culture in the Mekong River Delta TÓM TẮT Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 09/2009 đến 09/2010 trên địa bàn 4 tỉnh thành nuôi cá lóc chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long ĐBSCL nhằm
Trang 1PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ CÁ LÓC (Channa sp.)
NUÔI Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đỗ Minh Chung1 và Lê Xuân Sinh 1
ABSTRACT
This study was carried out in one year from September 2009 covering 3 main provinces of snakehead farming in the Mekong Delta, aiming to describe the value chain of cultured snakeheads and the distribution of cost-benefit among the chain actors in the study area Two most important marketing channels in term of total production were “Fish farmers – Wholesalers – Retailers – End consumers in the Mekong Delta”, and “Fish farmers – Wholesalers – Wholesalers in Ho Chi Minh City” Profit was unbalant distributed among the chain actors, mainly for the wholesalers (87.9-93.4% of total profit of the whole chain) More consideration should be given to planning, technological supports and ecouragement of using pellete feed, as well as marketing of fish products, including the supports to processing and exporting snakehead fish products for market expansion
Keywords: Snakehead fish, value chain, chain actor, yield, cost, value added, profit
Title: Value chain analysis of snakehead (Channa sp.) culture in the Mekong River Delta
TÓM TẮT
Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 09/2009 đến 09/2010 trên địa bàn 4 tỉnh thành nuôi cá lóc chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nhằm
mô tả chuỗi giá trị cá lóc nuôi và phân tích việc phân phối lợi ích - chi phí của các tác nhân tham gia chuỗi giá trị này ở địa bàn nghiên cứu Hai kênh chính với lượng cá lóc được tiêu thụ nhiều nhất là kênh “Hộ nuôi – Vựa thu mua – Bán lẻ – Tiêu dùng tại ĐBSCL” và kênh “Hộ nuôi – Vựa thu mua – Đại lý/vựa
ở Tp Hồ Chí Minh” Lợi nhuận phân phối cho các tác nhân tham gia là không đồng đều, tập trung nhiều cho các vựa thu mua (chiếm từ 87,9-93,4% lợi nhuận của toàn chuỗi) Một số khó khăn cơ bản của ngành hàng cá lóc hiện nay là lượng cá tạp nước ngọt để nuôi cá lóc giảm mạnh, mạng lưới thương lái còn hạn chế và hầu hết cá lóc chỉ được tiêu thụ nội địa Cần chú ý công tác quy hoạch vùng nuôi cho hợp lý, tăng cường tập huấn kỹ thuật kết hợp khuyến
Trang 2
khích sử dụng thức ăn viên cũng như tiêu thụ sản phẩm cá lóc, kể cả chính sách hỗ trợ cho các nhà máy chế biến xuất khẩu cá lóc
Từ khóa: cá lóc, chuỗi giá trị, tác nhân, năng suất, chi phí, giá trị gia tăng, lợi nhuận
1 GIỚI THIỆU
Trong những năm qua, nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã trở thành thế mạnh kinh tế rất quan trọng của vùng và đóng góp phần lớn cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của cả nước Năm 2009, diện tích NTTS toàn khu vực là 737.600 ha với sản lượng đạt 1.869.484 tấn, hơn 73% sản lượng NTTS của cả nước (Tổng cục Thống kê, 2010) Khi nói đến sự gia tăng sản lượng nuôi thủy sản nước ngọt thì phải kể đến sự gia tăng sản lượng cá da trơn (cá tra, cá basa), cá rô phi, cá rô đồng, cá lóc và tôm càng xanh Cá lóc là loài cá nước ngọt đặc trưng ở Việt Nam (Mai Đình Yên, 1978)
