Điều này cũng có nghĩa hơn 1/3 những kẻ đi bắt nạt không phải các sếp mà là những người ngang hàng trong cơ quan, thậm chí có cả nhân viên dưới cấp, 19% người trưởng thành được hỏi cho b
Trang 1Chương 1: GIỚI THIỆU
1.1.Lý do chọn đề tài (hoặc tính cấp thiết của đề tài):
Viện nghiên cứu về vấn đề Bắt nạt ở Công sở (Workplace Bullying Institute-WBI) đã khảo sát rằng, đa số (61%) kẻ đi bắt nạt ở nơi làm việc là những người giữ chức vụ điều hành, quản lý Điều này cũng có nghĩa hơn 1/3 những kẻ đi bắt nạt không phải các sếp mà là những người ngang hàng trong cơ quan, thậm chí có cả nhân viên dưới cấp, 19% người trưởng thành được hỏi cho biết họ từng bị bắt nạt ở chỗ làm trong khi 19% người tham gia điều tra khác trả lời họ đã thấy sự việc xảy ra với người khác Nói ngắn gọn, bắt nạt tại nơi làm việc ám chỉ mọi hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần, cố ý nhằm vào một người lao động với mục đích hạ nhục, làm bẽ mặt, xấu hổ, hoặc làm giảm hiệu năng làm việc của người đó Những hành vi bắt nạt có thể đến từ đồng nghiệp, người giám sát, hoặc quản lý, và là một vất đề thực tế cho người lao động ở mọi chức vụ, vị trí Bắt nạt có thể bắt nguồn từ bất kỳ mắt xích nào trong sơ đồ tổ chức và nó tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Vây, bằng cách nào để giảm thiểu vấn nạn bắt nạt tại nơi làm việc? Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, văn hóa doanh nghiệp là một trong những nhân tố quyết định đến sự gắn kết của nhân viên với công ty, doanh nghiệp cần phải biết giữ chân nhân viên của mình, đặc biệt là những nhân viên nòng cốt, giữ vai trò quan trọng trong công ty Nhìn chung, đó cũng chính là những gì
mà một doanh nghiệp muốn đạt được từ nhân viên của mình
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu chứng minh việc nhân viên bị bắt nạt trong môi trường làm việc Từ các nghiên cứu trước đó đưa ra các yếu tố của của việc bị bắt nạt thông qua các nguyên nhân đó là: (1) phong cách lãnh đạo (2) không thích ứng được văn hóa công
ty, (3) khác biệt giữa năng lực làm việc Kế thừa theo nghiên cứu của Einarsen, S., Hoel, H.,
& Notelaers, G (2009) đã khẳng định hậu quả của việc bị bắt nạt tại nơi làm việc thông qua các thang đo từ việc phỏng vấn, trả lời các câu hỏi Một nghiên cứu khác của Grayson, D A., Bridges, K., Duncan-Jones, P., & Goldberg, D P (1987) nghiên cứu mối quan hệ giữa các triệu chứng và chẩn đoán rối loạn tâm thần nhẹ cũng dẫn chứng các hậu quả ngiêm trọng của việc bị bắt nạt tại nơi công sở
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển thì các doanh nghiệp ở Việt Nam cần phải kiểm soát việc nhân viên bị bắt nạt một cách chặt chẽ để kịp thời thích ứng và giúp cho doanh nghiệp phát triển bền vững Với đề tài “The impact of workplace bullying on
employees in Ho Chi Minh city” hy vọng đây sẽ là cơ sở giúp cho các doanh nghiệp chú trọng đến môi trường làm việc của nhân viên, nâng cao chất lượng làm việc, để khuyến khích được sư gắn kết lâu dài của nhân viên, giúp công ty ngày càng phát triển
Đoạn 4 trình bày về các công trình nghiên cứu liên quan, để chỉ ra nghiên cứu của mình còn
khoảng trống -> Huân (sơ lược 1 vài bài và chỉ ra khỏang trống thôi vì chương 2 mình
có làm rõ, tuy nhiên tổng kết chương 2 rồi làm phần này sẽ dễ hơn)
Chính vì thế, việc nghiên cứu ảnh hưởng của bắt nạt trong nơi làm việc là rất quan trọng cho các tổ chức Tuy đã có nhiều nghiên cứu trước đó nhưng đề tài vẫn còn ít được nghiên cứu tại Việt Nam, để có thể đưa ra những thực nghiệm kiểm chứng tại môi trường của các doanh nghiệp tại Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Chúng tôi hy vọng bài nghiên cứu này có thể đem lại nhiều dẫn chứng cụ thể và phân tích sâu để giúp các nhà quản trị lựa chọn phương hướng giải quyết vấn đề này tại doanh nghiệp của mình
