Trên cơ sở làm rõ khái niệm học tập kết hợp; vai trò, ý nghĩa của mô hình này đối với dạy học ở trường phổ thông nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, bài viết đề xuất quy trình và vận
Trang 11
VẬN DỤNG MÔ HÌNH HỌC TẬP KẾT HỢP (BLENDED LEARNING) VÀO DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1858 – 1884), LỚP 11 TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
ThS - NCS Ninh Thị Hạnh Khoa Lịch sử - Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 NCS tại Đại học Sư phạm Hà Nội
Email: ninhhanhhpu2@gmail.com DĐ: + 84 (0)973 463 919
Tóm tắt: Học tập kết hợp (Blended learning) là mô hình học tập hiện đại của
thời kỷ nguyên số và đang dần trở thành một xu thế tất yếu của thế giới Ở Việt Nam, mô hình học tập này chưa được sử dụng rộng rãi và còn gặp những khó khăn nhất định Trên cơ sở làm rõ khái niệm học tập kết hợp; vai trò, ý nghĩa của mô hình này đối với dạy học ở trường phổ thông nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng, bài viết đề xuất quy trình và vận dụng mô hình học tập kết hợp vào dạy học một nội dung kiến thức cụ thể
Từ khóa: học tập kết hợp, Google Sites, dạy học lịch sử, Lịch sử Việt Nam
1858 – 1884…
1 Đặt vấn đề
Theo Giám đốc Facebook - Sheryl Sandberg: “Hiện nay có 40% dân số toàn cầu sử dụng Internet mỗi ngày” [6] Sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng với
ứng dụng phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh giúp mọi người có thể dễ dàng kết nối và tương tác với nhau từ bất kỳ nơi nào trên thế giới Trong giáo dục, điều đó đã đưa đến cơ hội cho sự phát triển và mở rộng của hình thức dạy học trực tuyến (E-learning) Tuy vậy, E - learning cũng không phủ nhận vai trò chủ đạo của các hình thức dạy học truyền thống Học tập kết hợp (Blended learning) là một giải pháp kết hợp học tập truyền thống với E - learning Bài viết vận dụng mô hình học tập kết hợp Blended learning trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 -
1884 như một gợi ý cho việc sử dụng Blended learning trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng
2 Nội dung nghiên cứu
Trang 22
2.1 Khái niệm mô hình học tập kết hợp (Blended learning)
Học tập kết hợp (Blended Learning) là một thuật ngữ được sử dụng nhiều
trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Úc, Nhật Bản,
… Ở Việt Nam, học tập kết hợp còn là một khái niệm mới mẻ
Học tập kết hợp xuất phát từ nghĩa của từ "Blend" tức là "pha trộn", “hòa hợp” [12] Có nhiều định nghĩa khác nhau về học kết hợp, hiện nay có ba cách định nghĩa được sử dụng rộng rãi [1,21]
Thứ nhất, Blended learning là kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp các phương tiện truyền thông) (Bersin & Associates, 2003; Orey, 2002a, 2002b; Singh & Reed, 2001; Thomson, 2002)
Thứ hai, Blended learning là sự kết hợp các phương pháp giảng dạy (Driscoll, 2002; House, 2002; Rossett, 2002)
Thứ ba, Blended learning là sự kết hợp giữa hướng dẫn trực tuyến và sự hướng dẫn giáp mặt (Reay, 2001; Rooney, 2003; Sands, 2002; Ward & LaBranche, 2003; Young, 2002)
Mặc dù dựa trên các cách tiếp cận khác nhau nhưng ba định nghĩa đều thống nhất học tập kết hợp là một mô hình dạy học có sự phối hợp nội dung, phương pháp
và cách thức tổ chức dạy - học giữa các hình thức học tập
Từ việc tiếp cận những quan niệm trên, tác giả bài viết cho rằng: học tập kết hợp là mô hình dạy học có sự kết hợp giữa hình thức dạy học trực tuyến và hình thức dạy học giáp mặt (face to face) với một tỉ lệ phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả giáo dục đạt được là cao nhất