và hiện nay được nuôi nhiều ở ĐBSCL Do cá lóc là đối tượng tương đối dễ nuôi, được nuôi với nhiều mô hình khác nhau (như nuôi trong ao đất, ao nổi, mùng vèo và lồng bè) và có thể nuôi qui mô nhỏ để xóa đói giảm nghèo hoặc
nuôi thâm canh với mật độ cao (Lê Xuân Sinh và ctv, 2009) Ngoài ra, cá lóc
nuôi là sản phẩm có khả năng thay thế cá lóc đồng tự nhiên, do lượng cá lóc đồng giảm mạnh trong những năm gần đây Tổng hợp của các tỉnh thuộc ĐBSCL năm 2009 cho thấy sản lượng cá lóc nuôi cho toàn vùng đạt hơn 40.000 tấn, tăng hơn 1000 tấn so với năm 2008, trong đó cá lóc bông chiếm gần 20%
Tuy nhiên, các mô hình nuôi cá lóc hiện nay chủ yếu là tự phát và sử dụng thức
ăn tươi sống như cá tạp nước ngọt, cá biển, ốc bươu vàng làm ảnh hưởng đến môi trường và nguồn lợi thủy sản tự nhiên, chủ yếu là cá nước ngọt (Nguyễn Phước Tuyên, 2000; Huỳnh Thu Hòa, 2004) Giá cá lóc thương phẩm không ổn định do chủ yếu tiêu thụ nội địa, trong khi xuất khẩu các sản phẩm cá lóc còn hạn chế (Báo Cần Thơ, 2007) Các nghiên cứu về cá lóc còn ít và các hoạt động nuôi cá lóc là hoàn toàn tự phát chưa quy hoạch làm ảnh hưởng đến tình hình tiêu thụ cá lóc hiện nay Việc hiểu rõ các tác nhân tham gia trong ngành hàng cá lóc và mối quan hệ giữa họ là cần thiết để cung cấp thêm thông tin về ngành hàng và hỗ trợ cho công tác quản lý ngành nhằm phát triển ngành hàng này một cách hợp lý
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích được chuỗi giá trị của cá lóc ở ĐBSCL Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cơ bản góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tác nhân tham gia ngành hàng cá lóc đồng thời góp phần quản lý tốt hơn ngành hàng này tại địa bàn nghiên cứu được tốt hơn Các mục tiêu cụ thể bao gồm:
- Mô tả và phân tích được tình hình sản xuất của ngành hàng cá lóc nuôi
Trang 3- Phân tích được kinh tế chuỗi và phân phối lợi ích chi phí của ngành hàng
- Đề xuất được những giải pháp cơ bản nhằm phát triển ngành hàng này một cách hợp lý
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/2009 tới tháng 09/2010 Tổng cộng có
485 mẫu được khảo sát, bao gồm: 220 hộ nuôi cá lóc thương phẩm, 77 thương lái thu mua nguyên liệu, 11 cơ sở chế biến, 156 người tiêu dùng và 21 quản lý ngành/chợ liên quan từ 4 tỉnh nuôi cá lóc trọng điểm ở ĐBSCL, gồm An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang và Tp Cần Thơ Một số thông tin bổ sung từ thương lái cá lóc cũng được thu bổ sung từ chợ nông sản đầu mối Bình Điền của Tp Hồ Chí Minh (Tp HCM) Thông tin thứ cấp được thu thập thông qua các tài liệu sẵn có, các báo cáo khoa học, bài báo có liên quan tới chủ đề nghiên cứu, nhất là từ Cục Thống kê và Sở NN&PTNT các tỉnh và các trường/viện trong vùng Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn
05 nhóm tác nhân tham gia ngành hàng cá lóc ở địa bàn nghiên cứu, sử dụng
