1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN môn học CÔNG NGHỆ PHÂN bón đề tài TÌNH HÌNH PHÂN bón HIỆN NAY

23 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 350,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦUTừ hàng ngàn năm trước, con người đã biết sử dụng những hợpchất hữu cơ để hỗ trợ sự phát triển của cây trồng, ví dụ như sử dụng xácđộng, thực vật hay sử dụng các loại phân độn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VIỆN

KỸ THUẬT HÓA HỌC BỘ MÔN CÔNG NGHỆ

CÁC CHẤT VÔ CƠ

TIỂU LUẬN MÔN HỌC

CÔNG NGHỆ PHÂN BÓN

ĐỀ TÀI: TÌNH HÌNH PHÂN BÓN HIỆN NAY

GVHD: TS Bùi Thị Vân Anh

SVTH: Phan Thị Thu Thủy

MSSV: 20164003

Hà NộiTháng 09, 2020

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Từ hàng ngàn năm trước, con người đã biết sử dụng những hợpchất hữu cơ để hỗ trợ sự phát triển của cây trồng, ví dụ như sử dụng xácđộng, thực vật hay sử dụng các loại phân động vật,… “Một nhóm nghiêncứu thuộc Đại học Oxford phát hiện ra rằng trong thời kỳ đồ đá khoảng6.000 năm trước công nguyên, những người nông dân đã biết sử dụngphân gia súc như bò, cừu, dê, lợn như một loại phân bón tan chậm chocây trồng.”[3]

Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ

mà việc sử dụng một loại hợp chất dùng cho việc phát triển cây trồng đãđơn giản hơn rất nhiều Sự ra đời của phân bón trong một vài thế kỷ gầnđây đã mở ra cho thế giới không những một ngành công nghiệp đầy triểnvọng mà còn thúc đẩy sự phát triển vượt bậc của ngành trồng trọt và cáccác ngành nghề hóa chất liên quan tới phân bón

Từ cuối thế kỷ XIIX, người ta đã phát hiện sự có mặt của các hợpchất supe phosphate có trong xương động vật có thể bổ sung chất dinhdưỡng cho cây trồng Sau hơn hai thế kỉ hình thành và phát triển, ngànhphân bón thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với tìnhhình kinh tế và chính trị từng thời điểm Bắt đầu từ những phát hiện sơkhai về hợp chất có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cây trồng, cho đếnnay phân bón đã trở nên phổ biến trên thị trường thế giới với sự đa dạng

về chủng loại, công dụng và cả giá thành,… đi kèm đó là những sự nổ lựckhông ngừng để cải tiến công nghệ sản xuất phân bón ngày càng hiệu quả

và nâng cao chất lượng sản phẩm

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÂN BÓN

1.1 Khái niệm về phân bón:

Phân bón là các sản phẩm làm tăng dinh dưỡng cây trồng, làm tăngcác tính chất vật lí và tính chất hóa học của đất từ đó tăng chất lượng vànăng suất cây trồng

Nguyên tố dinh dưỡng trong phân bón gồm có:

-Nhóm nguyên tố vi lượng: boron (Bo), clo (Cl), mangan (Mn), sắt(Fe), kẽm (Zn), đồng (Cu), mô-líp-đen (Mo), selen (Se)

-Nhóm nguyên tố trung lượng: Canxi (Ca), Magie (Mg), Sulfur (S)được bổ sung ở dạng cây hấp thụ được

-Nhóm nguyên tố đa lượng: đạm (N), lân (P), kali (K), là thànhphần dinh dưỡng quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất vàchất lượng cây trồng Tuy nhiên các nguyên tố này ở trong đất và khôngkhí rất ít vì thế phân bón chứa hợp chất N-P-K là nguồn cung cấp chínhcác nguyên tố này cho cây trồng để tăng sự chịu đựng của cây trồng đốivới sự biến đổi thời tiết từ đó tăng năng suất và chất lượng sản lượng củasản phẩm do cây trồng tạo ra

Nguyên tố Nito có vai trò tổng hợp protein, enzym và các axitamin là chất nguyên sinh của tế bào sống; kích thích thân lá và chồi pháttriển tốt, thúc đẩy rễ phát triển hơn so với cây thiếu N; cây cần N trongtoàn bộ chu kỳ sinh trưởng và phát triển

Nguyên tố Photpho có vai trò trong việc hình thành axit nucleic vàphotpholipit bổ sung cho cây; thúc đẩy đẻ nhánh, trổ bông và tăng cườngchất lượng hạt; nhu cầu P lớn nhất trong giai đoạn cây chuẩn bị trổ bông,kết quả hay tạo hạt

