Tuy nhiên, trong kinh tế vĩ mô, muốn đo lường kết quả sản xuất chung hay sản lương của toàn nền kinh tế bao gồm mọi loại sản phẩm thì không có cách nào khác là phải quy đổi ra giá trị b
Trang 1ĐO LƯỜNG KINH TẾ
Đo lường kết quả hoạt động kinh tế là một vấn đề quan tâm không phải riêng
mỗi quốc gia mà là vấn đề quốc tế Nhu cầu so sánh quốc tế về mức thu nhập quốc
gia đã dẫn đến hình thành hệ thống đo lường chung cho các nước kinh tế thị trường
từ năm 1928 Hệ thống đo lường thống nhất đó tiếp tục phát triển sau chiến tranh thế giới thứ hai và chính thức có tên gọi là Hệ thống các Tài khoản quốc gia (System of National Accounts – SNA) vào năm 1953 Cùng với sự phát triển của hệ thống kinh
tế thị trường, SNA được sửa đổi vào năm 1968 Đến năm 1993, sau khi tan rã hệ thống các nước XHCN cũ theo mô hình kế hoạch hóa tập trung và chuyển sang mô hình kinh tế thi trường, SNA được sửa đổi vào năm 1993, được Liên hiệp quốc công
bố và sử dụng thống nhất cho tất cả các nước Việt Nam đã áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia cũng vào năm 1993 Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu cách
đo lường một số chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chủ yếu theo SNA-1993, để có thể tiếp tục đi sâu hơn vào các vấn đề chung khác của kinh tế vĩ mô
I TỔNG SẢN PHẨM TRONG NƯỚC GDP
Tổng sản phẩm trong nước hay Gross Domestic Product (GDP) của Việt Nam năm 2007 là 1146 nghìn tỷ VND so với năm 2006 là 973.79 nghì tỷ VND Nói một cách dễ hiểu, GDP là giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất
ra trong nước chúng ta trong năm 2007 cao hơn trong năm 2006 tính theo VN đồng
Có thể nói, GDP là con số rất được nhiều người quan tâm Các cơ quan Chính phủ
và cả người dân thường đều quan tâm số liệu GDP vì nó cho biết sự phát triển của nền kinh tế Các doanh nghiệp quan tâm đến GDP vì doanh số bán hàng của họ quan
hệ chặt chẽ với GDP của nền kinh tế Vấn đề cơ bản mà chúng ta cần biết là GDP
Trang 2được đo lường theo cách nào? được sử dụng như thế nào? hạn chế gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu một số khái niệm liên quan trước khi trả lời các câu hỏi đặt ra này
1 Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
Trong kinh tế vi mô, đo lường kết quả sản xuất của một doanh nghiệp là cụ thể rõ ràng Nếu sản xuất lúa thì sản lượng đo bằng tấn hay tạ Nếu sản xuất ra ô tô thì sản lượng đo bằng số lượng ô tô hay sản xuất vải thì đo bằng mét Tuy nhiên,
trong kinh tế vĩ mô, muốn đo lường kết quả sản xuất chung hay sản lương của toàn
nền kinh tế bao gồm mọi loại sản phẩm thì không có cách nào khác là phải quy đổi
ra giá trị bằng cách sử dụng giá làm thước đo chung Các chỉ tiêu kinh tế phản ảnh kết quả hoạt động chung của toàn nền kinh tế tính theo cách như vậy được gọi là các chỉ tiêu tổng hợp hay các chỉ tiêu gộp (aggregate) GDP là một chỉ tiêu tổng hợp
đo lường kết quả sản xuất của toàn nền kinh tế Để tính GDP người ta phải sử dụng bảng giá của tất cả các loại sản phẩm để tính giá trị mọi sản phẩm mà nền kinh tế sản xuất được rồi cộng lại hay gộp lại với nhau Mặc dù có vẻ như đơn giản, nhưng
đo lường tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế không phải là không nảy sinh ra nhiều vấn đề phức tạp Riêng việc dùng bảng giá nào để
đo cũng là vấn đế mà chúng ta sẽ nói đến sau cùng trong chương này
2 Giá trị sản xuất hay đầu ra (Output): Trước khi nói về GDP chúng ta hãy nói