05 loại bảng câu hỏi cấu trúc soạn sẵn đã được phỏng vấn thử và hiệu chỉnh Phương pháp thống kê mô tả dùng để mô tả các chỉ tiêu nghiên cứu và các nhóm tác nhân và phương pháp phân tích kinh tế chuỗi được áp dụng Các giá trị như tần suất, %, số trung bình, độ lệch chuẩn và trung vị (median) được sử dụng Phương pháp phân tích bảng chéo được dùng để so sánh giữa các nhóm đối tượng nghiên cứu (mô hình, nhóm tác nhân, các chỉ tiêu,…) Thuận lợi và khó khăn của các nhóm tác nhân trong từng chuỗi được phân tích để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cấp chuỗi giá trị của cá lóc nuôi
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Mô tả các tác nhân tham gia chuỗi giá trị cá lóc
Các cơ sở sản xuất cá lóc giống chủ yếu sử dụng phương pháp sinh sản tự nhiên, nghĩa là cá bố mẹ được nuôi vỗ và thành thục sinh sản hoàn toàn tự nhiên và không sử dụng kích dục tố để kích thích sinh sản Điều này phù hợp
với nghiên cứu của Dương Nhựt Long và ctv (2010) là cá lóc kích thích sinh
sản bằng tự nhiên sẽ có hiệu quả hơn so với phương pháp kích thích bán nhân tạo và nhân tạo Diện tích sản xuất giống (SXG) của các cơ sở bình quân 103,3
m2, thông thường thời gian sản xuất được tính đến giai đoạn cá đạt kích cỡ 1000-1200 con/kg (được gọi là cá lồng 6), kéo dài khoảng 30 ngày Tổng số lượng cá giống trung bình trên 1 đợt sản xuất khoảng 143.900 con với kích cỡ 1.100 con/kg và giá bán 230 đồng/con, cá giống này được để lại ương và nuôi thương phẩm là chủ yếu (69,4%) Tổng chi phí trung bình/đợt của hộ sản xuất
cá lóc bông (145,9 triệu đồng) cao hơn rất nhiều so với cá lóc đen (5,9-9,7 triệu đồng), trong đó chi phí biến đổi chiếm đến 97,0% Tuy nhiên, SXG cá lóc đầu
Trang 4vuông có giá thành thấp nhất (82,6 đồng/con) và cao nhất là cá lóc bông (208,4 đồng/con) Chi phí sản xuất, thu nhập và lợi nhuận của các lóc đen đều thấp hơn cá lóc bông nhưng tỷ suất lợi nhuận khi SXG cá lóc đen lại cao hơn cá lóc bông Điều đó cho thấy việc sản xuất cá lóc đen với qui mô nhỏ nhưng có hiệu quả hơn về mặt kinh tế
Tổng diện tích ương giống bình quân 293,7 m2/hộ với thời gian ương/đợt dao động từ 7-90 ngày rồi xuất bán hoặc chuyển sang nuôi thịt Mật độ ương cá lóc giống bình quân 1000 con/m2 với kích cỡ từ 750-1500 con/kg và giá bình quân
222 đồng/con Tỷ lệ sống bình quân sau khi ương khoảng 63,4% và lượng cá giống thu hoạch bình quân 38.800 con/đợt với kích cỡ dao động từ 500-1500 đồng/con Tổng chi phí sản xuất bình quân khoảng 31,3 triệu đồng/đợt, trong
đó chi phí cố định chiếm 1,7%, bao gồm khấu hao máy móc và xây dựng công trình (lần lượt: 56,9%; 43,1%) Các khoản chi phí biến đổi gồm: 1- mua thức
ăn (53,8%), 2- mua cá giống (28,1%), 3- chi phí thuốc TYTS (11,3%) Thu nhập bình quân của các cơ sở ương cá lóc giống là 44,1 triệu đồng/đợt và lợi nhuận đạt 12,7 triệu đồng/đợt Giá thành sản xuất bình quân 832,7 đồng/con, với giá bán ra khoảng 1.200 đồng/con thì người ương cá vẫn có lời Trong giai đoạn ương giống cũng có một số hộ thua lỗ (12,0%), nguyên nhân thua lỗ là do hao hụt nhiều dẫn đến chi phí sản xuất cao