Trang 21.2.Mục tiêu nghiên cứu: khoảng 3-5 mục tiêu
- Tìm hiểu, đánh giá hiện trạng về sự bắt nạt nhân viên tại những cơ quan làm việc ở
TP.HCM
- Tìm ra các nhân tố dẫn đến việc bắt nạt và những tác động, phản ứng của người bị bắt nạt
- Thông qua xử lý, phân tích dữ liệu thống kê các dữ
liệu đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đạt được cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp cái nhìn sâu sắc hơn về các nhân tố có thể mang lại giảm thiểu tình trạng bắt nạt tại nơi công sở
- Từ đó giúp cho nhà quản lý có các định hướng, chính sách phù hợp trong việc tạo ra văn hóa doanh nghiệp, giúp giữ chân những nhân viên phù hợp mà nhà quản lý mong muốn họ gắn bó lâu dài với công ty
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dữ liệu khảo sát dựa trên ý kiến của các nhân viên văn phòng đang
làm việc tại TP Hồ Chí Minh
Độ tuổi: 22-30
Giới tính: Nam và nữ
Đặc điểm chung: đã từng trải qua hoặc chứng kiến việc bắt nạt nơi công sở
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Đề tại thực hiện nghiên cứu tại … công ty trên địa bàn
TP Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Đề tại thực hiện nghiên cứu từ ngày … tháng … năm …
đến ngày … tháng … năm …
1.3.Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu chính thức sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Mục đích nhằm đánh giá
độ tin cậy, giá trị hội tụ và phân biệt của các thang đo trong mô hình nghiên cứu và phân tích dữ liệu để kiểm định mục tiêu nghiên cứu đã đề ra Dữ liệu phân tích được thu thập thông qua Bảng câu hỏi khảo sát với các đối tượng là nhân viên văn phòng đang làm việc tại khu vực Tp HCM bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Phương pháp này được sử dụng vì nghiên cứu mang ý nghĩa khám phá và đối tượng nghiên cứu tương đối dễ tiếp cận
Dữ liệu thu thập sẽ được làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS để kiểm tra các tiêu chí sau:
- Kiểm tra, đánh giá độ tin cậy thông quan hệ số Cronbach’s Alpha;
- Kiểm tra giá trị hội tụ, giá trị phân biệt của thang đo và rút gọn biến thông qua phân tích nhân tố khám phá EFA;
- Phân tích hồi qui MMR, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và kiểm tra vi phạm giả định hồi qui
1.4.Ý nghĩa của nghiên cứu
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài có một số đóng góp tri thức mới về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể như sau:
Trang 3Về lý thuyết
- Kiểm định thang đo về sự phẫn nộ, sự ảnh hưởng, sự bất mãn của cá nhân trong môi trường làm việc tại Tp HCM
Về thực tiễn
- Nghiên cứu này nhằm mục đích trở thành căn cứ khoa học để giúp các nhà quản trị đánh
giá được tình hình nhân sự, môi trường làm việc, mức độ áp lực của nhân viên Kết quả nghiên cứu sẽ xác định những yếu tố tác động đến sự phẫn nộ và sự bất mãn trong công việc của nhân viên -Từ đó xây dựng giải pháp giảm thiểu áp lực và tăng cường sự quan tâm, hỗ trợ để giúp nhân
viên thích nghi hơn với áp lực và tạo sự hài lòng cao
nhất trong công việc
1.5.Bố cục của nghiên cứu
Bố cục luận văn được chia thành 5 chương như sau:
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Trình bày tính cấp thiết của đề tài; các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể; đối tượng và phạm
vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; bố cục của nghiên cứu
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.