đến khái niệm giá trị sản xuất Tổng cục thống kê Việt Nam đã dùng cụm từ giá trị
sản xuất để diễn đạt khái niệm output từ tiếng Anh Output có nghĩa rất chung là đầu
ra Một chỉ tiêu liên quan là Gross Output là Tổng giá trị đầu ra hay Tổng giá trị
sản xuất cũng là một một chỉ tiêu tổng hợp đo lường kết quả sản xuất của nền kinh
tế Ở đây có tiếp đầu ngữ Gross được dịch sang tiếng Việt là tổng nhưng bản chất
của từ này có nghĩa là thô (đối lập với Net là ròng) được giải thích trong tính GDP
từ phía thu nhập ở phần sau của chương này Mặc dù Tổng giá trị sản xuất cũng dùng
để đo lường tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra của nền kinh tế Tuy
Trang 3nhiên, tính kết quả sản xuất dựa vào đầu ra hay giá trị sản xuất sẽ dẫn đến việc tính
toán trùng lặp Trong một thời gian nhất định nào đó, hàng hóa và dịch vụ được sản
xuất ra và được sử dụng làm đầu vào để sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ khác Giá trị sản xuất hay đầu ra của sản xuất lại bao gồm trong đó giá trị đầu vào Hoạt động sản xuất của nền kinh tế liên quan nhau, đầu ra của một hoạt động sản xuất này là đầu vào sản xuất cho một ngành khác Chúng ta sẽ giải thích rõ hơn bằng khái niệm sản phẩm trung gian
3 Sản phẩm trung gian: Khi người nông dân trồng bông để bán cho nhà sản xuất
vải, thì giá trị bông đã tính rồi Khi nhà sản xuất ra vải thì trong giá thành của vải có
cả giá trị của bông Khi nhà sản xuất quần áo tính giá trị sản xuất của mình thì trong giá thành của quần áo có giá trị vải Vì vậy, mặc dù giá trị sản xuất hay output được
sử dụng để đo kết quả sản xuất của nền kinh tế, tuy nhiên hạn chế của nó là tính trùng lặp, không phản ảnh kết quả sản xuất thực sự hay cuối cùng Sản phẩm dùng
làm đầu vào cho các hoạt động sản xuất được gọi là sản phẩm sử dụng trung gian
4 Sản phầm cuối cùng là sản phẩm được sản xuất ra cuối cùng, nó không còn sử
dụng làm sản phẩm trung gian Trong ví dụ trên, quần áo là sản phẩm cuối cùng Nói chung, các hàng hóa và dịch vụ sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cuối cùng của con người như ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, bảo vệ sức khỏe, giải trí,…là sản phẩm cuối cùng Sản phẩm cuối cùng còn bao gồm các sản phẩm đã được sản xuất ra và được sử dụng cho mục đích đầu tư để tích lũy tài sản Một số sản phẩm sản xuất ra tạm thời lưu kho chưa sử dụng cũng tạm thời được xem là sản phẩm cuối cùng Trong nền kinh tế mở, hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu cũng bao gồm trong sản phẩm cuối cùng của nền kinh tế
5 Giá trị gia tăng: Để tránh đo trùng lặp giá trị đầu ra mà các giai đoạn sản xuất
trước đã tính, người ta lấy giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra (đầu ra) trừ
đi giá trị hàng hóa và dịch vụ làm đầu vào (sản phẩm trung gian) và được giá trị gia
Trang 4tăng do sản xuất tạo ra Giá trị gia tăng (Value Added) phản ảnh giá trị được tạo thêm do hoạt động sản xuất của nền kinh tế Sử dụng giá trị gia tăng để đo kết quả sản xuất của nền kinh tế sẽ tránh được nhược điểm trùng lặp khi sử dụng giá trị sản xuất như đã nêu trên
6 Lãnh thổ kinh tế và thường trú