Học tập kết hợp hoàn toàn không phải là sự bổ sung “cơ học” bù đắp cho các nhược điểm của dạy học trực tuyến hay dạy học giáp mặt truyền thống Trên thực
tế, đó là một mô hình dạy học mới hoàn toàn về chất, làm thay đổi một cách căn bản các quan điểm về lí luận dạy học vốn tồn tại từ trước đến nay Học tập kết hợp bao gồm sáu mô hình được sử dụng thịnh hành trên thế giới [7], [4]:
- Mô hình giáp mặt chủ đạo (The Face-To-Face Driver Model): quá trình dạy
học được diễn ra trong bối cảnh không gian và thời gian dạy học truyền thống trên
Trang 33
lớp học, có sự tích hợp các yếu tố của dạy học điện tử, các bài giảng trực tuyến hoặc các nội dung trên mạng Internet;
- Mô hình hoán đổi (The Rotation Model): quá trình dạy học được triển khai
dựa trên sự xoay vòng giữa các hình thức học tập trên lớp và ngoài lớp dựa trên nền tảng công nghệ Mô hình hoán đổi lại được phân loại thành các mô hình nhỏ: hoán đổi trạm học tập (Station Rotation); lớp học đảo ngược (Flipped Classroom); Xoay vòng cá nhân (Individual Rotation)
- Mô hình linh hoạt (The Flex Model): các hoạt động học tập dựa trên nền tảng
khóa học trực tuyến kết hợp với hướng dẫn trực tiếp của giáo viên trên lớp Người học có thể chủ động lựa chọn hình thức học tập phù hợp với bản thân
- Mô hình lớp học trực tuyến (Online Lab School Model): Ở mô hình này các
hoạt động dạy học theo môn/chủ đề/nội dung được triển khai trong phòng máy tính chuyên biệt;
- Mô hình kết hợp tự chọn (Self-Blend Model): người học tự lựa chọn các khóa
học trực tuyến với mục đích mở rộng, nâng cao trình độ, kiến thức theo các định hướng của chương trình nhà trường;
- Mô hình trực tuyến chủ đạo (The Online Driver Model): các hoạt động dạy
học được thiết kế và triển khai dựa trên các nền tảng công nghệ trực tuyến
Trong các mô hình dạy học này, Internet vừa là môi trường phân phối tài nguyên học, vừa là nơi diễn ra các hoạt động dạy - học Người học tham gia vào quá trình học tập bằng cách học giáp mặt trên lớp (nhóm, cá nhân, seminar, hội thảo); học hợp tác qua mạng máy tính (chat, blog, online, forum) và tự học (trực tuyến/ngoại tuyến, độc lập về không gian) Với mỗi nội dung, người học được học bằng phương pháp tốt nhất, phương tiện tốt nhất, hình thức phù hợp nhất và khả năng đạt hiệu quả cao nhất
2.2 Ý nghĩa của việc sử dụng mô hình học tập kết hợp (Blended learning) trong dạy học nói chung, môn Lịch sử nói riêng
Học tập kết hợp là một mô hình dạy học có ba ưu điểm nổi bật so với mô hình dạy học truyền thống hiện nay
Thứ nhất, học tập kết hợp giúp mở rộng không gian lớp học
Trang 44
Học tập kết hợp mang đến một không gian dạy học điện tử có tính mở và tương tác cao Nếu như thông thường, lớp học được tổ chức trong một không gian đóng kín với giáo viên, học sinh và bảng, phấn,… thì mô hình học tập kết hợp với các không gian học tập trực tuyến (online) đã mở ra cả một không gian học tập mới: không giới hạn trong bốn bức tưởng của lớp học; không giới hạn thời gian học tập 8 tiếng trên lớp và mở rộng cơ hội giao tiếp và chia sẻ xã hội của người học
Thứ hai, học tập kết hợp mở rộng nội dung học tập
Với mô hình Blended learning người học được trải nghiệm, tiếp cận với nội dung học tập đa dạng, tri thức và thông tin cập nhật ngoài sách giáo khoa Thậm chí, trường học có thể mở rộng thêm các kênh kiến thức, các môn học mà không cần mở rộng thêm không gian hay tăng thêm đội ngũ nhân viên, giáo viên
