1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) CHỨNG MINH TRONG GIAI đoạn điều TRA vụ án cố ý gây THƯƠNG TÍCH HOẶC gây tổn hại CHO sức KHỎE của NGƯỜI KHÁC từ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN hòa, TỈNH ĐỒNG NAI

83 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi giai đoạn tố tụng khi chứng minh VAHS đều tiến hành những hành vi tố tụng đặc trưng như: giai đoạn khởi tố vụ án hình sự do cơ quan có thẩm quyền khởi tố chứng minh sự việc xảy ra có

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

- -

NGUYỄN HUY HOÀNG

CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA

VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 5 1.2 Đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh trong giai đoạn điều tra

vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác 18 1.3 Chủ thể chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 20 1.4 Nội dung hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra 21

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VÀ THỰC TIỄN CHỨNG MINH VỤ ÁN CỐ

Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE NGƯỜI KHÁC TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI 30

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự 30 2.2 Thực tiễn chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 49 2.3 Đánh giá thực tiễn chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai 57

Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 61

Trang 3

3.1 Các yêu cầu nâng cao hiệu quả chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án

cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác 61 3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ

án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác 67

KẾT LUẬN 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

Trang 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC

1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chứng minh trong giai đoạn điều tra

vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.1.1 Khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1.1.1.1 Khái niệm vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Để xây dựng khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe, trước hết phải làm sáng tỏ thế nào là vụ

án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác? Liên quan đến vấn đề này cần phải làm rõ thế nào là VAHS Đối với khái niệm VAHS, theo Từ điển Luật

học thì “Vụ án hình sự là vụ việc phạm pháp có dấu hiệu là tội phạm đã được quy

định trong BLHS đã được CQĐT ra lệnh khởi tố về hình sự để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo các trình tự, thủ tục đã được quy định ở BLTTHS” Trong lĩnh

vực khoa học pháp lý nước ta đến nay cũng có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm

VAHS, tuy nhiên, tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng: “Vụ án hình sự là vụ

án phát sinh khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm và CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS, Tòa án (thông qua Hội đồng xét xử) khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp được quy định trong BLTTHS

để xác định và xử lý người phạm tội” [27, tr.15]

Vậy vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là gì? Muốn làm sáng tỏ nội dung này, trước hết cần nhận thức về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Cố ý gây thương tích là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây hại đến sức khỏe người khác, được xác định bằng thương tích cụ

thể Điều 134 BLHS năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định “Người

nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường

Trang 5

hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn

có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu,

ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ) Có tổ chức; e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;…”[18]

Để nhận thức sâu sắc về tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, cần làm sáng tỏ các yếu tố cấu thành tội phạm của tội này, theo đó:

- Về khách thể của tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được LHS bảo vệ bị tội phạm xâm pham tới Đối với tội CYGTT thì khách thể trực tiếp là quyền nhân thân với nội dung là quyền được bảo hộ, tôn trọng về sức khoẻ của con người

- Về mặt khách quan của tội phạm này là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trái pháp luật Hành vi này được thể hiện dưới dạng hành động, tác động vào cơ thể con người với các hành vi cụ thể như đâm, chém, đấm, đá… gây thương tích hoặc tổn hại cho một bộ phận hoặc toàn bộ cơ thể con người Hậu quả trong CTTP cơ bản của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc, thương tích hoặc tổn thương khác cho sức khỏe phải từ 11% trở lên hoặc thương tật dưới 11% nhưng phải thuộc các tình tiết định khung cơ bản quy định tại điểm a đến điểm

k khoản 1 Điều 134 BLHS Hậu quả do hành vi cố ý gây thương tích gây ra cũng có thể dẫn đến chết người Cần chú ý phân biệt hậu quả chết người trong tội này và tội giết người quy định tại Điều 123 BLHS.Ngoài ra còn có các dấu hiệu khác như công cụ, phương tiện…, tuy các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP nhưng có ý nghĩa chứng minh để xác định đúng tội danh và quyết định hình phạt

- Về mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Động cơ, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Về chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 1,

Trang 6

2 và từ đủ 14 tuổi trở lên đối với trường hợp phạm tội theo quy định tại khoản 3, 4,

5 Điều 134 BLHS

Trên thực tế, tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có những biểu hiện gần giống với tội giết người Do đó, cần có sự phân biệt giữa hai tội này, nhất là ở hai trường hợp sau:

Trường hợptội cố ý gây thương tích cho người khác nhưng dẫn đến hậu quả chết người với tội giết người ở giai đoạn phạm tội chưa đạt (hậu quả chết người chưa xảy ra nằm ngoài ý muốn của người phạm tội) Điểm giống nhau của trường hợp này là hậu quả cùng gây thương tích cho người khác Nhưng điểm khác nhau

cơ bản làtrong tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của người khác người phạm tội không mong muốn hậu quả chết người xảy ra mà chỉ mong muốn hoặc bỏ mặc cho hậu quả gây thương tích xảy ra Còn trường hợp phạm tội giết người c(ở giai đoạn chưa đạt) thì người phạm tội mong muốn hậu quả chết người xảy ra, hậu quả không xảy ra là ngoài ý muốn của họ

Trường hợp tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại của người khác dẫn đến chết người với tội giết người ở giai đoạn hoàn thành (hậu quả chết người đã xảy ra) Mặc dù trường hợp này cả hai tội đều có điểm giống nhau là cùng gây ra hậu quả chết người nhưng cần phân biệt: Đối với hành vi cố ý gây thương tích dẫn đến chết người, người phạm tội không mong muốn làm chết người và cũng không có ý thức bỏ mặc hậu quả chết người xảy ra mà chỉ mong muốn hậu quả thương tích xảy

ra Còn đối với hành vi trong tội giết người, người phạm tội biết rõ hành vi của mình là tước đoạt mạng sống của người khác một cách trái pháp luật và mong muôn đạt được hậu quả chết người

Để xác định ý thức chủ quan của người phạm tội, có thể xác định từ động cơ, mục đích của người phạm tội và có thể qua các tình tiết biểu hiện ra bên ngoài như công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, vị trí tác động,…

Như vậy, tội này bao gồm hai hành vi Hành vi: "Gây thương tích cho người

khác" là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể con người làm cho

con người có những thương tích nhất định (để lại dấu vết) và hành vi "Gây tổn hại

cho sức khỏe của người khác" là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân

thể con người làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi, không còn nguyên vẹn như

Trang 7

trước mặc dù không để lại dấu vết trên thân thể họ, hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân, làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó Đây là tội ghép gồm hai tội quy định trong cùng một điều luật: Tội cố ý gây thương tích cho người khác và tội gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Có thể hiểu, gây thương tích là gây ra, để lại các dấu vết trên thân thể làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, còn gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là làm mất mát, hư hại một phần, không còn nguyên vẹn như trước nữa đối với sức khỏe con người.Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tuy là hai tội, song hành vi khách quan và hậu quả của nó rất giống nhau, có nhiều điểm tương đồng nhau Do vậy, các nhà làm luật đã xếp trong cùng một điều luật Để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì phải xác định được tội danh mà người đó đã phạm phải, được quy định trong BLHS Căn cứ để xác định tội danh phải dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm pháp lý cơ bản đặc trưng nhất của một tội cụ thể Khoa học hình sự gọi những dấu hiệu đặc trưng đó là các yếu tố cấu thành tội phạm

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người kháclà hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách

cố ý xâm hại sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác

Vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vụ việc phát sinh khi có các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật hình

sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý nhằm xâm hại sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác

1.1.1.2 Khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

Để xây dựng khái niệm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì cần phải làm rõ khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự và khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trước hết, nói đến chứng minh là nói đến “dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để

chỉ rõ điều gì đó là đúng hay không đúng” [40, tr.256] Như vậy, chứng minh có thể

hiểu là hoạt động có mục đích của con người trong tư duy, nhận thức hoặc trong thực tiễn, qua đó xác định sự đúng, sai của một sự vật, hiện tượng, xác định sự tồn

