Giáo viên dạy nghề GVDN tương lai phải có kĩ năng sử dụng công nghệ thông minh trong lớp học để nâng cao chất lượng giảng dạy và trình độ học tập của người học, làm việc nhiều hơn trong
Trang 1NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN DẠY NGHỀ Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
“Requirements of vocational teacher in Vietnam
in the context of the Fourth industrial revolution”
Ths.NCS Nguyễn Hữu Hợp – Trường ĐHSPKT Hưng Yên
TÓM TẮT
Bài báo tập trung phân tích những đặc điểm của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chỉ ra những tác động của nó tới giáo dục nghề nghiệp, giáo viên dạy nghề trong thời đại số Trên
cơ sở đó xác định những yêu cầu đối với giáo viên dạy nghề ở nước ta trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra âm thầm nhưng rất nhanh và mạnh mẽ
- Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0; Giáo viên dạy nghề; Internet vạn vật
Giáo dục và đào tạo nghề; Năng lực
ABSTRACT
The article focuses on the characteristics of the fourth industrial revolution, showing its implications for career education, and vocational teachers in the digital age On that basis, identify the requirements for vocational teachers in our country in the context of the Fourth industrial revolution is happening quietly but very fast and powerful
- Keywords: Fourth industrial revolution; Vocational teacher; IoT; Technical and
vocational education and training; Competencies
1 Đặt vấn đề
Sự phát triển vượt bậc của công nghệ số đã làm thay đổi cách chúng ta sống, làm việc và học tập Công nghệ kĩ thuật số đã khuyếch tán vào mọi lĩnh vực của cuộc sống, sự kết hợp của công nghệ số với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (Artificial intelligence), Internet vạn vật (IoT- internet of things) đã cho phép tự động hóa triệt để nhiều lĩnh vực sản xuất Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (CMCN 4.0) có tên tiếng Anh “The Fourth industrial revolution – được viết tắt là FIR” đã đặt ra những cơ hội, nguy cơ và thách thức lớn đối với giáo dục nghề nghiệp (GDNN) như: sự xuất hiện các lĩnh vực nghề nghiệp mới, đào tạo kĩ năng mới cho người lao động, các công nghệ tiên tiến được đưa vào đào tạo nghề Giáo viên dạy nghề (GVDN) tương lai phải có kĩ năng sử dụng công nghệ thông minh trong lớp học để nâng cao chất lượng giảng dạy và trình độ học tập của người học, làm việc nhiều hơn trong các môi trường học tập ảo phức tạp (VLEs - virtual learning environments) Bài viết đặt hoạt động của giáo viên dạy nghề trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0, mở rộng thảo luận về những thách thức và những yêu cầu mà họ phải đối mặt Đưa ra quan niệm về GVDN 4.0 như một từ đồng nghĩa cho một khái niệm mới về giảng dạy trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp Công nghệ có thể giúp GVDN nâng cao hiệu quả
Trang 2dạy học, rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho người học trong môi trường an toàn, sinh động và phong phú, người học có thể được trải nghiệm trong mọi tình huống nghề nghiệp, thậm chí là cả các tai nạn nghề nghiệp mà không ảnh hưởng đến sức khỏe, thiết bị, không tiêu hao nguyên vật liệu, kinh phí… ở đó giáo viên và học sinh tương tác với nhau trong cùng một thời điểm bất kể vị trí địa lí, khoảng cách
2 Những đặc điểm của CMCN 4.0
Công nghiệp 4.0 đang diễn ra khắp nơi trên thế giới, xuất hiện ở mọi lĩnh vực từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quản lý, giáo dục , nó chắc chắn diễn ra và còn diễn
ra mạnh mẽ hơn nữa CMCN 4.0 đã được chọn là chủ đề chính của diễn đàn kinh tế thế giới diễn ra tại Davos – Thụy Sĩ tháng 2 năm 2016, những đặc điểm chủ yếu của nó thể hiện ở những điểm sau:
- Cuộc CMCN 4.0 đã tích hợp được công nghệ số với các lĩnh vực vật lí, sinh học đã tạo ra các công nghệ tự động hóa cao;
- Mọi vật có thể kết nối và giao tiếp với nhau thông qua internet, các nhà sản xuất, khách hàng, máy móc, các quy trình kĩ thuật, dịch vụ và con người được nối mạng CMCN 4.0 thay thế thời đại công nghiệp bằng thời đại của thông tin, tạo ra một thế giới được kết nối, nó làm thay đổi toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị;