Thứ ba, học tập kết hợp giúp cá nhân hóa việc học tập
Mỗi học sinh có tộc độ học riêng Học tập hỗn hợp không chỉ tạo cơ hội để người học được học tập theo nhu cầu, hứng thú và năng lực cá nhân mà giúp người học có thể chủ động lựa chọn thời gian, không gian và môi trường học tập mà không cần lo lắng về khoảng cách địa lý Điều này giúp tăng cơ hội học tập cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau
Đối với việc dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông, mô hình học tập hỗn hợp mang lại nhiều ý nghĩa tích cực:
Thứ nhất, phù hợp với đặc trưng kiến thức Lịch sử Dạy học Lịch sử là hoạt
động mang tính đặc thù Khác với các bộ môn khác, tri thức Lịch sử mang những đặc trưng: tính quá khứ, tính không lặp lại, sự thống nhất giữa “sử” và “luận”… Người học không thể trực tiếp quan sát được lịch sử mà chỉ có thể nhận thức chúng một cách gián tiếp thông qua các nguồn tư liệu Mô hình học tập kết hợp tạo cơ hội cho người học tiếp cận nguồn tư liệu phong phú với các định dạng khác nhau: văn bản, hình ảnh, âm thanh, sơ đồ, video… giúp người học có những hình dung sinh động về quá khứ, cụ thể hóa sự kiện, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử và tạo hứng thú học tập
Thứ hai, khắc phục những hạn chế trong phân phối thời lượng cho môn Lịch
sử ở trường phổ thông Chương trình môn Lịch sử (Ban Cơ bản) ở trường THPT
Trang 55
được xây dựng trong 139 tiết (52 tiết lớp 10, 35 tiết lớp 11, 52 tiết lớp 12), trung bình 1 – 2 tiết/tuần (tùy theo từng kì học)1 Phân phối chương trình này được cho là chưa tương xứng với vị thế, nội dung và mục tiêu của môn học Với các công cụ như Emodo, Google Sites hay Google Classroom… mô hình Blended learning tăng khả năng tương tác, hỗ trợ của giáo viên với người học và giữa người học với nhau mọi lúc, mọi nơi với mọi thiết bị chỉ cần thiết bị đó có thể online được như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tivi hoặc tính để bàn có kết nối Internet
Thứ ba, phát triển năng lực chung và năng lực đặc thù của môn học: Tính
định hướng kết quả đầu và được xây dựng trên nền tảng công nghệ, học tập kết hợp
có ưu thế trong việc phát triển các năng lực chung như: năng lực tự học, năng lực
sử dụng công nghệ thông tin và năng lực hợp tác Ngoài ra, với tính mở, linh hoạt
và hướng tới cá nhân, dạy học kết hợp có góp phần phát triển năng lực đặc thù của
bộ môn Lịch sử như: năng lực thu thập, xử lý thông tin về các sự kiện, hiện tượng lịch sử; năng lực tái hiện các sự kiện, hiện tượng lịch sử; năng lực giải thích, đánh giá các sự kiện, hiện tượng theo quan điểm lịch sử; năng lực vận dụng kiến thức lịch
sử để giải thích các sự kiện hiện tượng đang diễn ra
2.3 Vận dụng mô hình học tập kết hợp (Blended learning) vào dạy học Lịch sử Việt Nam (1858 – 1884), lớp 11 THPT
Để triển khai mô hình học tập kết hợp được hiệu quả, giáo viên có thể thực hiện theo quy trình dưới đây:
Bước 1: Phân tích cấu trúc nội dung của bài, chương hoặc phần học và điều tra nhu cầu người học
Đây là công việc đầu tiên rất quan trọng khi triển khai mô hình học tập kết hợp Và là cơ sở để khẳng định sự cần thiết và phù hợp của việc áp dụng mô hình học tập kết hợp cho nội dung kiến thức
