1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) GIẢI QUYẾT vấn đề dân sự TRONG vụ án HÌNH sự từ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI

64 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ khái niệm người tham gia tố tụng được qui định trong BLTTHS 2015 có thể xác định rằng những vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bị giới hạn bởi các thiệt hại vật chất, tinh thần do hành

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ NGUYÊN THANH

Hà Nội, năm 2021

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 7

1.1 Khái niệm vấn đề dân sự và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 7

1.2 Đặc điểm của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 13

1.3 Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 32

2.1 Pháp luật về quyền yêu cầu và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ dân sự của vụ án hình sự 32

2.2 Pháp luật về thẩm quyền của chủ thể giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 37

2.3 Pháp luật về nội dung giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 39

2.4 Pháp luật về thủ tục giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 48

KÊT LUẬN CHƯƠNG 2 53

Chương 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 54

3.1 Thực tiễn giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 54

3.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 64

KẾT LUẬN 65

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67

Trang 3

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1 Khái niệm vấn đề dân sự và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Để có cái nhìn đúng và chính xác về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trước tiên cần tìm hiểu một số khái niệm có liên quan đến vấn đề này như: xét xử sơ thẩm, vấn đề dân sự trong vụ án dân sự, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án dân sự Cụ thể như sau:

Theo Từ điển Tiếng việt, xét xử sơ thẩm được hiểu là xét xử một vụ án với

tư cách là Tòa án ở cấp xét xử thấp nhất

Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự trường Đại học Luật Hà Nội năm 2006, xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo qui định của pháp luật

Theo giáo trình Luật tố tụng hình sự, xét xử sở thẩm vụ án hình sự là xét xử

ở cấp thứ nhất do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự Như vậy:

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động Nhà nước do Tòa án thực hiện ở cấp xét xử thứ nhất nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, tài liệu của vụ

án hình sự, trên cơ sở đó ra bản án, quyết định để xác định có hành vi phạm tội hay không Người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong vụ án hình sự

Trong việc ra một bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật thì Tòa án còn phải giải quyết các vấn đề khác phát sinh trong vụ án như giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do tội phạm gây ra cho cá nhân, cơ quan, tổ chức hay còn gọi là giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Nhằm tạo cơ sở pháp lí cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình

Trang 4

sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án hình sự được nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm quyền lợi của những người tham gia tố tụng, BLTTHS 2015 đã qui định về chế định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự và coi đây là một nguyên tắc cơ bản

trong quá trình giải quyết vụ án Cụ thể, Điều 30 BLTTHS 2015 qui định: “Việc giải

quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”

Muốn xác định vấn đề nào là vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trước hết cần tìm hiểu vấn đề dân sự trong vụ án dân sự là gì?

Vấn đề dân sự trong vụ án dân sự bao gồm những tranh chấp, những yêu cầu trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động

Và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án dân sự là giải quyết những tranh chấp, những yêu cầu trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự

Như vậy, BLTTDS 2015 đã qui định cụ thể những vấn đề nào là vấn đề cần xem xét giải quyết trong vụ án dân sự nhưng Điều 30 BLTTHS 2015 lại không giới hạn phạm vi cụ thể những vấn đề dân sự nào cần kết hợp giải quyết trong vụ án hình

sự Trong vụ án hình sự có phát sinh vấn đề dân sự cần giải quyết nếu vấn đề dân sự được xác định ở phạm vi rộng có thể bao gồm cả những vấn đề thuộc về hôn nhân, thừa kế, tranh chấp hợp đồng liên quan đến việc mua bán tài sản phạm pháp (vật chứng) Những vấn đề này đều liên quan đến vụ án hình sự Ví dụ: kết hợp ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên khi cha, mẹ đã bị kết

án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con chưa thành niên…Trước đây, có một số nhà khoa học ở Liên Xô (cũ) đã từng ủng hộ việc

mở rộng phạm vi những vấn đề dân sự cần được giải quyết trong vụ án hình sự, bao gồm: các quan hệ dân sự, quan hệ lao động, quan hệ hôn nhân và gia đình (ví dụ như tiền đưa hối lộ ) nhiều khi không có bên nào bị thiệt hại Nếu không mở rộng phạm vi vấn đề dân sự cần giải quyết trong vụ án hình sự sẽ gây cản trở cho việc xử

lí triệt để những hậu quả dân sự trong tố tụng hình sự Ngược lại, nếu vấn đề dân sự

Trang 5

được xác định ở phạm vi hẹp thì nó chỉ liên quan đến vấn đề bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hoặc ngăn chặn những thiệt hại do tội phạm gây ra Đây là quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết phần dân sự trong vụ án hình

sự trước khi vấn đề này được qui định thành nguyên tắc trong BLTTHS Việt Nam Trong đó, phần dân sự cần giải quyết được xác định bao gồm: đòi trả tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt nhưng đã bị mất hoặc bị hủy hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Do chưa xác định được phạm vi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nên hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng vấn đề bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự không phải là vấn đề dân sự thuần túy mà vấn đề này có ảnh hưởng tới mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thủ tục tố tụng về bồi thường trong trường hợp này cũng có những đặc điểm riêng Do vậy, vấn đề bồi thường này phải được qui định trong BLHS làm căn cứ cho việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Theo ý kiến cá nhân, tác giả không đồng ý với quan điểm này vì đây là vấn đề dân sự chứ không phải là vấn

đề hình sự, nó cần được qui định trong BLDS cho đúng và phù hợp với bản chất quan

hệ cần điều chỉnh theo pháp luật dân sự chứ không thể qui định trong BLHS

Quan điểm thứ hai cho rằng vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là tất cả những

gì không phải là tội phạm và hình phạt có liên quan đến tài sản hoặc tiền bạc Theo quan điểm này, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự rất rộng bao gồm các vấn đề mà cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như: tịch thu công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội, vật hoặc tiền do phạm tội hoặc

do mua bán đổi chác những thứ ấy mà có; vật hoặc tiền bị người phạm tội chiếm đoạt, sử dụng trái phép; vật hoặc tiền của người khác đưa cho người phạm tội thực hiện tội phạm; tiền hoặc tài sản bị kê biên, thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nhưng không thuộc trường hợp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm qui định tại Điều 47 BLHS 2015 nên Tòa án quyết định hủy bỏ quyết định kê

Trang 6

biên hoặc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp; trả lại tài sản, sửa chữa tài sản, bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại; án phí hình sự, án phí dân

sự và những khoản tiền hoặc tài sản khác mà cơ quan tiến hành tố tụng quyết định trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Những vấn đề nêu trên bao gồm cả các biện pháp tư pháp theo qui định tại Điều 46, xử lý vật chứng theo Điều 47 và trả lại tài sản, sửa chửa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi theo Điều 48 BLHS 2015, trong đó “bồi thường”, “bồi hoàn” chỉ là một phần của vấn đề dân sự trong vụ án hình