- Các giải pháp kĩ thuật số có thể giải quyết một lượng công việc mà trước đây con người chưa từng bao giờ làm được Sự tiến bộ vượt bậc về việc phát triển trí tuệ và mạng thần kinh nhân tạo (Neural network, Deep learning), con người có thể lập trình để máy móc có thể tự học (Machine learning) dựa trên lượng dữ liệu lớn được cung cấp để giải quyết các vấn đề cụ thể như: nhận dạng hình ảnh và giọng nói, gợi ý kết nối tương tác người dùng, kết nối máy móc với nhau và với con người trong hệ thống mạng internet…
Error! Reference source not found.[3] [5] [8]
Hình 1: Đặc trưng của Công nghiệp 4.0 là hệ thống mạng phức hợp
Mạng kết nối dữ liệu
Mạng xã hội
Mạng kết nối vạn vật
Mạng kết nối dịch vụ
Trang 33 Giáo dục nghề nghiệp trong bối cảnh CMCN 4.0
3.1 Thách thức với giáo dục nghề nghiệp
Trong những năm sắp tới giáo dục kĩ thuật và đào tạo nghề sẽ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình công nghiệp 4.0 Hệ thống GDNN cần phải thay đổi triệt để nhằm đáp ứng thay đổi của công nghiệp Những vấn đề đặt ra cần giải quyết là:
GDNN bị đặt trước thách thức làm thế nào để xác định được những nghề có triển vọng hoặc mới xuất hiện để đưa vào đào tạo, những năng lực hay kĩ năng nào cần đào tạo cho người lao động, những công nghệ nào đang được sử dụng trong các nhà máy, các quy trình quản trị nào đang được thực thi tại các doanh nghiệp v.v Thực tế đã chứng minh các doanh nghiệp có lợi thế về tiềm lực kinh tế và nghiên cứu ứng dụng nhanh hơn nhà trường, nếu nhà trường không đáp ứng được thì doanh nghiệp tự đào tạo lấy Doanh nghiệp luôn đi trước nhà trường một bước, từ đó đặt ra thách thức làm thế nào để thiết lập
và duy trì mối liên hệ với doanh nghiệp trong đào tạo lực lượng lao động [1] [2]
Các mô hình đào tạo trực tuyến trở nên thịnh hành và thu hút nhiều người học hơn giáo dục truyền thống bởi khả năng đáp ứng đa dạng đối tượng học tập, không giới hạn về không gian, thời gian học tập, cá nhân hóa việc học một cách tối đa Các mô hình đào tạo
ảo, mô phỏng, số hóa bài giảng là xu thế chủ yếu Điều này tác động mạnh đến đào tạo, tuyển dụng và bố trí việc làm của giáo viên ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Hình 2: Mô hình đào tạo dựa trên nền tảng Internet kết nối vạn vật
Theo Nguyễn Hồng Minh (2016) trong hội thảo quốc tế do Hiệp hội các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam tổ chức tại Hà Nội nhận định: hệ thống giáo dục nghề nghiệp việt nam vẫn dào tạo theo cách cũ với chương trình đào tạo bó cứng, lạc hậu, mô hình quản lý truyền thống, tính chủ động chưa cao, kém thích ứng với thay đổi, hình thức
và phương pháp đào tạo lạc hậu thầy dạy trò nghe, người học có ít quyền lựa chọn hình thức học, nhà trường áp đặt mọi thứ: Nội dung học, không gian học, thời gian học, phương tiện học ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lí, quản trị nhà trường và dạy học rất hạn chế, giáo viên lên lớp với giáo án truyền thống, các quy định hành chính về sổ sách giảng dạy bó cứng sự sáng tạo của giáo viên
Trang 43.2 Xu thế giáo dục nghề nghiệp:
Xu thế hợp tác quốc tế trong đào tạo nghề, đào tạo tại vị trí việc làm (On the Job training), mô hình đào tạo kép kết hợp nhà trường và doanh nghiệp (Dual System) là xu thế chủ yếu và tất yếu của thời đại công nghiệp, nhà trường gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, cùng phối hợp, chia sẻ trách nhiệm, lợi ích trong đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo năng lực công nghệ thông tin sẽ đóng vai trò trung tâm để người lao động
có thể tham gia bền vững vào vị trí việc làm Chương trình đào tạo cần tích hợp được kiến thức ngành rộng, chú trọng giáo dục giá trị, niềm tin, động cơ làm việc cho người học, đảm bảo người học có được việc làm, sống hạnh phúc và thích ứng nhanh với những biến động của thị trường lao động và cuộc sống Cấu trúc nền của đào tạo nghề (các nghề kĩ thuật) sẽ là tích hợp của các lĩnh vực: Công nghệ thông tin - Cơ điện tử - Cơ khí - Kĩ năng
xã hội, theo xu hướng này thì mô hình giáo dục STEM (Science - Teachnology - Engineering - Math) cần được nghiên cứu xem xét đưa vào giáo dục công nghệ ở trường phổ thông và giáo dục kĩ thuật nghề nghiệp.Error! Reference source not found.