Hiện nay, ở Đồng bằng sông Cửu Long có 5 mô hình nuôi cá lóc chủ yếu, bao gồm nuôi ao đất, ao nổi (còn gọi là nuôi bể bạt hoặc bể xi măng), vèo ao, vèo sông và lồng bè (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009) Tùy theo đặc tính của mỗi mô hình mà diện tích bình quân thay đổi khác nhau, trong đó mô hình nuôi ao đất có diện tích nuôi lớn nhất (1500 m2/hộ) và thấp nhất là mô hình nuôi vèo sông (34,5 m2) và bể bạt (93,1 m2) Mật độ thả bình quân của tất cả các mô hình là 114 con/m3, trong đó nuôi vèo sông có mật độ thả dầy nhất (190 con/m3) Nuôi ao đất có mật độ thả thưa nhất, bình quân 66 con/m2, mật độ này tương đương với mật độ nuôi cá tra trong ao đất (67 con/m2) theo kết quả điều tra của Nguyễn Văn Ngô (2009) Kích cỡ giống thả dao động từ 350-785 con/kg, với giá mua từ 370-1.100 đồng/con Cá tạp nước ngọt và cá tạp biển là
2 loại thức ăn được nhiều hộ sử dụng nhất (lần lượt: 50,2% và 38,9% trong tổng lượng thức ăn) Khi 2 nguồn thức ăn trên bị thiếu thì các hộ nuôi cá lóc có thể sử dụng phụ phẩm của cá tra và cá mè (có nhiều ở các NMCB) làm thức ăn thay thế với giá rẻ hơn Hiện nay, có nhiều công ty sản xuất thức ăn viên cho cá lóc và được một số ít hộ sử dụng (3,0%) với giá thức ăn viên bình quân 17.200 đồng/kg Hệ số thức ăn (FCR) tươi sống từ 3,9-4,3 và thức ăn viên từ 1,2-1,4
Tỷ lệ sống khi nuôi cá lóc dao động từ 48,7-56,1%, qua đó cho thấy kỹ thuật nuôi cá lóc hiện nay cần phải được cải tiến nhiều nhằm tăng tỷ lệ sống, hạn chế rủi ro về mặt kỹ thuật Năng suất cá lóc nuôi ao đất đạt 257,8 tấn/ha/vụ, năng suất này thấp hơn so với năng suất cá tra nuôi được khảo sát bởi Nguyễn Văn Ngô ở tỉnh Đồng Tháp năm 2008 (351,8 tấn/ha/vụ) nhưng cao hơn năng suất cá
Trang 5tra bình quân của toàn vùng theo thống kê của Bộ NN&PTNT năm 2008 (157 tấn/ha/năm) Từ đó, cá lóc nuôi thâm canh trong ao đất hoàn toàn có thể đạt được năng suất như cá tra nuôi thâm canh và trong thời gian sắp tới cá lóc có thể đẩy mạnh nuôi thâm canh nhằm đa dạng đàn cá nuôi ở ĐBSCL Cá lóc nuôi
có giá bình quân bán tại ao là 28.800 đồng/kg và giá cá lóc nuôi phụ thuộc nhiều vào mùa vụ và giống loài Ngoài ra, giá bán cá lóc thương phẩm còn phụ thuộc nhiều vào thương lái, theo kết quả khảo sát thì ở cùng thời điểm nhưng giá cá lóc được nuôi ở Hậu Giang thì có giá thấp hơn giá cá lóc được nuôi ở các tỉnh khác Do ở Hậu Giang, thương lái tập trung vào một số ít vựa thu mua lớn nên người nuôi thường bị ép giá do họ không có sự lựa chọn khác
Khi tính toán chi phí nuôi cá lóc thì lượng thức ăn tự khai thác sẽ được qui đổi
ra chi phí thức ăn với giá hiện tại Với cách tính này thì tổng chi phí sản xuất bình quân của các hộ nuôi cá lóc khoảng 274,7 triệu đồng/vụ, trong đó chi phí
cố định chiếm 1,6% chủ yếu là khấu hao xây dựng công trình (83,7%) Các khoản chi phí biến đổi gồm: 1 - mua thức ăn (88,1%), 2 - mua con giống (4,8%), 3 - thuốc TYTS (2,6%), 4 - lãi tiền vay (2,2%) Giá thành sản xuất bình quân là 29.700 đồng/kg, với giá bán bình quân 28.800 đồng/kg thì người nuôi không có lời mà số hộ thua lỗ cũng khá cao (52,3%) Ngược lại, nếu chi phí thức ăn tự khai thác không được tính toán trong chi phí sản xuất thì giá thành sản xuất thấp hơn (24.400 đồng/kg) và người nuôi cá có lời gần 4.000 đồng/kg