Theo phân phối chương trình Lịch sử lớp 11 (Chương trình Chuẩn), phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1884 là nội dung của hai bài học (Bài 19, bài 20) thuộc chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX, phần ba: Lịch sử Việt
1
Tổng hợp dựa trên Phân phối chương trình môn học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2011 – 2012 ( http://thptvinhlinh.edu.vn/news.aspx?id=417 )
Trang 66
Nam (1858 – 1918) Phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 – 1884 tập trung vào 4 nội dung lớn sau: Cuộc kháng chiến của triều đình Nguyễn; phong trào đấu tranh của nhân dân; một số nhân vật lịch sử tiêu biểu và thái độ kháng chiến của triều đình Nguyễn qua 4 bản hiệp ước năm 1862, 1874, 1883, 1884 Đây là giai đoạn lịch
sử quan trọng đánh dấu quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, kết thúc thời
kì phong kiến độc lập, đất nước ta rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp Tuy nhiên, khi khảo sát ý kiến học sinh (154 học sinh): có 86.8% ý kiến học sinh trả lời gặp những khó khăn khi học hai bài này vì: nội dung kiến thức dài, khó; thiếu tư liệu Bài 19 và bài 20 cũng nằm trong số các bài học giáo viên (25.6%) và học sinh (23.6%) đánh giá là bài viết khó hiểu [3,10]
Áp dụng mô hình học tập kết hợp cho phần nội dung này sẽ giúp người học khắc phục những khó khăn hiện tại và tạo cơ hội phát triển các kĩ năng, năng lực chuyên biệt của môn học
Bước 2: Xác định mục tiêu cần đạt được tương ứng với nội dung
Xác định mục tiêu cần đạt không chỉ định hướng cho việc tổ chức hoạt động dạy học mà còn là cơ sở để thiết kế các hoạt động, công cụ kiểm tra đánh giá Mục tiêu cần đạt được định hướng trên các mặt: kiến thức cần đạt, kỹ năng được rèn luyện, thái độ cần hình thành và năng lực hướng đến
Một trong những mục tiêu về kiến thức xuyên suốt phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1884 là người học đánh giá được trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc tổ chức nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp Về mục tiêu thái độ: Nhận thức khách quan khi đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn với lịch sử dân tộc giai đoạn 1858 – 1884; xây dựng và bồi dưỡng được thái độ tự hào và ủng hộ phong trào đấu tranh, kháng chiến của nhân dân
Bước 3: Lựa chọn mô hình phù hợp
Trên cơ sở phân tích nội dung bài học; điều tra nhu cầu học sinh và xác định mục tiêu cần đạt, chúng tôi xây dựng một chuyên đề dạy học dự án phần Lịch sử
Việt Nam từ 1858 – 1884 với tên gọi: Trách nhiệm của triều đình Nguyễn trong việc tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp (1858 – 1884) áp dụng mô hình học
tập kết hợp, cụ thể là mô hình lớp học đảo ngược - Flipped Classroom
Trang 77
Mô hình lớp học đảo ngược là một mô hình sư phạm đảo ngược với dạy học truyền thống Trong đó, người học sẽ chủ động tìm hiểu kiến thức bài mới ở nhà thường thì thông qua việc đọc và xem video bài giảng Thời gian ở lớp sẽ được sử dụng để làm những công việc khó khăn hơn: giải quyết vấn đề, thảo luận, tranh luận [8]
Bước 4: Số hóa học liệu
Để thuận tiện cho việc tổ chức thực hiện mô hình học tập kết hợp, giáo viên nên sắp xếp học liệu phục vụ nội dung bài học một cách khoa học và lựa chọn định dạng số hóa phù hợp cho mỗi loại học liệu ở dạng “thô” Ý đồ sư phạm của giáo viên và nền tảng công nghệ hiện có sẽ quyết định định dạng số hóa của học liệu Giáo viên có thể sử dụng sự hỗ trợ của các phần mềm tin học phổ biến như: MS PowerPoint, Adobe Presenter, Office Mix, Camscanner… để số hóa học liệu