Số hóa kết nối các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, vừa đáp ứng nhu cầu số đông vừa đáp ứng nhu cầu cá nhân trong không gian mở: trong mọi không gian, điều kiện, vùng miền, quốc gia, dân tộc Số hóa bài giảng, mô phỏng thực hành nghề bằng công nghệ thực
tế ảo và thực tế tăng cường (Virtual Reality - VR và Augmented Reality - AR) sẽ làm thay đổi phương thức đào tạo truyền thống Ứng dụng công nghệ thực tế ảo sẽ giúp giảm chi phí đào tạo nghề, học sinh học nghề được trải nghiệm, tương tác, hòa nhập trong các tình huống nghề nghiệp đa dạng, phong phú và an toàn
4 Giáo viên dạy nghề trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0
Giáo dục nghề nghiệp hiện đại được đặt trong một bối cảnh làm thế nào để nhanh chóng ứng dụng ELearning; Blended learning; Massive Open Online Course (MOOCs), Vitual learning, Game-based learning v.v nhưng vẫn duy trì các phương pháp giảng dạy truyền thống đã được kiểm chứng Thực tế nhiều phương pháp dạy học truyền thống đã đạt đến giới hạn của chúng trước sự thay đổi của công nghệ, quy mô đào tạo, lối sống của người học trong thời đại công nghệ số Người học và người dạy được tiếp cận ngày càng nhiều với các thiết bị thông minh trong cuộc sống và cả trong lớp học Đáp ứng nhu cầu
cả về phía người dạy và người học đã cho ra đời các giải pháp phần mềm và cứng sáng tạo ứng dụng cho giảng dạy và học tập trong trường đào tạo nghề Ứng dụng công nghệ dạy học mới trong dạy nghề đang là thách thức lớn, liệu giáo viên dạy nghề có chấp nhận
sử dụng công nghệ trong lớp học, họ có thể thích ứng được với các công nghệ mới trong lớp học, có thể đảm bảo chất lượng dạy học, vấn đề quản lí lớp học, vấn đề giáo dục nhân cách và thái độ cho người học CMCN 4.0 đang mở rộng và bao phủ các khu vực rộng
Trang 5lớn hơn không chỉ là ngành công nghiệp Sự ảnh hưởng của nó đã làm xuất hiện các thuật ngữ như "Thành phố 4.0" , "Trường học 4.0" v.v , “4.0” đã trở thành khái niệm phổ biến
và dễ hiểu đến mức bất cứ lĩnh vực nào được gắn với “4.0” thì được hiểu là đang ứng dụng công nghệ tiến bộ nhất, hiện đại nhất Do đó, thuật ngữ "Giáo viên dạy nghề 4.0" được sử dụng như một khái niệm mô tả chân dung giáo viên dạy nghề mới hoạt động trong “trường học 4.0; lớp học 4.0” với đầy đủ yêu cầu cần đáp ứng Mặc dù vẫn còn nhiều thách thức khi thiết lập một sự chuyển đổi sang các khái niệm giáo viên dạy nghề 4.0 ở Việt Nam Những nội dung được trình bày dưới đây sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm khái niệm này
4.1 Những yếu tố tác động đến hoạt động của giáo viên dạy nghề
Trong bối cảnh sự phát triển khoa học công nghệ, những đổi mới về chính sách, mục tiêu và yêu cầu của GDNN, hoạt động của GVDN chịu tác động của rất nhiều từ nhiều phía (hình 3)
Hình 3: Những tác động đến hoạt động của GVDN
Để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn về chất lượng nguồn nhân lực nói chung và lực lượng lao động tham gia trực tiếp quá trình sản xuất, Nhà nước và các cơ quản quản lý vĩ
mô đã ban hành hàng loạt các văn bản: Quốc hội đã ban hành Luật số 74/2014/QH13, ngày 27 tháng 11 năm 2014 về Luật Giáo dục nghề nghiệp; Thông tư số 08/2017/TT-BLĐTB&XH ngày 10 tháng 3 năm 2017 của Bộ trưởng bộ Lao động Thương binh và xã