Tỷ lệ thua lỗ giảm xuống còn khoảng 35,8% nhưng tỷ lệ này vẫn còn khá cao, điều đó cho thấy rủi ro khá cao khi tham gia nuôi cá lóc thương phẩm
Thương lái cá lóc được khảo sát gồm bán sỉ (vựa thu mua và thu gom) và bán
lẻ (cá lóc tươi sống, khô cá lóc và mắm cá lóc) Các cơ sở bán sỉ có địa điểm kinh doanh thì diện tích mặt bằng kinh doanh khá lớn (154,9 m2), trong khi đó người bán lẻ có diện tích mặt bằng kinh doanh rất hẹp (3,6-4,9 m2) Sản lượng mua bán của nhóm bán sỉ khoảng 2,2 tấn/ngày, kế đến là người bán lẻ cá tươi (17 kg/ngày/sạp) và khô, mắm cá lóc (4,4-6,3 kg/ngày/sạp) Người bán sỉ thường mua cá lóc với kích cỡ bình quân 530 gram/con, với giá mua khoảng 28.400 đồng/kg và bán ra với giá 30.900 đồng/kg Cá lóc tươi sống được bán lẻ
ở chợ với kích cỡ bình quân 525 gram/con, với giá mua vào cao hơn (44.500 đồng/kg) và giá bán ra khoảng 49.600 đồng/kg Kích cỡ khô cá lóc và mắm cá lóc dao động từ 216-336 gram/con, với giá mua vào và bán ra khá cao (137.000 đồng và 160.000 đồng), trong khi đó mắm cá lóc có giá mua 63.000 đồng/kg và giá bán 88.000 đồng/kg
Nhóm thương lái chỉ có mua bán kinh doanh, không có tính năng sản xuất nên khi tính toán về chi phí thì chỉ tính phần chi phí tăng thêm, nghĩa là bỏ qua chi phí đầu vào Bán sỉ có chi phí tăng thêm trên 900 đồng/kg và bán lẻ có chi phí tăng thêm dao động từ 1.400 - 8.000 đồng/kg, trong đó chi phí biến đổi chiếm
tỷ lệ khá lớn ở cả bán sỉ và bán lẻ (73,8-96,0%) Thu nhập tăng thêm của bán sỉ bình quân 2.600 đồng/kg và lợi nhuận khoảng 1.700 đồng/kg Trong khi đó, lợi
Trang 6nhuận/kg cá của nhóm bán lẻ cao hơn rất nhiều, dao động từ 3.600 – 18.600 đồng/kg
Hiện nay, có một số nhà máy chế biến thủy sản (NMCBTS) đã xuất khẩu cá lóc sang các thị trường Mỹ, Hàn Quốc và EU, với các dạng xuất khẩu chủ yếu
là cá đông lạnh, khô và mắm cá lóc (Hội chợ Vietfish, 2010) Trong đó, các sản phẩm đông lạnh gồm cá lóc philê, làm sạch nguyên con, bỏ đầu, cắt khúc và các sản phẩm GTGT Sản phẩm philê xuất khẩu thường là cá lóc bông, do loài
cá này có kích cỡ lớn và tỷ lệ philê cao hơn các loài cá lóc khác và giá xuất khẩu từ 5-6 USD/kg Khô cá lóc có nguồn gốc từ cá lóc đồng ở Cà Mau cũng được công ty cổ phần thực phẩm Đại Dương (Cà Mau) xuất sang thị trường Úc với giá 15 USD/kg Các sản phẩm khô cá lóc gồm có khô tẩm gia vị và không tẩm gia vị, để chế biến được 1 kg khô cá lóc phải sử dụng 4-5 kg cá tươi Tuy nhiên, lượng cá lóc xuất khẩu rất hạn chế, mỗi năm xuất được 2-3 đợt, bình quân xuất khoảng 40 tấn/đợt
Với các cơ sở chế biến khô tiêu thụ nội địa thì nguồn nguyên liệu chủ yếu từ cá lóc nuôi không đủ kích cỡ thương phẩm hoặc bị dị dạng, được gọi là cá dạt, do loại cá này có giá khá rẻ Giá mua cá lóc để chế biến khô dao động từ 30-32.000 đồng/kg Có 2 sản phẩm khô cá lóc được mua bán trên thị trường là khô
bỏ xương và khô nguyên con Để chế biến được 1 kg khô cá lóc dạng nguyên con thì phải sử dụng 3 kg cá lóc tươi, trong khi đó dạng khô cá lóc bỏ xương thì phải sử dụng đến 4 kg cá tươi mới chế biến được 1 kg khô Tổng lượng cá lóc mua vào để chế biến khô bình quân khoảng 8,2 tấn/cơ sở/năm, sau khi chế biến thì lượng khô cá lóc còn khoảng 2,0 tấn/cơ sở/năm Chi phí chế biến khô