Bước 5: Lập kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học chi tiết
Kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học có thể được ví như linh hồn của bài dạy, mang lại cái nhìn xuyên suốt, nhất quán về tính logic của nội dung, cấu trúc các thông tin liên quan đến bài học Kế hoạch tổ chức cần thể hiện được tính hợp lý, tương thích và khả thi của các phương án kết hợp trong bài dạy, tránh lạm dụng các yếu tố công nghệ
Với nội dung phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 - 1884, nội dung kiến thức
cơ bản bao gồm các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử sẽ được học sinh tìm hiểu trước
ở nhà qua định hướng của giáo viên và làm bài tập về nhà:
Bài tập 1: Lập bảng so sánh hành động của triều đình và nhân dân đối với quá trình xâm lược của Pháp 1858 – 1884;
Bài tập 2: Viết 1 bài giới thiệu nhân vật về một trong những nhân vật sau: Tự Đức, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân
Học sinh sẽ nộp bài và giáo viên phản hồi thông qua việc tương tác trên website học tập Ở lớp, học sinh sẽ tập trung thảo luận, làm việc nhóm, hoàn thành sản phẩm của dự án: Nhóm 1: Thiết kế trang bìa, mục lục cho tập san; Nhóm 2: Viết lời giới thiệu cho tập san có nội dung về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để
Trang 88
mất nước 1858 – 1884; Nhóm 3: Viết bài luận đánh giá thái độ của nhà Nguyễn qua bốn hiệp ước năm 1862, 1874, 1883, 1884 Sản phẩm cuối cùng là tập san chuyên
đề về trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc tổ chức kháng chiến chống thực dân Pháp (1858 – 1884) tập hợp từ bài cá nhân và bài nhóm
Dưới đây là bảng phương án kết hợp theo các bước của dạy học dự án áp dụng phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 -1884
Bảng 2.1 Phương án học tập kết hợp theo các bước của dạy học dự án
Quy trình
tổ chức
Học tập trên lớp Học tập trực tuyến Giáo viên Học sinh Giáo viên Học sinh
Lựa chọn
chủ đề
Tổ chức thảo luận thống nhất tên chủ đề/dự án
Các nhóm thống nhất lựa chọn chủ
đề, dự án
Khảo sát nhu cầu của học sinh
Thực hiện khảo sát
Xây dựng kế
hoạch thực
hiện
Định hướng nội dung, nhiệm vụ chủ yếu và yêu cầu của mỗi nhiệm vụ
Giải đáp, hỗ trợ qua mạng (email, website học tập)
Trao đổi với nhau
và trao đổi với giáo viên để lập
kế hoạch thực hiện dự án qua các công cụ trực tuyến (blog, email, website học tập )
Thực hiện
dự án
Hỗ trợ HS tạo sản phẩm Tạo một sản phẩm
Theo dõi, giúp đỡ, đánh giá học sinh
Đọc tài liệu, làm bài tập, chia sẻ thông tin và tạo một sản phẩm thể hiện kết quả học tập
Đánh giá,
phản hồi
Đánh giá sản phẩm thực của học sinh dựa vào các tiêu chí
Trình bày sản phẩm
Phản hồi chi tiết
về hoạt động của
cá nhân, nhóm
Tự đánh giá sản phẩm của mình
và của bạn (đánh
Trang 99
đã xây dựng (đánh giá thực)
giá đồng đẳng)
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà giáo dục, xây dựng và phát triển chương trình, tỉ lệ trong học tập kết hợp giữa dạy học giáp mặt và dạy học trực tuyến hiện nay thường là 30:70 [2] Trên thực tế, giáo viên chủ động và linh hoạt khi áp dụng
mô hình học tập này Giáo viên có thể căn cứ vào nội dung bài học; nhu cầu, năng lực của người học và cơ sở vật chất, nền tảng công nghệ hiện có để xây dựng tỉ lệ giữa dạy học giáp mặt và dạy học trực tuyến cho phù hợp Ở những trường phổ thông có cơ sở vật chất tốt, được trang bị đầy đủ máy vi tính kết nối mạng… có thể