Trang 8

tại hay không dựa trên những chứng cứ cụ thể Hoạt động chứng minh là một trong những hoạt động xã hội và là một trong những hoạt động thực tiễn không thể thiếu của con người Chính vì vậy, hoạt động này dựa trên lý luận Mác - Lênin về nhận thức, đó là quá trình nhận thức thế giới khách quan của con người từ cảm tính đến

lý tính, từ những hiện tượng cá biệt đến cái chung, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong, thông qua những giả thiết, khả năng đánh giá, đối chiếu, tổng quan

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan TTHS phải thu thập chứng cứ để chứng minh Do đó, chứng minh trong TTHS là một trong những dạng

của hoạt động chứng minh nói chung: “Chứng minh tội phạm là thu thập, kiểm tra,

đánh giá chứng cứ để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội” [31,

tr.161] Muốn xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự thì cac cơ quan THTT

có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp hợp pháp nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội cũng như những tình tiết có ý nghĩa khác, đây là hoạt động phức tạp, phải trải qua đầy đủ các hoạt động từ thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ Trên thực tế, những dấu vết của vụ án luôn tồn tại trong thế giới khách quan, được con người và môi trường vật chất ghi lại, phản ánh lại Thực chất quá trình chứng minh trong TTHS là quá trình con người nhận thức về vụ, nhận thức về những sự kiện phạm tội đã xảy ra Để nhận thức được vụ án, con người sẽ phải tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá những gì thu thập được Có thể nói, đây là quá trình xác định sự thật khách quan đối với vụ án, là quá trình nhận thức chân lý trên cơ sở thực tiễn, đi từ cái chưa biết đến biết, phản ánh biện chứng các sự vật và hiện tượng của thế giới vật chất vào trong ý thức con người, tuân theo các quy luật của phép biện chứng duy vật

Khái niêm chứng minh trong TTHS đến nay còn nhiều quan điểm khác nhau

về mặt khoa học pháp lý Tuy nhiên, dù quan điểm khác nhau, nhưng xét về bản chất, đa số các quuan điểm đều thừa nhận đây là quá trình nhận thức khách quan theo quan điểm điểm Mác-xít Theo tác giả, chứng minh trong TTHS là một quá trình chứng minh, quá trình này phải đảm bảo đầy đủ các yếu tố bao gồm cơ sở pháp lý, chủ thể, đối tượng và phương tiện chứng minh Trên cơ sở đó, tác giả thống

nhất với quan điểm “Quá trình tư duy và thực tiễn của cơ quan điều tra và những

Trang 9

người có quyền chứng minh dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật TTHS để thu thập, kiểm tra và đánh giá các thông tin, tài liệu cần thiết nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan vụ án”

[32, tr.183]

Quá trình chứng minh trong VAHS là trải qua các giai đoạn TTHS như giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử Các hoạt động này đều thực hiện dưới hình thức, biện pháp, thẩm quyền tố tụng hình sự khác nhau, dựa trên cơ sở pháp lý là các văn bản: Bộ luật TTHS, Tổ chức CQĐT hình sự, Luật tổ chức VKSND, Luật

Tổ chức TAND… Mục đích của quá trình chứng minh trong VAHS của các cơ quan THTT là xác định sự việc phạm tội và người phạm tội, xác định những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Quá trình chứng minh VAHS bao gồm nhiều hoạt động khác nhau như bắt đầu từ khi giải quyết nguồn tin về tội phạm Mỗi giai đoạn tố tụng khi chứng minh VAHS đều tiến hành những hành vi tố tụng đặc trưng như: giai đoạn khởi tố vụ án hình sự do cơ quan có thẩm quyền khởi tố chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm không để quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự; giai đoạn điều tra do CQĐT (hoặc Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra) tiến hành nhằm là rõ đối tượng chứng minh trong giai đoạn điều tra với những hành vi

tố tụng đặc trưng như: KTBC, lấy lời khai những người tham gia tố tụng, tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS, kết luận điều tra hoặc đình chỉ điều tra…; Giai đoạn truy tố do VKS tiến hành thể hiện qua hoạt động thực hành quyền công tố (là chức năng duy nhất chỉ VKS mới có thẩm quyền tiến hành)

và kiểm sát hoạt động của CQĐT, Tòa án Giai đoạn xét xử do Tòa án tiến hành nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và quyết định hình phạt cũng như các quyết định khác theo quy định của pháp luật Các hành vi tố tụng chủ yếu của giai đoạn này như: Xét hỏi bị cáo hoặc hỏi những người tham gia tố tụng khác, Nghị án; Tuyên án… Tất cả những hoạt động trên đều phải được tiến hành theo đúng trình

tự, thủ tục do BLTTHS quy định, nhằm chứng minh sự thật khách quan của VAHS, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Trên cơ sở những quy định của pháp luật như BLTTHS, Luật Tổ chức CQĐT hình sự, Luật Tố chức VKSND, Luật Tổ chức TAND, các văn bản pháp luật

Trang 10

khác cũng như thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử có thể đi đến kết luận: Quá trình chứng minh VAHS là quá trình mà các Cơ quan có thẩm quyền THTT, người có thẩm quyền THTT thực hiện hoạt động nhận thức chân lý về vụ án hình sự Quá trình chứng minh vụ án hình sự thể hiện ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử vụ

án hình sự

Để có thể dựng khái niệm chứng minh trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, còn cần phải làm sáng tỏ thế nào là giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Như đã phân tích

ở trên, vụ án phát sinh khi phát hiện có các dấu hiệu cấu thành tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà CQĐT và các cơ quan khác theo quy định của pháp luật ra quyết định khởi tố vụ án Trong quá trình giải quyết VAHS nói chung và vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng, điều tra là hoạt động TTHS giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi thông qua hoạt động điều tra nhằm phát hiện, thu thập kịp thời những chứng cứ để chứng minh tội phạm

và người phạm tội, xác định tính chất cũng như mức độ thiệt hại mà tội phạm đã gây ra Thông quan kết quả điều tra, làm cơ sở cho VKS thực hiện việc truy tố và Tòa án xét xử tội phạm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Có thể nói, hoạt động điều tra là hoạt động cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự, điều tra chính là

“công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” [31] Từ những lập luận nêu trên, có thể

khái niệm điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác như

sau: “Điều tra trong vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe

người khác là những hoạt động tố tụng do các cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành bằng các biện pháp mà pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm nhằm xác định sự thật của vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ”

Như vậy, điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

là hoạt động áp dụng pháp luật, hoạt động này được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật TTHS nhằm chứng minh, làm sáng tỏ vụ

án trong suốt quá trình tố tụng Qúa trình chứng minh trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được bắt đầu từ khi Cơ quan có thẩm

Trang 11

quyền khởi tố vụ án và kết thúc khi Cơ quan này kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra Đây là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng, làm tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo Để chứng minh, CQĐT được sử dụng mọi biện pháp hợp pháp để thu thập chứng cứ và phải sử dụng, đánh giá tất cả những chứng cứ đó, xây dựng các giả thuyết điều tra có thể xảy ra, vì những quyết định của CQĐT trong giai đoạn này là sự đánh giá, kết luận đầu tiên về VAHS, thể hiện tính pháp lý và thể hiện sự thật khách quan của vụ án Giai đoạn chứng minh này có vị trí và vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả truy tố của VKS cũng như hoạt động xét xử của Tòa án Bên cạnh đó, chứng minh trong giai đoạn điều tra còn góp phần rất quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói riêng và tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác nói riêng.Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì, điều tra là giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật định để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án Giai đoạn điều tra được tính từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi cơ quan

có thẩm quyền kết thúc điều tra bằng Bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc Quyết định đình chỉ vụ án và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát

Từ tất cả những điều phân tích trên đây có thể xây dựng khái niệm thực hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức

khỏe người khác như sau: Chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc

gây tổn hại cho sức khỏe người khác là hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ theo trình tự, thủ tục được BLTTHS quy định của những chủ thể tiến hành

tố tụng nhằm làm làm rõ hành vi xâm hại sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn thương khác góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Như vậy, những đặc điểm thuộc về bản chất của quá trình chứng minh như chủ thể, phương tiện, thủ tục, nội dung và mục đích chứng minh đã được đề cập trong khái niệm nêu trên