Khi nói đến hoạt động kinh tế, người ta nói đến lãnh thổ kinh tế chứ không nói đến lãnh thổ địa lý Các nước phát triển như Mỹ, Anh, Nhật, lãnh thổ kinh tế của họ rộng hơn so với lãnh thổ địa lý của họ Lãnh thổ kinh tế bao gồm lãnh thổ địa lý nhưng trừ đi phần lãnh thổ địa lý mà nước ngoài được quyền sử dụng theo luật pháp quốc tế, chẳng hạn như sứ quán nước ngoài trong mỗi nước, các vùng lãnh thổ đã chuyển nhượng cho nước ngoài, các căn cứ quân sự của nước ngoài đặt bên trong lãnh thổ địa lý Tất nhiên, lãnh thổ kinh tế của một nước sẽ cộng thêm vào phần lãnh thổ địa lý nước khác mà nước đó có quyền sử dụng theo các luật pháp quốc tế Nói chung bên trong lãnh thổ kinh tế của một nước thì trong đó con người và mọi hoạt động kinh tế sẽ do Chính phủ nước đó kiểm soát
Người ta gọi một người hay một đơn vị nào đó là thường trú trong một lãnh thổ kinh tế khi người đó hay đơn vị đó sống lâu dài bên trong lãnh thổ kinh tế đó , ít nhất là trên một năm Khái niệm thường trú phân biệt với khái niệm công dân Công dân của một nước có thể không phải là thường trú của nước đó Khái niệm thường trú không phân biệt quốc tịch Nhưng tại sao người ta chú ý nhiều đến khái niệm thường trú? Sở dĩ khái niệm thường trú quan trọng vì GDP của một nước được tính theo kết quả hoạt động sản xuất của tất cả các các đơn vị thường trú, chứ không phải công dân của nước đó
7 Tổng sản phẩm trong nước - GDP
Trang 5Đến đây, chúng ta có thể định nghĩa Tổng sản phẩm trong nước hay GDP một cách chính xác hơn theo các cách sau:
GDP của một nền kinh tế là tổng giá trị hàng hóa và dịch cuối cùng được sản
xuất ra bên trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm
GDP của một nền kinh tế là tổng giá trị gia tăng được tạo ra bên trong nền kinh
tế nước đó trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm
GDP của một nền kinh tế là tổng giá trị gia tăng được tạo ra của tất cả các đơn vị thường trú bên trong lãnh thổ kinh tế của nước đó
8 Tổng thu nhập quốc gia GNI
Để hiểu kỹ hơn về GDP chúng ta sẽ tìm hiểu thêm một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác được dùng rất nhiều là GNI hay Tổng thu nhập quốc gia ( Gross National Income) mà trước đây gọi là Tổng sản phẩm quốc gia hay GNP (Gross National Product) Nếu GDP đo lường kết quả hoạt động kinh tế bên trong lãnh thổ kinh tế,
do các đơn vị thường trú gồm công dân có các quốc tịch khác nhau làm ra, thì GNI được tính từ thu nhập của công dân một quốc gia
Tổng thu nhập quốc gia (GNI) là tổng thu nhập do công dân một quốc gia làm ra
Về mặt tính toán, có thể hình dung mối quan hệ giữa GDP và GNI như sau Sau khi tạo ra GDP của một nước, công dân nước ngoài chuyển thu nhập của họ về nước và công dân của nước đó đang làm ăn ở nước ngoài chuyển thu nhập trở về Kết quả có tổng thu nhập quốc gia GNI Nói một cách khác, GDP là thu nhập của những người thường trú còn GNI là thu nhập của công dân Những nước phát triển như Mỹ, Nhật, thu nhập của công dân của họ làm ăn ở nước ngoài chuyển về nước lớn hơn nhiều
so với thu nhập của công dân nước ngoài làm ăn ở Mỹ hay Nhật chuyển về nước Vì
Trang 6vậy trong phân tích kinh tế thì Mỹ hay Nhật thường sử dụng GNI, còn các nước kém phát triển ngược lại chủ yếu là sử dụng GDP trong phân tích kinh tế
Cũng cần nói đến là trong SNA-1993, khái niệm GNI được dùng để thay thế cho khái niệm GNP là Tổng sản phẩm quốc gia – Gross National Product trước đây Các nhà soạn thảo SNA-1993 cho là luồng thu nhập chuyển ra khỏi một nước hay chuyển về của các công dân không phải là luồng sản phẩm nên khuyến nghị dùng
khái niệm Tổng thu nhập quốc gia thay cho khái niệm Tổng sản phẩm quốc gia
II BA CÁCH TIẾP CẬN ĐỂ TÍNH GDP
Việc sử dụng khái niệm GDP gây ra không ít điều khó hiểu vì GDP một mặt đo lường kết quả hoạt động sản xuất của một nền kinh tế, mặt khác GDP cũng đo lường thu nhập và chi tiêu của một nền kinh tế Có ba cách tiếp cận để tính GDP minh họa trên hình 2.1