hội về Chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp; Quyết định
số Số: 761/QĐ-TTg ngày 23 thắng 5 năm 2014 về phê duyệt Đề án phát triển trường nghề chất lượng cáo đến năm 2020;Nghị định 141/2016/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm
2016 của Chính phủ về quy định về Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập và trong lĩnh vực sự nghiệp kinh tế và lĩnh vực sự nghiệp khác Những chính sách nêu
trên vừa mang tính chỉ đạo, định hướng, vừa tạo điều kiện đồng thời cũng quy định tiêu chuẩn đối với lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp nói chung, với đội ngũ giáo viên dạy nghề nói riêng trước bối cảnh mới Ngoài ra giáo viên dạy nghề phải chịu tác động từ nhiều yếu
Trang 6tố như: Sự thay đổi về mục tiêu giáo dục nghề nghiệp; phương thức học tập của người học; thay đổi về văn hóa dạy và học; thay đổi của thị trường lao động về yêu cầu đối với chất lượng người được đào tạo; hội nhập trong giáo dục và đào tạo nghề vừa mở ra cơ hội nhưng cũng mang đến nhiều thách thức đổi với giáo viên dạy nghề ở Việt Nam về ngoại ngữ, tin học, chuyên môn ; Sự thay đổi mô hình quản lý của nhà trường từ bao cấp sang
tự chủ đã làm thay đổi chính sách đối với tuyển dụng và sử dụng giáo viên Trong tất cả những yếu tố tác động đến giáo viên dạy nghề thì yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ là
sự phát triển của công nghệ và kĩ thuật ứng dụng vào đào tạo nghề: Bảng thông minh thay thế bảng đen, lớp học trực tuyến thay thế lớp học truyền thống trên giảng đường, phòng thí nghiệm ảo thay thế phòng thí nghiệm thực, kì thi trực tuyến thay thế kì thi trực tiếp bằng giấy trên lớp học Trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 thì việc dạy và học sẽ chủ yếu diễn ra trên lớp học ảo và thiết bị hỗ trợ thông minh
4.2 Yêu cầu đối với Giáo viên dạy nghề trong bối cảnh CMCN 4.0
Giáo viên dạy nghề tương lai sẽ làm việc trong môi trường có sự hỗ tối đa của công nghệ: IoT, AR, VR…, bởi vậy họ phải là người có đủ khả năng lực làm chủ công nghệ trong lớp học [3] [5] [8]
a) Làm chủ công nghệ trong lớp học để quản lí và kết nối với học sinh học nghề trong môi trường học tập ảo: Làm thế nào để theo kịp hoạt động học tập của người học,
quản lí hành vi học tập của người học, thúc đẩy sự tập trung chú ý của người học… Muốn vậy giáo viên dạy nghề phải làm chủ công nghệ để xây dựng hệ thống phản hồi kịp thời
và quản lý người học trong môi trường học tập ảo, tối thiểu giáo viên phải biết sử dụng các phần mềm phổ biến quản lý và kết nối giáo viên – học sinh: Courselap, Macromedia Flash, Moodle, Edmodo, IT essencial Vitual destop… hoặc sử dụng các thiết bị thông minh để giao tiếp trực tiếp với người học trong môi trường học tập ảo như: Thiết bị thực
tế ảo, thực tại tăng cường (VR và AR ), các thiết bị kĩ thuật được kết nối internet như máy ảnh, máy quay phim kĩ thuật số, các thiết bị nghe nghìn khác
Hình 4: Các thiết bị công nghệ phổ biến trong lớp học thông minh
Trang 7b) Tương tác với công nghệ và thiết bị thông minh để tự phản hồi, tự điều chỉnh hoạt động dạy học: Dù là lớp học truyền thống hay lớp học ảo thì giáo viên luôn giữ vai trò
