Chương 1: GIỚI THIỆU1.1.Lý do chọn đề tài hoặc tính cấp thiết của đề tài: Viện nghiên cứu về vấn đề Bắt nạt ở Công sở Workplace Bullying Institute-WBI đã khảo sát rằng, đa số 61% kẻ đi b
Trang 1Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1.Lý do chọn đề tài (hoặc tính cấp thiết của đề tài):
Viện nghiên cứu về vấn đề Bắt nạt ở Công sở (Workplace Bullying Institute-WBI) đã khảo sát rằng, đa số (61%) kẻ đi bắt nạt ở nơi làm việc là những người giữ chức vụ điều hành, quản lý Điều này cũng có nghĩa hơn 1/3 những kẻ đi bắt nạt không phải các sếp mà là những người ngang hàng trong cơ quan, thậm chí có cả nhân viên dưới cấp, 19% người trưởng thành được hỏi cho biết họ từng bị bắt nạt ở chỗ làm trong khi 19% người tham gia điều tra khác trả lời họ đã thấy sự việc xảy ra với người khác Nói ngắn gọn, bắt nạt tại nơi làm việc ám chỉ mọi hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, cố ý nhằm vào một người lao động với mục đích hạ nhục, làm bẽ mặt, xấu hổ, hoặc làm giảm hiệu năng làm việc của người đó Những hành vi bắt nạt có thể đến từ đồng nghiệp, người giám sát, hoặc quản lý, và là một vất đề thực tế cho người lao động ở mọi chức vụ, vị trí Bắt nạt có thể bắt nguồn từ bất kỳ mắt xích nào trong sơ đồ tổ chức và nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Vây, bằng cách nào để giảm thiểu vấn nạn bắt nạt tại nơi làm việc? Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, văn hóa doanh nghiệp là một trong những nhân tố quyết định đến sự gắn kết của nhân viên với công ty, doanh nghiệp cần phải biết giữ chân nhân viên của mình, đặc biệt là những nhân viên nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong công ty Nhìn chung, đó cũng chính là những gì
mà một doanh nghiệp muốn đạt được từ nhân viên của mình
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh việc nhân viên bị bắt nạt trong môi trường làm việc Từ các nghiên cứu trước đó đưa ra các yếu tố của của việc bị bắt nạt thông qua các nguyên nhân đó là: (1) phong cách lãnh đạo (2) không thích ứng được văn hóa công ty, (3) khác biệt giữa năng lực làm việc Kế thừa theo nghiên cứu của Einarsen, S., Hoel, H.,
& Notelaers, G (2009) đã khẳng định hậu quả của việc bị bắt nạt tại nơi làm việc thông qua các thang đo từ việc phỏng vấn, trả lời các câu hỏi Một nghiên cứu khác của Grayson, D A., Bridges, K., Duncan-Jones, P., & Goldberg, D P (1987) nghiên cứu mối quan hệ giữa các triệu chứng và chẩn đoán rối loạn tâm thần nhẹ cũng dẫn chứng các hậu quả ngiêm trọng của việc bị bắt nạt tại nơi công sở
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển thì các doanh nghiệp ở Việt Nam cần phải kiểm soát việc nhân viên bị bắt nạt một cách chặt chẽ để kịp thời thích ứng và giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững Với đề tài “The impact of workplace bullying on
employees in Ho Chi Minh city” hy vọng đây sẽ là cơ sở giúp cho các doanh nghiệp chú trọng đến môi trường làm việc của nhân viên, nâng cao chất lượng làm việc, để khuyến khích được sư gắn kết lâu dài của nhân viên, giúp công ty ngày càng phát triển
Đoạn 4 trình bày về các công trình nghiên cứu liên quan, để chỉ ra nghiên cứu của mình còn
khoảng trống -> Huân (sơ lược 1 vài bài và chỉ ra khỏang trống thôi vì chương 2 mình
có làm rõ, tuy nhiên tổng kết chương 2 rồi làm phần này sẽ dễ hơn)