Trình bày cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa phong cách lãnh đạo chuyển dạng với cam kết cảm xúc, sự vượt qua cái tôi và hành vi công dân tổ chức của giảng viên Đồng thời tiến hành phân tích các giả thiết, các mô hình nghiên cứu trước nhằm xây dựng nền tảng cho việc lập luận và hình thành nên mô hình nghiên cứu
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được sử dụng để phân tích và đo lường các khái niệm nghiên cứu, xây dựng thang đo
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Trình bày kết quả nghiên cứu, thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích đánh giá các kết quả thu được
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu những đóng góp và hạn chế của nghiên cứu trong thực tiễn tại các tổ chức giáo dục, từ đó đề xuất hướng nghên cứu tiếp theo từ nghiên cứu này
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Các khái niệm nghiên cứu chính trong mô hình Phần này trình bày các khái niệm trong
mô hình nghiên cứu của mình
- Key concept: Workplace Bullying -> Huân
- Hậu tố:
Absenteeism, intention to leave and work performance
Theo Einarsen, S., Hoel, H., & Notelaers, G (2009), Absenteeism, intention to leave and work performance là các thang đo sức khỏe, bệnh tật, mặt khác đo sự vắng mặt, hiệu quả công việc và
ý định nghỉ việc Để sửa cho bất kỳ thang đo lệch nào, chúng tôi cũng tính toán các tương quan
Trang 4tham số bằng cách sử dụng các tương quan thứ tự xếp hạng Spearman cho tất cả các tương quan Các mối tương quan giống hệt nhau hoặc mạnh hơn những mối tương quan được báo cáo ngoại trừ bệnh rời đi, nơi kết quả cung cấp tương quan thấp hơn 0,01 đến 0,02 với thang NAQ Mối tương quan giữa tổng NAQ-R và GHQ-12 và các phàn nàn về bệnh tâm thần tương ứng có ý nghĩa thống kê Tương quan giữa việc tiếp xúc với bắt nạt và tự đánh giá hiệu quả công việc, nghỉ ốm và ý định rời đi cũng đáng kể, nhưng ở mức trung bình đến yếu, và theo dự kiến phương hướng Điểm cao trên NAQ-R có liên quan đến nhiều phàn nàn về sức khỏe, giảm hiệu suất, nghỉ
ốm tăng lên và điểm cao hơn khi lớn hơn xu hướng rời bỏ công việc của một người Theo như ba yếu tố của NAQ-R là lo ngại, các mối tương quan mạnh nhất được tìm thấy đối với bắt nạt liên quan đến công việc (NAQR-work), với các mối tương quan yếu nhất được tìm thấy đối với đe dọa thể chất (NAQR-Physical Intimidation)
Mental and psychosomatic health
Theo Grayson, D A., Bridges, K., Duncan-Jones, P., & Goldberg, D P (1987)
Mental and psychosomatic health được xem là lo âu, chúng không trùng với đặc điểm trầm cảm.
Điều này ít đúng hơn đối với các chẩn đoán về Chậm phát triển và Suy nhược thần kinh của hệ thống IDCATEGO, tuy nhiên, có đặc điểm kéo dài phiền muộn Chẩn đoán trầm cảm với cao độ
có các ngưỡng từ 0-65 Về bệnh tật mức độ nghiêm trọng này có nghĩa là các chẩn đoán khác nhau có thể phân tách chính xác dân số thành bệnh với những người bệnh khác nhau, từ 26% chán nản nhất đến 8% chán nản nhất Tính chất này của bệnh trầm cảm chẩn đoán lập luận mạnh
mẽ để có một cái nhìn chiều về trầm cảm
+ 5 biến còn lại
-Bảng thang đo các biến
1 Bắt nạt nơi làm
việc (Workplace
Bullying)
Thang đo khoảng Likert với 5 điểm từ 1 (Không bao giờ) đến 5 (Mỗi ngày)
(Theo Einarsen, S., Hoel, H and Notelaers,
G (2009), “Measuring exposure to bullying
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
Trang 5and harassment at work: validity, factor structure and psychometric properties of the negative acts questionnaire-revised”, Work
& Stress, Vol 23 No 1, pp 24-44.)