1 Tính GDP từ hoạt động sản xuất
Cách tính chung là trước tiên tính giá trị sản xuất (output), sau đó tính chi phí đầu vào hay chi phí trung gian và lấy giá trị sản xuất trừ đi để có giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng = Giá trị sản xuất – Chi phí trung gian
Giá trị gia tăng của tất cả các ngành sẽ được cộng với nhau để thành GDP của nền kinh tế Việc quy định thế nào là một hoạt động sản xuất và việc phân ngành sản xuất là một phần quan trọng làm căn cứ để tính GDP từ hoạt động sản xuất
Trong kinh tế thị trường, khái niệm sản xuất được định nghĩa trong Hệ thống tài khoản quốc gia SNA-1993 bao gồm một phạm vi rất rộng so với khái niệm sản xuất trong Hệ thống sản phẩm vật chất (Material Product System-MPS) của các nước
Xã hội chủ nghĩa trước đây Có thể chia sản phẩm trong kinh tế thị trường ra ba nhóm: (1) Sản phẩm sản xuất ra nhằm bán trên thị trường hay gọi là sản phẩm thị trường (2) Sản phẩm tự sử dụng là sản phẩm làm ra không nhằm bán trên thị trường
Trang 7mà nhằm tự thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất (3) Sản phẩm công cộng do các đơn vị của khu vực Chính phủ làm ra nhằm phục vụ lợi ích công cộng Sản phẩm công cộng cũng không nhằm mục đích thị trường
Vấn đề liên quan ở đây là sử dụng giá nào để tính Người ta đã quy ước là giá
thị trường được sử dụng để tính giá trị các sản phẩm thuộc nhóm sản phẩm thị trường
và cả các sản phẩm tự sử dụng nếu có sản phẩm tương tự bán trên thị trường Người nông dân có thể trồng lúa để ăn nhưng trên thị trường có bán lúa và có giá Phần lúa
để ăn của người nông dân được tính theo giá lúa trên thị trường Đối với nhóm sản phẩm công cộng và các sản phẩm tự sử dụng khác không có sản phẩm tương tự trên thị trường thi quy ước tính bằng tổng chi phí sản xuất Tổng chi phí sản xuât gồm chi phí đầu vào, chi phí lao động, chi phí liên quan đến sử dụng tài sản cố định hay khấu hao Lợi nhuận xem như không có hay bằng 0 Trường hợp phải nộp thuế sản xuất thì sẽ cộng thêm vào trong chi phí sản xuất
Vì mục đích phân tích kinh tế nên các hoạt động sản xuất được tính vào GDP bao gồm cả các hoạt động không kể là hợp pháp hay bất hợp pháp vì nó tạo ra giá trị kinh tế Giá trị kinh tế đó sẽ tác động đến mọi cân đối thu nhập và chi tiêu của toàn nền kinh tế Các hoạt động sản xuất mà người ta thường gọi là kinh tế ngầm nếu có thông tin thì cũng được tính Trên thực tế các nước kém phát triển đều ước
tính phần giá trị kinh tế của kinh tế ngầm Về mặt thu nhập thì có thể nói mọi hoạt
động của con người miễn là có đem lại thu nhập đều xem là hoạt động sản xuất
Điều đó cũng dẫn đến nhiều thay đổi trong cách hiểu của chúng ta so với kinh tế thời bao cấp trước đây Chẳng hạn như các tổ chức đảng phái, tổ chức đoàn thể có thu
đảng phí, hội phí nghĩa là có thu nhập nên phải xem là có hoạt động sản xuất Mặc
dù phạm vi sản xuất được tính trong GDP là rất rộng nhưng không phải mọi hoạt động của con người được tính vào GDP Người ta quy định là các hoạt động dịch vụ trong gia đình như lau chùi dọn dẹp nhà cửa, công việc nội trợ, trông trẻ, chăm sóc
Trang 8người già, nếu người nhà tự làm thì không được tính vào GDP Nếu cùng việc đó nhưng có thuê mướn và có trả tiền công thì lại được tính
Tính GDP từ sản xuất thì phải dựa trên việc phân ngành kinh tế Phân ngành kinh tế trong kinh tế thị trường cũng khác cách phân ngành của Hệ thống sản phẩm vật chất của các nước XHCN cũ mà ở nước ta vẫn thường dùng Phân ngành không