Chính vì thế, việc nghiên cứu ảnh hưởng của bắt nạt trong nơi làm việc là rất quan trọng cho các tổ chức Tuy đã có nhiều nghiên cứu trước đó nhưng đề tài vẫn còn ít được nghiên cứu tại Việt Nam, để có thể đưa ra những thực nghiệm kiểm chứng tại môi trường của các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Chúng tôi hy vọng bài nghiên cứu này có thể đem lại nhiều dẫn chứng cụ thể và phân tích sâu để giúp các nhà quản trị lựa chọn phương hướng giải quyết vấn đề này tại doanh nghiệp của mình
Trang 21.2.Mục tiêu nghiên cứu: khoảng 3-5 mục tiêu
- Tìm hiểu, đánh giá hiện trạng về sự bắt nạt nhân viên tại những cơ quan làm việc ở
TP.HCM
- Tìm ra các nhân tố dẫn đến việc bắt nạt và những tác động, phản ứng của người bị bắt nạt
- Thông qua xử lý, phân tích dữ liệu thống kê các dữ
liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đạt được cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp cái nhìn sâu sắc hơn về các nhân tố có thể mang lại giảm thiểu tình trạng bắt nạt tại nơi công sở
- Từ đó giúp cho nhà quản lý có các định hướng, chính sách phù hợp trong việc tạo ra văn hóa doanh nghiệp, giúp giữ chân những nhân viên phù hợp mà nhà quản lý mong muốn họ gắn
bó lâu dài với công ty
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dữ liệu khảo sát dựa trên ý kiến của các nhân viên văn phòng đang
làm việc tại TP Hồ Chí Minh
Độ tuổi: 22-30
Giới tính: Nam và nữ
Đặc điểm chung: đã từng trải qua hoặc chứng kiến việc bắt nạt nơi công sở
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tại thực hiện nghiên cứu tại … công ty trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tại thực hiện nghiên cứu từ ngày … tháng … năm …
đến ngày … tháng … năm …
1.3.Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Mục đích nhằm đánh giá
độ tin cậy, giá trị hội tụ và phân biệt của các thang đo trong mô hình nghiên cứu và phân tích dữ liệu để kiểm định mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Dữ liệu phân tích được thu thập thông qua Bảng câu hỏi khảo sát với các đối tượng là nhân viên văn phòng đang làm việc tại khu vực Tp HCM bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Phương pháp này được sử dụng vì nghiên cứu mang ý nghĩa khám phá và đối tượng nghiên cứu tương đối dễ tiếp cận
Dữ liệu thu thập sẽ được làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS để kiểm tra các tiêu chí sau:
- Kiểm tra, đánh giá độ tin cậy thông quan hệ số Cronbach’s Alpha;
- Kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị phân biệt của thang đo và rút gọn biến thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA;
- Phân tích hồi qui MMR, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và kiểm tra vi phạm giả định hồi qui
1.4.Ý nghĩa của nghiên cứu
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài có một số đóng góp tri thức mới về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau:
Trang 3Về lý thuyết
- Kiểm định thang đo về sự phẫn nộ, sự ảnh hưởng, sự bất mãn của cá nhân trong môi trường làm việc tại Tp HCM
Về thực tiễn
- Nghiên cứu này nhằm mục đích trở thành căn cứ khoa học để giúp các nhà quản trị đánh giá được tình hình nhân sự, môi trường làm việc, mức độ áp lực của nhân viên Kết quả nghiên cứu sẽ xác định những yếu tố tác động đến sự phẫn nộ và sự bất mãn trong công việc của nhân viên -Từ đó xây dựng giải pháp giảm thiểu áp lực và tăng cường sự quan tâm, hỗ trợ để giúp nhân
viên thích nghi hơn với áp lực và tạo sự hài lòng cao
nhất trong công việc
1.5.Bố cục của nghiên cứu
Bố cục luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Trình bày tính cấp thiết của đề tài; các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể; đối tượng và phạm
vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; bố cục của nghiên cứu
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.