Trang 12

1.1.2 Đặc điểm chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

Mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, do đó

mà các chủ thể chứng minh cũng như nội dung chứng minh, phương tiện chứng minh…cũng có sự khác nhau Hơn nữa, mỗi vụ án khác nhau lại có những đặc trưng riêng Do đó, mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau, mỗi vụ án khác nhau sẽ có những đặc điểm riêng khác nhau Đối với hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, gồm những đặc điểm sau:

Thứ nhất, kết luận giám định là nguồn chứng cứ bắt buộc phải có trong việc

chứng minh đối với vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác Theo quy định tại điểm 4 Điều 206 BLTTHS năm 2015 thì, cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe hoặc khả nang lao động Khi chứng minh đối với vụ án cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nếu không dựa vào kết luận giám định thì cơ quan có thẩm quyền không thể xác định được tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra và đây cũng là một trong những vấn đề cần phải chứng minh trong bất cứ vụ án hình sự nào

Thứ hai: Chủ thể của hoạt động chứng minh: Trong quá trình chứng minh vụ

án hình sự nói chung, bao gồm nhiều chủ thể khác nhau tùy thuộc vào mỗi giai đoạn

tố tụng khác nhau Trong giai đoạn điều tra, các chủ thể chứng minh là những người

có thẩm quyền THTT trong giai đoạn điều tra, đây là những người có kiến thức về pháp luật và nghiệp vụ điều tra, biết vận dụng linh hoạt các biện pháp khoa học kỹ thuật, kết hợp giữa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn để phát hiện và điều tra được tội phạm Chủ thể chứng minh ở giai đoạn điều tra nói chung và trong vụ án cố ý gây thương tích nói riêng là những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên hoặc cán bộ điều tra của các cơ quan được giao nhiệm

vụ tiến hành một số hoạt động điều tra : Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, kiểm ngư, lực lượng cảnh sát biển hoặc các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân Theo quy định của BLTTHS thì những người tham gia tố tụng khi được các cơ quan có

Trang 13

thẩm quyền tố tụng yêu cầu cũng tham gia vào hoạt động chứng minh nhưng họ không phải chủ thể chứng minh

Thứ ba: Thời hạn điều tra Thời hạn điều tra vụ án hình sự được tính kể từ khi khởi

tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra Trong thời hạn này, các Cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án phải tiến hành các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ để ban hành các văn bản tố tụng làm cơ sở cho các giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết VAHS Khi chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, CQĐT phải xác định hành vi phạm tội thuộc khoản nào của Điều

134 BLHS, căn cứ vào đó để tính thời hạn điều tra Trường hợp tội phạm thực hiện

là tội ít nghiêm trọng thuộc khoản 1 Điều này thì thời hạn điều tra không quá hai tháng, thuộc khoản 2 thì thời hạn điều tra trọng không quá ba tháng, thuộc khoản 3,4,5 là tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì thời hạn điều tra không quá bốn tháng Tuy nhiên, trường hợp hết thời hạn điều tra nói trên mà không thể kết thúc việc điều tra thì CQĐT có thể xem xét đề nghị Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, quyết định gia hạn điều tra Thời hạn có thể gia hạn điều tra bao gồm: gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng đối với tội ít nghiêm trọng; Gia hạn hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng đối với tội nghiêm trọng; Gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng đối với tội rất nghiêm trọng; Gia hạn điều tra ba lần mỗi lần không quá bốn tháng đối với tội đặc biệt nghiêm trọng Khi hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì CQĐT phải đình chỉ điều tra Việc quy định thời hạn điều tra nhằm giúp CQĐT nêu cao tinh thần trách nhiệm trong điều tra vụ án, đảm bảo quyền lợi của những người tham gia tố tụng Bên cạnh đó, pháp luật cũng có quy định về thời hạn điều tra bổ sung, phục hồi điều tra và điều tra lại

Thứ tư: Các phương tiện điều tra Các CQĐT có thể sử dụng mọi biện pháp,

phương tiện, chiến thuật hợp pháp trong quá trình chứng minh tội phạm ở giai đoạn điều tra Bên cạnh các phương tiện chứng minh theo quy định của BLTTHS, các CQĐT còn sử dụng các phương tiện trong khoa học điều tra hình sự như các phương tiện kỹ thuật hình sự, các thủ thuật, chiến thuật điều tra hình sự cụ thể Tuy nhiên cần lưu ý khi sử dụng các phương tiện, kỹ thuât, chiến thuật trong khoa học

Trang 14

điều tra hình sự để điều tra tội phạm ở giai đoạn điều tra luôn phải phù hợp với quy định của pháp luật TTHS, không được xâm phạm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Muốn chứng minh vụ án hình sự khách quan, toàn diện và đầy đủ, phải dựa vào nguồn chứng cứ và chứng cứ trong TTHS, đây là phương tiện duy nhất được cơ quan THTT sử dụng để chứng minh VAHS Nguồn chứng cứ là những thông tin phản ánh về sự việc phạm tội Để thu thập chứng cứ chứng minh sự việc phạm tội, người phạm tội cũng như những tình tiết có ý nghĩa khác, trước hết CQĐT phải xác định được các nguồn chứng cứ của vụ án Thông qua các phương tiện điều tra do pháp luật TTHS quy định, Điều tra viên, KSV, cán bộ điều tra…tiến hành nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, đảm bảo các chứng cứ thu thập được có đầy đủ các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp phù hợp cho quá trình chứng minh trong điều tra vụ án CYGTT, cũng như toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự

Thứ năm: Mục đích chứng minh Quá trình chứng minh trong điều tra vụ án

CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được Cơ quan có thẩm quyền, người có thẩm quyền THTT tiến hành nhằm xác định chân lý khách quan của vụ án Quá trình này thực chất là quá trình nhận thức về vụ án hình sự đang được chứng minh của các chủ thể có trách nhiệm chứng minh Do đó mục đích của hoạt động chứng minh trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là xác định sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ của vụ án, xác định có tội phạm và bị can - người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác hay không, để ban hành kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ điều tra, góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự này Từ hoạt động chứng minh trong VAHS nói chung và chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án nói riêng, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền con người, quyền là lợi ích hợp pháp của công dân

Thứ sáu: Nội dung của hoạt động chứng minh: Đây cũng là phần tương đối

quan trọng trong quá trình chứng minh VAHS Khi chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác cũng bao gồm các hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ Điều tra viên cũng như những chủ thể có thẩm quyền tố tụng khác phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp

Trang 15

nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá những thông tin, tài liệu, tái hiện lại sự kiện phạm tội đã xảy ra trước đó trong thực tiễn dưới cả hai hình thức: phản ánh trong ý thức của con người và trong môi trường vật chất

Trong quá trình chứng minh VAHS, phải đảm tính khách quan, toàn diện và đầy đủ Để đảm bảo tính toàn diện của hoạt động chứng minh vụ án thì phải xác được định đối tượng chứng minh, đảm bảo tính đầy đủ thì phụ thuộc việc xác định giới hạn chứng minh Do đó, để nhận thức đầy đủ, toàn diện và đưa ra kết luận đúng đắn khi giải quyết VAHS, cơ quan có thẩm quyền THTT phải thu thập đầy đủ chứng cứ về việc tồn tại hay không tồn tại của các yếu tố thuộc đối tượng chứng minh Giai đoạn điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình chứng minh, có ý nghĩa quan trọng đối với các giai đoạn sau này, do đó, vấn đề này cần được xem xét kỹ lưỡng Để giải quyết vấn đề này, các chủ thể có thẩm quyền THTT khi quyết định cần thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng những chứng cứ phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự, căn cứ vào tình hình thực tế trong từng vụ án cụ thể cũng như dựa vào cả niềm tin nội tâm và ý thức pháp luật để làm sáng tỏ từng tình tiết có liên quan và toàn bộ các tình tiết thuộc đối tượng chứng minh của vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Như vậy, đặc điểm của hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chủ yếu tập trung ở việc phát hiện, thu thập, kiểm tra và đánh giá và sử dụng chứng cứ chứng minh nhằm đưa ra kết luận chính thức đầu tiên về vụ án hình sự đang thụ lý giải quyết thông qua Bản kết luận điều tra hoặc các quyết định tố tụng cần thiết khác