sự Theo ý kiến cá nhân, tác giả cho rằng việc áp dụng các biện pháp tư pháp, xử lí vật chứng nêu trên, tuy có liên quan đến tài sản, tiền bạc nhưng đây là quan hệ giữa người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, được điều chỉnh bởi BLHS và BLTTHS, không phải là vấn đề dân sự chịu sự điều chỉnh của BLDS Trường hợp tài sản là vật chứng mà trước đó đem đi thế chấp Ngân hàng thì tài sản tranh chấp giữa Ngân hàng và bị cáo sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác mà Ngân hàng là nguyên đơn dân sự Ở đây, cần xác định cho đúng nhiệm vụ trọng tâm của vụ án hình sự là xem xét giải quyết trách nhiệm hình sự vì vậy không nên mở rộng phạm vi các vấn đề dân sự được kết hợp giải quyết trong vụ án hình sự để tránh trường hợp kéo dài thời gian giải quyết vụ án hình sự Do đó, nếu xác định vấn đề dân sự trong vụ án hình sự theo quan điểm này thì quá rộng, không phù hợp với việc xem xét giải quyết vấn đề dân sự trong

vụ án hình sự

Quan điểm thứ ba cho rằng vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ liên quan đến vấn đề bồi thường, bồi hoàn, khắc phục hoặc ngăn chặn những thiệt hại do tội phạm gây ra Hay nói cách khác, vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo qui định tại chương XX BLDS 2015 Đây là quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự trước khi vấn đề này được qui định thành nguyên tắc trong BLTTHS Theo công văn số 121/2003/KHXX ngày 19/9/2003 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự thì vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm: đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do tài sản bị chiếm đoạt, nhưng tài sản đã bị mất hoặc bị hủy hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại

Trang 7

về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm Tuy nhiên, không phải tất cả những vấn đề này đều được xem xét giải quyết trong vụ

án hình sự mà chỉ có những thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội mới được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự Theo tác giả, đây là quan điểm phù hợp nhất về việc xác định phạm vi vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Từ khái niệm người tham gia tố tụng được qui định trong BLTTHS 2015 có thể xác định rằng những vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bị giới hạn bởi các thiệt hại vật chất, tinh thần do hành vi phạm tội gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội; nếu có thiệt hại xảy ra nhưng không có tội phạm thì không có việc xem xét giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, cụ thể:

- Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra

- Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại

- Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật qui định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cá nhân, thể nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự

Ngoài ra, vấn đề dân sự cần kết hợp giải quyết trong vụ án hình sự vì chúng có nguyên nhân chung từ hành vi phạm tội và với mong muốn bảo vệ kịp thời lợi ích bên bị thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc có khả năng bị thiệt hại bởi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng Xét về bản chất, nguyên tắc giải quyết vụ án hình sự cũng như phương thức để đạt được mục đích giải quyết khác hẳn với việc giải quyết vụ án dân

sự, vì thế không nên lạm dụng việc mở rộng các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nếu thấy việc kết hợp giải quyết làm phức tạp thêm quá trình giải quyết vụ án hình

sự, chưa kể còn có khả năng gây ra tác động tiêu cực trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự do khó khăn trong việc vận dụng các nguyên tắc, thủ tục tố tụng dân sự trong

tố tụng hình sự (ví dụ như nguyên tắc tự định đoạt, thủ tục hòa giải…)

Trang 8

Như vậy, vấn đề dân sự được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự chỉ nên giới hạn trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo qui định tại Chương XX BLDS 2015

Một vấn đề khác cũng cần quan tâm khi xác định vấn đề dân sự trong vụ án hình sự đó là cần phân biệt vấn đề dân sự trong vụ án hình sự với vấn đề xử lí vật chứng (có liên quan đến tài sản bị thiệt hại) trong vụ án hình sự và các biện pháp tư pháp được áp dụng khi xử lí hành vi phạm tội Tại khoản 2 Điều 47 BLHS 2015 qui

định “Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép thì

không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp” Bên cạnh đó,

Điều 48 BLHS 2015 cũng qui định “1 Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm

đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra 2 Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về tinh thần bằng một số tiền tương ứng, công khai xin lỗi người bị hại” Ngoài ra, Điều

89 BLTTHS 2015 còn qui định “Vật chứng là vật dùng làm công cụ, phương tiện

phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án” Như vậy, trong

một số trường hợp, việc giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp và

xử lí vật chứng liên quan đến tài sản bị thiệt hại trùng lặp với nhau Biện pháp tư pháp được hiểu là những biện pháp hỗ trợ cho việc áp dụng hình phạt hoặc thay thế hình phạt đối với người dưới 18 tuổi trong những trường hợp đáp ứng điều kiện khi

cần thiết Còn xử lí vật chứng được hiểu “là việc cơ quan, người tiến hành tố tụng áp

dụng các hình thức xử lí phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng loại vật chứng nhằm xóa bỏ hay khôi phục quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của chủ sở hữu, người quản lí hợp pháp đối với vật chứng của vụ án” Tuy nhiên, theo thứ tự giải quyết

trong vụ án hình sự thì việc xử lí vật chứng bắt buộc phải được áp dụng nếu tài sản đã thu thập được xác định là vật chứng của vụ án Bởi vì, xử lí vật chứng và biện pháp tư pháp gắn với việc xử lí trách nhiệm hình sự của người phạm tội Trong trường hợp việc xử lí trách nhiệm dân sự trùng với việc xử lí vật chứng, biện pháp tư pháp thì trách nhiệm dân sự không được đề cập đến, hoặc chỉ được bổ sung các qui định của

Trang 9

pháp luật dân sự để làm rõ trách nhiệm của người gây thiệt hại Vì vậy, khi xây dựng khái niệm về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự thì cần loại trừ nội dung xử

lí vật chứng và việc áp dụng biện pháp tư pháp trong khái niệm đó

Từ những phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về giải quyết vấn

đề dân sự trong vụ án hình sự như sau:

“Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là việc Tòa án và cơ quan, người tiến hành tố tụng xem xét giải quyết những yêu cầu bồi hoàn tài sản; bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

do hành vi phạm tội gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không thuộc nội dung xử lí vật chứng và việc áp dụng biện pháp tư pháp trong các vụ án hình sự, bao gồm:

- Yêu cầu trả lại tài sản bị chiếm đoạt; bồi thường tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; chi phí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại

- Bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm

do tội phạm gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội; bồi thường một khoản tiền để bù đắp những tổn thất về tinh thần của người thân của người bị hại; bồi thường thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại

từ việc sức khỏe bị xâm hại, chi phí hợp lí và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại.”

1.2 Đặc điểm của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

1.2.1 Đặc điểm về chủ thể

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm nhiều chủ thể Trong đó, việc xác định các chủ thể tham gia vào quá trình này phải được xác định

đầu tiên bằng cách trả lời các câu hỏi: Ai là người có quyền được bồi thường thiệt

hại? Ai là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Và ai có thẩm quyền giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại?