Trình bày cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng với cam kết cảm xúc, sự vượt qua cái tôi và hành vi công dân tổ chức của giảng viên Đồng thời tiến hành phân tích các giả thiết, các mô hình nghiên cứu trước nhằm xây dựng nền tảng cho việc lập luận và hình thành nên mô hình nghiên cứu
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được sử dụng để phân tích và đo lường các khái niệm nghiên cứu, xây dựng thang đo
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trình bày kết quả nghiên cứu, thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá các kết quả thu được
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu những đóng góp và hạn chế của nghiên cứu trong thực tiễn tại các tổ chức giáo dục, từ đó đề xuất hướng nghên cứu tiếp theo từ nghiên cứu này
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm nghiên cứu chính trong mô hình Phần này trình bày các khái niệm
trong mô hình nghiên cứu của mình
-Key concept: Workplace Bullying -> Huân
-Hậu tố:
Absenteeism, intention to leave and work performance
Theo Einarsen, S., Hoel, H., & Notelaers, G (2009), Absenteeism, intention to leave and work performance là các thang đo sức khỏe, bệnh tật, mặt khác đo sự vắng mặt, hiệu quả công việc và
ý định nghỉ việc Để sửa cho bất kỳ thang đo lệch nào, chúng tôi cũng tính toán các tương quan
Trang 4tham số bằng cách sử dụng các tương quan thứ tự xếp hạng Spearman cho tất cả các tương quan Các mối tương quan giống hệt nhau hoặc mạnh hơn những mối tương quan được báo cáo ngoại trừ bệnh rời đi, nơi kết quả cung cấp tương quan thấp hơn 0,01 đến 0,02 với thang NAQ Mối tương quan giữa tổng NAQ-R và GHQ-12 và các phàn nàn về bệnh tâm thần tương ứng có ý nghĩa thống kê Tương quan giữa việc tiếp xúc với bắt nạt và tự đánh giá hiệu quả công việc, nghỉ ốm và ý định rời đi cũng đáng kể, nhưng ở mức trung bình đến yếu, và theo dự kiến phương hướng Điểm cao trên NAQ-R có liên quan đến nhiều phàn nàn về sức khỏe, giảm hiệu suất, nghỉ
ốm tăng lên và điểm cao hơn khi lớn hơn xu hướng rời bỏ công việc của một người Theo như ba yếu tố của NAQ-R là lo ngại, các mối tương quan mạnh nhất được tìm thấy đối với bắt nạt liên quan đến công việc (NAQR-work), với các mối tương quan yếu nhất được tìm thấy đối với đe dọa thể chất (NAQR-Physical Intimidation)
Mental and psychosomatic health
Theo Grayson, D A., Bridges, K., Duncan-Jones, P., & Goldberg, D P (1987)
Mental and psychosomatic health được xem là lo âu, chúng không trùng với đặc điểm trầm cảm Điều này ít đúng hơn đối với các chẩn đoán về Chậm phát triển và Suy nhược thần kinh của hệ thống IDCATEGO, tuy nhiên, có đặc điểm kéo dài phiền muộn Chẩn đoán trầm cảm với cao độ
có các ngưỡng từ 0-65 Về bệnh tật mức độ nghiêm trọng này có nghĩa là các chẩn đoán khác nhau có thể phân tách chính xác dân số thành bệnh với những người bệnh khác nhau, từ 26% chán nản nhất đến 8% chán nản nhất Tính chất này của bệnh trầm cảm chẩn đoán lập luận mạnh
mẽ để có một cái nhìn chiều về trầm cảm
+ 5 biến còn lại
-Bảng thang đo các biến
1 Bắt nạt nơi làm Thang đo khoảng Likert với 5 điểm từ 1 Thang đo phù hợp với việc (Workplace (Không bao giờ) đến 5 (Mỗi ngày) nội dung bài nghiên Bullying)
(Theo Einarsen, S., Hoel, H and Notelaers,
cứu -> áp dụng thang
đo này
G (2009), “Measuring exposure to bullying
Trang 5and harassment at work: validity, factor structure and psychometric properties of the negative acts questionnaire-revised”, Work
& Stress, Vol 23 No 1, pp 24-44.)
2 Hành vi im lặng Đo lường qua 3 biến: Thang đo phù hợp với (Silence - Im lặng phòng thủ (Defensive silence) nội dung bài nghiên behavior) - Im lặng trong mối quan hệ (Relational cứu -> áp dụng thang
- Im lặng bất lực (Ineffectual silence) Thang đo khoảng Likert với 5 điểm từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý)
(Theo Rai, A., & Agarwal, U A (2018).
Workplace bullying and employee silence.
