BỘ NỘI VỤTRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI TÊN ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI... Vì thế Việt Nam là một quốc gia có nhiều h
Trang 1BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
TÊN ĐỀ TÀI:
QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH MỚI VỀ TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG
VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI
Trang 2MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp đề tài 3
7 Kết cấu bài luận 4
CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 5
I Bản chất, nguồn gốc tôn giáo 5
1 Bản chất 5
2 Nguồn gốc của tôn giáo 5
3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo 6
3.1 Tư tưởng đoàn kết lương giáo 7
CHƯƠNG II : CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY 8
I Chủ trương của Đảng về công tác tôn giáo từ năm 1991 đến nay 8
1 Yêu cầu mới đặt ra đối với công tác tôn giáo 8
2 Tình hình, đặc điểm tôn giáo Việt Nam 10
2.1 Đặc điểm tôn giáo Việt Nam 11
2.2 Đặc điểm đan xen, hòa đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 12
3 Các chính sách tôn giáo của Đảng và nhà nước Việt Nam trong thời kì đổi mới 13
II Các thành tựu từ những chủ trương, đường lối 14
1 Thành tựu 14
2 Một số điểm hạn chế 15
3 Một số giải pháp về công tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam 16
KẾT LUẬN 17
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một thực thể xã hộiluôn biến động cùng với sự biến thiên của lịch sử nhân loại Tôn giáo khôngchỉ là vấn đề tinh thần, tâm linh mà còn có quan hệ đến các lĩnh vực khác củađời sống xã hội như: chính trị, đạo đức, văn hóa của nhiều dân tộc, quốc gia
Việt Nam nằm ở giữa ba đường của Đông Nam Á, trông ra biển Đông,
là cầu nối từ Ấn Độ Dương qua Thái Bình Dương, vị trí đặc biệt này tạo điềukiện thuận lợi cho việc giao lưu của nhiều luồng tư tưởng, văn hóa khu vực vàthế giới Vì thế Việt Nam là một quốc gia có nhiều hình thức tín ngưỡng, tôngiáo khác nhau và đang có xu hướng phát triển, Để thực hiện “ đại đoàn kếtdân tộc”, củng cố hơn nữa mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Đảng và Nhànước cần phải xây dựng, hoàn thiện chính sách tôn giáo Pháp luật hoạt độngtôn giáo là công cụ quan trọng bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự
do không tín ngưỡng,tôn giáo của nhân dân; đồng thời là cơ sở pháp lý để đấutranh chống lại mọi âm mưu, hoạt động của thể lực thù địch lợi dụng tôn giáoxâm phạm đến độc lập chủ quyền của đất nước
Sau gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, quan điểm đổimới của Đảng ra về vấn đề tin ngưỡng, tôn giáo ngày càng phát triển hoànthiện và đi vào cuộc sống Bước ngoặt trong sự đổi mới tư duy lý luận củaĐảng ta về vấn đề tôn giáo được đánh dấu bằng sự ra đời Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị “ Về tăng cường công tác tôn giáotrong tình hình mới”, Nghị quyết xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâudài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôngiáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” Sự đổi mớiđúng đắn và khoa học phải dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn, một mặt, dựatrên quan điểm cơ bản của học thuyết Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Trang 4về vấn đề tôn giáo; mặt khác, dựa vào đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam cũngnhư kinh nghiệm của quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo của Đảng và Nhànước ta
Quá trình đổi mới tư duy, nhận thức về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng làmột quá trình lâu dài, quá trình đó đòi hỏi phải từng bước được hoàn thiện.Tình hình tôn giáo hiện nay đang có nhiều xu hướng phát triển và có nhiềudiễn biến phức tạp mới đòi hỏi Đảng cần tiếp tục nghiên cứu để có những chủtrương, chính sách phù hợp với thực tiễn và tăng cường sự lãnh đạo của Đảngtrong lĩnh vực tôn giáo Nhìn lại 85 năm qua, nhận thức của Đảng trên lĩnhvực tôn giáo đã được thực tế kiểm nghiệm và được nâng dần qua từng thời kỳcách mạng Đổi mới nhận thức về tôn giáo trong Đảng vẫn cần tiếp tục đặt ra,Đảng luôn coi công tác tôn giáo là công tác quần chúng quan trọng và xuyênsuốt trong mọi giai đoạn cách mạng
Với mong muốn hệ thống lại một cách đầy đủ, toàn diện, sâu sắc đườnglối, chính sách tôn giáo của Đảng trong một giai đoạn tương đối quan trọng