cá lóc được qui đổi trên 1 kg nguyên liệu khoảng 33.300 đồng Dạng khô nguyên con có chi phí chế biến cao hơn dạng bỏ xương (35.500 đồng/kg so với 32.500 đồng/kg) Giá bán khi qui đổi trên 1 kg nguyên liệu khoảng 41.100 đồng, trong đó dạng nguyên con cũng cao hơn dạng bỏ xương (43.300 đồng/kg
so với 40.300 đồng/kg) Tuy nhiên, lợi nhuận trên kg nguyên liệu thì không khác biệt giữa 2 dạng sản phẩm khô (7.800 đồng/kg)
Khi chế biến mắm cá lóc thì chất lượng là rất quan trọng nên việc lựa chọn nguyên liệu đầu vào cần khá kỹ Mắm được chế biến từ cá lóc đồng có chất lượng tốt hơn các loài cá lóc khác (71,4% số cơ sở sản xuất mắm) Sản phẩm mắm cá lóc được chế biến rất đa dạng, bao gồm: (i) mắm cá lóc nguyên con (100% số cơ sở và chiếm 45,0% trong tổng lượng mắm chế biến); (ii) mắm cá lóc bỏ xương (71,4% cơ sở và 27,2% số lượng); (iii) mắm thái được làm từ cá lóc bông (28,6% cơ sở và 20,1% số lượng) và (iv) mắm cá lóc cắt khúc (14,3%
cơ sở và 7,7% số lượng) Tổng lượng cá lóc nguyên liệu mua vào bình quân 9,0 tấn/cơ sở/năm và bán ra gần 5,0 tấn/cơ sở/năm Để chế biến được 1 kg mắm thành phẩm thì phải sử dụng khoảng 1,8 kg cá lóc nguyên liệu, trong đó dạng mắm bỏ xương có hệ số chế biến cao nhất (cứ 2,1 kg nguyên liệu cho ra 1 kg thành phẩm) và các dạng khác có hệ số chế biến tương đương nhau (cứ 1,5-1,6
Trang 7kg nguyên liệu cho ra 1 kg thành phẩm) Khi tính chi phí sản xuất/kg nguyên liệu thì chi phí bình quân 40.200 đồng, trong đó dạng mắm thái (trộn đu đủ) có chi phí cao nhất (40.600 đồng/kg) và thấp nhất là dạng mắm cắt khúc (27.100 đồng/kg) Tuy nhiên, khi tính lợi nhuận theo phương pháp này thì dạng mắm nguyên con mang lại lợi nhuận cao nhất (15.700 đồng/kg nguyên liệu) Dạng mắm cắt khúc tuy có chi phí sản xuất thấp nhất nhưng lợi nhuận thì cao hơn các dạng mắm còn lại (12.900 đồng/kg)
Việc phân chia nhóm tiêu dùng thành thị và nông thôn dựa vào vị trí địa lý, nơi người tiêu dùng sinh sống Nhóm tiêu dùng thành thị được khảo sát ở các thành phố, thị xã và thị trấn; còn nhóm tiêu dùng nông thôn là người dân sống ở các
ấp, xã thuộc nông thôn Nguồn thu nhập của các hộ tiêu dùng ở nông thôn chủ yếu là từ trồng lúa (45,0% số hộ) và mua bán nhỏ (36,7%) Ở thành thị, nguồn thu nhập chủ yếu từ mua bán kinh doanh (51,1% số hộ) và lương công nhân (31,9%) hoặc lương của cán bộ công chức (29,8%) Do mức sống ở thành thị cao hơn ở nông thôn và người dân nông thôn thường tận dụng thực phẩm sẵn
có tại nơi sinh sống nên chi phí sinh hoạt bình quân của người tiêu dùng thành thị cao hơn ở nông thôn (3,6 triệu đồng so với 2,0 triệu đồng/tháng), trong đó chi cho lương thực, thực phẩm chiếm 61,0% Trong các loại thực phẩm được các hộ tiêu dùng sử dụng thì thủy sản nước ngọt được mua nhiều lần nhất (14 lần/tháng) và thấp nhất là thịt gia cầm và thịt bò ít được sử dụng (3 lần/tháng)
Cá lóc được nhiều hộ tiêu dùng ưa thích nhất (83,8% số hộ), kế đến là cá rô đồng (72,1%) và cá biển (33,1%)
3.2 Kênh thị trường và phân chia lợi ích-chi phí của các tác nhân