Personnel Review, 47(1), 226–256)
3 Kiệt quệ về mặt Đo lường với 2 loại thang đo: Thang đo phù hợp với
1 Thang đo về tần suất (The frequency scale
(Emotional ) với 6 điểm: từ 1 (Vài lần trong năm hoặc ít cứu -> áp dụng thang
hơn), 2 (hang tháng), 3 (Vài lần trong
tháng), 4 (Mỗi tuần), 5 (Vài lần trong một EE)
tuần), 6 (Mỗi ngày)
2 Thang đo về cường độ (The intensity scale) với 7 điểm: từ 1 (rất nhẹ, hầu như không đáng chú ý), 4 (vừa phải), đến 7 (chủ yếu, rất mạnh)
(Theo Zhu Yao, Xianchun Zhang, Jinlian Luo and Hui Huang, 2020, Offense is the best defense: the impact of workplace bullying on knowledge hiding)
4 Nhận diện tổ Thang đo khoảng Likert với 5 điểm từ 1 Thang đo phù hợp với
(Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn
đồng ý)
identification)
(Theo Zhu Yao, Xianchun Zhang, Jinlian đo này Luo and Hui Huang, 2020, Offense is the
best defense: the impact of workplace bullying on knowledge hiding)
5 Che giấu kiến Thang đo Likert 7 điểm từ 1 (hoàn toàn Thang đo phù hợp với
Trang 6không phải), 4 (một phần nào đó đúng), đến
7 (Hoàn toàn đúng)
(Theo Zhu Yao, Xianchun Zhang, Jinlian
Luo and Hui Huang, 2020, Offense is the best defense: the impact of workplace
Trang 7bullying on knowledge hiding)
6 Sự hạnh phúc Đo lường qua 2 biến Thang đo phù hợp với
1.Sự hài lòng trong công việc (Job
satisfaction):
Thang đo Likert 5 điểm từ 1 (hoàn toàn
không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý)
2 Sức khỏe tâm lý (Psychological well-being):
Thang đo Likert 5 điểm từ 1 (không bao giờ) đến 5 (Luôn luôn)
(Theo Hsu, F.-S., Liu, Y., & Tsaur, S.-H.
(2019) The impact of workplace bullying on hotel employees’ well-being International Journal of Contemporary Hospitality Management)
7 Vắng mặt, ý Thang đo Likert 5 điểm cho từng biến quan Thang đo phù hợp với định nghỉ việc sát (xem chi tiết trong phần câu hỏi khảo nội dung bài nghiên
công việc
(Theo Einarsen, S., Hoel, H., & Notelaers, đo này
(Absenteeism,
G (2009) Measuring exposure to bullying
intention to
and harassment at work: Validity, factor
leave and work
structure and psychometric properties of the
performance)
Negative Acts Questionnaire-Revised Work
& Stress, 23(1), 24–44.)
8 Rối loạn tinh Thang đo Likert 5 điểm từ 1 (không bao giờ) Thang đo phù hợp với thần và tâm thần đến 5 (Rất thường xuyên) nội dung bài nghiên (Mental and
(Theo Grayson, D A., Bridges, K., Duncan- cứu -> áp dụng thang
Jones, P., & Goldberg, D P (1987) The
health)
relationship between symptoms and diagnoses of minor psychiatric disorder in general practice Psychological Medicine, 17(04), 933)
Trang 82.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
2.2.1 Nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper (2003)
Nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper đã thực hiện nghiên cứu về tình trạng bắt nạt công sở xảy ra thường xuyên với tỷ lệ trung bình nạn nhân trên tổng số nhân viên mà phần nhiều nạn nhân sẽ
là lao động trí thức Elge Hoel và Cary L Cooper đã đề xuất các yếu tố bằng những hành
vi được bắt nạt dưới nhiều hình thức (Zapf, 1999b): Bắt nạt bằng công việc, tẩy chay, tấn công cá nhân hoặc cuộc sống cá nhân của họ, lan truyền tin đồn
Trang 9Ngoài ra, bạo lực thể chất và de dọa bạo lực thể chất cũng như tấn công niềm tin tôn giáo, chính trị của nạn nhân cũng có thể được xem là một hình thức bắt nạt Dù vậy, trên thực tế, rất ít trường hợp bắt nạt xảy ra dưới hình thức này, thay vào đó, sự tấn công trên phương diện tâm lý thường được sử dụng bởi những kẻ bắt nạt nhiều hơn
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Bắt nạt công sở thường không phải là một hành động đơn lẻ mà thường được thực hiện như một quá trình thường kéo dài trung bình từ 15-18 tháng nạn nhân bị
cô lập và né tránh một cách rõ ràng, bị sỉ nhục bởi sự chỉ trích quá mức nơi công cộng hoặc bị biến thành trò cười Ở giai đoạn cuối, bạo lực thể chất và tinh thần có thể được những kẻ bắt nạt