Nguyên tố Kali tham gia vào quá trình quang hợp, tổng hợp hydratcacbon và gluxit cho cây; giúp cây cứng chắc, ít đổ ngã, tăng khả năngchống chịu, nâng cao chất lượng nông sản; nhu cầu K lớn nhất trong giaiđoạn cây phát triển

Trang 5

Mỗi nguyên tố và nhóm nguyên tố đều có tác động kích thích từng

bộ phận nhất định và từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây trồng,dựa vào đó mà người ta có thể lựa chọn phân bón với thành phần thíchhợp cho từng loại cây trồng và cho từng thời điểm khác nhau.

1.2 Phân loại phân bón:

Dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau, người ta có thể chia phân bónbằng nhiều cách khác nhau

-Dựa vào nguồn gốc phân bón có thể chia phân bón thành hai loại:

phân bón vô cơ (phân bón hóa học hay phân khoáng) và phân bón hữu cơ

+“Phân khoáng là loại phân bón cung cấp trực tiếp cho cây trồngcác hợp chất có chứa các nguyên tố dinh dưỡng N, P, K đối với cây trồng.Trong phân khoáng lại chia ra làm các hợp chất chứa đạm, chứa lân, chứakali và phân vi lượng.”[2] Đây là loại phân chiếm 90% tổng nhu cầu tiêuthụ phân bón tại Việt Nam hiện nay

+“Phân hữu cơ là các hợp chất hữu cơ hoặc bã thải hữu cơ như cácloại phân chuồng, phân xanh.”[2] Thông qua quá trình phân giải hoặc lênmen trở thành dạng cây có thể hấp thụ được Loại phân này khó sản xuấtthương mại hóa ở quy mô lớn Ở Việt Nam hiện nay, phân bón hữu cơthường được sử dụng kết hợp với các loại phân bón hóa học để tăng độdinh dưỡng cho cây trồng

-Dựa vào chức năng cũng có thể chia phân bón thành phân bóntrực tiếp, phân bón gián tiếp và phân bón chức năng

-Dựa vào cấu tạo thì phân bón được chia ra làm ba loại: phân bónđơn, phân bón phức hợp và phân bón hỗn hợp

+Phân bón đơn là loại phân bón chỉ chứa một nguyên tố dinhdưỡng đa lượng chủ yếu là N, P hoặc K

+Phân bón phức hợp là phân bón có chứa hỗn hợp nguyên tố dinhdưỡng, và được tạo thành từ phản ứng hóa học, ví dụ như DA, DAP,…

+Phân bón hỗn hợp là phân bón chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng

đa lượng và được tạo thành bằng phương pháp trộn cơ học từ các phânbón đơn, ví dụ tiêu biểu như NPK

Trang 6

Ngoài ra có thể phân loại phân bón dựa vào mục đích sử dụng (phânbón rễ, phân bón lá, phân cải tạo đất), dựa vào thành phần chất dinh dưỡng(phân bón vi lượng, phân bón trung lượng và phân bón đa lượng).

1.3 Lịch sử phát triển của ngành phân bón:

1.3.1 Lịch sử phát triển của ngành phân bón thế giới:

Cuối thế kỷ 18, lần đầu tiên con người đã phát hiện hợp chất supephotphat có trong xương động vật, có thể bổ sung chất dinh dưỡng chocây trồng

“Đầu thế kỷ 19, Justus Von Liebig-nhà hóa học người Đức đã thửnghiệm thành công dùng axit sunfuric để hòa tan phốt phát trong xươngđộng vật, mở đầu cho ngành công nghiệp phân bón trên thế giới.”[4]

Những năm 1840, cách điều chế supe photphat bằng cách dùng axitsunfuric hòa tan quặng apatit ra đời Cùng thời điểm đó, các mỏ quặngphotphat được khai thác lần đầu tại Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Đức (1860)

và ở Mỹ (1867), đưa công nghiệp photphat bước sang hướng mới vớinguồn nguyên liệu dồi dào và hiệu quả hơn

Thế kỷ 20-Ngành công nghiệp Photphat tiếp tục phát triển khi sảnphẩm amoni photphat (DAP, MAP) được phát hiện lần đầu tiên ở Mỹnăm 1916 Đây là loại phân lân được ưa chuộng trên thế giới, với tốc độtăng trưởng nhanh do tính hiệu quả và hàm lượng phốt pho dồi dào

