1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ OXI HOÁ VAI TRÒ CỦA TPCN ĐỐI VỚI QUÁ TRÌNH OXY HOÁ TRONG CƠ THỂ CON NGƯỜI

32 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình trao đổi chất, các tác nhân bên trong hoặc bên ngoài cỏ thểmôi trường bị ô nhiễm, tia tử ngoại, chất phóng xạ… làm cho hệ thống cân bằngbị dịch chuyển theo hướng làm

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM

Trang 2

Tp Hồ Chí Minh,ngày 28 tháng 09 năm 2015

Trang 4

MỤC LỤC

I Tổng quan về oxi hóa: 3

1 Khái niệm quá trình oxi hóa: 3

2 Gốc tự do: 3

3 Cơ chế của sự oxy hoá 4

4 Nguyên nhân của sự oxy hoá ở cơ thể người 6

5 Hậu quả của sự oxy hoá 7

II Các hợp chất chống oxy hoá 14

1 Chất chống oxy hoá(COH) 14

2 Vitamin C (Acid ascorbic) 16

3 Vitamin E 18

4 Flavonoid ( Vitamin P) 21

5 Beta carotene 22

III Vai trò của thực phẩm chức năng đối với sự oxy hoá 24

Trang 5

MỤC LỤC HÌNH ẢNH

Hình 1: Các nguyên tử mất điện tử tạo thành gốc tự do 5

Hình 2: Các gốc tự do tấn công các tế bào trong cơ thể theo cơ chế dây chuyền 6

Hình 3: Nguyên nhân gây nên quá trình oxy hoá trong cơ thể 8

Hình 4: Chất chống oxy hoá 15

Hình 5: Cấu trúc của Vitamin C 18

Hình 6: Cấu trúc không gian của Vitamin E 20

Hình 7: Cấu trúc không gian của Flavonoid 22

Hình 8: Cấu trúc của Beta- catotine 24

Hình 9: Viên uống Vitamin C 25

Hình 10: Thực phẩm chức năng chứa CoQ10 26

Hình 11: Viên uống Vitamin E 26

Hình 12: Dầu gấc 27

Trang 6

Trong cơ thể con người, thường xuyên diễn ra nhiều sinh hoạt hoặc xây dựng hoặchuỷ hoại Có những chất tưởng như là thực phẩm chính của tế bào nhưng đồngthời cũng lại làm hại tế bào Có những phân tử gây ra tổn thương thì cũng cónhững chất đề kháng lại hành động phá phách này.

Gốc tự do, oxygen và chất chống oxy hóa là một thí dụ Những phân tử này có liên

hệ với nhau và ảnh hưởng tới cơ thể con người rất nhiều , nhất à giai đoạn cuốicủa cuộc đời

Ngoài ra, một trong nhiều lý thuyết cố gắng giải thích nguyên nhân sự lão hóa, lãosuy là tác dụng của những gốc tự do vào các phân tử trong cơ thể Và để trì hoãntiến trình này, các chất chống oxy hóa đã được nhiệt liệt được giới thiệu thông quacác loại thực phẩm chức năng đa dạng ngăn ngừa quá trình lão hoá.oxi hoá

I Tổng quan về oxi hóa:

Trong cơ thể con người tồn tại một hệ thống cân bằng, đó là quá trình sản sinh racác gốc tự do hay quá trình oxi hoá và quá trình sản sinh ra các chất chống oxyhóa Trong quá trình trao đổi chất, các tác nhân bên trong hoặc bên ngoài cỏ thể(môi trường bị ô nhiễm, tia tử ngoại, chất phóng xạ…) làm cho hệ thống cân bằngbị dịch chuyển theo hướng làm tăng các gốc tự do và giảm các chất chống oxy hoátrong cơ thể con người Kết quả là sẽ phá huỷ các đại phân tử của tế bào và gây ranhiều loại bệnh tật