phải dựa vào sản phẩm mà dựa vào hoạt động Các ngành kinh tế trong kinh tế thị
trường hiện nay được gộp lai thành ba khu vực lớn là (1) Nông nghiệp bao gồm nông lâm ngư nghiệp (2) Các ngành công nghiệp bao gồm tất cả các ngành chế biến sản phẩm công nghiệp (3) Dịch vụ bao gồm một phạm vi rộng các hoạt động thương mại, y tế, giáo dục, văn hóa, quản lý, nghĩa là các ngành sản xuất các sản phẩm không phải vật chất hữu hình và sản phẩm của nó không thể tách khỏi chủ sở hữu sản xuất ra nó để vận chuyển đi bán nơi khác, khác với nơi sản xuất ra nó Chẳng hạn không thể tách dịch vụ cắt tóc khỏi người thợ cắt tóc để bán trên thị trường Trên hình 2.1, GDP nền kinh tế bằng tổng GDP khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ
GDP = GDPNN + GDPCN+GDPDV
2 Tính GDP từ thu nhập
Tham gia vào hoạt động sản xuất có bốn chủ thể kinh tế (1) Hộ gia đình cung cấp lao động (2) Chính phủ cấp quyền sản xuất, bảo đảm cơ sở hạ tầng pháp lý và các điều kiện kinh doanh bình đẳng trên thị trường (3) Chủ của các tài sản được dùng vào hoạt động sản xuất (4) Chủ doanh nghiệp hay nhà kinh doanh Giá trị gia tăng hay thu nhập tạo ra từ sản xuất được chia cho bốn chủ thể kinh tế nói trên dưới dạng tiền lương cho người lao động, tiền khấu hao tài sản cho chủ sở hữu tài sản sử dụng trong sản xuất, thuế cho Chính phủ và cuối cùng còn lại là lợi nhuận hay thặng dư
Trang 9sản xuất cho chủ doanh nghiệp Như vậy về phía thu nhập thì GDP bằng tổng cộng tiền lương (W), tiền thuế sản xuất mà Chính phủ thu (T), khấu hao tài sản hay chi phí sử dụng tài sản vốn hiện vật (D) và thặng dư sản xuất (S)
GDP = W + T + D + S GDP từ phía thu nhập đúng bằng GDP tính từ phía sản xuất tạo ra
SẢN XUẤT
Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ
CHI TIÊU
Chi tiêu của dân (C)
Chi tiêu Chính phủ (G)
Đầu tư (I)
Phân phối thu nhập Nhu cầu sản xuất
KV THỂ CHẾ
Hộ Gia đình Chính Phủ Chủ sở hữu tài sản
Chủ Doanh nghiệp
THU NHẬP
Lương (W) Thuế (T) Khấu hao (D) Thặng dư SX (S)
GDP = W + T + D + S GDP = GDP NN + GDP CN +GDP DV
Hình 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất của nền kinh tế tính bằng GDP (gồm GDP khu vực
nông nghiệp GDP NN , khu vực công nghiệp GDP CN và khu vực dịch vụ GDP DV ) Thu nhập hay GDP được tạo ra, được phân phối cho các hộ gia đình, chủ sử hữu tài sản, Chính phủ
và chủ Doanh nghiệp GDP đó được sử dụng cho chi tiêu cho tiêu dùng của Hộ gia đình , của Chính phủ và chi cho đầu tư của Chủ sử hữu tài sản và Doanh nghiệp
Trang 10Một chi tiết đáng chú ý trong tính GDP từ phía thu nhập là GDP bao gồm giá trị khấu hao tài sản hay chi phí sử dụng vốn hiện vật Phần giá trị này trên thực tế, bằng giá trị tài sản hiện vật đã không còn sử dụng như các máy móc đã hết hạn sử dụng hay lạc hậu về mặt kỹ thuật được thay thế nằng các máy móc hiện đại hơn Chủ tài sản sử dụng tiền khấu hao này để đầu tư tài sản mới Nếu lấy GDP trừ đi giá trị khấu hao tài sản D sẽ được Tổng sản phẩm trong nước ròng Net Domestic Product – NDP Net đối lập với Gross trong Gross Domestic Product Nói một cách dễ hiểu hơn thì Gross có nghĩa là “thô” vì chưa loại trừ giá trị khấu hao tài sản NDP ít sử dụng trong thực tế, thường được sử dụng trong phân tích kinh tế
3 Tính GDP từ chi tiêu