2 Hành vi im lặng
(Silence
behavior)
Đo lường qua 3 biến:
- Im lặng phòng thủ (Defensive silence)
- Im lặng trong mối quan hệ (Relational silence)
- Im lặng bất lực (Ineffectual silence) Thang đo khoảng Likert với 5 điểm từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý)
(Theo Rai, A., & Agarwal, U A (2018)
Workplace bullying and employee silence
Personnel Review, 47(1), 226–256)
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
3 Kiệt quệ về mặt
cảm xúc
(Emotional
exhaustion –
EE)
Đo lường với 2 loại thang đo:
1 Thang đo về tần suất (The frequency scale ) với 6 điểm: từ 1 (Vài lần trong năm hoặc ít hơn), 2 (hang tháng), 3 (Vài lần trong tháng), 4 (Mỗi tuần), 5 (Vài lần trong một tuần), 6 (Mỗi ngày)
2 Thang đo về cường độ (The intensity scale) với 7 điểm: từ 1 (rất nhẹ, hầu như không đáng chú ý), 4 (vừa phải), đến 7 (chủ yếu, rất mạnh)
(Theo Zhu Yao, Xianchun Zhang, Jinlian Luo and Hui Huang, 2020, Offense is the best defense: the impact of workplace bullying on knowledge hiding)
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
4 Nhận diện tổ
chức
(Organizational
identification)
Thang đo khoảng Likert với 5 điểm từ 1 (Hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (Hoàn toàn đồng ý)
(Theo Zhu Yao, Xianchun Zhang, Jinlian Luo and Hui Huang, 2020, Offense is the best defense: the impact of workplace bullying on knowledge hiding)
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
5 Che giấu kiến
thức
(Knowledge
hiding)
Thang đo Likert 7 điểm từ 1 (hoàn toàn không phải), 4 (một phần nào đó đúng), đến
7 (Hoàn toàn đúng)
(Theo Zhu Yao, Xianchun Zhang, Jinlian Luo and Hui Huang, 2020, Offense is the best defense: the impact of workplace
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
Trang 6bullying on knowledge hiding)
6 Sự hạnh phúc
của nhân viên
(Employees’
well-being)
Đo lường qua 2 biến 1.Sự hài lòng trong công việc (Job satisfaction):
Thang đo Likert 5 điểm từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý)
2 Sức khỏe tâm lý (Psychological well-being):
Thang đo Likert 5 điểm từ 1 (không bao giờ) đến 5 (Luôn luôn)
(Theo Hsu, F.-S., Liu, Y., & Tsaur, S.-H
(2019) The impact of workplace bullying on hotel employees’ well-being International Journal of Contemporary Hospitality Management)
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
7 Vắng mặt, ý
định nghỉ việc
và hiệu quả
công việc
(Absenteeism,
intention to
leave and work
performance)
Thang đo Likert 5 điểm cho từng biến quan sát (xem chi tiết trong phần câu hỏi khảo sát)
(Theo Einarsen, S., Hoel, H., & Notelaers,
G (2009) Measuring exposure to bullying and harassment at work: Validity, factor structure and psychometric properties of the Negative Acts Questionnaire-Revised Work
& Stress, 23(1), 24–44.)
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
8 Rối loạn tinh
thần và tâm thần
(Mental and
psychosomatic
health)
Thang đo Likert 5 điểm từ 1 (không bao giờ) đến 5 (Rất thường xuyên)
(Theo Grayson, D A., Bridges, K., Duncan-Jones, P., & Goldberg, D P (1987) The relationship between symptoms and diagnoses of minor psychiatric disorder in general practice Psychological Medicine, 17(04), 933)
Thang đo phù hợp với nội dung bài nghiên cứu -> áp dụng thang
đo này
2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
2.2.1 Nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper (2003)
Nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper đã thực hiện nghiên cứu về tình trạng bắt nạt công
sở xảy ra thường xuyên với tỷ lệ trung bình nạn nhân trên tổng số nhân viên mà phần nhiều nạn nhân sẽ là lao động trí thức Elge Hoel và Cary L Cooper đã đề xuất các yếu tố bằng những hành
vi được bắt nạt dưới nhiều hình thức (Zapf, 1999b): Bắt nạt bằng công việc, tẩy chay, tấn công
cá nhân hoặc cuộc sống cá nhân của họ, lan truyền tin đồn