1 Khái niệm quá trình oxi hóa:

Quá trình oxi hóa là quá trình xảy ra phản ứng hóa học trong đó electron đượcchuyển sang chất oxi hóa hình thành nên gốc tự do hay nói cách khác là sự giatăng các gốc tự do trong cơ thể sinh ra các phản ứng dây chuyền phả hủy tế bào

2 Gốc tự do:

Theo định nghĩa, Gốc Tự Do ( Free radical ) là bất cứ phân tử hóa chất nào chỉ cómột điện tử duy nhất (electron mang điện âm) hay một số lẻ điện tử

Trang 7

electron bay trên quỹ đạo

quanh hạt nhân giống như các

hành tinh bay quanh Mặt Trời

Phân tử bao gồm các nhóm

nguyên tử gắn kết với nhau

bởi hoạt động của cặp elctron

này Đôi khi trong quá trình

phản ứng hóa học, một electron bị kéo ra khỏi chỗ cố hữu của nó trong phân tử vàtạo thành một gốc tự do

Ví dụ: mảnh phân tử (.CH3, OH ), phân tử ( •NO, NO2, CO2• ), nguyên tử tự do(.Cl, Br ) hay ion(O2• )

Năm 1954, bác sĩ Denham Harman thuộc Đại học Berkeley, California, là khoa học gia đầu tiên nhận ra sự hiện hữu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương cho tế bào.Trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở ngoài cơ thể.Gốc tự do có tác dụng không tốt cho cơ thể liên tục ngay từ lúc con người mới sanh ra và mỗi tế bào chịu sự tấn công của cả chục ngàn gốc tự do mỗi ngày

3 Cơ chế của sự oxy hoá

Trong cơ thể, phản ứng oxy hoá tạo nên những gốc tự do Thông thường các mốiliên kết sẽ không tách rời nếu việc đó khiến cho một phân tử có một electron lẻ loi,không có cặp Các gốc tự do chỉ hình thành khi các mối liên kết yếu ớt bị táchrời Do bị mất điện tử nên gốc tự do rất không ổn định và luôn có xu hướng chiếmđoạt điện tử từ các cấu trúc lân cận, tạo ra hàng loạt gốc tự do mới Quá trình nàydiễn ra theo phản ứng dây chuyền, gây tổn thương màng tế bào, các phân tử

Hình 1: Các nguyên tử mất điện tử tạo thành gốc tự do

Trang 8

protein và ngay cả ADN Hậu quả là xuất hiện những biến đổi làm tổn hại, rốiloạn chức năng, thậm chí gây chết tế bào.

Gốc tự do hoạt động dễ dàng tấn công vào các phân tử tạo ra các phân tử mới, gốc mới và gây ra phản ứng dây chuyền:

R• + R1H R•1 + RH

R•1 + R2- R R•3 + R1- R2

Hình 2: Các gốc tự do tấn công các tế bào trong cơ thể theo cơ chế dây chuyền

Ở tuổi trung niên, cơ thể mạnh, trấn áp được chúng, nhưng tới tuổi cao, sức yếu,gốc tự do lấn át, gây thiệt hại nhiều gấp mười lần ở người trẻ Nếu không bị kiểmsoát, kiềm chế, gốc tự do gây ra các bệnh thoái hóa như ung thư, xơ cứng độngmạch, làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng, làm giảm trí tuệ, teo

cơ quan bộ phận người cao niên

Nó phá rách màng tế bào khiến chất dinh dường thất thoát, tế bào không tăngtrưởng, tu bổ, rồi chết Nó tạo ra chất lipofuscin tích tụ dưới da khiến ta có những

Trang 9

vết đồi mồi trên mặt, trên mu bàn tay Nó tiêu hủy hoặc ngăn cản sự tổng hợp cácphân tử chất đạm, đường bột, mỡ, enzyme trong tế bào Nó gây đột biến ở gene, ởnhiễm thể, ở DNA, RNA Nó làm chất collagen, elastin mất đàn tính, dẻo daikhiến da nhăn nheo, cơ khớp cứng nhắc.