Tội phạm là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ra những hậu quả và thiệt hại nhất định Những thiệt hại do tội phạm gây ra có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa

Trang 10

hẹp Theo nghĩa rộng, thì bất cứ tội phạm nào cũng gây thiệt hại đến trật tự pháp luật đã được Nhà nước qui định Nhưng một số trường hợp tội phạm gây thiệt hại trực tiếp đến công dân, tổ chức và cơ quan Nhà nước Ở đây muốn nói đến thiệt hại theo nghĩa hẹp Thiệt hại ở đây là thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và uy tín của cá nhân và cơ quan tổ chức, do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra Nhưng không phải trong bất cứ trường hợp nào có tội phạm là có bị hại Trong những tội xâm phạm đến an ninh quốc gia, đến an toàn đối nội và đối ngoại của Nhà nước, không trực tiếp làm thiệt hại đến cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể nào thì không có

bị hại

Như vậy, khi đã có thiệt hại xảy ra trong vụ án hình sự liên quan đến hành vi phạm tội của tội phạm, thông thường sẽ xuất hiện các chủ thể sau:

- Chủ thể có quyền được bồi thường thiệt hại (Bị hại, nguyên đơn dân sự,

người có quyền lợi liên quan)

- Chủ thể phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Bị cáo, bị đơn dân sự,

người có nghĩa vụ liên quan)

- Chủ thể có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại (Tòa án,

cơ quan và người tiến hành tố tụng)

1.2.1.1 Về chủ thể có quyền được bồi thường thiệt hại

Chủ thể có quyền được bồi thường thiệt hại bao gồm bị hại, nguyên đơn dân

sự và người có quyền lợi liên quan đến vụ án bởi vì quyền được bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có hành vi gây ra thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản, uy tín của những chủ thể này và những thiệt hại này phải do tội phạm gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội Đây là điểm khác biệt so với việc giải quyết dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự Trong vụ án dân sự, quyền được bồi thường thiệt hại phát sinh khi chủ thể khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nhưng những thiệt hại này không phải do hành vi phạm tội gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội

Chủ thể đầu tiên có quyền được bồi thường thiệt hại khi có tội phạm xảy ra,

đó là bị hại Đây là chủ thể chỉ xuất hiện trong vụ án hình sự (trừ một số trường hợp đặc biệt không xuất hiện bị hại như: những tội xâm phạm đến an ninh quốc gia, đến

Trang 11

an toàn đối nội và đối ngoại của Nhà nước…) Vấn đề bồi thường thiệt hại cho bị hại trong vụ án hình sự sẽ được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự mà không cần có đơn yêu cầu của bị hại, đây là điểm khác nhau giữa bị hại và nguyên đơn trong vụ án dân sự Bởi vì, trong vụ án dân sự, điều kiện tiên quyết đầu tiên để Tòa

án xem xét giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là đơn khởi kiện và Tòa án cũng chỉ xem xét giải quyết trong phạm vi đơn yêu cầu khởi kiện đó trong suốt quá trình giải quyết vụ án Trong khi đó, bị hại trong vụ án hình sự không cần phải làm đơn yêu cầu Lí do của sự khác nhau này là vì bị hại trong vụ án hình sự đã được BLHS

2015 khẳng định là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc

là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây

ra và khi đã có thiệt hại do tội phạm gây ra thì bị hại cần được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp

nhân BLTTHS 2015 sử dụng thuật ngữ bị hại chứ không phải là người bị hại như

BLTTHS 2003 bởi vì theo BLTTHS 2015 thì bị hại không chỉ là con người cụ thể

mà bao gồm cả cơ quan, tổ chức, như vậy phạm vi bị hại theo BLTTHS 2015 đã được mở rộng hơn so với BLTTHS 2003 Ví dụ: A lấy trộm của B xe Honda SH sau

đó đem bán cho một người không rõ họ tên, địa chỉ, tài sản bị mất không thu hồi được, B yêu cầu bồi thường thiệt hại là 70.000.000đ Trong trường hợp này B là bị hại và có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội mà A gây ra

Chủ thể thứ hai có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự,

đó là nguyên đơn dân sự Nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự không đồng nghĩa với nguyên đơn trong vụ án dân sự Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm còn nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là cá nhân,

cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và chỉ được giải quyết bồi thường thiệt hại khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định thiệt hại đó do tội phạm gây ra Do đó, nếu không có tội phạm thì không có việc bồi thường thiệt hại Bên cạnh đó, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự và nguyên đơn trong vụ án dân

sự có điểm tương đồng là đều phải có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại, nếu không

có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại thì Tòa án sẽ không xem xét giải quyết yêu cầu

Trang 12

bồi thường của họ Ví dụ: Trong lúc đi ăn cùng nhau tại quán của A do bất đồng ý kiến nên B và C đã xảy ra xô xát, cãi nhau ầm ĩ làm mất an ninh trật tự tại khu phố

đó nên đã bị truy tố về tội gây rối trật tự công cộng; ngoài ra trong lúc xô xát B và C

đã đập bể bàn ghế tại quán của A A có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại nên trong trường hợp này A tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn dân sự

Chủ thể thứ ba có quyền yêu cầu trả lại tài sản là người có quyền lợi liên quan đến vụ án Đây là người có lợi ích vật chất hoặc tinh thần bị xâm phạm có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận Chỉ những lợi ích vật chất hoặc tinh thần có liên quan đến hành vi phạm tội thì người có lợi ích đó mới được công nhận là người có quyền lợi liên quan đến vụ án

Ví dụ: A mượn xe máy của B nói là đi công việc nhưng A đã sử dụng xe này làm phương tiện đi trộm vàng A bị truy tố về tội trộm cắp tài sản theo qui định tại Điều

173 BLHS 2015, Tòa án xác định B là người có quyền lợi liên quan đến vụ án vì B

là chủ sở hữu của xe máy mà A dùng làm phương tiện đi trộm Trong trường hợp này B không biết mục đích của A dùng xe đi trộm vàng nên B không liên quan đến

vụ án thì Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xem xét trả tài sản lại cho B trước khi xét xử Nếu B có liên quan đến vụ án thì Tòa án tuyên tịch thu xe của B là đúng thì

A không phải bồi thường tài sản cho B Trường hợp B không liên quan đến vụ án trộm vàng của A mà Tòa tuyên tịch thu tài sản của B, lúc đó B có quyền kháng cáo với Tòa cấp trên xem xét trả lại tài sản cho B

1.2.1.2 Về chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Khi đã phát sinh chủ thể có quyền được, yêu cầu bồi thường thiệt hại thì tương ứng sẽ xuất hiện chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm bị cáo, bị đơn dân sự và người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ở đây, trách nhiệm của các chủ thể này là trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội và do đó nếu không có tội phạm thì cũng không phát sinh loại trách nhiệm này

Bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội và gây ra những thiệt hại cho các chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nên phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại do hành vi của mình gây ra Ví dụ: A (18 tuổi) có đầy đủ năng lực

Trang 13

trách nhiệm hình sự cố ý gây thương tích cho B với tỉ lệ thương tật là 15%, B yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền mất thu nhập 10.000.000đ (có hóa đơn chứng từ kèm theo) Trong trường hợp này A phải có trách nhiệm bồi thường cho B theo qui định của BLDS 2015, trong trường hợp A và B không tự thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường thì việc chấp nhận mức bồi thường như thế nào

sẽ do Tòa án quyết định dựa theo qui định của BLDS và các chứng cứ có trong hồ

sơ vụ án

Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự khác với bị đơn dân sự trong vụ án dân sự

Bị đơn dân sự trong vụ án dân sự là người bị kiện còn bị đơn dân sự trong vụ án hình sự là người phải bồi thường thay cho người phạm tội Bị đơn dân sự trong vụ

án hình sự tuy không phải là người gây thiệt hại cho nguyên đơn dân sự hoặc bị hại

mà thiệt hại đó do bị cáo gây ra, nhưng theo qui định của pháp luật thì họ phải bồi thường cho bị hại hoặc nguyên đơn dân sự Ví dụ: cha mẹ bị cáo là người chưa thành niên phải bồi thường những thiệt hại do bị cáo gây ra; pháp nhân hoặc cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội phải bồi thường thiệt hại do nhân viên hoặc cán bộ của mình gây ra trong trường hợp thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân giao Ngược lại, trong vụ án dân sự bị đơn là người bị khởi kiện nhưng không phải trong mọi trường hợp khi có yêu cầu khởi kiện là họ phải bồi thường thiệt hại mà việc họ phải

có trách nhiệm bồi thường hay không còn tùy thuộc vào sự chứng minh của nguyên đơn cho tính hợp lí của yêu cầu khởi kiện; trên cơ sở đó, Tòa án sẽ ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ví dụ: A lái xe cho công ty TNHH B A gây tai nạn làm C bị chết và đã bị truy tố về tội vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ Trong trường hợp này công ty TNHH B phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho hàng thừa kế thứ nhất của C và tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự

Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người mà hành vi của họ có liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình, trách nhiệm này chủ yếu là trách nhiệm về vật chất Ví dụ: A, B,

C cùng gây thương tích cho D nhưng chỉ có A và B bị truy tố còn C được miễn

Trang 14

trách nhiệm hình sự, khi xét xử Tòa án xác định C là người có nghĩa vụ liên quan và buộc A, B, C phải liên đới bồi thường cho D

1.2.1.3 Về chủ thể có thẩm quyền giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại

Việc xuất hiện yêu cầu bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đòi hỏi phải có cơ quan, người tiến hành tố tụng đứng ra giải quyết vấn đề này Trong giai đoạn hiện nay có nhiều quan điểm cho rằng đây là nhiệm vụ của riêng giai đoạn xét xử, chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong

vụ án hình sự Tuy nhiên trong thực tiển, để xác định đúng chủ thể có thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cần quay về mục đích của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là nhằm khắc phục kịp thời thiệt hại do tội phạm gây ra, giảm bớt gánh nặng cho người bị thiệt hại nên nếu ngay từ giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra, điều tra viên hoặc Viện Kiểm sát, kiểm sát viên khi điều tra độc lập, xem xét giải quyết luôn vấn đề dân sự thì sẽ có lợi hơn cho các bên tham gia tố tụng Điều này có nghĩa là việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có thể diễn ra ở bất cứ giai đoạn tố tụng nào (điều tra, truy tố, xét xử) nếu xét thấy thuận lợi Tại Hội nghị triển khai công tác ngành Tòa án có đánh giá:

“Những sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình

sự có một phần do cơ quan điều tra không quan tâm đúng mức đến việc điều tra về vấn đề dân sự mà chỉ tập trung điều tra chứng minh hành vi phạm tội” Như vậy,

thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cần được xác định là các

cơ quan, người tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên và Tòa án chứ không phải là thẩm quyền của riêng ngành Tòa án Tuy nhiên, thì chỉ có Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Điều này đã được khẳng định tại Hiến pháp 2013

“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

thực hiện quyền tư pháp” Cho nên việc giải quyết vấn đề dân sự trong trong vụ án

hình sự, dù các cơ quan, người tiến hành tố tụng khác (Cơ quan điều tra, điều tra viên- Viện Kiểm sát, kiểm sát viên) có tham gia nhưng trong phiên Tòa xét xử vụ

án hình sự đó, kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phải báo cáo

Trang 15

cụ thể các trường hợp đã giải quyết vấn đề dân sự cho Tòa (Hội đồng xét xử) biết để ghi vào bản án

1.2.2 Đặc điểm về pháp luật áp dụng

Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự tuy là nguyên tắc của luật tố tụng hình sự nhưng khi áp dụng vào thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cần vận dụng các qui định của các ngành luật khác Cụ thể:

Mỗi ngành luật sẽ có đối tượng điều chỉnh riêng, ở đây tuy là vụ án hình sự nhưng lại giải quyết về vấn đề dân sự nên khi giải quyết vấn đề dân sự Tòa án sẽ

bồi thường đối với những thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, việc áp dụng này là phù hợp với bản chất quan hệ pháp luật cần xem xét giải quyết Theo qui định của BLHS 2015 thì người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lí hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại

khoản tiền tương ứng do pháp luật qui định, công khai xin lỗi người bị hại Qui định của BLHS 2015 mang tính cơ bản, định hướng về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra nhưng chưa qui định cụ thể về các trường hợp nào sẽ được bồi thường, nếu phải bồi thường thì những khoản thiệt hại nào được chấp nhận? Những vấn đề này sẽ được trả lời tại Chương XX trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của BLDS 2015 Tòa án sẽ căn cứ vào đó để xem xét giải quyết yêu cầu của chủ thể bị thiệt hại Ví dụ: Trong vụ án cố ý gây thương tích với tỉ lệ thương tật là 30%, khi giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại, Tòa án sẽ xác định mức bồi thường dựa trên: chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế của người bị thiệt hại, chi phí hợp lí và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; trường hợp người bị thiệt hại có yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần nếu các bên không thỏa thuận được thì mức tối đa bồi thường là không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước qui định

Trang 16

Như vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự về mặt nội dung chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự, phải tuân theo những qui định của BLDS Tuy nhiên, vì những thiệt hại này do hành vi phạm tội gây ra và đây là vụ án hình

sự nên về hình thức khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự phải tuân theo những qui định của luật tố tụng hình sự chứ không phải là trình tự, thủ tục của luật

tố tụng dân sự như khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án dân sự Sự khác nhau trong việc áp dụng thủ tục tố tụng hình sự và thủ tục tố tụng dân sự khi giải quyết vấn đề dân sự sẽ được làm rõ trong các ví dụ sau:

Ví dụ về việc hoãn phiên tòa sơ thẩm: Theo qui định của BLTTHS 2015 nếu

bị hại, đương sự (nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự) hoặc người đại diện của họ vắng mặt thì tùy từng trường hợp, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử Trường hợp xét thấy sự vắng mặt của bị hại, đương sự chỉ trở ngại cho việc giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại thì Hội đồng xét xử có thể tách việc bồi thường để xét xử sau theo qui định của pháp luật Ngược lại, theo qui định của BLTTDS 2015 thì Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa khi Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải

có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Sở dĩ có sự khác biệt này là do bản chất của việc xét xử vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là xét xử vụ án hình sự, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì Hội đồng xét xử giải quyết luôn

cả vấn đề dân sự phát sinh do tội phạm gây ra Nếu vấn đề dân sự trong vụ án có liên quan đến việc định tội hay định khung hình phạt đối với bị cáo thì nó là một phần không thể tách rời khỏi vụ án hình sự và phải được giải quyết đồng thời với vụ

án hình sự Trong trường hợp này lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân

sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa rất quan trọng đối với việc giải quyết phần trách nhiệm hình sự của vụ án Vì vậy, Tòa án phải hoãn phiên tòa nếu những người trên vắng mặt Tuy nhiên, đối với những vụ án mà phần dân sự không liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm

Trang 17

nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì có thể tách phần dân sự ra để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác theo thủ tục tố tụng dân sự Do đó, trong trường hợp này nếu

bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến

vụ án vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử phần hình sự và tách phần dân sự ra

để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự

Ví dụ về thủ tục hòa giải: Một đặc trưng nổi bật của pháp luật tố tụng hình sự

là trong suốt quá trình tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng không bắt buộc phải

mở các phiên hòa giải giữa các đương sự như trong tố tụng dân sự nếu các đương

sự tự nguyện thỏa thuận được với nhau về mức bồi thường thì Tòa án ghi nhận việc thỏa thuận này vào phần quyết định của bản án Tòa án không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự trong trường hợp này bởi đây là vụ án hình sự, được điều chỉnh bởi pháp luật tố tụng hình sự chứ không phải pháp luật tố tụng dân

sự Trái lại, pháp luật tố tụng dân sự qui định hòa giải là thủ tục bắt buộc phải thực hiện, theo đó trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được qui định tại Điều 206 và Điều 207 của BLTTDS