trong thời kỳ đổi mới, em xin chọn đề tài “ Quan điểm, chính sách mới về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong thời kì đổi mới từ năm
1991 đến nay” để làm đề tài thi kết thục học phần Quản lý Nhà nước về dân
Trang 5vụ chính sau : Phân tích, lâp luận, làm rõ nhưng chủ trương, chính sách và sựlãnh đạo của Đảng về công tác tôn giáo từ năm 1991 đến nay
- Làm rõ nhưng ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và rút ra nhưng kinhnghiệm trong cong tác tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu những chủ trương, chính sách và sự lãnh đạo, chỉ đọc củaĐảng về vấn đề tôn giáo từ năm 1991 đến năm nay
4 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Bài luận tập trung nghiên cứu các quan điểm, chủtrương của Đảng về lãnh đạo, chỉ đạo công tác tôn giáo trong các Văn kiệnĐảng, Nghị quyết Hội nghị ban chấp hành Trung ương, Nghị quyết, chỉ thịcủa bộ Chính trị trong các nghiệm kỳ khóa IX,X,XI,XII nghiên cứu quá trìnhthể chế hóa tổ chức thực hiện của Đảng về công tác tôn giáo
- Về thời gian : Từ năm 1991 đến nay
- Về không gian : Phạm vi cả nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng HồChí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng về tôn giáo để trình bày, phântích, đánh giá các sự kiện lịch sử
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả vận dụng chủ yếu phương phápluận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đặc biệt phương pháp lịch sử,phương pháp logic và sự kết hợp hai phương pháp đó Các phương pháp khácnhư: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh cũng được chú ý sử dụng ở mức
độ cần thiết
Trang 66 Đóng góp đề tài
Tôn giáo là một vấn đề phức tạp và nhạy cảm, Với bài luận của em,
em mong muốn sẽ đưa tới cái nhìn toàn diện hơn và đường lối và chinh sáchcủa Đảng và Nhà nước Việt Nam về tôn giáo
Qua bài làm em muốn cho mọi người các nhìn khái quát về quá trìnhđổi mới tư duy của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo trong suốt quá trình cáchmạng Việt Nam, những đổi mới trong chính sách của Đảng về tín ngưỡng, tôngiáo giai đoạn từ năm 1991 đến nay
Đánh giá những thành tựu, hạn chế trong công tác tôn giáo của ĐảngCộng sản Việt Nam thông qua việc thực hiện chính sách tôn giáo
7 Kết cấu bài luận
Ngoài phần mở bài, kết luận thì bài còn chia làm 2 phần
- Chương I: Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam
- Chương II: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về công tác tôn giáo
từ năm 1991 đến nay
Trang 7CHƯƠNG I ĐẶC ĐIỂM TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM
I Bản chất, nguồn gốc tôn giáo
1 Bản chất
Tín ngưỡng, tôn giáo là một hiện tượng đa chiều, vì vậy các khái niệm
về tôn giáo, tín ngưỡng và mê tin dị đoan là những vấn đề có nhiều ý kiếnkhác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, tiếp cận tínngưỡng, tôn giáo, mê tin dị đoan mang tính tương đối về ranh giới và thuộctính
Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào những điều thiêng liêng,huyền bí vượt khỏi giới tự nhiên Còn tôn giáo là tín ngưỡng của những ngườicùng chung một tổ chức có hệ thống giáo lý, giáo luật về lễ nghi
Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu vàvẫn tồn tại cho đến nay Trên thực tế, mê tín dị đoan thường xen vào nhữngđiều nhảm nhí có thể làm cho con người bị hủy hoại cả tinh thần, sức khỏe, tàisản, tính mạng của cá nhân, gia đình và xã hội
Do vậy cùng với việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng củanhân dân thì nhà nước và xã hội cần phải quan tâm giáo dục, vận động từngbước loại bỏ dần mê tín dị đoan, làm lành mạnh các quan hệ xã hội
2 Nguồn gốc của tôn giáo
Khi nghiên cứu nguồn gốc của tôn giáo dưới những gốc độ khác nhau.Các Mác cho rằng: Con người sáng tạo ra tôn giáo, chứ không phải tôn giáosáng tạo ra con người Nhưng theo Mác, đó không phải là con người trừutượng, mà chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội Nhà nước, xãhội trong một trình độ phát triển nhất định của nó đẻ ra tôn giáo Vì vậy tìmhiểu nguồn gốc ra đời và điều kiện tồn tại của tôn giáo cũng cần phải nghiêncứu từ hiện thực hiện đời sống của con người trong các mối quan hệ xã hội
Trang 8nhất định
- Tôn giáo được hình thành từ các nguồn gốc chủ yều sau:
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội: đó chính là trình độ phát triển kinh tế - xãhội, trình độ chinh phục tự nhiên của con người Mỗi khi con người cảm thâynhỏ bé, yều đuối, bất lực trước tự nhiên thì con người giải thích tự nhiên bằngtôn giáo