Trang 7Ngoài ra, bạo lực thể chất và de dọa bạo lực thể chất cũng như tấn công niềm tin tôn giáo, chính trị của nạn nhân cũng có thể được xem là một hình thức bắt nạt Dù vậy, trên thực tế, rất ít trường hợp bắt nạt xảy ra dưới hình thức này, thay vào đó, sự tấn công trên phương diện tâm lý thường được sử dụng bởi những kẻ bắt nạt nhiều hơn
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, Bắt nạt công sở thường không phải là một hành động đơn lẻ mà thường được thực hiện như một quá trình thường kéo dài trung bình từ 15-18 tháng nạn nhân bị
cô lập và né tránh một cách rõ ràng, bị sỉ nhục bởi sự chỉ trích quá mức nơi công cộng hoặc bị biến thành trò cười Ở giai đoạn cuối, bạo lực thể chất và tinh thần có thể được những kẻ bắt nạt
sử dụng
Trong số các nạn nhân của nạn bắt nạt công sở, có đến 2/3 là nữ, trong khi chỉ có 1/3 là nam giới,
nữ giới có nhiều khả năng bị nam giới bắt nạt, rất hiếm trường hợp ngược lại xảy ra Trong đa số các trường hợp, kẻ bắt nạt là một nhóm từ 2-4 người, bao gồm cả nam và nữ, chiếm khoảng 50% các trường hợp Số lượng kẻ bắt nạt càng nhiều, thời gian bắt nạt càng kéo dài
2.2.2 Nghiên cứu của Azizi Yahaya và cộng sự (2012)
Azizi Yahaya và cộng sự nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa bắt nạt nơi công sở và hiệu quả công việc của nhân viên Kết quả nghiên cứu cho thấy bắt nạt nơi làm việc là một vấn đề nghiêm trọng dẫn đến những thiệt hại cả về thể chất lẫn tinh thần của người lao động, ngoài ra, công ty cũng sẽ chịu những thiệt hại do nó gây ra như hiệu quả công việc giảm sút, nhân viên thiếu đi sự nhiệt huyết và thiệt hại tài chính liên quan Biến nhân tố về bắt nạt nơi công sở được xác định dựa trên nghiên cứu của Guy Notelaers và Helge Hoel khẳng định hậu quả của việc bị bắt nạt tại nơi làm việc thông qua các thang đo từ việc phỏng vấn, trả lời các câu hỏi Định nghĩa các yếu tố này dựa trên nghiên cứu của Elge Hoel và Cary L Cooper (2003)
Các biến trong mô hình nghiên cứu được dựa trên những nghiên cứu có liên quan như:
Trang 8- Work Related Bullying: là tất cả các hành động và thực hành lặp đi lặp lại hướng đến một hoặc nhiều người lao động mà nạn nhân không mong muốn, có thể được thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý thức, nhưng rõ rang gây những hậu quả đến tinh thần như bẽ mặt, xúc phạm và đau khổ, và điều đó có thể cản trở hiệu quả công việc và gây ra môi trường làm việc khó chịu (Einarsen và Raknes, 1997)
- Person Related Bullying: là một dạng căng thẳng có khả năng gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của người lao động, có khả năng dẫn đến các triệu chứng tâm lý-thể chất, thay đổi tâm trạng và tính cách, rối loạn tâm thần chẳng hạn như rối loạn lo âu-trầm cảm, rối loạn điều chỉnh mãn tính và rối loạn căng thẳng sau chấn thương Người
- các hành vi bắt nạt có liên quan là sỉ nhục công khai, phớt lờ, lăng mạ, lan truyền tin đồn hoặc những lời dị nghị, xâm phạm quyền riêng tư, la hét, v.v (Beswick, Gore, Palferman, 2006)
- Workplace Bullying: là về một cuộc tấn công thường xuyên được cá nhân hóa nhằm vào một đồng nghiệp của một đồng nghiệp khác bằng việc sử dụng các hành vi trừng phạt về tình cảm và tâm lý (Arynne, 2009)
2.2.3 Nghiên cứu của Namra Jamshaid và Sadia Arshad (2020)
Nghiên cứu của Namra Jamshaid và Sadia Arshad nghiên cứu về sự chịu đựng trong im lặng khi
bị bắt nạt tại nơi làm việc cũng như những vai trò trong vi phạm hợp đồng tâm lý, những hành vi nhân từ và tâm lý tích cực Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tâm lý tác động đến sự hòa giải giữa mối quan hệ của bắt nạt và sự im lặng Hợp đồng tâm lý, trong đó, các nghĩa vụ được nhận thức trong mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động dựa trên cách giải thích mang tính chủ quan cao và cảm giác vi phạm tác động mạnh mẽ đến hành vi của nhân viên và giải thích một phần nào đó một số tác động có hại liên quan đến bắt nạt trong nghiên cứu này Sự tương tác có hại ngày càng gia tăng với những hành vi sai trái dẫn đến suy giảm năng lực của nhân viên