2015 hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành và hết thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến

về sự thỏa thuận đó thì Tòa án phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Có sự khác nhau này bởi vì pháp luật tố tụng dân sự xem quyền quyết định

và tự định đoạt của đương sự là nguyên tắc cơ bản cần được tôn trọng nhưng pháp luật

tố tụng hình sự thì không vì bản chất của thủ tục tố tụng hình sự là giải quyết trách nhiệm của người phạm tội đối với xã hội, phương pháp được sử dụng trong tố tụng hình sự chủ yếu là mệnh lệnh quyền uy chứ không phải là tự định đoạt

1.2.3 Đặc điểm về điều kiện, nội dung giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự

1.2.3.1 Đặc điểm về điều kiện giải quyết

Sở dĩ tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội vì nó đe dọa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ

Trang 18

Không có sự xâm hại đến đối tượng bảo vệ của luật hình sự thì hành vi đó không thể coi là nguy hiểm cho xã hội và vì thế cũng không thể là tội phạm Tội phạm gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức qua đó đe dọa lợi ích chung của xã hội Sự việc phạm tội đã làm phát sinh mối quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và người phạm tội Biện pháp trách nhiệm hình sự sẽ được Nhà nước áp dụng đối với người phạm tội Đồng thời hành vi trái pháp luật này của một cá nhân gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức,

vì thế cũng đã làm phát sinh mối quan hệ pháp luật giữa cá nhân (có hành vi phạm tội) với cá nhân (bị thiệt hại), giữa cá nhân (có hành vi phạm tội) với tổ chức (bị thiệt hại) Từ đó làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại hay nói cách khác đây chính là căn cứ làm phát sinh việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự của người phạm tội Để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cần có đủ các điều kiện sau: Phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật (hành vi phạm tội), giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật phải có mối quan hệ nhân quả với nhau

- Phải có thiệt hại xảy ra:

Như đã phân tích tại mục 1.1, không nên lạm dụng việc mở rộng các vấn đề dân sự trong vụ án hình sự nếu thấy việc kết hợp giải quyết làm phức tạp thêm quá trình giải quyết vụ án hình sự Do đó, trên cơ sở khái niệm giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự mà tác giả đã đề xuất thì việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ

án hình sự theo ý kiến tác giả chỉ nên giới hạn trong phạm vi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được qui định tại Chương XX BLDS 2015 Trong trách nhiệm hình

sự dù hành vi trái pháp luật nặng hay nhẹ thì Tòa án đều có quyền ra bản án, quyết định nhằm trừng phạt người có hành vi trái pháp luật ngay cả khi không có thiệt hại xảy ra Ngược lại, trong bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cho dù hành vi trái pháp luật có được coi là nghiêm trọng thì người có hành vi trái pháp luật vẫn không bồi thường nếu thiệt hại không tồn tại: nếu không có thiệt hại thì không có trách

người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, hoặc luật khác có liên quan qui định khác BLDS đề cập đến thiệt hại nhưng không định nghĩa thiệt hại là gì Có quan điểm

Trang 19

cho rằng “Thiệt hại là sự biến thiên theo chiều xấu đi của tài sản, của các giá trị

nhân thân được pháp luật bảo vệ” hay “thiệt hại là sự giảm sút về lợi ích vật chất của người bị thiệt hại mà họ đã có hoặc sự mất mát lợi ích vật chất mà chắc chắn

họ sẽ có” Còn có ý kiến khác cho rằng “thiệt hại được hiểu là sự giảm bớt những lợi ích vật chất của một người xác định được trên thực tế và những thiệt hại gián tiếp chắc chắn xảy ra” Thực tế khó có thể đưa ra một định nghĩa thuyết phục về

“thiệt hại”, do đó việc BLDS không đưa ra định nghĩa về thiệt hại cũng là điều dễ hiểu Nếu BLDS không định nghĩa thiệt hại là gì thì lại thừa nhận hai loại thiệt hại

Đó là thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Cụ thể:

Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm qui định tại Điều 589 BLDS 2015, thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm qui định tại Điều 590 BLDS 2015, thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm qui định tại Điều 591 BLDS 2015, thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm qui định tại Điều 592BLDS

2015

Ví dụ: A gây thương tích cho B tại nhà C với tỉ lệ thương tật là 32%, trong lúc đánh nhau A đã làm hư hỏng bàn ghế nhà C với tổng giá trị thiệt hại là 500.000đ, đồng thời B phải điều trị thương tích hết 10.000.000đ Trong trường hợp này đã có thiệt hại xảy ra là số bàn ghế bị hư hỏng của C và chi phí điều trị vết thương của B theo qui định tại Điều 589 BLDS 2015

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín… và phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu Thiệt hại do tổn thất tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu

là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc bị mất đi tín nhiệm, lòng tin… và bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu

Ví dụ: A lái xe gây tai nạn giao thông làm B bị chết B có một con nhỏ 05 tuổi Trong trường hợp này do B đã chết nên A phải có trách nhiệm bồi thường chi

Trang 20

phí hợp lí cho việc mai táng, tiền cấp dưỡng cho con B cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, bồi thường tổn thất tinh thần cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của B theo qui định tại Điều 591 BLDS 2015

- Phải có hành vi trái pháp luật:

Hành vi trái pháp luật là một trong những điều kiện để trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh, nếu không có hành vi trái pháp luật thì không có bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Hành vi trái pháp luật là những xử sự

cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các qui định của pháp luật Với qui định này hành vi trái pháp luật có hai bộ phận cấu thành Thứ nhất là “những xử sự cụ thể của con người” được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động của con người, thứ hai là những xử sự của con người phải “trái với các qui định của pháp luật” mới có thể hình thành trách nhiệm bồi thường BLDS 2005 (nay là BLDS 2015) không nêu rõ trong Điều 604 (nay là Điều 584 BLDS 2015) “yếu tố trái pháp luật” mà chỉ liệt kê một số hành vi như “xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại” BLDS 2005 (nay là BLDS 2015) chỉ đưa ra danh sách một số hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nhưng Tòa án tối cao đã khái quát hóa các hành vi này là

để có bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì phải có “hành vi trái pháp luật"

Ví dụ: A dùng dao chém vào tay B gây thương tích 20%, ở đây A đã có hành

vi xâm phạm đến sức khỏe của B - là hành vi trái pháp luật nên bên cạnh việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì A còn phải có trách nhiệm bồi thường chi phí điều trị, tiền mất thu nhập (nếu có), tiền công chăm sóc người nuôi bệnh

- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp

luật:

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong vụ án hình sự chỉ phát sinh khi xác định thiệt hại đó do tội phạm gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội hay nói cách khác thiệt hại xảy ra là kết quả từ hành vi trái pháp luật mà ở đây là trái pháp luật hình sự BLDS 2015 chưa qui định cụ thể về mối quan hệ nhân quả này mà chỉ nêu một cách chung nhất là người nào có hành vi xâm phạm tính

Trang 21

mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp BLDS 2015, hoặc luật khác có liên quan qui định khác Theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành

vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Quan hệ nhân quả là mối liên hệ khách quan của bản thân các sự vật Quan hệ nhân quả của bản thân sự vật tồn tại ngoài ý muốn của con người, không phụ thuộc vào việc con người có nhận thức hay không Nếu có hành vi vi phạm pháp luật nhưng không có mối quan hệ nhân quả thì không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường

Ví dụ: A điều khiển xe máy lưu thông trên đường nhưng không mang theo giấy tờ xe, A chạy đúng tốc độ qui định và đi đúng làn đường của mình B từ phía sau bất ngờ tông vào xe của A kết quả là B bị thương và xe của B bị hư hỏng nặng,

A và xe của A không bị thiệt hại gì đáng kể Ở đây A đã có hành vi trái pháp luật là

vi phạm Luật giao thông đường bộ, không mang theo giấy tờ xe và giấy phép lái xe khi tham gia lưu thông trên đường, có thiệt hại xảy ra là việc B bị thương và xe của

B bị hư, tuy nhiên trong trường hợp này A không có trách nhiệm bồi thường cho B bởi vì hành vi trái pháp luật của A là vi phạm về mặt hành chính, không phải là nguyên nhân gây nên thiệt hại cho B, giữa thiệt hại của B và hành vi trái pháp luật của A không có mối quan hệ nhân quả

- Về yếu tố lỗi của người gây thiệt hại:

Lỗi là trạng thái tâm lí của người phạm tội đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình nhưng trong vụ án hình sự có phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì yếu tố lỗi lại được xem xét dưới hai khía cạnh Đó là lỗi trong trách nhiệm hình sự và lỗi trong trách nhiệm dân sự hay còn gọi là lỗi hình sự và lỗi dân sự Lỗi trong trách nhiệm hình sự được phân thành: cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả Đây là điều kiện quan trọng để Tòa án xem xét việc định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo Chính vì vậy mà khi một người đã chịu trách nhiệm hình

sự tức là họ đã thực hiện hành vi có lỗi theo qui định của pháp luật hình sự Yếu tố lỗi ở đây là lỗi của chính chủ thể đã thực hiện hành vi phạm tội Trong trách nhiệm hình sự,

Trang 22

không thể buộc một người phải chịu trách nhiệm do hành vi phạm tội của người khác Trong khi đó, vấn đề lỗi xác định trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại không mang ý nghĩa quyết định như vậy bởi pháp luật dân sự vẫn đặt ra trách nhiệm bồi thường ngay

cả khi người gây thiệt hại không có lỗi hoặc lỗi thuộc về chủ thể không trực tiếp thực

hiện hành vi gây thiệt hại Khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 qui định “Người nào có hành

vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp bộ luật này, luật khác có liên quan qui định khác" Ở đây, chỉ cần tồn tại yếu tố có thiệt

hại xảy ra trên thực tế, có hành vi trái pháp luật (xâm phạm tới lợi ích hợp pháp của người khác mà không thuộc trường hợp không chịu trách nhiệm bồi thường) và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra thì đã làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, không cần xem xét người gây thiệt hại có lỗi hay không có lỗi Tuy nhiên, cũng cần làm rõ rằng mặc dù yếu tố lỗi không còn tồn tại trong danh sách các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường nhưng lỗi vẫn còn nguyên giá trị trong việc xem xét mức độ thiệt hại được bồi thường

Ví dụ: A là lái xe cho công ty TNHH Z, trên đường vận chuyển hàng cho công ty A đã gây tai nạn làm chết B Về trách nhiệm hình sự A đã bị truy tố về tội

Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ Trong trường hợp này mặc dù công ty TNHH Z không có lỗi trong việc gây ra cái chết của B nhưng theo qui định của BLDS 2015 thì pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao nên về trách nhiệm dân sự công

ty TNHH Z phải có trách nhiệm bồi thường cho hàng thừa kế thứ nhất của B gồm:

vợ, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của B

1.2.3.2 Đặc điểm về nội dung giải quyết

Để giải quyết được vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, Tòa án cần làm rõ các vấn đề sau:

Xác định chính xác quan hệ tranh chấp căn cứ vào yêu cầu của người bị thiệt hại và thực tế thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra Để có thể xem xét giải quyết vấn

đề dân sự trong vụ án hình sự thì cần xác định được đó là yêu cầu bồi thường thiệt hại

về tài sản hay là yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hay là yêu cầu

Trang 23

bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm… Việc xác định đúng quan

hệ tranh chấp đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự trong

vụ án hình sự bởi vì có xác định đúng quan hệ tranh chấp thì mới có hướng điều tra,

áp dụng pháp luật đúng, đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, đúng đắn

Xác định ai là người gây thiệt hại, ai là người bị thiệt hại và ai là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Từ đó, đưa họ vào tham gia tố tụng đúng với tư cách tố tụng mà pháp luật qui định, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của họ

Xác định thực tế thiệt hại đã xảy ra, mức độ lỗi của người gây thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi phạm tội Trên cơ sở đó kết hợp với qui định của pháp luật, Tòa án sẽ xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ hay chấp nhận một phần yêu cầu của người bị thiệt hại

Ví dụ: A (18 tuổi) có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự cố ý gây thương tích cho B với tỉ lệ thương tật là 15%, B yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền mất thu nhập 10.000.000đ (có hóa đơn chứng từ kèm theo) Trong trường hợp này dựa trên yêu cầu của B, Tòa án cần xác định đây là yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe

bị xâm phạm, A là người gây gây thương tích cho B nên phải có trách nhiệm bồi thường cho B A tham gia tố tụng với tư cách là bị cáo, B tham gia tố tụng với tư cách

là bị hại Trên cơ sở qui định của Điều 590 BLDS 2015 và các chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án, Tòa án sẽ xem xét giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của B

1.3 Ý nghĩa của việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Thứ nhất, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân Để đáp ứng được những yêu cầu đó thì vai trò của pháp luật được đề cao, cơ quan áp dụng pháp luật

là Tòa án trong hoạt động của mình phải đảm bảo việc xét xử đúng đắn, đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp đó Chính vì vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong

vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân Khi có hành vi phạm tội xâm hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì họ có quyền yêu cầu người có trách nhiệm bồi thường đền bù những thiệt hại do

Trang 24

hành vi phạm tội gây ra Điều này đã được khẳng định tại Hiến pháp 2013 “các

quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Cụ thể hóa

qui định của Hiến pháp, BLTTHS 2015 cũng qui định nguyên tắc tôn trọng và bảo

vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân “Khi tiến hành tố tụng,

trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân”

Thứ hai, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự tạo nên sự thống nhất trong việc áp dụng các tình tiết để giải quyết vụ án hình sự có yêu cầu bồi thường thiệt hại, tránh được trường hợp mâu thuẫn về quan điểm giải quyết vụ án giữa Tòa hình sự và Tòa dân sự Khi vấn đề dân sự được xem xét giải quyết trong

vụ án hình sự, người tiến hành tố tụng mà cụ thể ở đây là Hội đồng xét xử sẽ có cái nhìn khách quan, toàn diện về toàn bộ nội dung vụ án, từ đó có thể ra quyết định về việc bồi thường thiệt hại phù hợp, đúng qui định pháp luật; ngược lại, khi vấn đề dân sự không được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự thì có thể xảy ra trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của nguyên đơn mặc dù trước đó hành vi gây nên thiệt hại cho nguyên đơn đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, giữa hành vi phạm tội và thiệt hại mà nguyên đơn yêu cầu khởi kiện

có mối quan hệ nhân quả với nhau

Thứ ba, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án và có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự Hoạt động tố tụng hình sự qui định trình tự, thủ tục xác định sự thật khách quan của vụ án, chứng minh tội phạm mà kết quả cuối cùng là bản án hình sự kết tội cũng như giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự nếu có sự gây thiệt hại Vì vậy, việc chứng minh vấn đề dân sự và giải quyết thấu đáo nó thì mới giải quyết tốt trách nhiệm hình sự (nhất là vấn đề trách nhiệm dân sự có ảnh hưởng đến việc định tội và định khung hình phạt) và sẽ nâng cao sức thuyết phục của bản án hình sự

giải quyết vụ án cho cả cơ quan tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Nếu vấn