“Công nghiệp phân kali khởi nguồn từ cuối thế kỷ 19, khi các mỏpotash lớn được khai thác ở Tây Âu Đức là nước khai thác và sản xuấtphân kali lớn nhất trong giai đoạn này Ngày nay, với lợi thế từ những mỏpotash trữ lượng lớn, Bắc Mỹ và các khu vực trên là những nước có lợithế sản xuất và xuất khẩu phân kali trên thế giới.”[4]

Bước đột phá của ngành phân bón là khi nhận biết được tầm quantrọng của Ni-tơ đối với cây trồng Năm 1909, nhà khoa học người Đức-Fritz Haber đã phát hiện ra phản ứng hóa học của Ni-tơ và hydro tạo raamoniac, làm cơ sở cho sản xuất phân bón Ni-tơ

Năm 1920, phương pháp tổng hợp Urê từ than lần đầu tiên đượcgiới thiệu ở Đức Những năm 1950, công nghệ sản xuất Urê từ khí bắtđầu được sử dụng, khu vực Đông Âu và Trung Đông có trữ lượng khí dồidào đã tăng cường sản xuất và xuất khẩu loại phân này

Trang 7

Từ năm 1953-1960, các loại phân NPK lần lượt ra đời với tỉ lệ bathành phần chính Nitơ, Photpho và Kali khác nhau, do nhu cầu bổ sungđồng thời các chất dinh dưỡng Ban đầu, các loại phân hỗn hợp được sảnxuất bằng cách trộn trực tiếp các loại phân đơn Năm 1962, phương pháptạo hạt phân NPK ra đời Ở Mỹ, số lượng nhà máy sản xuất NPK đã tănglên nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ.

Giữa thế kỷ 20, thế giới đã trải qua cuộc cách mạng Xanh bắt đầu ởMexico năm 1944 Sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng khắp của cuộc cáchmạng này đã thúc đẩy sự phát triển nền nông nghiệp thế giới, kéo theonhu cầu tiêu thụ phân bón tăng trưởng nhanh nhất lịch sử trong giai đoạn

từ năm 1960-1990 Ngành công nghiệp phân bón cũng theo đó mà pháttriển mạnh mẽ, hoạt động xuất nhập khẩu phân bón diễn ra nhộn nhịpgiữa các khu vực trên thế giới

“Trải qua hơn 2 thế kỷ hình thành phát triển, ngành phân bón thếgiới đã bước vào giai đoạn bão hòa Tốc độ tăng trưởng ngành chậm lại,nguồn cung dư thừa ở một số khu vực Điều này đặt ra thách thức chođộng lực phát triển ngành phân bón thế giới trong giai đoạn tới Thế kỷ

21 đi liền với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng nông nghiệpsạch, khiến việc sử dụng phân bón chất lượng cao, hàm lượng dinh dưỡngdồi dào, sử dụng tiết kiệm và không gây ô nhiễm môi trường được coitrọng hơn.”[4]

1.3.2 Lịch sử phát triển của ngành phân bón Việt Nam:

Việt Nam là nước nông nghiệp với quá trình phát triển lâu đời.Những thế kỷ trước, người nông dân chủ yếu sử dụng phân bón hữu cơ tựchế từ tro, xác thực vật, phân chuồng,… để bón cho cây trồng

Từ khi có sự ra đời của phân bón hóa học đã thúc đẩy ngành sảnxuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ, góp phần nâng cao năng suất vàchất lượng cây trồng

Ngành phân bón Việt Nam hình thành và phát triển theo 4 giaiđoạn gắn liền với các giai đoạn lịch sử khác nhau:

-Giai đoạn trước 1960: Ngành nông nghiệp kém phát triển do chiếntranh, người nông dân chỉ sử dụng phân hữu cơ tự chế để bón cho câytrồng

Trang 8

-Giai đoạn 1961-1980: Sản xuất và tiêu thụ phân Urê, phân lân ởmức thấp, tuy nhiên các nhà máy phân bón đầu tiên đã ra đời: nhà máyphân lân Văn Điển (1961), nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao (1962).nhà máy đạm Hà Bắc (1975) là nhà máy đạm đầu tiên ở Việt Nam, nhưngcũng mới chỉ đáp ứng được 8% nhu cầu phân đạm cả nước, vẫn phải tiếptục nhập khẩu bổ sung từ Trung Quốc Nhu cầu kali cho cây trồng vẫnchưa được chú trọng.