Cá lóc chủ yếu được tiêu thụ nội địa nên các kênh thị trường phân phối khá đơn giản Do chỉ phân tích ở khu vực ĐBSCL nên lượng cá được đưa ra ngoài vùng (TP HCM, các tỉnh miền Đông) không được tính toán đến giá trị tiêu thụ cuối cùng Hiện nay, chuỗi giá trị cá lóc nuôi ở ĐBSCL tập trung ở 10 kênh thị trường trong toàn bộ chuỗi, bao gồm:
Tiêu dùng
Trang 8Khi phân tích lợi ích - chi phí trong chuỗi giá trị cá lóc thì 2 kênh thị trường chính có lượng cá lóc tiêu thụ nhiều nhất là kênh 3 (tiêu thụ tại ĐBSCL) và kênh 9 (tiêu thụ tại TP HCM) được đưa vào phân tích Ngoài ra, kênh 5 cũng được phân tích để xem xét lợi ích-chi phí khi có sự tham gia của nhóm chế biến Tất cả các sản phẩm chế biến từ cá lóc được qui đổi ra cá lóc nguyên liệu khi tính toán kinh tế chuỗi
Hình 1 Sơ đồ chuỗi giá trị cá lóc ở ĐBSCL
Kênh 3: Chi phí mua của hộ nuôi chính là giá thành sản xuất trên 1 kg cá lóc
nguyên liệu (24.400 đồng/kg), với giá bán cho vựa thu mua khoảng 28.800 đồng/kg thì giá trị gia tăng (GTGT) thuần mà hộ nuôi sản xuất được là 4.400 đồng/kg (chiếm 28,8% GTGT thuần của toàn chuỗi) Người bán sỉ bán cá lóc cho người bán lẻ với giá 30.900 đồng/kg và thu được GTGT thuần khoảng 1.200 đồng/kg (chiếm 7,8% GTGT thuần của toàn chuỗi) Cuối cùng, người bán lẻ bán lại cho người tiêu dùng với giá 42.000 đồng/kg và tạo ra GTGT thuần khoảng 9.700 đồng (chiếm 63,4% GTGT thuần của toàn chuỗi) Tổng GTGT thuần của Kênh 3 được tính từ khi cá lóc thương phẩm được các hộ nuôi bán ra và đến người tiêu dùng cuối cùng là 15.300 đồng/kg
Kênh 5: Do có sự tham gia của nhóm chế biến khô và mắm cá lóc nên sản
phẩm đến người tiêu dùng sẽ là khô và mắm cá lóc Tất cả các chi phí và GTGT thuần ở các nhóm đều qui về 1 kg cá lóc nguyên liệu Giá khô và mắm
cá lóc bán ra bình quân khoảng 36.100 đồng/kg và lợi được 1.300 đồng/kg (chiếm 9,0% tổng GTGT thuần của toàn chuỗi) Tổng GTGT thuần của kênh 3
100 100
1.1%
0.8
6.6
1.5%
0.5%
1.1 33.0
6.6
%
57.3
2.7
30.8 97.5
2.5
Hộ nuôi
Đầu
vào:
Giống
Thuốc
Thức ăn
Vựa thu
biến
Bán
lẻ dùng Tiêu
Nhà hàng
TP HCM
Nhà hàng
Tiêu dùng
Bán lẻ Bán sỉ Chế
biến
Sản
Đầu
vào
Trang 9cao hơn kênh 5 (15.300 đồng/kg so với 14.400 đồng/kg) do có chi phí tăng
thêm của nhóm chế biến
Kênh 9: Người bán sỉ bán cá lóc cho các vựa ở TPHCM với số lượng khá lớn
(chiếm 57,3% tổng lượng cá lóc nguyên liệu của ĐBSCL) Đây là kênh phân
phối khá quan trọng do sức tiêu thụ tại ĐBSCL hạn chế nên việc bán sang thị
trường TPHCM và các tỉnh miền Đông là cần thiết, nhằm đảm bảo được qui
luật cung cầu và ổn định giá cá lóc nguyên liệu Tổng GTGT thuần của kênh
này chỉ đạt 5.600 đồng/kg nguyên liệu và lợi nhuận thu được của hộ nuôi
(chiếm 78,6% tổng GTGT thuần của toàn chuỗi) cao hơn vựa thu mua (21.4%)
Bảng 1 Phân phối lợi ích và chi phí của các nhóm tác nhân tham gia chuỗi
Kênh 3: Hộ nuôi →Vựa thu mua → Bán lẻ → Tiêu dùng
Chi phí mua, sản xuất (đ/kg) 24.400 28.800 30.900
% GTGT thuần/tác nhân/năm (%) 6,2 87,9 5,9 100,0
Kênh 5: Hộ nuôi →Vựa thu mua → Chế biến → Bán lẻ → Tiêu dùng
Chi phí mua, sản xuất (đ/kg) 24.400 28.800 30.900 36.100
Sản lượng/tác nhân/năm (tấn) 14,1 728,2 8,7 1,6
Tổng LN/tác nhân/năm (trđ) 62,0 873,8 11,3 12,0
% GTGT thuần/tác nhân/năm (%) 6,5 91,1 1,2 1,3 100,0