1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố

ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

Trong quá trình giải quyết các VAHS nói chung và vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng, các hành vi và quyết định tố tụng được thực hiện ở giai đoạn này chiếm số lượng khá lớn Vì vậy, trách nhiệm chứng minh tội phạm được giao cho các cơ quan có thẩm quyền tố tụng thực hiện, trong

đó vai trò nổi bật là CQĐT Hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoăc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có những ý nghĩa sau:

Trang 16

Thứ nhất, việc thực hiện tốt hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra

vụ án CYGTT hoăc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác góp phần đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay Hoạt động này là tiền đề quan trọng cho hoạt động chứng minh trong các giai đoạn tiếp theo của vụ án Nếu việc thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đảm bảo khách quan, toàn diện và đầy đủ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết được đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm Ngược lại, nếu hoạt động này chưa đầy đủ, toàn diện, sẽ dẫn đến các kết luận không chính xác, không những ảnh hưởng đến các quyền và lơi ích hợp pháp của công dân mà còn làm mấ niềm tin đối với các cơ quan có TQTHTT, lớn hơn nữa là Nhà nước, xã hội

Như vậy, hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác góp phần đảm bảo pháp chế XHCN, đảm bảo các quyền con người và quyền công dân Kết quả của hoạt động chứng minh trong giai đoạn này cũng sẽ góp phần giúp VKS, Tòa án giải quyết đúng đắn vụ án, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp, sức khỏecủa con người đã bị hành vi CYGTT xâm phạm, góp phần giữ vững trật tự, an toàn xã hội

Thứ hai, hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho các quyết định trong giai đoạn này được chính xác, khách quan, không làm oan người vô tội, người bị thiệt hại về sức khỏedo hành vi phạm tội gây ra được bồi thường thỏa đáng, được bảo vệ theo quy định của pháp luật, đảm bảo công bằng xã hội

Thứ ba, những kết quả thu được của hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khácgiúp CQĐT cũng như các cơ quan THTT đưa ra các quyết định tố tụng chính xác, hạn chế tối đa những sai sót có thể xảy ra Thông quan hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác cũng giúp các chủ thể chứng minh có thể phát tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, từ đó

áp dụng và hoặc đưa ra những kiến nghị phòng ngừa tội phạm

Trang 17

1.2 Đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

1.2.1 Đối tượng chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

Khi chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, các cơ quan hoặc người có thẩm quyền THTT phải xác định

đối tượng chứng minh Đối tượng chứng minh là “tất cả các tình tiết phải được xác

định đảm bỏ cho việc giải quyết đúng đắn, khách quan, toàn diện vụ án hình sự”

[34, tr.215] Đây cũng là mục đích của quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong đó

có giai đoạn điều tra vụ án hình sự Việc xác định đúng đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng nhằm xác định đúng giới hạn và phạm vi chứng minh Nếu xác định thiếu đối tượng chứng minh sẽ khiến cho việc giải quyết vụ án thiếu chính xác, thiếu khách quan Nếu xác định đối tượng chứng minh quá rộng so với tình tiết liên quan đến vụ án đang chứng minh thì sẽ dẫn đến tình trạng tốn thời gian, công sức, kinh phí để làm rõ, trong khi thời gian tố tụng được pháp luật quy định có giới hạn

Mỗi vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác có diễn biến khác nhau do đó những vẫn đề phải chứng minh trong từng vụ án cụ thể cũng khác nhau, nhưng xác định đối tượng chứng minh là xác định toàn bộ những tình tiết phải thu thập để làm rõ vụ án Những chủ thể có quyền quyền phải chú ý đến những sự kiện trong thực tế có liên quan đến vấn đề chứng minh, có ý nghĩa đối với vấn đề chứng minh, để không mất quá nhiều thời gian làm sáng tỏ hoặc phân loại những tình tiết không có ý nghĩa Những vấn đề phải chứng minh đã được quy định trong BLTTHS, trong đó quy định đầy đủ nội dung về đối tượng chứng minh Đây chính

là những tình tiết bắt buộc, khi chứng minh vụ án không được bỏ sót bất cứ tình tiết nào thuộc nội dung đối tượng chứng minh Những vấn đề phải chứng minh được BLTTHS nước ta quy định tại Điều 85 Tuy nhiên, trong từng vụ án cụ thể, Cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải xác định đối tượng chứng minh cụ thể Trên cơ sở

đó, có thể thấy khi chứng minh trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, phải chứng minh những nội dung cơ bản sau đây:

Trang 18

- Có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác xảy ra hay không? Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

- Ai là người thực hiện hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; có lỗi hay không có lỗi; do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay không? Mục đích, động cơ phạm tội;

- Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS của bị can và đặc điểm về nhân thân của bị can;

- Tính chất thương tích, mức độ tổn hại sức khỏe của bị hại do hành vi phạm tội gây ra;

- Nguyên nhân, điều kiện phạm tội;

- Những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

Các tình tiết thuộc đối tượng chứng minh trong vụ án có liên quan chặt chẽ đến nhau, trong quá trình chứng minh, không được xem trọng hay coi nhẹ đối tượng nào mà phải xác định đầy đủ tất cả các tình tiết thuộc đối tượng chứng minh, trên cơ

sở đó kết luận về việc giải quyết vụ án

1.2.2 Giới hạn chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác

Giới hạn chứng minh là tổng hợp chứng cứ cần và đủ để giải quyết đúng đắn, khách quan VAHS, nó chỉ rõ phương tiện và ranh giới của quá trình chứng minh

Do vậy, nếu chỉ xác định đúng đối tượng chứng minh mà xác định thiếu giới hạn chứng minh thì việc giải quyết vụ án chưa thể toàn diện Xác định đúng, đủ giới hạn chứng minh chính là chỉ ra ranh giới của việc thu thập, nghiên cứu những tình tiết nào có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hình sự Tuy nhiên, khác với đối tượng chứng minh được quy định cụ thể trong BLTTHS, giới hạn chứng minh không được quy định cụ thể trong Điều luật nào Để điều chỉnh hoạt động của Cơ quan và người

có thẩm quyền tố tụng, pháp luật chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, theo đó khi thu thập chứng cứ, đánh giá chứng cứ phải tôn trọng sự thật của toàn bộ

vụ án, phải đảm bảo khách quan, toàn diện và đầy đủ Mặc dù vậy, khi thu thập chứng cứ phải căn cứ vào từng vụ án cụ thể và quy định của pháp luật, để đảm bảo chứng cứ cần và vừa đủ, không tràn lan những cũng không sơ sài, bỏ sót chứng cứ

Trang 19

Việc xác định giới hạn chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác có ý nghía rất quan trọng đảm bảo giải quyết đúng đắn VAHS Những nguyên nhân dẫn đến sai sót khi điều tra vụ án chủ yếu do không xác định đúng và đủ giới hạn chứng minh, với hai dạng sai sót chủ yếu là xác định quá hẹp, không đủ dẫn đến thiếu tình tiết để làm rõ vụ án hoặc quá rộng, dẫn đến tràn lan, lãng phí thời gian, công sức, chi phí tố tụng Cả hai dạng này đều có thể dẫn đến không kết luận được hoặc chậm kết luận, ảnh hưởng đến tiến độ

cũng như chất lượng giải quyết vụ án Như vậy, “giới hạn chứng minh là khái niệm chỉ

rõ khối lượng chứng cứ cần và đủ để xác định một cách khách quan, toàn diện các tình tiết có ý nghĩa đối với việc làm sáng tỏ sự thật của vụ án hình sự” [15, tr.24]

1.3 Chủ thể chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chứng minh VAHS nhằm xác định sự thật của vụ án, xác định tội phạm và người phạm tội góp phần giải quyết vụ án đúng pháp luật Qúa trình chứng minh vụ