áp dụng mô hình học tập kết hợp với tỉ lệ kết hợp “mạnh” được đề xuất ở bảng 2.1 Ngược lại, ở những trường gặp khó khăn với nền tảng công nghệ, tỉ lệ kết hợp sẽ
“yếu” hơn và dạy học qua mạng sẽ mang tính hỗ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp
Bước 6: Lựa chọn các công cụ, nền tảng công nghệ phù hợp
Một trong những công cụ hỗ trợ việc quản lí, tương tác trong day-học online đơn giản là Google Sites Google Sites là một dịch vụ của Google cho phép tạo ra các website trực tuyến miễn phí với giao diện gọn nhẹ Việc tích hợp với một loạt các công cụ quen thuộc của Google: Google Forms, Drive, Gmail, Youtube đã khiến cho Google Sites thực sự có một “nền tảng hậu thuẫn” rất lớn để triển khai việc dạy học Trong công cụ này, giáo viên và học sinh có thể tương tác với nhau qua các hoạt động chính: đưa thông báo, tạo câu hỏi, giao bài tập, nêu ý kiến thảo luận Google Sites còn cho phép chèn các tiện ích vào website giúp cho nó sinh động hơn, chẳng hạn: Google Calendar, Google NewsShow, Clock & Date, Weather, Google Clock…
Lập kế hoạch tổ chức chi tiết và lựa chọn công cụ thể hiện phù hợp Nội dung chuyên đề được thiết kế trên địa chỉ:
https://sites.google.com/site/lichsuvietnam18581884/home
Bước 7: Vận hành thử, đánh giá
Để vận hành giáo viên cung cấp địa chỉ website học tập và mở quyền truy cập cho học sinh Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện các nhiệm vụ theo tiến trình
và yêu cầu trong khóa học
Trang 1010
Quy trình vận dụng mô hình học tập kết hợp (Blended learning) trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1884 trên đây có thể coi như một đề xuất, gợi ý cho việc sử dụng rộng rãi, hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng Trên thực tế, đây là mô hình khá mới mẻ trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam Hiện nay mới được áp dụng hiệu quả ở một số trường quốc tế và một số trường chuyên tại các thành phố lớn [13], [14] Bởi nó cũng có nhược điểm nhất định: mất nhiều thời gian, công sức cho việc soạn giảng; giáo viên phải có khả năng về công nghệ, vững vàng về phương pháp; và không phải bài học, đối tượng học sinh và trường phổ thông nào cũng phù hợp để áp dụng
mô hình này
Để môn hình Blended learning trở nên phổ biến và phát huy được thế mạnh vốn có, đòi hỏi phải có lộ trình phát triển chặt chẽ tập trung vào ba nội dung then chốt: Thay đổi tư duy của người dạy và thói quen học tập của người học; trang bị kiến thức, kỹ năng tin học cơ bản cho giáo viên và học sinh; đầu tư cơ sở vật chất cho trường học
3 Kết luận
Công nghệ thông tin không truyền tải được phần hồn của bài giảng; máy vi tính, mạng Internet không thể thay thế vai trò của người giáo viên Vì vậy, học tập kết hợp không đảm bảo 100% thành công nhưng cũng không thể phủ nhận học tập kết hợp giúp nâng tầm không gian dạy và học, tạo cơ hội cho học sinh học bất cứ thứ gì và ở bất kỳ nơi đâu Việc vận dụng mô hình học tập kết hợp trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng sẽ là một biện pháp tuyệt vời để phát triển các kỹ năng cần thiết cho người học trong xã hội tri thức và thông tin hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Anthony G Picciano, Charles D Dziuban, Charles R Graham, Blended Learning:
Research Perspectives, Vol 2, Routledge Publishing, 2014, pp.21
2 Laila N Boisselle, Online-Learning and Its Utility to Higher Education in the
(http://sgo.sagepub.com/content/4/4/2158244014555118)