Biến nhân tố tác động đến bắt nạt nơi công sở được xác định dựa trên nghiên cứu của Elge Hoel
và Cary L Cooper (2003) Những nhân tố của mô hình nghiên cứu được lấy từ những nghiên cứu có liên quan như:
- Workplace Bullying được đo lường bằng 22 yếu tố bằng bảng câu hỏi Negative Act Questionnaire (NAQ-R) từ nghiên cứu của Einarsen và cộng sự (2009) bao gồm
Consisting of three subscalesas work-related, person-related and physically intimidating bullying
- PCV được lấy từ 4 yếu tố dựa trên nghiên cứu của Robinson and Morrison (2000)
Trang 9- Benevolent behavior dựa trên 4 yếu tố được lấy từ nghiên cứu của Van der Vegt và cộng
sự (2003)
- PsyCapis được đo lường bằng 24 yếu tố được áp dụng từ Luthans và cộng sự (2007)
- Silence(defensive, relational, ineffectual) behaviors được đo lường bằng 15 yếu tố được dựa trên nghiên cứu từ Brinsfield (2013)
2.3 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu đề xuất (phần này viết về các mối quan hệ trong nghiên cứu, từ đó đưa ra giả thuyết nghiên cứu ) -> Hằng
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu bài này được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, được thực hiện thông qua các bảng câu hỏi khảo sát Dữ liệu được thu thập đem phân tích qua phần mềm SPSS
để đánh giá độ tin cậy, giá trị phân biệt, giá trị hội tụ của thang đo, đánh giá mô hình nghiên cứu thông qua phương pháp hồi quy MMR và chứng minh các giả thuyết nghiên cứu
3.1 Mẫu nghiên cứu:
Để mẫu đạt kết quả tốt nhất mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện thông qua
Bảng câu hỏi khảo sát với 300 mẫu ở các công ty trong TPHCM tương ứng với 21 quận, huyện Đối tượng khảo sát là nhân viên văn phòng độ tuổi từ 22-35 tuổi
3.2 Bảng khảo sát: Sơ lược nội dung bảng khảo sát như sau
I Câu hỏi thông tin và gạn lọc:
Trang 10- Giới tính : Nam, Nữ
- Độ tuổi: 22-25; 26-30; 31-35
- Chức vụ hiện tại: Nhân viên, Trưởng/phó phòng, khác
- Nơi làm việc: (ứng viên trả lời theo quận)
- Bạn đã từng gặp trường hợp bắt nạt nơi công sở chưa?
+ Là nạn nhân
+ Đã từng bắt nạt người khác
+ Là người chứng kiến
+ Chưa
II Câu hỏi:
1 Bắt nạt nơi làm việc (Workplace bullying)
Ứng viên vui lòng cho biết tần suất của mình đối với những phát biểu dưới đây Mức độ đồng ý được tính theo thang điểm từ 1 đến 5 như sau:
Không bao giờ Đang xảy ra Hàng tháng Hàng tuần Mỗi ngày
WB Bắt nạt nơi làm việc (Workplace bullying)
WB 1 Ai đó giữ lại những thông tin làm ảnh hưởng đến hiệu suất công việc
của tôi
WB 2 Được giao những công việc nằm dưới năng lực của tôi
WB 3 Những ý kiến của tôi bị phớt lờ
WB 4 Bị giao công việc với hạn nộp vô lý
WB 5 Công việc của tôi bị giám sát quá mức
WB 6 Bị gây áp lực khi không được hưởng những quyền lợi mà mình phải
có (nghỉ ốm, nghỉ lễ, chi phí đi lại,….)
WB 7 Bị quá tải trong công việc
WB 8 Bị sỉ nhục hoặc chế nhạo liên quan đến công việc
WB 9 Không được đảm nhận các công việc chính và bị thay bằng những
công việc nhỏ nhặt hoặc những công việc không có niềm vui
WB 10 Bị bàn tán và đồn thổi
WB 11 Bị phớt lờ hoặc tẩy chay
WB 12 Bị nhận xét hoặc xúc phạm về cá tính, thái độ và cuộc sống riêng tư
WB 13 Nhận được gợi ý hoặc tín hiệu từ người khác là tôi nên bỏ việc
WB 14 Bị nhắc nhỏ nhiều lần về lỗi sai của mình
WB 15 Bị phớt lờ hoặc phản ứng tiêu cực khi có mặt mình
WB 16 Bị phê bình liên tục về lỗi hoặc sai lầm của mình
WB 17 Bị đùa cợt bởi những người không than thiết
WB 18 Tôi bị chống lại bởi những cáo buộc
WB 19 Là chủ đề của sự trêu chọc và mỉa mai quá mức
WB 20 Bị la hét hoặc trở thành mục tiêu của sự tức giận tự phát
WB 21 Các hành vi đe dọa như chỉ tay, xâm phạm không gian cá nhân, xô
đẩy,