngày đăng: 15/01/2022, 17:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w