Trang 25

đề dân sự không được giải quyết trong vụ án hình sự thì người bị thiệt hại sẽ phải khởi kiện theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, họ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự với nhiều thủ tục pháp lí khác nhau, điều này sẽ làm người bị thiệt hại mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc Về phía cơ quan tiến hành tố tụng, Nhà nước cũng sẽ tốn chi phí, nhân lực để giải quyết lại một vấn đề mà lẽ ra đã có cơ

sở quyết định ngay khi xét xử phần hình sự

Thứ năm, vụ án hình sự có phát sinh vấn đề dân sự cần giải quyết sẽ là động lực để người tham gia tố tụng tích cực tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi của

họ, điều này cũng góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình giải quyết vụ án hình sự Bởi

vì, người bị thiệt hại sẽ được hưởng lợi từ kết quả xác minh thiệt hại của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như sự nhanh chóng của thủ tục tố tụng hình sự trong khi nếu giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn dân sự tự bản thân người bị thiệt hại phải có trách nhiệm chứng minh cho toàn bộ yêu cầu khởi kiện của họ Ngược lại, khi người bị thiệt hại tích cực tham gia tố tụng phía cơ quan tiến hành tố tụng cũng gặp nhiều thuận lợi hơn trong quá trình chứng minh thiệt hại thực

tế do hành vi phạm tội gây ra, đẩy nhanh tiến trình giải quyết vụ án

Thứ sáu, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là có lợi cho bị cáo bởi vì bị cáo có thể được tính thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả Nếu đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và Tòa án tuyên là có tội thì các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với bị cáo, nó sẽ là cơ sở để Hội đồng xét xử đưa ra phán quyết về mức hình phạt đối với bị cáo sau khi cân nhắc giữa hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Thứ bảy, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự giúp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ thẩm phán nói riêng và Hội đồng xét xử nói chung, tạo nên sự chuyên nghiệp cho họ trong khi giải quyết cả án hình sự lẫn án dân sự

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Như đã phân tích, nhiệm vụ trọng tâm của quá trình giải quyết vụ án hình sự

là chứng minh tội phạm và xác định người thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy không nên mở rộng phạm vi các vấn đề dân sự được kết hợp giải quyết trong vụ án hình sự

để tránh trường hợp kéo dài thời gian giải quyết vụ án Theo quan điểm của tác giả, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là việc Tòa án xem xét giải quyết những yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm do hành vi phạm tội gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội nhưng không thuộc nội dung xử lí vật chứng và việc áp dụng biện pháp tư pháp trong các

vụ án hình sự Hay nói cách khác, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

chỉ nên giới hạn trong phạm vi trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

theo qui định tại Chương XXI BLDS 2015 và những thiệt hại này phải do tội phạm gây ra hoặc có liên quan đến hành vi phạm tội Nếu không có tội phạm thì không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại Từ phạm vi các vấn đề dân sự sẽ được giải quyết trong

vụ án hình sự đã xác định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tiếp tục chứng minh các điều kiện để vấn đề dân sự được xem xét giải quyết, bao gồm: phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật (hành vi phạm tội), giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật phải có mối quan hệ nhân quả với nhau Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự , Tòa án - chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải quyết vấn đề này cần làm rõ quan hệ pháp luật tranh chấp là gì, ai là người bị thiệt hại, ai

là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mức độ thiệt hại xảy ra, yêu cầu của người

bị thiệt hại… để từ đó xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách tham gia tố tụng của các chủ thể, yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại Muốn như vậy, về mặt nội dung, khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự Tòa án phải vận dụng những qui định của BLDS 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, về mặt hình thức Tòa án cần áp dụng những qui định của BLTTHS 2015 trên cơ sở kết hợp với một

số qui định của BLTTDS 2015

Khi vấn đề dân sự được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với bị cáo, giúp bị cáo có thêm một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự,

Trang 27

ảnh hưởng đến phán quyết của Hội đồng xét xử trong việc đưa ra mức hình phạt đối với hành vi phạm tội Mặt khác, đối với bị cáo - là người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại việc kết hợp giải quyết này sẽ giúp bị cáo tự ý thức được hậu quả thiệt hại do mình gây ra, từ đó hình thành nên trách nhiệm trong việc khắc phục thiệt hại cho người bị thiệt hại Bên cạnh đó, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự còn giúp vụ án được giải quyết triệt để hơn, tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc của những người bị thiệt hại và các cơ quan tiến hành tố tụng Sẽ không cần thiết nếu

có hai loại cơ quan áp dụng hai thủ tục tố tụng khác nhau để chỉ giải quyết một vấn

đề thuộc về dân sự mà lẽ ra đã có cơ sở quyết định ngay khi xét xử phần hình sự; đồng thời giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự khắc phục được những khó khăn trong việc tổ chức phiên tòa dân sự, do bị cáo (có nghĩa vụ bồi thường) đang phải chịu hình phạt Về phía người bị thiệt hại nếu vấn đề dân sự không được xem xét giải quyết trong vụ án hình sự thì họ phải thực hiện đầy đủ những nghĩa vụ của một nguyên đơn dân sự trong vụ án dân sự với nhiều thủ tục pháp lí phức tạp, mất rất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc

Tóm lại, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bị cáo và người bị thiệt hại cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng; giúp

vụ án hình sự được xem xét giải quyết toàn diện, từ đó nâng cao uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng và pháp luật nói chung, góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Trang 28

Chương 2 QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ

TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 2.1 Pháp luật về quyền yêu cầu và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan

hệ dân sự của vụ án hình sự

2.1.1 Pháp luật hiện hành về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, bồi hoàn tài sản trong quan hệ dân sự của vụ án hình sự

Năm 2015, Quốc hội đã thông qua BLHS và BLTTHS và đánh dấu một bước tiến

quan trọng trong tư duy luật pháp hình sự; tiếp tục thể hiện tinh thần chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bỏa vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước và tổ chức, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta Trong đó, BLTTHS

2015 vẫn tiếp tục khẳng định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng hình sự Cụ thể tại Điều 30 BLTTHS đã quy định:

“ Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự Trường hợp vụ án hình sự giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”

Bên cạnh đó, trong các biện pháp tư pháp áp dụng cho người có hành vi phạm tội quy định tại Điều 46 và Điều 48 BLHS 2015 vấn tiếp tục áp dụng biện pháp tư pháp; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin

lỗi Buộc: “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc

người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra”

Về nội dung thì những điều luật quy định tại BLHS và BLTTHS năm 2015 được đánh giá là đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành các

Trang 29

quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của Hiến pháp năm 2013 như tại điều 8 BLTTHS 2015 quy định việc “ tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân” , các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công nhận, bảo vệ và đảm bảo quyền con người, quyền công dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế như trong phần thứ tám “ Hợp tác Quốc tế” BLTTHS