“Giai đoạn 1981-2000: Ngành phân bón đạt tốc độ tăng trưởng cao

ở hầu hết các phân khúc, tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 10,1%/năm.Đặc biệt, với sự ra đời của phân phức hợp NPK là một đóng góp rất quan trọngcho nền sản xuất nông nghiệp do đầy đủ chất dinh dưỡng và tiện lợi khi sửdụng, giúp tiết kiệm chi phí và công chăm sóc Giai đoạn này, các nhà sản xuấttrong nước đầu tư công nghệ tiên tiến để gia tăng nguồn cung cả chất và lượng.Ước tính, sản xuất toàn ngành tăng trưởng trung bình 22% giai đoạn 1991-1997,mức đầu tư toàn ngành tăng từ 63,5 tỷ đồng năm 1991 lên 102 tỷ đồng năm

1997 Tăng trưởng sản xuất đã nhanh chóng bù đắp phần nào nhu cầu thiếu hụtcác mảng sản phẩm NPK, Urê, lân.”[4]

Giai đoạn 2001 đến nay, ngành phân bón tiếp tục tăng trưởngnhưng tốc độ chậm lại so với giai đoạn trước Nhu cầu tiêu thụ phân bónđang có tốc độ tăng trưởng giảm dần

8

Trang 9

CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT PHÂN BÓN HIỆN

NAY 2.1 Nguồn nguyên liệu:

Nguyên liệu đầu vào sản xuất các loại phân bón là khác nhau: than,khí thiên nhiên-sản xuất phân đạm; quặng bồ tạt-sản xuất phân kali; đáphotphat, quặng apatit-sản xuất phân lân Ngoài ra, một số nguyên liệunhư lưu huỳnh-sản xuất axit sunfuric là một thành phần tạo nên phânDAP, MAP và một số thành phần vi lượng khác,…

2.1.1 Nguồn nguyên liệu sản xuất phâm đạm-khí thiên nhiên, than:

-Khí thiên nhiên tập trung nhiều nhất ở khu vực Trung Đông và cácnước cộng đồng các quốc gia Độc lập với trữ lượng 90,3 nghìn tỷ m3 (trữlượng đã thăm dò được) Thời gian khai thác còn lại đối với lượng khítruyền thống toàn cầu khoảng 52,5 năm

Bên cạnh đó, các mỏ khí đá phiến mới được phát hiện có trữ lượngđáng kể, phân bố chủ yếu ở Châu Á (tập trung ở Trung Quốc vàAustralia), Bắc Mỹ, Nam Mỹ và Châu Phi với tổng trữ lượng lên đến214,6 nghìn tỷ m3

Về nguồn cung khí thiên nhiên hàng năm, sản lượng khí khai tháctoàn thế giới đạt 3.680,4 tỷ m3 năm 2017, tăng 3,2% so với năm 2016.Trong đó, Bắc Mỹ là khu vực có sản lượng khai thác khí thiên nhiên cao

Trang 10

nhất thế giới với 926 tỷ m3 khí, chiếm hơn 25% tổng lượng khai thác toàncầu, sau đó là các nước cộng hòa các quốc gia Độc lập (chiếm 23%,tương ứng 856 tỷ m3) đây sẽ tiếp tục là khu vực xuất khẩu khí thiên nhiênlớn nhất thế giới với 258,4 triệu tấn/năm Châu Âu và Châu Á Thái BìnhDương sẽ có mức thiếu hụt khí thiên nhiên lớn nhất thế giới lần lượt với269,7 triệu tấn và 157,5 triệu tấn vào năm 2020 Điều này sẽ làm cho tốc

độ tăng trưởng công suất sản xuất phân đạm chậm lại tại các khu vựcđang thiếu hụt nguồn khí trên

-Sản lượng than khai thác toàn cầu tăng trưởng nhanh chóng vớitốc độ trung bình 3,12%/năm giai đoạn 2000-2017 Tuy nhiên, từ năm2013-2016, sản lượng khai thác toàn cầu có xu hướng giảm đáng kể Năm

2016, sản lượng than chỉ đạt 7.492 triệu tấn giảm 5,8% so với năm 2015,đây là mức giảm mạnh nhất trong vòng 15 năm trước đó Nguyên nhân là

do Trung Quốc thực hiện cắt giảm 9% sản lượng khai thác than trongnăm 2016 vì chính sách môi trường của nước này Đây là quốc gia có sảnlượng khai thác than lớn nhất thế giới, chiếm đến 46% sản lượng toàncầu, vì vậy việc cắt giảm sản lượng tại Trung Quốc ảnh hưởng lớn đếntổng sản lượng khai thác toàn thế giới