sử dụng
Trong số các nạn nhân của nạn bắt nạt công sở, có đến 2/3 là nữ, trong khi chỉ có 1/3 là nam giới,
nữ giới có nhiều khả năng bị nam giới bắt nạt, rất hiếm trường hợp ngược lại xảy ra Trong đa số các trường hợp, kẻ bắt nạt là một nhóm từ 2-4 người, bao gồm cả nam và nữ, chiếm khoảng 50% các trường hợp Số lượng kẻ bắt nạt càng nhiều, thời gian bắt nạt càng kéo dài
2.2.2 Nghiên cứu của Azizi Yahaya và cộng sự (2012)
Azizi Yahaya và cộng sự nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa bắt nạt nơi công sở và hiệu quả công việc của nhân viên Kết quả nghiên cứu cho thấy bắt nạt nơi làm việc là một vấn đề nghiêm trọng dẫn đến những thiệt hại cả về thể chất lẫn tinh thần của người lao động, ngoài ra, công ty cũng sẽ chịu những thiệt hại do nó gây ra như hiệu quả công việc giảm sút, nhân viên thiếu đi sự nhiệt huyết và thiệt hại tài chính liên quan Biến nhân tố về bắt nạt nơi công sở được xác định dựa trên nghiên cứu của Guy Notelaers và Helge Hoel khẳng định hậu quả của việc bị bắt nạt tại nơi làm việc thông qua các thang đo từ việc phỏng vấn, trả lời các câu hỏi Định nghĩa các yếu tố này dựa trên nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper (2003)
Các biến trong mô hình nghiên cứu được dựa trên những nghiên cứu có liên quan như:
Trang 10- Work Related Bullying: là tất cả các hành động và thực hành lặp đi lặp lại hướng đến một hoặc nhiều người lao động mà nạn nhân không mong muốn, có thể được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý thức, nhưng rõ rang gây những hậu quả đến tinh thần như bẽ mặt, xúc phạm và đau khổ, và điều đó có thể cản trở hiệu quả công việc và gây ra môi trường làm việc khó chịu
(Einarsen và Raknes, 1997)
- Person Related Bullying: là một dạng căng thẳng có khả năng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người lao động, có khả năng dẫn đến các triệu chứng tâm lý-thể chất, thay đổi tâm trạng và tính cách, rối loạn tâm thần chẳng hạn như rối loạn lo âu-trầm cảm, rối loạn điều chỉnh mãn tính và rối loạn căng thẳng sau chấn thương Người
- các hành vi bắt nạt có liên quan là sỉ nhục công khai, phớt lờ, lăng mạ, lan truyền tin đồn hoặc những lời dị nghị, xâm phạm quyền riêng tư, la hét, v.v (Beswick, Gore, Palferman, 2006)
- Workplace Bullying: là về một cuộc tấn công thường xuyên được cá nhân hóa nhằm vào một đồng nghiệp của một đồng nghiệp khác bằng việc sử dụng các hành vi trừng phạt về tình cảm và tâm lý (Arynne, 2009)
2.2.3 Nghiên cứu của Namra Jamshaid và Sadia Arshad (2020)
Nghiên cứu của Namra Jamshaid và Sadia Arshad nghiên cứu về sự chịu đựng trong im lặng khi
bị bắt nạt tại nơi làm việc cũng như những vai trò trong vi phạm hợp đồng tâm lý, những hành vi nhân từ và tâm lý tích cực Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tâm lý tác động đến sự hòa giải giữa mối quan hệ của bắt nạt và sự im lặng Hợp đồng tâm lý, trong đó, các nghĩa vụ được nhận thức trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động dựa trên cách giải thích mang tính chủ quan cao và cảm giác vi phạm tác động mạnh mẽ đến hành vi của nhân viên và giải thích một phần nào đó một số tác động có hại liên quan đến bắt nạt trong nghiên cứu này Sự tương tác có hại ngày càng gia tăng với những hành vi sai trái dẫn đến suy giảm năng lực của nhân viên
Biến nhân tố tác động đến bắt nạt nơi công sở được xác định dựa trên nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper (2003) Những nhân tố của mô hình nghiên cứu được lấy từ những nghiên cứu có liên quan như:
- Workplace Bullying được đo lường bằng 22 yếu tố bằng bảng câu hỏi Negative Act Questionnaire (NAQ-R) từ nghiên cứu của Einarsen và cộng sự (2009) bao gồm Consisting of three subscalesas work-related, person-related and physically intimidating bullying
- PCV được lấy từ 4 yếu tố dựa trên nghiên cứu của Robinson and Morrison (2000)