án hình sự diễn ra qua nhiều giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử VAHS, pháp luật cũng quy định yêu cầu, giới hạn cụ thể khác nhau về chủ thể chứng minh Theo quy định của Điều 15 BLLTTHS thì chủ thể chứng minh được phân chia thành hai nhóm, dựa trên quyền và nghĩa vụ của chủ thể, theo đó thì chủ thể có nghĩa vụ chứng minh thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, còn chủ thể có quyền chứng minh là những người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích liên quan đến việc giải quyết vụ án Căn cứ vào quy định của pháp luật, có thể xác định chủ thể chứng minh trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác như sau:

Thứ nhất, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh:

Ở giai đoạn điều tra, nghĩa vụ chứng minh thuộc về CQĐT và VKS (cụ thể là Điều tra viên và Kiểm sát viên) Điều tra viên có nghĩa vụ phát hiện và thu thập chứng cứ của vụ án thông qua các biện pháp hợp pháp, bao gồm các biện pháp điều tra theo BLTTHS và các hoạt động thuộc về khoa học điều tra hình sự, nhằm xác định chính xác đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh, để kết luận về VAHS Trong giai đoạn này, Điều tra viên tiến hành thu thập, kiểm tra các chứng

cứ và đánh giá từng chứng cứ theo sự phân công của thủ trưởng Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra có trách nhiệm kiểm tra và đánh giá toàn diện, tổng hợp các chứng cứ trong vụ án, trên cơ sở đó ra những quyết định để giải quyết vụ án

Trang 20

Bên cạnh đó, trong giai đoạn điều tra, với chức năng, nhiệm vụ của mình, VKS mà cụ thể là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật TTHS cũng thực hiện hoạt động chứng minh VAHS qua các hoạt động như đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu khởi tố Vì vậy, Điều tra viên của CQĐT

và Kiểm sát viên của VKS là những chủ thể có nghĩa vụ, trách nhiệm chứng minh ở giai đoạn điều tra VAHS

Trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, theo quy định của BLTTHS và pháp luật hiện hành, CQĐT, VKS mà cụ thể là Điều tra viên, Kiểm sát viên phải thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng đối với hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS, có trách nhiệm xác định đầy đủ những vấn đề phải chứng minh, áp dụng mọi biện pháp hợp pháp theo quy định để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy

đủ

Từ nhưng phân tích trên có thể khẳng định, chủ thể có nghĩa vụ chứng minh trong giai đoạn điều tra chủ yếu thuộc về CQĐT mà những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp là Điều tra viên và giám sát là Kiểm sát viên

Thứ hai, chủ thể có quyền chứng minh:

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, pháp luật quy định cho những người tham gia tố tụng có quyền chứng minh, đánh giá chứng cứ Tuy nhiên, đây là quyền của họ nên pháp luật không quy định chặt chẽ những điều kiện, nguyên tắc chứng minh, nguyên tắc đánh giá chứng cứ đối với các chủ thể này Người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản, người giám định khi được CQĐT yêu cầu tham gia vào quá trình chứng minh, giúp cho các chủ thể có quyền chứng minh, góp phần giải quyết đúng đắn VAHS, nhưng họ không không phải là chủ thể thực hiện hoạt động chứng minh VAHS nói chung, chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS nói riêng

1.4 Nội dung hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra

Quá trình chứng minh nói chung, hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng, là quá trình tư duy logic và thực tiễn của cơ quan và người có thẩm quyền THTT, bao gồm các hoạt động từ thu thập chứng cứ đến kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứngcứ trên cơ sở quy định của pháp luật để giải quyết

vụ án hình sự

Trang 21

1.4.1 Thu thập chứng cứ

Chứng minh trong giai đoạn điều tra VAHS là quá trình được hợp thành bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, trong đó thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên Cũng như giai đoạn điều tra vụ án hình sự là hoạt động đầu tiên của quá trình chứng minh vụ án hình sự, thì hoạt động thu thập chứng cứ cũng có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ quá trình chứng minh tội phạm trong giai đoạn

điều tra “Thu thập chứng cứ là hoạt động của chủ thể chứng minh phát hiện, thu

giữ, bảo quản các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án theo các trình tự, thủ tục

mà pháp luật tố tụng hình sự quy định” [34, tr218] Việc thu thập chứng cứ được

pháp luật TTHS quy định có nghĩa là các chủ thể tố tụng có thẩm quyền thu thập các loại nguồn chứng cứ hoặc thu thập ngay chính chứng cứ

Nghiên cứu các vụ án CYGTT và gây tổn hại cho sức khỏe người khác cho thấy bên cạnh những điểm giống nhau thì đa số các vụ án có những biểu hiện khác nhau về thủ đoạn phạm tội, về chủ thể cũng như các tình tiết liên quan khác Mỗi vụ

án xảy ra ở những khoảng thời gian, địa điểm, động cơ mục đích, công cụ phương tiện, quy mô tính chất…khác nhau đều có những đặc điểm riêng Hơn nữa, giữa hành vi phạm tội CYGTT và hành phạm tội giết người có nhiều điểm tương đồng, nếu không phân biệt rõ thì rất dễ định tội sai Những đặc trưng riêng này chính là những dấu vết đặc thù của từng vụ án, là chứng cứ mà Cơ quan hoặc người có thẩm quyền THTT tìm cách thu thập để làm phương tiện chứng minh vụ án hình sự

Muốn thu thập chứng cứ thì phải phát hiện được chứng cứ Cơ quan hoặc người có thẩm quyền THTT phải áp dụng các biện pháp theo quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế khách quan của vụ án để tìm ra những sự vật, hiện tượng hay dấu vết, tài liệu đang tồn tại trong thế giới vật chất, được phản ảnh lại Đặc biệt, đối với các vụ án CYGTT hoặc gây thương tích cho người khác, cần xác định những dấu vết thường liên quan đến loại tội phạm này như bị hại là ai, họ có yêu cầu khởi tố hay không, thương tích của họ ra sao, công cụ, phương tiện gây án, tính chất mực độ nghiêm trọng hay ít nghiêm trọng…

Ngay sau khi phát hiện được nguồn chứng cứ và chứng cứ, phải nhanh chóng tiến hành thu giữ chứng cứ Khi tiến hành thu giữ phải đảm bảo hợp pháp về nguồn

và hợp pháp về biện pháp thu giữ được quy định trong BLTTHS Bên cạnh đó, khi

Trang 22

thu giữ chứng cứ cũng cần đảm bảo khoa học, thận trọng, tỉ mỉ để không làm hư hại chứng cứ, làm giảm hoặc mất giá trị chứng minh

Ghi nhận chứng cứ là hoạt động tiếp theo, được tiến hành bằng cách mô tả, chuyển tải những thông tin đã được phát hiện thể hiện vào những văn bản tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật TTHS Khi ghi nhận chứng cứ cũng phải lựa chọn, chỉ ghi nhận những gì có liên quan đến đối tượng chứng minh và có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án, đồng thời, việc ghi nhận này phải đảm bảo cả về nội dung và hình thức của các văn bản tố tụng như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai, niêm phong vật chứng…Phải tôn trọng thuộc tính khách quan của chứng cứ, không được thêm bớt, ngụy tạo chứng cứ hay đánh giá theo ý chí chủ quan người phát hiện, thu giữ Đây cũng là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ thu thập được

Bước cuối cùng của hoạt động thu thập chứng cứ là bảo quản chứng cứ Hoạt động này nhằm bảo vệ, giữ gìn tính nguyên vẹn của chứng cứ, không để mất mát,

hư hỏng, lẫn lộn hoặc đánh tráo…Bởi lẽ, có nhưng vụ án khi đã mất hoặc hư hỏng chứng cứ, thì sẽ không thể thu thập lại được những chứng cứ đó Có thể nói, bảo quản chứng cứ chính là bảo quản giá trị chứng minh của chứng cứ Để đảm bảo yêu cầu này, khi phát hiện, thu giữ và bảo quản chứng cứ phải hết sức thận trọng, khách quan, lựa chọn biện pháp, hình thức phù hợp với quy định của BLTTHS đối với mỗi loại chứng cứ