Kênh 9: Hộ nuôi →Vựa thu mua → TP HCM
Sản lượng/tác nhân/năm (tấn) 14,1 728,2
Trang 10Ngược lại, khi tính lợi nhuận mà mỗi tác nhân nhận được trong 1 năm thì việc phân phối lợi nhuận cho các tác nhân tham gia là không đồng đều, chủ yếu tập trung nhiều cho các vựa thu mua (chiếm từ 87,9-93,4% lợi nhuận của toàn chuỗi) Các hộ bán lẻ tuy tạo ra lợi nhuận/kg là cao nhất nhưng sản lượng bán
ra lại thấp hơn các nhóm khác, do đó tổng lợi nhuận mỗi hộ thu được cũng thấp hơn các nhóm còn lại Cá lóc chủ yếu được tiêu thụ nội địa, do đó vào mùa lũ thì nguồn lợi thủy sản nước ngọt nhiều nên giá cá lóc thương phẩm giảm thấp, nhiều hộ nuôi cá lóc thua lỗ do chi phí sản xuất cao Ngược lại, vào mùa nắng thì nguồn lợi thủy sản ít nên giá cá lóc nuôi tăng, tuy nhiên cá lóc nuôi mùa này xuất hiện nhiều bệnh hơn, tỷ lệ hao hụt nhiều hơn dẫn đến thua lỗ Do đó, giá
cá lóc thương phẩm không ổn định đã phản ảnh sự kém bền vững của đối tượng nuôi này
3.3 Một số giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị cá lóc
Mặc dù, hằng năm ĐBSCL cung cấp một lượng lớn cá lóc cho người tiêu dùng trong nước và một số ít xuất khẩu nhưng việc khuyến khích phát triển đối tượng nuôi này gặp nhiều khó khăn Do cá lóc nuôi hiện nay chủ yếu là sử dụng thức ăn tươi sống, đặc biệt nhiều hộ nuôi đã tận dụng lao động nhàn rỗi
để khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản nước ngọt để làm thức ăn nuôi cá lóc, điều này đã gây áp lực lên việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản nước ngọt Do đó, nhiều tỉnh ở ĐBSCL không khuyến khích đối tượng nuôi này và cũng chưa có qui định cấm nuôi đối tượng này Điều này dẫn đến người dân đã phát triển tự phát do không có qui hoạch và khó quản lý được đối tượng này Do cá lóc có thể nuôi thâm canh với mật độ cao nên việc phát triển đối tượng nuôi này là rất cần thiết, tuy nhiên để phát triển được đối tượng thì cần phải chế biến được thức ăn viên cho cá lóc nhằm hạn chế áp lực khai thác cá tạp nước ngọt Hiện nay, có nhiều loại thức ăn viên cho cá lóc xuất hiện trên thị trường, bước đầu mang lại thành công nhất định Tuy nhiên, các loại thức ăn viên cho cá lóc này cũng có những khuyết điểm đáng kể cần phải được nghiên cứu nhiều hơn nhằm mang lại hiệu quả tốt hơn
Từ những khó khăn trên kết hợp với phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, một số giải pháp cụ thể để nâng cấp chuỗi giá trị cá lóc nuôi
ở ĐBSCL theo hướng phát triển bền vững trong thời gian tới được đề xuất như sau:
- Phát triển hình thức nuôi thâm canh cá lóc kết hợp với sử dụng thức ăn viên nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường do sử dụng thức ăn tươi sống gây ra Việc sử dụng thức ăn viên sẽ giảm áp lực lên họat động khai thác nguồn lợi thủy sản nước ngọt ở địa phương và giúp bảo tồn nguồn lợi thủy sản nước ngọt tốt hơn Sử dụng thức ăn viên sẽ giúp giảm chi phí sản xuất như hệ số thức ăn thấp, giảm được chi phí lao động và công vận chuyển
- Xem xét chính sách hỗ trợ các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu cá lóc nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ Nếu muốn phát triển tăng sản lượng cá