Trong xã hội có giai cấp, khi lực lượng sản xuất phát triên, của cải xãhội làm ra nhiều, đi cùng với nó là sự xuất hiện của giai cấp và đầu tranh giaicấp dẫn đển cảnh "người ăn không hềt kẻ lân không ra", xã hội bất công triênmiên con người cũng roi vào tình trạng bât lực đôi với xã hội hiện thực, thì đó
là điêu kiện cho sự ra đời của tôn giáo
- Nguổn gốc nhận thức của tôn giáo: Chủ nghĩa Mác - Lênin kế thừa vàphát triến nguốn gốc nhận thức của tôn giáo và nhẩn mạnh rằng: ở một giaiđoạn lịch sử nhât định thì sự nhận thức của con người vê tự nhiên, xã hội vàchính bản thân con người là có giới hạn Khoa học luốn tìm cách để nâng caonhận thức, hiêu biết của con người, song ở trong một thời kỳ lịch sử nhất địnhthì những điều mà con người "chưa biết" thường găn với quan niệm "khôngthể biết được" đó là mảnh đất cho sự ra đời của tôn giáo
Nguôn gốc nhận thức còn găn liên với đặc điêm của quá trình nhậnthức của con người về thê giới khách quan, đó là một quá trình phức tạp vàđây mâu thuân, là một quá trình thống nhất giữa nội dung khách quan và hìnhthức chủ quan của nhận thức Sự phản ánh đa dạng phong phú của hinh thứcquy định khả năng nhận thức đy đủ, sâu sắc thể giới khách quan Nhận thứcphải theo một quá trình từ cảm giác, tri thức, biêu tượng, khái niệm, phánđoán đển suy lý không chi tạo ra khả năng nhận thức đầy đủ về thể giới màcòn có khả năng phản ánh sai lâm và xa rời hiện thực
Trang 93 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự kế thừa, phát triển chủ nghĩaMác – Lê nin về tôn giáo, biểu hiện ở một số nội dung sau:
3.1 Tư tưởng đoàn kết lương giáo
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo, đoàn kết các tôn giáovới nhau nằm trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người Đoàn kết theo
tư tưởng Hồ Chí Minh là đoàn kết rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân không phânbiệt dân tộc, tôn giáo, giai cấp Đoàn kết là một chiếc lược lâu dài của cácmạng chứ không phải là khẩu hiệu nhất thời
Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Hồ Chí Minh được hình thành trên cơ:
- Kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết dân tộc Đây là truyềnthống quý báu, là cơ sở động lực cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, chiếnthắng kẻ thù xâm lược, chế ngự thiên nhiên để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Đề cao vai trò của quần chúng nhân dân với tư cách là người sáng tạo
ra lịch sử “Lực lượng nhân dân là lực lượng vĩ đại hơn hết, không ai có thểđánh bại được lực lượng đó”, hay “Trong bầu trời không có gì quý hơn bằngnhân dân”
Tư tưởng Hồ Chí Minh chống chia rẽ tôn giáo, chia rẽ dân tộc là tưtưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh về cách mạng nước ta, Hồ Chí Minh luônđặt lợi ích các tôn giáo thống nhất với lợi ích của dân tộc “Dân tộc giải phóngthì tôn giáo mới được giải phóng” Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Công giáo haykhông Công giáo, Phật giáo hay không Phật giáo đều nên phải nỗ lực đâutranh cho nền độc lập của nước nhà
Trang 10CHƯƠNG II : CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
CÔNG TÁC TÔN GIÁO TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY
I Chủ trương của Đảng về công tác tôn giáo từ năm 1991 đến nay
1 Yêu cầu mới đặt ra đối với công tác tôn giáo
- Trong suốt quá trình lãnh đạo dân tộc tiến hành cách mạng giảiphóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước luôn xácđịnh công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng
Đầu năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lẫnh đạo nhân dân đầutranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đảng lấychủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, song không đối lập với tưtưởng của các tôn giáo ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêubiểu, sáng ngời không chỉ am tường tư tưởng của các tôn giáo mà còn biết kếthừa những tư tưởng tiến bộ của các tôn giáo
- Một ngày sau khi tuyên bỗ độc lập, ngày 3-9-1945, trong phiên họpChính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra Những nhiệm vụ cấp bách củaNhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với các vẫn đề: “Tất cả công dân traigái mười tám tuối đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu,nghèo, tôn giáo, dòng giống"; "Thực dân phong kiến thi hành chính sách chia