Vậy: Thu thập chứng cứ trong quá trình chứng minh đối với điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là hoạt động của CQĐT nhằm phát hiện, thu giữ, ghi nhận và bảo quản chứng cứ theo trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định và được tiến hành từ các hoạt động điều tra sau đây:

- Thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can

- Thu thập chứng cứ từ lời khai của người làm chứng, người bị hại và những người khác

- Thu thập chứng cứ từ hoạt động đối chất, nhận dạng

- Thu thập chứng cứ từ hoạt động khám xét, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật

- Thu thập chứng cứ từ hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm

tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể và thực nghiệm điều tra

- Thu thập chứng cứ từ hoạt động trưng cầu giám định

Trang 23

1.4.2 Kiểm tra chứng cứ

Kiểm tra chứng cứ là hoạt động tiếp theo của quá trình chứng minh, được thực hiện sau khi phát hiện, thu thập chứng cứ Kiểm tra chứng cứ nhằm xác định lại những thông tin, tài liệu, chứng cứ thu thập được có thỏa mãn các quy định của pháp luật về tính khách quan, liên quan và hợp pháp của chứng cứ hay không Nếu đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ thì mới được xem là chứng cứ, mới được dùng

để chứng minh tội phạm và người phạm tội Do vậy, yêu cầu của kiểm tra chứng cứ

là các chủ thể có thẩm quyền THTT phải kiểm tra một cách tỉ mỉ, khách quan toàn diên và đầy đủ

Kiểm tra chứng cứ được tiến hành bởi những người có thẩm quyền THTT như Điều tra viên, Cán bộ điều tra và một số chủ thể tố tụng khác được giao nhiệm

vụ tiến hành điều tra Trong quá trình chứng minh, cac chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu những chủ thể khác tham gia các hoạt động kiểm tra chứng cứ Những chủ thể có thẩm quyền nêu trên có trách nhiệm kiểm tra tát cả các nguồn chứng cứ đã thu thập được Có thể sử dụng phương pháp kiểm tra từ riêng lẻ đến tổng hợp Kiểm tra riêng lẻ các thông tin, tài liệu, các nguồn chứng cứ thu thập được, có nghĩa là đưa từng tài liệu, chứng cứ ra để kiểm tra; kiểm tra theo nhóm chứng cứ hoặc kiểm tra tổng hợp toàn bộ hệ thống chứng cứ đã thu thập trong mối quan hệ với các chứng cứ khác có trong vụ án

Kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hoạt động xem xét của Cơ quan hoặc người

có thẩm quyền THTT đối với toàn bộ chứng cứ được thu thập về vụ án trong giai đoạn điều tra nhằm xác định chứng cứ có thỏa mãn đầy đủ các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp hay không, có đảm bảo giá trị chứng minh hay không nhằm hoàn thiện hồ sơ vụ án, ban hành các văn bản tố tụng để giải quyết vụ án Các phương pháp kiểm tra chứng cứ phải dựa trên cơ sở khoa học, bao gồm các phương pháp phổ biến như phân tích chứng cứ, so sánh, đối chiếu tổng hợp chứng cứ…Thông qua đó, có thể phát hiện được bản chất của chứng cứ, đặc trưng riêng của từng loại chứng cứ để chứng minh cho tình tiết nào của vụ án, tìm ra mâu thuẫn của những chứng cứ, đảm bảo tính tin cậy của chứng cứ Nếu xét thấy còn nghi ngờ, thiếu chắc chắn hoặc không khách quan thì phải tiến hành các hoạt động điều tra để thu thập chứng cứ mới thay thế, bổ sung cho các chứng cứ đã được thu thập Trong giai đoạn điều tra vụ án, khi kết thúc điều tra, CQĐT phải kiểm tra tất cả những

Trang 24

chứng cứ đã được thu thập, các văn bản tố tụng như kết luận điều tra hay quyết định đình chỉ điều tra chỉ được ban hành trên cơ sở chứng cứ đã được kiểm tra toàn diện

và đầy đủ Cụ thể là:

- Kiểm tra chứng cứ từ lời khai của bị can, lời khai của người làm chứng, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, xác định lời khai đã đẩy đủ hay chưa, có thiếu sót gì cần thu thập bổ sung hay không, đặc biệt là yêu cầu, đề nghị của bị hại, đây là một trong những căn cứ quan trọng trong vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

- Kiểm tra chứng cứ từ nguồn vật chứng là công cụ, phương tiện gây thương tích mà CQĐT thu thập được có mất mát, hư hỏng, đảm bảo giá trị chứng minh của vật chứng

- Kiểm tra kết luận giám định thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của bị hại, đây là nguồn chứng cứ rất quan trọng trong vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, là nội dung bắt buộc theo quy định tại khoản 4, Điều 206 BLTTHS năm 2015 Câu hỏi không thể thiếu trong trưng cầu giám định pháp y thương tích đó là mức độ (tỷ lệ %) thương tích (hay mức độ tổn hại sức khỏe) Cần chú ý những vụ án có nhiều bị hại hoặc những vụ án có nhiều kết luận giám định không thống nhất với nhau Kết quả giám định vấn đề này có ý nghĩa quyết định trong việc xác định hành vi đã cấu thành tội phạm hay chưa cũng như xác định tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự

- Kiểm tra chứng cứ từ các biên bản hoạt động điều tra như biên bản ghi lơi khai, đối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trường, giám định, thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật

1.4.3 Đánh giá chứng cứ

Đánh giá chứng cứ là một hoạt động phức tạp của quá trình chứng minh, là

“hoạt động tư duy logic của Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm, người bào chữa và những người khác có thẩm quyền trên cơ sở các quy định của pháp luật nhằm xác định tính khách quan, tính liên quan, tính hợp pháp của từng chứng cứ và giá trị chứng minh của tổng hợp các chứng cứ đã thu thập được trong

vụ án hình sự” [34, tr.222]

Trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác, hoạt động đánh giá chứng cứ được thực hiện xuyên suốt trong quá trình chứng minh, nhằm sử dụng chính xác, có hiệu quả những chứng cứ đã thu thập được Đối

Trang 25

với giai đọan này, nhiệm vụ chứng minh chủ yếu thuộc về Điều tra viên được phân công thụ lý vụ án Để đánh giá chứng cứ, ĐTV trước hết phải dựa vào các quy định của BLHS, Bộ luật TTHS cũng như các quy định khác liên quan, dựa vào các kiến thức khoa học điều tra hình sự, tội phạm học, tâm lý học,…kinh nghiệm trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và đối với tội phạm CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nói riêng Đánh giá chứng cứ trong giai đoạn điều tra, cần chú ý hai phương pháp sau đây:

Thứ nhất, đánh giá riêng lẻ từng chưng cứ Phương pháp này là đưa từng

chứng cứ ra xem xét, đánh giá, ví dụ như đánh giá lời khai của bị hại, yêu cầu khởi

tố của của bị hại trong trường hợp khởi tố theo yêu cầu, đánh giá thông tin thể hiện trong biên bản khám nghiệm tử thi…Khi đánh giá riêng lẻ chứng cứ, cần chú ý xem xét mối liên quan của nó với đối tượng chứng minh, có đảm bảo đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ hay không, nếu có vi phạm phải kịp thời bổ sung, thay thế ngay

Ví dụ, lời khai của bị hại là người dưới 16 tuổi mà không có cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của họ biết, không có người phiên dịch…Đây là những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Do đó, khi xem xét từng chứng cứ, phải đảm bảo chứng cứ được thu thập bằng các nguồn hợp pháp và bằng các biện pháp, trình tự thủ tục do BLTTHS quy định