2.1.2 Nguyên liệu sản xuất phân lân-đá photphat:

Nguồn nguyên liệu chủ yếu để sản xuất phân lân, DAP, MAP là đáphosphate, lưu huỳnh và amoniac Ở một số nước không có đá phosphate,

có thể dùng apatit để thay thế, tuy nhiên, chất lượng và hàm lượngphotpho trong apatit thấp, khó đảm bảo tỷ lệ chất dinh dưỡng khi sảnxuất Vì vậy, trên thế giới chủ yếu là khai thác hoặc nhập khẩu đáphotphat để sản xuất phân DAP, MAP

Châu Phi là khu vực có nguồn dự trữ đá phosphate lớn nhất thế giớichiếm hơn 80% lượng dự trữ toàn cầu, tập trung chủ yếu ở các nước:Maroc (60,4%), Sahara (5,9%), Tuynidi (3,2%), Do nhu cầu đáphosphate ở Châu Phi không lớn nên 1/3 sản lượng khai thác hàng nămđược xuất khẩu, trở thành khu vực có sản lượng xuất khẩu đá phosphatelớn nhất thế giới (chiếm 50,8% lượng thương mại toàn cầu)

Đông Á là khu vực khai thác đá photphat lớn nhất, sản lượng lên tới85,4 triệu tấn năm 2016 Trong đó, sản lượng khai thác của Trung Quốc là

81 triệu tấn (40,5% sản lượng toàn cầu), chủ yếu cung cấp cho các nhàsản xuất phân lân trong nước, nên hoạt động thương mại đá photphat trên

Trang 11

thế giới ít chịu ảnh hưởng của quốc gia này Cùng với đó, Mỹ (28,1 triệutấn), Maroc (28 triệu tấn), Nga (11,2 triệu tấn) là 4 quốc gia đứng đầu vềsản lượng khai thác, chiếm 74% sản lượng đá photphat toàn cầu.

2.1.3 Nguyên liệu sản xuất phân Kali-quặng potash:

Theo số liệu từ Cục địa chất Mỹ, năm 2014, trữ lượng quặng potashtoàn thế giới là 210 tỷ tấn, thời gian khai thác ước tính khoảng 288 năm,phân bố tập trung ở khu vực Bắc Mỹ và cộng đồng các quốc gia Độc lập(chiếm tới 89% trữ lượng toàn cầu) Trữ lượng lớn nhất thăm dò được xácđịnh ở Canada với gần 97 tỷ tấn quặng (bằng 46% trữ lượng toàn thếgiới), Nga có trữ lượng 73,5 tỷ tấn (35%), và một số nước với trữ lượngnhỏ như Belarus (8%), Brazil (3%), Trung Quốc (2%), Mỹ (1%),… Việc

sở hữu các mỏ potash lớn trên thế giới và phương pháp khai thác chế biếnngay tại chỗ đã tạo ra lợi thế tuyệt đối cho các nước sản xuất kali nhưCanada, Nga, Belarus so với các quốc gia không có mỏ trên thế giới

2.2 Các công nghệ sản xuất phân bón hiện nay:

2.2.2 Phân lân:

Trang 12

Quy trình sản xuất phân lân chủ yếu gồm hai giai đoạn: (1) Tổnghợp axit sunfuric, (2) Tổng hợp các loại phân lân.

Có ba công nghệ thông dụng để sản xuất axit sunphuric là côngnghệ tiếp xúc, công nghệ NOx và công nghệ CaSO4 Trên thế giới, côngnghệ tiếp xúc là công nghệ hiện đại và được áp dụng phổ biến nhất

Phân lân được sản xuất theo phương pháp ướt, sử dụng axitsunfuric để hòa tan quặng apatit hay đá phophat

2.2.3 Phân Kali:

Quặng potash khai thác từ mỏ được làm sạch và nghiền nhỏ Sauquá trình tuyển nổi để tách Kali ra khỏi hỗn hợp muối, được đưa vào quátrình sàng lọc và định cỡ hạt Muối Kali được sử dụng trong nhiều lĩnhvực nên tùy thuộc vào nhu cầu trong lĩnh vực nông nghiệp hay côngnghiệp sẽ tạo ra sản phẩm Kali tương ứng

2.2.4 Phân NPK:

2.3 Sản xuất các loại phân bón ở Việt Nam:

Hiện tại, ngành phân bón Việt Nam chỉ mới sản xuất được phânUrê, phân lân và phân NPK

-Phân Urê

Là loại phân đạm duy nhất được sản xuất tại Việt Nam do hàmlượng Nitơ cao và công nghệ sản xuất phổ biến nhất Quy trình sản xuất

Ngày đăng: 15/01/2022, 12:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w