Theo các nhà nghiên cứu, gốc tự do hủy hoại tế bào theo diễn tiến sau đây: Trướchết, gốc tự do oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại trong việc thải chất bã và tiếpnhận thực phẩm, dưỡng khí; rồi gốc tự do tấn công các ty lập thể, phá vỡ nguồncung cấp năng lượng Sau cùng, bằng cách oxy hóa, gốc tự do làm suy yếu kíchthích tố, enzym khiến cơ thể không tăng trưởng được

Tuy nhiên, không phải là gốc tự do nào cũng phá hoại Đôi khi chúng cũng có mộtvài hành động hữu ích Nếu được kiềm chế, nó là nguồn cung cấp năng lượng cho

cơ thể; tạo ra chất mầu melanine cần cho thị giác; góp phần sản xuấtprostaglandins có công dụng ngừa nhiễm trùng; tăng cường tính miễn dịch; làm dễdàng cho sự truyền đạt tín hiệu thần kinh, co bóp cơ thịt

Trong cơ thể có rất nhiều loại gốc tự do, mà các gốc nguy hiểm hơn cả làsuperoxide, ozone, hydrogen peroxide, lipid peroxy nhất là hydroxyl radical, mộtgốc rất phản ứng và gây ra nhiều tổn thương

Gốc tự do được tạo ra bằng nhiều cách Nó có thể là sản phẩm của những căngthẳng tâm thần, bệnh hoạn thể xác, mệt mỏi, ô nhiễm môi trường, thuốc lá, dượcphẩm, tia phóng xạ mặt trời, thực phẩm có chất mầu tổng hợp, nước có nhiềuchlorine và ngay cả oxygen

4 Nguyên nhân của sự oxy hoá ở cơ thể người.

Gốc tự do được tạo ra bằng nhiều cách Nó có thể là sản phẩm của những căngthẳng tâm thần, bệnh hoạn thể xác, mệt mỏi, ô nhiễm môi trường, thuốc lá, dượcphẩm, tia phóng xạ mặt trời, thực phẩm có chất màu tổng hợp, nước có nhiềuchlorine và ngay cả oxygen

Trang 10

Hình 3: Nguyên nhân gây nên quá trình oxy hoá trong cơ thể

5 Hậu quả của sự oxy hoá

Gốc tự do được xem là “sát thủ giấu mặt” gây ra quá trình lão hóa và phần lớn cácbệnh tật Y học hiện đại đã thống kê, sự tấn công của gốc tự do gây ra hơn 60 loạibệnh khác nhau, trong đó đặc biệt nguy hiểm là các bệnh ảnh hưởng đến não bộnhư suy giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, Alzheimer, tai biến mạch máu não…

Mỗi ngày một tế bào phải hứng chịu 10.000 đợt tấn công của các gốc tự do Vàtrong suốt 70 năm cuộc đời, chúng ta sẽ phải liên tục chống chọi với 17 tấn gốc tựdo.Gốc tự do có thể gây ra tổn thương cho tất cả các chất liệu và mô trong cơ thể

Mô mỡ là nơi bị tổn thương sớm nhất và thường gặp nhất, vì đó là loại mô có xuhướng đặc biệt dễ bị oxy hóa Các chuyên gia dùng thuật ngữ “sự peroxide hóaLipid” để mô tả sự oxy hóa của mỡ trong cơ thể Sự peroxide hóa lipid làm khởiphát một chuỗi phản ứng liên tục trên các chất mỡ và chỉ có thể bị chặn đứng bởimột chất chống oxy hóa

Các gốc tự do còn gây tổn hại cho các acid nucleic cơ bản (adenine, thymine,guanine và cytosine), là những thành phần cơ bản cấu trúc DNA Tổn thương này

Trang 11

làm DNA sao mã không chính xác theo các thông tin sinh học – và tế bào ung thưđược hình thành.