2015, gồm chương XXXV, tù điều 491- 496 và chương XXXVI, từ diều 497- 508 Ngoài ra, chủ thể là đối tương được giải quyết vấn đề dân sự, trong BLTTHS 2015

sử dụng thuật ngữ bị hại chứ không phải là người bị hại như BLTTHS 2003 bởi vì

theo BLTTHS 2015 thì bị hại không chỉ là con người cụ thể mà bao gồm cả cơ quan, tổ chức, như vậy phạm vi bị hại theo BLTTHS 2015 đã được mở rộng hơn so với BLTTHS 2003 Cụ thể tại khoản 1, điều 62 BLTTHS 2015:”Bị hại là cá nhân trực tiêp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra.” Khoản 2, điều 62 BLTTHS 2015, quy định trình tự thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại trong việc đòi bồì thường thiệt hại Tương tự, tại Điều 63 và 65 BLTTHS 2015 nêu khái niêm và quy định trình tự thủ tục thực hiện quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan

và người đại diện hợp pháp của họ trong việc yêu cầu bồì thường thiệt hại

2.1.2 Pháp luật về nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ dân sự của vụ án hình sự

Bị cáo

Khoản 1 Điều 61 BLTTHS 2015 qui định: “Bị cáo là người hoặc pháp nhân

đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”

BLTTHS 2003 qui định chỉ có cá nhân, con người cụ thể mới là bị cáo nhưng BLTTHS 2015 đã qui định bị cáo bao gồm cả thể nhân và pháp nhân Việc thay đổi này là phù hợp với BLHS 2015 bởi vì một trong những định hướng quan

trọng khi sửa đổi, bổ sung BLHS lần này được xác định là “Đổi mới tư duy về tội

phạm và hình phạt, về cơ sở của trách nhiệm hình sự, khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong

Trang 30

tình hình mới” mà một biểu hiện rõ nét của định hướng này chính là việc bổ sung

vào BLHS chế định trách nhiệm hình sự của các pháp nhân là các tổ chức kinh tế

khi thực hiện một số tội phạm do BLHS quy định

Bị cáo là người thực hiện hành vi phạm tội và gây ra những thiệt hại cho các chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nên bị cáo phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại do hành vi của mình gây ra, trừ trường hợp bị cáo là người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại

Ngoài việc sửa đổi khái niệm bị cáo cho phù hợp với BLHS 2015, để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của bị cáo khi Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của chủ thể có quyền yêu cầu, so với BLTTHS 2003 thì BLTTHS 2015 qui định bổ sung một số quyền cho bị cáo như: quyền được thông báo, giải thích về quyền và nghĩa vụ; quyền đề nghị giám định, định giá tài sản theo qui định của pháp luật; quyền đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật; quyền đề nghị triệu tập người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người giám định, người định giá tài sản, người tham gia tố tụng khác và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tham gia phiên tòa; quyền đưa ra chứng cứ; quyền trình bày ý kiến về những chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; quyền xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa

Về nghĩa vụ, BLTTHS 2015 bổ sung qui định bị cáo chỉ có thể bị áp giải khi vắng mặt không vì lí do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan

Bị đơn dân sự

Khoản 1 Điều 64 BLTTHS qui định “Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ

chức mà pháp luật qui định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”

Tuy không phải là người gây thiệt hại cho nguyên đơn dân sự hoặc bị hại, nhưng theo qui định của pháp luật thì bị đơn dân sự phải có trách nhiệm bồi thường

Trang 31

cho bị hại hoặc nguyên đơn dân sự Những cá nhân có thể trở thành bị đơn dân sự bao gồm: cha, mẹ hoặc người giám hộ của bị cáo là người chưa thành niên đã gây ra thiệt hại Cơ quan, tổ chức được pháp luật qui định có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại do cán bộ, nhân viên đơn vị mình gây ra khi làm nhiệm vụ Bị đơn dân sự được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định tư cách tham gia tố tụng thông qua giấy triệu tập tham gia tố tụng

Để đảm bảo quyền của bị đơn dân sự khi Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại, BLTTHS 2015 đã qui định bổ sung một số quyền cho họ như sau: quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; quyền chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự; quyền đưa ra chứng cứ; quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản theo qui định của pháp luật; quyền đề nghị thay đổi người định giá tài sản, người dịch thuật; quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; xem biên bản phiên tòa; tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình

Bên cạnh việc bổ sung một số quyền thì BLTTHS 2015 cũng qui định bổ sung về nghĩa vụ của bị đơn dân sự là phải chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Qui định này nhằm đảm bảo sự chấp hành của bị đơn dân sự trong quá trình tham gia tố tụng đối với các quyết định, yêu cầu của cơ quan, người tiến hành tố tụng

Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Người có quyền lợi liên quan đến vụ án, được quy định tại khoản 1 Điều 65 BLTTHS 2015 đã nêu rõ khái niệm thế nào là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ

án, theo đó thì đây là người mà hành vi của họ có liên quan đến tội phạm do bị cáo thực hiện và theo pháp luật họ phải có trách nhiệm về hành vi của mình Người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định

tư cách tham gia tố tụng thông qua giấy triệu tập

Để đảm bảo quyền của người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án khi Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại, BLTTHS 2015 qui định bổ sung một số quyền cho họ như: quyền được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ; quyền đưa

Trang 32

ra chứng cứ; quyền yêu cầu giám định, định giá tài sản theo qui định của pháp luật; quyền đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi những người tham gia phiên tòa; quyền tự bảo

vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình; quyền trình bày ý kiến

về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá

Về nghĩa vụ, BLTTHS 2015 bổ sung cho người có nghĩa vụ liên quan đến vụ

án phải có nghĩa vụ chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng Qui định này nhằm nâng cao trách nhiệm của người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đảm bảo sự chấp hành của họ trong quá trình tham gia tố tụng

Trên cơ sở tìm hiểu về quyền, nghĩa vụ của chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại và chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo qui định của BLTTHS 2015, tác giả nhận thấy xuất hiện một số vấn đề bất cập sau:

Căn cứ để xác định tư cách bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, hay nói cách khác họ được người có thẩm quyền tiến hành tố tụng công nhận là bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bằng việc triệu tập họ tham gia các hoạt động tố tụng Khi nghiên cứu qui định của BLTTHS Nga về vấn đề này, tác giả nhận thấy BLTTHS Nga công nhận địa vị pháp lí của bị hại, nguyên đơn dân sự bằng văn bản của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng chứ không phải thông qua giấy triệu tập Tuy nhiên, BLTTHS 2015 lại không qui định về vấn đề này Để xác định địa vị pháp lí của người tham gia tố tụng trong vụ án được rõ ràng cần có quyết định công nhận họ

Vì vậy, theo ý kiến của tác giả cần có quyết định công nhận của cơ quan hoặc người tiến hành tố tụng về vị trí pháp lí của bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án hình sự

Bên cạnh đó, so với nguyên đơn dân sự trong vụ án dân sự thì quyền của bị hại, nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự bị hạn chế hơn, họ không được BLTTHS

2015 qui định quyền thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, rút một phần hoặc toàn bộ

yêu cầu khởi kiện; điều này đã hạn chế quyền quyết định, tự định đoạt của họ Về vấn

đề này, khoản 5 Điều 53 BLTTHS Liên bang Nga qui định “Nguyên đơn dân sự có

Ngày đăng: 14/01/2022, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w