rề đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ thống trị Tôi đề nghị Chính phủ tatuyên bố: Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết" Nhờ có quan điễm,đường lối đúng đần của Đảng, chính sách phù hợp của Nhà nướC mà Đảng ta,dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã phát huy được "nguồn lực tôngiáo đánh duối thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc, tiển hành cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đấtnước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 16-
Trang 11mới", đường lối, chính sách tôn giáo nước ta có sự đối mới mang tính bướcngoặt, mở ra một thời kỳ mới trong việc thực hiện đường lỗi, chính sách tôngiáo Nghị quyết thể hiện quan điếm mới của Đảng về tôn giáo và công táctôn giáo Nghị quyết xác định: "Tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu dài Tínngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôngiáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới"
- Nghị định 69-HÐBT, ngày 21-3-1991 của Hội đồng Bộ trường quyđịnh về các hoạt động tôn giáo nhăm cụ thể hóa những nội dung chính sáchtrong Nghị quyết 24-NQ/TW Của Bộ Chính trị Sự đỗi mới thể hiện trongNghị quyết 24-NQ/TW và Nghị định 69-HDBT đă tác động tích cực tới tìnhhình tôn giáo nước ta Sau gần thập niên thực hiện Nghị quyết 24-NQTW,Đang ta đã tiến hành tổng kết để đánh giá việc thực hiện Nghị quyết từ cơ sởtrong phạm vi toàn quốc Qua tống kết đã khảng định tính đúng đản của cácquan điếm trong Nghị quyết 24-NQTW, đồng thời yêu cầu về mở rộng đoànkết, tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo và ban hành Chi thị số 37-CT/TW ngày 2-7-1998 của Bộ Chính trị "Về tăng cường công tác tôn giáotrong tình hình mới" Chỉ thị 37-CT/TW đã chỉ ra những nguyên tãc chi đạochính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, yêu cầu các cấp ủy Đảng và chínhquyền động viên đồng bào các tôn giáo phát huy truyền thống yêu nước, hănghái tham gia công cuộc đối mới, làm tròn nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo
vệ Tỗ quốc
- Từ Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộnghoà đến Hiến pháp năm 1992 đều khâng định quyền tự do tín ngường, tôngiáo là một trong những quyền cơ bản của công dân Những quy định này thểhiện chính sách đúng đản của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo,coi tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền của mỗi cá nhân Nhà nước khôngnhững tôn trọng quyền tự do đó mà còn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc
Trang 12thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo một cách dúng đẫn, phù hợp vớilợi ích của nhân dân, đồng thời cũng nghiêm trị cá nhân, tổ chức nào xâmphạm quyền tự do tín ngường, tôn giáo hoặc lợi dụng quyền tự do tín ngường,tôn giáo để làm hại đến lợi ích chung, trái với pháp luật của Nhà nước
Có thế thấy rằng Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã thể hiện đượcđây đủ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đượC nêu trong Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền năm 1948 và Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chínhtrị năm 1966 Điều này chứng tỏ những tiến bộ vượt bậc và những cố gầng rấtlớn của Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng và bảo đảm quyền con ngườitrong bõi cảnh Việt Nam còn đang trong quá trình xây dựng một Nhà nướcpháp quyền và trong khi tình hình kinh tế, xã hội của đất nước còn nhiều khókhăn
- Nhìn lại sự phát triễn của Pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam trong thờigian qua cho thấy, hệ thống pháp luật Việt Nam về tôn giáo đã có những bướcphát triến đáng kế Đặc biệt là sự ra đời của Pháp lệnh tín ngường, tôn giá.Tuy nhiên, trong xu thể hội nhập kinh tể quốc tế hiện nay, việc hoàn thiện hệthống pháp luật liên quan đến tôn giáo là rất cần thiết, cần được ưu tiên Việchoàn thiện pháp luật liên quan đến tôn giáo khảng định vai trò của Nhà nước
là luôn tạo điều kiện tối ưu cho các tôn giáo thực hành đức tin của mìnhkhông bị hạn chế, tuy nhiên phải nằm trong khuôn khố pháp luật Hệ thốngpháp luật về tín ngường, tôn giáo ngày càng hoàn chinh, đồng bộ, phù hợp vớitrình độ phát triến của kinh tế, xã hội chính là bảo đảm cao nhất về pháp lýmọi người dân có cơ hội và điều kiện ngày càng bình đẳng trong việc thựchiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình
2 Tình hình, đặc điểm tôn giáo Việt Nam
- Tình hình hoạt động các tôn giáo đang có những diền biểến phức tạp