Gốc tự do còn làm tổn thương protein, dẫn đến sự rối loạn chức năng của nhiều cơquan trong cơ thể Ví dụ như, các protein collagen ở da, gây tổn hại da; hay cácenzyme (bản chất là protein) bị tổn thương sẽ không hoạt động hiệu quả để xúc táccác phản ứng sinh hóa trong cơ thể Các enzyme sẽ không được sửa chữa phục hồi

vì nồng độ các gốc tự do cao, vòng xoắn bệnh lý này dần dần làm cơ thể lão hóanhanh hơn và có thể tạo ung thư

Một số cơ chế chính mà các gốc tự do có thể sinh ung :

 Gây tổn thương DNA, gây đột biến tế phân tử, tế bào

 Kích hoạt gen sinh ung, còn gọi là oncogene

 Ức chế hệ miễn dịch cơ thể – bất hoạt hàng rào phòng thủ bảo vệ cơ thể

 Kích hoạt các chất sinh ung hoặc tiền sinh ung, khởi động những phản ứng hóahọc có thể gây ung thư

 Làm tổn thương màng tế bào và bất hoạt cơ chế nhận diện của cơ thể chống lại

sự hình thành và phát triển của các tế bào bất thường

SỰ OXY HOÁ GÂY NÊN NHIỀU BỆNH CHO CƠ THỂ

1.Não: Thoái hoá thần kinh, đau nửa đầu, đột quỵ, ung thư não

2.Mắt: Thoái hoá võng mạc, thoái hoá điểm vàng, đục thủy tinh thể

3.Da: Lão hoá da, vẩy nến, viêm da

4.Hệ miễn dịch: Viêm nhiễm mãn tính, các rối loạn tự miễn, bệnh lupus, viêmđường ruột

5.Tim: Suy tim, xơ hoá cơ tim, cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơtim

6.Mạch máu: Tái hẹp lòng mạch, xơ vữa mạch máu, rối loạn chức năng tế bàonội mô, cao huyết áp

7.Phổi: Hen phế quản, phổi tắc nghẽn mãn tính, dị ứng, ung thư phổi

8.Thận: Bệnh thận mãn tính, thải ghép thận, viêm cầu thận

Trang 12

9.Đa cơquan: Tiểu đường, lão hoá, mệt mỏi mạn tính

10.Khớp: Thấp khớp, thoái hoá khớp, viêm khớp vẩy nến

 Gốc tự do là nguyên nhân chính gây ra một số bệnh

Bệnh ung thư

Gốc tự do là nguyên nhân gây lão hoá và thức đẩy sự phát triển của bệnh ung thư.Chúng tấn công đến rất nhiều các mục tiêu của tế bào như: màng tế bào, protein,acid nucleic và gây nguy hiểm đến cấu chúc của ADN Cấu trúc ADN bị thay đổi

rõ nhất như các điểm đột biến và đột biến nhiễm sắc thể trong các gen liên quanđến ung thư, làm hoạt hoá gene ung thư telomerase; một protein bảo vệ mã hoácuối cùng của nhiễm sắc thể Vì vậy, càng về già nguy cơ mắc bệnh ung thư ngàycàng cao May thay, các loại chất chống ôxy hoá có thể ngăn ngừa các chất ôxyhoá nguy hiểm đến ADN và giảm được nguy cơ mắc bệnh ung thư

Các bệnh dị ứng

Bệnh dị ứng (kể cả viêm mũi dị ứng) là phản ứng bất thường, quá mẫn do tiếp xúcvới các tác nhân gây dị ứng Mỗi cơ thể có một mức độ mẫn cảm khác nhau khitiếp xúc với các dị ứng nguyên Các tác nhân gây dị ứng rất nhiều và tồn tại hàngngày hàng giờ quanh chúng ta Khi hệ thống miễn dịch của cơ thể được đặt vàotình thế nguy hiểm khi tiếp xúc với các dị ứng nguyên, nó sẽ sản sinh kháng thểchống lại Các kháng thể đó đã được tìm thấy trong đường hô hấp, tiêu hoá, da và