quan trọng trong việc đảm bảo sự tập trung chú ý, tính tích cực của học sinh Dạy học trong lớp học truyền thống giáo viên có lợi thế khi mặt đối mặt với học sinh, việc phát hiện và xử lí các tình huống sẽ dễ dàng hơn rất nhiều lớp học ảo Không gian lớp học ảo hoàn toàn khác, giáo viên và học sinh có thể ở các không gian thực tại khác nhau, nhưng hoạt động chung trong một không gian ảo Hoạt động dạy học của giáo viên phụ thuộc nhiều vào thiết bị và công nghệ dạy học và được hỗ trợ tích cực bởi các thiết bị thông minh có khả năng tương tác mạnh trong quản lí lớp học, phát hiện mức độ tập trung chú ý của người học, gợi ý thay đổi giọng nói, sử dụng hình ảnh, âm thanh để thu hút sự tập trung chú ý của người học trong quá trình học tập Giáo viên tự điều chỉnh hoạt động dạy
và học thông qua tương tác với người học và tương tác với thiết bị dạy học dựa trên các thông báo thay đổi của công nghệ hỗ trợ
c Làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ: Hội nhập khu vực và quốc tế về dạy
nghề đã mở rộng không gian học tập Học sinh ở khắp vùng miền trong một quốc gia hoặc ở khắp nơi trên thế giới sẽ học chung một lớp học, các thông tin được đưa ra không chỉ thông qua nhiều phương tiện mà còn bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Trong tương lai gần các thiết bị điện tử, các phần mềm máy tính sẽ giúp dịch trực tiếp các thứ tiếng và hiển thị dưới dạng nghe hoặc nhìn, bất kể thành viên nào trong lớp học cũng có thể sử dụng tiếng mẹ để để giao tiếp mà không phải gặp phải bất kì rào cản ngôn ngữ nào Giáo viên có thể phản hồi với tất cả học sinh mà không vấp phải các rào cản truyền thông bằng ngôn ngữ Phổ biến nhất phải kể đến translate.google.com, iTranslate, Language Translator HD, Translate voice…tất cả đều có thể sử dụng trên hệ điều Window hiện
hành và Androi trên điện thoại thông minh
4.3 Mô hình năng lực của giáo viên dạy nghề trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0
Bối cảnh hoạt động của GVDN như đã trình bày bên trên đã cho cái nhìn khái quát
về công nghệ mà GVDN tương lai sẽ sử dụng trong dạy học GVDN tương lai sẽ tiếp cận với các công cụ và mô hình dạy học mới để đáp ứng nhu cầu của người học cũng như công nghệ được sử dụng trong lớp học: Flipped classroom- Mô hình lớp học đảo ngược, Blended learning – Mô hình học tập hỗn hợp, Moocs – khóa học trực tuyến mở, Virtual labs – Phòng thí nghiệm ảo v.v Sự phát triển của các mô hình này có thể chưa thay thế hoàn toàn được mô hình dạy học truyền thống nhưng là xu thế tất yếu và chủ yếu
Để định hướng cho sự phát triển bền vững trong tương lai của GVDN, dựa trên khảo sát từ các bên liên quan, sử dụng phương pháp phân tích nghề DACUM và tham khảo các
Trang 8tiêu chuẩn năng lực trong khung năng lực kĩ sư Châu Âu, chúng tôi xác định 10 năng lực chung của GVDN (hình 5):
Hình 5: 10 năng lực chung của GVDN
Năng lực đặc thù của GVDN phải là sự kết tinh của 3 lĩnh vực năng lực gồm: năng lực công nghệ & kĩ thuật – năng lực sư phạm – năng lực xã hội nhằm đáp ứng được những yêu cầu của cách mạng công nghiệp, của đổi mới GDNN và hội nhập Từ đó chúng tôi xác định mô hình tổng quan về năng lực của GVDN như sau