Thu nhập của các chủ thể kinh tế nói trên sẽ được sử dụng cho chi tiêu Các hộ gia đình sẽ chi tiêu để mua hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của các hộ gia đình (C), Chính phủ sẽ chi tiêu cho tiêu dùng của Chính phủ (G) Chủ sử hữu tài sản và các chủ doanh nghiệp sẽ chi tiêu để đầu tư cho sản xuất (I) nhằm làm tăng năng lực sản xuất Như trên hình 2.1 GDP tính từ phía chi tiêu sẽ bằng tổng của chi tiêu cho tiêu dùng của các hộ gia đình, của Chính phủ và đầu tư của các chủ sở hữu tài sản và các chủ doanh nghiệp Trước tiên chúng ta xét cho trường hợp nền kinh tế đóng, nghĩa là chưa xét đến xuất nhập hàng hóa và dịch
vụ với ngước ngoài
GDP = C + G + I GDP tính từ phía chi tiêu cũng sẽ bằng GDP tính từ thu nhập và từ sản xuất Chính
vì GDP đóng cả ba vai trò là đo lường kết quả sản xuất, kết quả thu nhập và tổng chi tiêu của nền kinh tế nên tùy trường hợp mà sử dụng cho phù hợp
Đối với nền kinh tế mở nghĩa là có xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch
vụ Tiêu dùng của hộ gia đình C và của Chính phủ G cũng như đầu tư I đều bao gồm
Trang 11cả hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu từ nước ngoài Ngoài ra, hàng hóa và dịch vụ trong nước sản xuất cũng đươc xuất khẩu ra bên ngoài Cân đối GDP từ phía chi tiêu
sẽ như sau
GDP = C+ G+ I + E - M
Hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu M sẽ sử dụng cho tiêu dùng C, G và đầu tư I cùng với hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước Vì vậy GDP cộng thêm giá trị hàng nhập khẩu cho tiêu dùng và cho đầu tư rồi trừ đi tổng giá trị nhập khẩu sẽ trở lại bằng GDP
4 GDP giá hiện hành và GDP giá cố định
Giá cả luôn thay đổi và GDP đo lường giá trị hàng hóa và dịch vụ theo giá hiện hành giá thực tế trên thị trường) cũng chịu ảnh hường và thay đổi theo Nếu ngay ngày mai giá cả tăng gấp đôi thì GDP cũng sẽ tăng gấp đôi mặc dù kết quả sản xuất cũng vẫn như ngày hôm nay Để GDP trở thành một số đo tin cậy phản ảnh được thay đổi trong kết quả sản xuất của nên kinh tế, đòi hỏi phải tìm cách khử ảnh hưởng của thay đổi giá trong tính GDP Tất cả các nước đều chọn một năm nào đó gọi là năm cơ sở và sử dụng giá của năm đó để đo kết quả sản xuất cho tất cả các năm còn lại Nói cách khác là sử dụng cùng một thang giá cố định để đo kết quả sản xuất cho mọi năm Việt Nam hiện nay lấy năm 1994 làm năm cơ sở Một số nước trong khu vực như Thái lan chọn năm 1988 Malaysia chọn năm 1987
GDP đo theo giá hiện hành cho biết tổng giá trị sản phẩm cuối cùng mà nền kinh tế sản xuất được trong một năm cụ thể GDP theo giá hiện hành là số liệu làm căn cứ để tính thuế và thu ngân sách hàng năm của Chính phủ Nó cũng là số liệu tổng hợp phản ảnh kết quả điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ về mặt giá cả chung của nền kinh tế
Trang 12Trên bảng 2.1 là số liệu GDP theo giá cố định 1994 và theo giá hiện hành
và tỷ lệ giữa chúng hay giá GDP (GDP deflator) Để dễ hình dung chúng ta sẽ ký
hiệu GDP giá cố định 1994 bằng Y và GDP giá hiện hành bằng PY Do đó P bằng GDP giá cố định 1994 chia cho GDP giá hiện hành sẽ là giá của GDP Cột cuối là chỉ số giá GDP với mốc thời gian là năm trước Chẳng hạn năm 1996 giá GDP tăng 8.70% so giá GDP năm 1995
Bảng 2.1: Số liệu GDP của Việt Nam từ 1995 đến 2004
GDP đo theo
giá 1994 cho mọi năm (Y)
GDP đo theo giá thực tế trên thị trường (PY)
Do chọn năm gốc là 1994 nên tại năm 1994, GDP Việt Nam đo theo giá hiện hành và giá 1994 là bằng nhau là 178,534 tỷ VND Năm 1995, GDP theo giá hiện hành là 228,036 tỷ VND, nhưng theo giá năm 1994 thì sẽ là 213,833 tỷ VND