cả máu Như một phần của phản ứng dị ứng, các kháng thể đó làm giảm hiệu lựccủa dị ứng nguyên, như histamin Bệnh dị ứng rất phổ biến, là bệnh phổ biến thứsau ở Mỹ (mỗi năm ở Mỹ có 35 triệu người mắc bệnh viêm xoang dị ứng) Trongmột số trạng thái quá mẫn sẽ trở thành bệnh dị ứng Trạng thái quá mẫn là mộtphản ứng dị ứng cấp tính tấn công toàn bộ cơ thể, và đòi hỏi phải dùng thuốc ngay.Các bệnh đường tim mạch

Một kết quả nghiên cứu y học lớn về bệnh tim mạch đã được khám phá làm sáng

tỏ đó là cơ chế hoạt động của các gốc tự do gây ra bệnh tim mạch Khám phá này

đã sử dụng hai cách tiếp cận khác nhau Cách tiếp cận thứ nhất, sử dụng cácnghiên cứu dịch tễ học, các kết quả đã chỉ ra rằng các bệnh tim liên quan tới hiện

Trang 13

tượng giảm, thiếu các vitamin chống ôxy hoá trong huyết thanh cách tiếp cận thứhai, sử dụng các nghiên cứu thực nghiệm, đã đạt được một kết quả rõ dàng rằngcác gốc tự do ôxy hoá phản ứng làm giảm khối lượng của lipoprotein (LDL) - mộtdạng cholesterol-bad Các phân tử LDL sau khi bị các gốc tự do tác động sẽ trởnên nhỏ nhẹ hơn và dễ dàng kết hợp với các tế bào bạch cầu gọi là đại tế bào(phagocytes) thành một khối các tế bào xốp và tạo thành các mảng bám trên thànhmạch, chính các mảng trên bám vào thành mạch dẫn đến xơ cứng và hẹp thànhmạch, dẫn đến giảm sự lưu thông của máu, dẫn đến trong tim thiếu ôxy và các chấtdinh dưỡng Ngoài ra, lưu thông máu kém dẫn đến quá trình tiếp nhận và cung cấpcác chất chống ôxy hoá càng thiếu, quá trình ôxy hoá sẽ ngày càng nhiều! Tiếp tụcnhư vậy một thời gian sẽ dẫn đến các tế bào bị tổn thương và thiếu máu cục bộ Cơthể được cung cấp thường các chất chống ôxy hoá để khử các gốc tự do, chốngôxy hoá sẽ phòng tránh và giảm các nguy cơ bệnh tim mạch.

Các bệnh thuộc thần kinh trung ương

Quá trình ôxy hoá gây nguy hiểm đến não cũng như gây ra một số bệnh thoái hoácủa hệ thống thần kinh trung ương(CNS) Có một số cơ chế đã giải thích rõnguyên nhân gây ra bệnh thần kinh là do các gốc tự do

- Thứ nhất, gốc tự do làm hoạt động enzyme poly ADP-ribose synthetase của tếbào thần kinh và dẫn đến hiện tượng tăng tích tụ ion canxi trong tế bào, dẫn đếntổn thương các neron thần kinh

- Thứ hai, quá trình ôxy hoá lại của các tế bào não sau một thời gian thiếu máu cục

bộ dẫn đến quá trình ôxy hoá làm tổn thương hệ thống thần kinh trung ương, vàdẫn đến các bệnh về thần kinh

- Thứ ba, một số vùng của não như globus, pallidus và substantia nigra thườngchứa một lượng lớn chất sắt Sự dư thừa sắt quá mức sẽ làm tăng các phản ứngôxy hoá trong não và dẫn đến làm tổn thương các neuron Vì vậy nếu cơ thể khôngcung cấp đủ các chất chống ôxy hoá hàng ngày để khử và lọc bỏ các gốc tự do thì

sẽ thường mắc các bệnh về não và đặc biệt là khi về già hay mắc phải các bệnhnhư đột qụy, Alzheimer’s, bệnh Parkinson’s