Hình 6: Mô hình tổng quan năng lực của GVDN trong bối cảnh mới
Trang 9a) Năng lực công nghệ và kỹ thuật gồm:
a1 - Năng lực thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp thuộc lĩnh vực kĩ thuật bằng công nghệ và máy móc hiện đại: Công nghệ thực tế ảo, máy in 3D, sử dụng các phần mềm thiết kế kĩ thuật chuyên dụng, cơ điện tử;
a2 - Năng lực khai thác vận hành các thiết bị và máy móc hiện đại trong sản xuất công nghiệp: Khả năng làm việc trong hệ thống sản xuất thông minh;
a3 - Năng lực bảo trì, sửa chữa hệ thống sản xuất thông minh;
a4 - Năng lực lập kế hoạch, điều độ sản xuất ở doanh nghiệp;
Các năng lực này này sẽ được cụ thể hóa cho từng chuyên ngành
b) Năng lực sư phạm nghề nghiệp gồm:
b1 - Năng lực dạy học (chú trọng ứng dụng CNTT trong dạy học, sử dụng các thiết
bị thông minh trong dạy học, kĩ năng dạy học trong môi trường ảo)
b2 - Năng lực giáo dục học sinh học nghề
b3 - Năng lực quản lí lớp học
b4- Năng lực tư vấn học đường
b5 - Năng lực học tập thường xuyên
b6 - Năng lực nghiên cứu/ phát triển
c) Các năng lực chung (hình 5)
d) Năng lực công nghệ thông tin
d1 - Lập trình Python
d2 - Thiết kế học tập trực tuyến (E-leaning, Blended-Learning, Mooc )
d3 - Sử dụng đa phương tiện (Multimedia)
Kết luận:
Giáo viên dạy nghề là một trong các nhân tố quyết định chất lượng giáo dục nghề
nghiệp GVDN trong bối cảnh cuộc CMCN 4.0 phải có đủ năng lực để đáp ứng tốt nhất những thay đổi của công nghệ kĩ thuật, bắt kịp những thay đổi về: chính sách, mục tiêu nội dung của giáo dục nghề nghiệp, nhu cầu và văn hóa học tập của người học, đặc biệt là
sự thay đổi của môi trường, phương tiện và công nghệ dạy học trong cơ sở đào tạo nghề Xác định mối liên hệ giữa đòi hỏi của cuộc CMCN 4.0 với năng lực của giáo viên dạy nghề là cơ sở quan trọng để định hướng cho công tác đào tạo giáo viên dạy nghề trong tương lai
Trang 10Tài liệu tham khảo
[1] Trần Khánh Đức (2014), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỉ 21,
NXBGD, Hà Nội
[2] John Vu, (2016), Giáo dục trong thời đại tri thức, NXBLĐ, Hà Nội
[3] A Abdelrazeq, D Janssen, C Tummel, A Richert, S Jeschke, Teacher 4.0: requirement of teacher of the future in context of Fourth industrial revolution, ICERI2016
Proceedings, 9th annual International Conference of Education, (2016), Research and Innovation, Seville, Spain, Page 822
[4] A S Sife, E T Lwoga and C Sanga, New technologies for teaching and learning: Challenges for higher learning institutions in developing countries, International Journal of
Education and Development using ICT, vol 3, no 2, 2007
[5] Jeschke, S (2015), Engineering Education for Industry 4.0 Challenges, Chances, Opportunities, World Engineering Education Forum 2015, IMA/ZLW and IfU, Faculty of
Mechanical Engineering, RWTH Aachen University
[6] Gouvernement du Québec (2002) Teacher training in vocational educatiuon, Ministère
de l.Éducation ISBN: 2-550-39100-4
[7] N S Chen, H C Ko, Kinshuk and T Lin, A Model for Synchronous Learning using the Internet, Innovations in Education and Teaching International, vol 42, no 2, pp 181-194, 2005 [8] Sabine Pfeiffer (2015) Effects of Industry 4.0 on vocational education and training,
ITA-ISSN: 1681-9187, Vienna