Trang 14

Bệnh đột qụy

Các gốc tự do gây nguy hiểm tới hệ thống thành mạch trong não bộ, dẫn đến thiếumáu cục bộ trong não, đó là nguyên nhân chính dẫn đến bệnh đột qụy Sử dụngcác chất chống ôxy hoá có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa và giảm nguy

cơ mắc bệnh đột qụy Các nghiên cứu y khoa gần đây cho thấy cách chữa trị độtqụy bằng phấu thuật (như phẫu thuật động mạch cảnh) thường bệnh trở nên nặnghơn không phẫu thuật trong rất nhiều trường hợp

ra các gốc tự do, nó đã được tìm thấy một hàm lượng lớn trong não của các bệnhnhân Alzheimer Thứ ba, bổ sung các chất chống ôxy hoá thường xuyên cho ngườigià sẽ giúp họ cải thiện trí nhớ tốt hơn

Bệnh Parkinson's

Biểu hiện chính của bệnh Parkinson’s là suy thoái sự phân tách các chức năng củanão - chức năng phân tách sẽ sản sinh adrenaline kích thích các dây thần kinh vànoradrenaline Có hai cơ chế gây nên hội chứng loạn thần kinh chức năng Thứnhất là hiện tượng tăng sản sinh các chất ôxy hoá gây nguy hiểm đến vùng chỉ đạocác chức năng hoạt động sống bởi chuỗi các phản ứng ôxy hoá sắt Nó cho thấyrằng lượng sắt trong substantia nigra rất cao, đôi khi ferritin, sắt kết hợp proteinthường làm giảm bệnh Parkinson Hơn nữa, khi tăng các ion sắt tự do dẫn đếntăng peroxit lipit sắt và gây nguy hiểm tới các tế bào thần kinh Cơ chế thứ hai làlàm suy giảm chức năng neuronal mitochondrial, dẫn đến làm sai lệch quy trìnhsản sinh năng lượng và làm rối loạn trao đổi chất trong các tế bào thần kinh

Trang 15

Có một vài sự liên hệ gắn bó giữa hai cơ chế này Như ghi nhận trước đây,mitochondria là mục tiêu quan trọng nguy hiểm bởi các gốc tự do hơn thế,mitochondrial bị tổn thương cũng là nguyên nhân sản sinh các gốc tự do Một mốiquan hệ khác giữa hai cơ chế nữa (i.e., ôxy hoá nguy hiểm giữa mitochondria vàgốc tự do gây nguy hiểm tới chuyển hoá của thần kinh) là glutamin Các bệnhnhân Parkinson’s có xu hướng làm giảm các chất chống ôxy hoá trong các tế bàonão, dẫn đến làm tăng cao lượng gốc tự do trong não Hai cơ chế này đều gópphần gây nguy hiểm đến não bằng cách thay đổi hàm lượng glutamin

Có rất nhiều loại chất chống ôxy hoá như vitamin và thuốc giúp cho các bệnh nhânnhư vitamin E, deprenyl - như các bệnh nhân Parkinson đang dùng là N-acetylcysteine (NAC) với liều từ 600-1200 mg mỗi ngày

Bệnh viêm đường tiêu hoá

Các bệnh viêm đường tiêu hoá mà mọi người trên toàn thế giới thường hay mắcphải và rất khó chữa khỏi như bênh viêm ruột, viêm dạ dày và bệnh Crohn’s,chúng cũng được liệt vào những bệnh gây ra bởi các chất ôxy hoá nguy hiểm Cácnhà y học đều đồng ý rằng các gốc tự do là nguyên nhân chính gây ra bệnh viêmđường tiêu hoá, các cơ chế gây bệnh phức tạp đó vẫn đang là một vấn đề nghiêncứu sâu rộng hơn Một cơ chế chính xác của chất ôxy hoá đã gián tiếp gây tổnthương đến một chuỗi quá trình ôxy hoá protein, Không những thế còn liên quantới quá trình carbonnila protein Bệnh viêm ruột (IBD) được xem là nguyên nhân

từ quá trình ôxy hoá protein trong các tế bào màng nhầy ruột bằng cách phá huỷ hệthống enzym dữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự nguyên vẹn của lớp màngnhày đường tiêu hoá, hoặc sự hấp thụ các ion và cả làm hư hại đến hệ thống đườngtiêu hoá Cơ thể được cung cấp đủ các chất chống ôxy hoá sẽ giúp cải thiện vàtránh được các bệnh đường tiêu hoá

Bệnh tiểu đường

Bệnh tiểu đường là loại bệnh toàn thân nguyên nhân bởi sự dối loạn trong chuyểnhoá các loại đường Biểu hiện đường huyết cao là triệu chứng chính của bệnh, tiếptheo bệnh thường tiến triển sấu hơn, dẫn đến xơ cứng động mạch, đông máu tắc

Trang 16

mạch ngoại vi, loét tứ chi và một số bệnh khác Trong bệnh tiểu đường típ 2,Chính quá trình ôxy hoá đã làm bệnh ngày càng trở nên trầm trọng hơn cũng nhưphát sinh nhiều biến chứng của bệnh Các chất ôxy hoá ức chế quá trình chuyểnhoá gluco theo cách thuỷ hoá gluco và dẫn đến tăng lượng đường trong máu Khilượng đường huyết tăng quá cao sẽ dẫn đến hiện tượng tự động ôxy hoá của gluco

và glycation của các proteins đẫn đến bệnh tiểu đường trở nên trầm trọng hơn Mộtnhà y học Mỹ viết trên tạp trí: nếu bạn không cung cấp đủ các chất chống ôxy hoácho cơ thể, bạn sẽ bị bệnh tiểu đường khi có tuổi (see Nutritional News volume10: 6 and 7, 1997)

 Các bệnh về thị giác

•Bệnh đục thuỷ tinh thể

Quá trình ôxy hoá sẽ gây nguy hiểm đến thuỷ tinh thể của mắt, nó thu thập và tụánh sáng trên màng võng mạc, đó là biểu hiện chính của bệnh đục thuỷ tinh thể.Khi đến tuổi già, các phân tử của thuỷ tinh thể bị nguy hiểm bởi các chất ôxy hoálàm kết tủa mờ đục trên thuỷ tinh thể Đó được xem là nguyên nhân gây ra bệnhđục thuỷ tinh thể Có rất nhiều chất chống ôxy hoá để chống lại sự phát triển củabệnh đục thuỷ tinh thể — Đặc biệt, lipoic acid — được coi là chìa khoá để ngănngừa bệnh đục thuỷ tinh thể

•Hội chứng suy giảm thị lực

Hội chứng giảm thị lực là căn nguyên đầu tiên của người già Đó là một hội chứng

mà các bác sỹ nhãn khoa sử dụng để đánh giá mức độ của bệnh Ngày nay họ đãtìm ra sự kết hợp giữa các chất chống ôxy hoá và carotin để chứng minh khả năngtrì hoãn qua trình tiến triển của loại bệnh kinh hoàng này

Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện với những bản phác thảo danh sách cácchất bổ dưỡng để chữa trị bệnh đục thuỷ tinh thể và bệnh suy giảm thị lực Ví dụ,bác sỹ E.N Crary của Smyrna, Georgia đã công bố một nghiên cứu vào năm 1987trên tạp danh tiếng the Southern Medical với tiêu đề “Chất chống ôxy hoá chữa trịbệnh suy giảm thị lực của người già và chứng phù của bệnh tiểu đường" Trongnghiên cứu này, bác sỹ Crary sử dụng 250 mcg selen, 15,000 đơn vị beta carotene,

Ngày đăng: 15/01/2022, 08:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w