Thứ hai, sau khi đánh giá xong từng chứng cứ, tiến hành đánh giá tổng hợp

toàn bộ chứng cứ thu thập được dựa trên mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với nhau của hệ thống chứng cứ Trong vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, cần xác định mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện gây án với thương tích của bị hại, dấu vết tại hiện trường và lời khai của những người liên quan, nhất

là trong các vụ án có nhiều đối tượng tham gia gây thương tích cho nhiều người hoặc một người những có nhiều thương tích bởi các công cụ, phương tiện khác nhau Đặc biệt, cần phân biệt giữa hậu quả trong tội CYGTT và tội giết người Đây

là hoạt động không thể thiếu được trong quá trình chứng minh Cần phải xác định là đánh giá riêng lẻ từng chứng cứ và đánh giá tổng hợp chứng cứ có quan hệ chặt chẽ với nhau Đánh giá từng chứng cứ là cơ sở để đánh giá tổng hợp chứng cứ, ngược lại đánh giá tổng hợp chứng cứ để xem xét các chứng cứ có mâu thuẫn với nhau hay không, có tạo thành một hệ thống chứng cứ thống nhất hay không Từ đó, CQĐT xác định chính xác, đầy đủ đối tượng, giới hạn chứng minh để ra Bản kết luận điều

ra và các văn bản tố tụng khác góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Trang 26

Trong vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, khi kiểm tra, đánh giá chứng cứ, cần chú ý đối với thương tích của bị hại ĐTV cần xác định thương tích trên cơ thể nạn nhân nằm ở bộ phận nào, đặc điểm (nhất là trường hợp nghi có tổn thương bên trong cơ thể); cơ chế hình thành thương tích là gì, đây

là câu hỏi đóng vai trò rất quan trọng trong xác định dấu hiệu tội phạm, xác định người gây ra thương tích, xác định dấu hiệu lỗi của chủ thể, xác định mức độ nguy hiểm và cá thể hóa trách nhiệm hình sự của người phạm tội đặc biệt là các vụ án có đồng phạm, trong đó nhiều người gây thương tích cho một người Lưu ý sự hình thành thương tích là một quá trình có sự tham gia của nhiều yếu tố tác động Các dấu vết thương tích được hình thành phụ thuộc vào một số yếu tố như trọng lượng của vật; lực tác động mạnh hay yếu; đánh thẳng, đánh xiên, đánh với, đánh hụt lúc nạn nhân bỏ chạy, đánh vát ; tư thế đứng, ngồi, cúi, dơ tay chống đỡ, gạt hung khí ra ; ngã, trượt, chèn ép, xoắn, vặn, xoay người ; gãy xương trực tiếp, gián tiếp hay trạng thái cơ thể (tỉnh táo, bất tỉnh, có sử dụng rượu, ma túy, )

Như vậy, quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án bao gồm các hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ Các hoạt động này có sự khác nhau về tính chất, phương pháp nhưng có quan hệ biện chứng với nhau, cùng mục đích nhằm chứng minh vụ án hình sự Nếu như bất cứ một hoạt động nào trong các hoạt động trên thực hiện không tốt thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động còn lại và ảnh hưởng đến hiệu quả của toàn bộ quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Do đó, các chủ thể có thẩm quyền chứng minh không được nhận thức cảm tính dễ dẫn đến sự ngộ nhận chứng cứ, không được chủ quan duy ý chí, không được định kiến khi thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, đây là những sai lầm nghiêm trọng cần phải tránh trong quá trình giải quyết vụ án

1.5 Quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dânkhi chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong quá trình giải quyết VAHS, các cơ quan có thẩm quyền THTT có trách nhiệm chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,

do đó mối quan hệ giữa các cơ quan THTT có mối quan hệ là tất yếu, khách quan

và được pháp luật TTHS quy định Trong mối quan hệ tố tụng hình sự giữa các cơ quan THTT thì quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKSND là mối quan hệ đặc biệt,

có ý nghĩa quan trọng, được hình thành ngay từ giai đoạn đầu tiên của quá trình giải

Trang 27

quyết VAHS, nhất là giai đoạn điều tra vụ án, khi CQĐT tiến hành áp dụng các quyết định tố tụng hình sự như áp dụng biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ chứng minh, VKSND bảo đảm cho hoạt động nói trên đúng pháp luật, khách quan, chính xác VKSND chỉ trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong các trường hợp luật định Nếu các quyết định tố tụng do CQĐT ban hành trái luật, không có căn cứ VKS yêu cầu CQĐT hủy bỏ hoặc VKS trực tiếp ra quyết định hủy bỏ CQĐT cũng kiểm soát lại một số hoạt động tố tụng của VKS nhưng mức độ kiểm soát của CQĐT đối với VKS chỉ dừng ở hoạt động theo dõi, giám sát chứ không có quyền phê chuẩn, yêu cầu, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của VKSND, mà chỉ kiến nghị với VKSND cùng cấp để hủy bỏ, khắc phục; nếu không nhất trí thì CQĐT kiến nghị VKSND cấp trên trực tiếp có trách nhiệm xem xét, giải quyết

Về hình thức thực hiện mối quan hệ tố tụng giữa CQĐT và VKS chủ yếu được thực hiện bằng văn bản tố tụng, tuy nhiên, trong một số trường hợp, để bảo đảm tính nhanh chóng, khẩn trương của hoạt động điều tra, nhất là đối với các vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, nhằm thu thập kịp thời chứng cứ chứng minh, pháp luật cho phép có thể được thực hiện bằng hình thức trao đổi, đối thoại trực tiếp giữa ĐTV, KSV khi tiến hành thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ

Khi chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và trong điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn tại cho sức khỏe của người khác, sự phối hợp giữa CQĐT và VKSND là tất yếu, khách quan, đều hướng đến mục đích là phát hiện nhanh chóng, xử lý tội phạm và người phạm tội đúng pháp luật, khách quan Trong giai đoạn điều tra VAHS, hoạt động chứng minh chủ yếu do CQĐT tiến hành nhưng phải phối hợp với VKSND để bảo đảm hoạt động chứng minh đạt được mục đích và tuân thủ đúng quy định của pháp luật CQĐT cũng như VKSND không thể tiến hành các hoạt động chứng minh vụ án một cách độc lập mà phải phối hợp chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ chứng minh Nếu hoạt động thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ đúng pháp luật, khách quan, toàn diện, đầy đủ, hoạt động chứng minh sự thật khách quan của vụ án

sẽ đạt được mục đích đề ra, đó là xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm

Trang 28

Tiểu kết chương 1

Quá trình chứng minh trong VAHS là trải qua các giai đoạn TTHS như giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Các hoạt động này đều thực hiện dưới hình thức, biện pháp, thẩm quyền tố tụng hình sự khác nhau Quá trình chứng minh là quá trình nhận thức, do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng nhằm giải quyết đúng đắn vụ án Thông qua các hoạt động này mà hiệu quả, giá trị chứng minh của các thông tin, tài liệu của vụ án được khẳng định Tổng hợp các hoạt động thu thập kiểm tra, đánh giá chứng cứ tạo thành nội dung của quá trình chứng minh trong TTHS

Hoạt động chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hoạt động giữ vai trò quan trọng, là cơ sở để tiến hành các hoạt động tố tụng ở các giai đoạn tiếp theo Trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự, chủ thể chứng minh đuộc BLTTHS quy định bao gồm chủ thể có nghĩa vụ chứng minh bao là CQĐT, VKS mà trực tiếp là ĐTV, KSV được giao thực hiện nghĩa vụ chứng minh và chủ thể có quyền chứng minh nhưng không có nghĩa

vụ buộc phải chứng minh là những người tham gia tố tụng có liên quan đến giải quyết VAHS Có thể thấy, quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác là quá trình tư duy và thực tiễn của chủ thể có thẩm quyền chứng minh Qúa trình này phải dựa trên các quy định của pháp luật, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết đúng đắn VAHS

Trang 29

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG MINH TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VÀ THỰC TIỄN CHỨNG MINH VỤ ÁN

CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE NGƯỜI KHÁC TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

2.1.1 Quy định về đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh

2.1.1.1 Quy định về đối tượng chứng minh

Khi vụ việc có dấu hiệu phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe xảy

ra, đòi hỏi quá trình điều tra phải làm rõ một loạt các vấn đề như: có sự việc phạm tội xảy ra hay không? Nếu có thì thời gian, địa điểm? Ai là người thực hiện tội phạm? Có lỗi hay không? Có đồng phạm hay không? Tính chất, mức độ thiệt hại? Để kết luận chính xác VAHS, đòi hỏi phải làm rõ các vấn đề đó Những tình tiết bắt buộc phải chứng minh trong tất cả các VAHS được khoa học pháp lý xác định là đối tượng chứng minh Bộ luật TTHS năm 2015 quy định đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự tại Điều 85 với nọi dung như sau:

“Điều 85 Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự

Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:

1 Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

2 Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3 Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4 Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra;

5 Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6 Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” [20]

Trang 30

Ngoài ra, đối với tất cả những vụ án do người dưới 18 tuổi thực hiện, trong hoạt động chứng minh phải làm rõ thêm các tình tiết khác quy định tại Điều 416 BLTTHS

Dựa vào ý nghĩa pháp lý hình sự của các vấn đề này đối với việc giải quyết VAHS, có thể chia thành ba nhóm: Những vấn đề phải chứng minh thuộc các yếu tố cấu thành tội phạm và các tình tiết định khung tăng nặng, định khung giảm nhẹ; Những vấn đề phải chứng minh nằm thuộc những tình tiết có ý nghĩa quyết định TNHS và hình phạt; Nhóm các tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với tội vụ án

Để nghiên cứu toàn diện những vấn đề phải chứng minh, cần phải nghiên cứu và làm sáng tỏ từng nhóm đối tượng chứng minh đối với loại tội phạm này

- Nhóm một: Những vấn đề phải chứng minh thuộc các yếu tố cấu thành tội phạm và các tình tiết định khung tăng nặng, định khung giảm nhẹ:

Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội là những vấn đề cơ bản cần phải làm rõ, thu thập đầy đủ các chứng cứ xác định người đó có hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác hay không Những vấn đề chứng minh nằm trong nhóm các yếu tố cấu thành tội phạm bao gồm chứng minh về khách thể, chứng minh về mặt khách quan, mặt chủ quan, chứng minh về chủ thể của tội phạm Trong giai đoạn điều tra, CQĐT phải thu thập đầy đủ tất cả chứng cứ liên quan đến việc xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm, theo điều, khoản nào của BLHS Khi đã xác định

có tội phạm xảy ra thì phải xác định ai là người phạm tội, họ có năng lực TNHS hay không, lỗi, đông cơ mục đích, tính chất mức độ thiệt hại như thế nào? Vụ án có đồng phạm, phải xác định vai trò, vị trí từng người trong đồng phạm…Thu thập chứng cứ để trả lời cho các câu hỏi trên, là cơ sở để xác định người có hành vi nguy hiểm cho xã hội đủ yếu tố cấu thành tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho người khác được quy định trong BLHS, là cơ sở để ban hành quyết định khởi tố vụ

án khởi tố bị can hoặc kết thúc điều tra được chính xác

Như vậy, khi tiến hành chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Điều tra viên, Kiểm sát viên phải chứng minh đầy đủ các tình tiết thuộc yếu tố cấu thành của tội phạm Các tình tiết này có ý nghĩa rất lơn đến việc định tội danh và truy cứu TNHS đối với người phạm tội

Trang 31

- Nhóm hai: Những vấn đề phải chứng minh nằm thuộc những tình tiết có ý nghĩa quyết định TNHS và hình phạt:

Trong quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, CQĐT, VKS mà chủ thể chính là ĐTV, KSV còn phải chứng minh những tình tiết liên quan đến quyết định miễn TNHS, miễn hình phạt cho bị can, bị cáo Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm của bị can, bị cáokhông có ý nghĩa xác định tội danh đối với người phạm tội trong vụ án Tuy vậy, nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức hình phạt trong phạm vi của khung hình phạt được Bộ luật Hình sự quy định đối với tội phạm đó

Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cần làm rõ bao gồm: Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội được quy định tại Điều 51 – Bộ luật Hình sự (Gồm 22 tình tiết); Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều

84 – Bộ luật Hình sự (Gồm 5 tình tiết); Những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình

sự đối với người phạm tội được quy định tại Điều 52 – Bộ luật Hình sự (Gồm 15 tình tiết); Những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Điều 85 – Bộ luật Hình sự (Gồm 6 tình tiết); Quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (Điều 54 – Bộ luật Hình sự);

Cùng với những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự còn phải chứng minh đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo, đây là yếu tố có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quyết định khung hình phạt Nhân thân của bị can, bị cáo là tổng hợp những yếu tố riêng biệt của bị can, bị cáo có quan hệ trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm bao gồm: tên, tuổi, tiền án, tiền sự, điều kiện sinh sống, giáo dục của họ Việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội không những có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện của tội phạm cụ thể, xác định được tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội Khi đã xác định được nhân thân người phạm, qua đó có thể góp phần tìm ra các biện pháp giáo dục và cải tạo người phạm tội phù hợp Bên cạnh đó, cũng giúp cho việc việc phòng ngừa và dự báo tình hình tộiphạm, góp phần đấu tranh, phòng chống tội phạm có hiệu quả

Trang 32

- Nhóm ba: Nhóm các tình tiết khác có giá trị chứng minh đối với tội vụ án: Ngoài những tình tiết bắt buộc chung trong hai nhóm nêu trên, CQĐT còn phải có trách nhiệm chứng minh những tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án BLTTHS quy định đối tượng chính minh trong Điều 85 là quy định chung cho tất cả các vụ án, nên trong từng vụ án cụ thể sẽ có những tình tiết khác có giá trị chứng minh trong vụ án cụ thể đó Do vậy, những tình tiết này BLTTHS năm 2015 không liệt kê trong Điều 85 và Điều 416 Những tình tiết khác

có giá trị chứng minh xuất hiện ở các vụ án cụ thể khác nhau, đó có thể là các tình tiết liên quan đến khởi tố theo yêu cầu bị hại, liên quan đến việc áp dụng biện pháp

tư pháp, liên quan đến việc xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại…Vì thế, đây cũng

là những tình tiết quan trọng thuộc về đối tượng phải chứng minh mà CQĐT phải làm rõ khi chứng minh vụ án trong giai đoạn điều tra VAHS

2.1.1.2 Quy định về giới hạn chứng minh

Giới hạn chứng minh có nghĩa là ranh giới của việc thu thập chứng cứ Xác định ranh giới để đảm bảo việc thu thập, nghiên cứu chứng cứ ở mức độ nào là đủ

để xác định sự thật của vụ án Tuy nhiên, như thế nào là giới hạn đủ thì chưa có Điều luật nào quy định cụ thể về vấn đề này Qúa trình xác định sự thật của vụ án được quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015: “…Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội” [20] Muốn đảm bảo tính toàn diện thì phải xác định đúng đối tượng chứng minh, còn muốn đảm bảo đầy

đủ thì phải xác định được giới hạn chứng minh Tuy nhiên, Việc xác định giới hạn này luôn phức tạp, bởi lẽ nếu xác định giới hạn chứng minh quá rộng thì không tập trung làm rõ được các tình tiết thuộc bản chất của vụ án, làm mất thời gian, chi phí,

có thể vội vàng mà kết luận khi chưa giải quyết được vấn đề cần chứng minh, điều này rất dễ dấn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm Nhưng nếu xác định giới hạn chứng minh quá hẹp thì dẫn đến thu thập không đủ tài liệu, bỏ sót các tình tiết có ý nghĩa, do đó khi kết luận cũng khó đảm bảo thuyết phục hoặc bỏ lọt tội phạm Vì

Trang 33

vậy, việc xác định đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh có ý nghĩa quan trọng góp phần giải quyết đúng đắn vụ án hình sự

Mặc dù quan trọng, nhưng Điều 85 BLTTHS năm 2015 chỉ quy định những vấn đề phải chứng minh, còn không có Điều luật nào xác định giới hạn chứng minh

Điều 108 quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ có đoạn “…Việc xác định những

chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự” Tuy nhiên

có thể thấy, đây là quy định mang tính khái quát, như thế nào là đủ thì không có quy định giải thích rõ ràng

Như vậy, giới hạn chứng minh yêu cầu CQĐT phải thu thập, làm rõ các tình tiết ở mức độ đủ, cần thiết để chứng minh vụ án Đối với mỗi vụ án khác nhau, số lượng chứng cứ thu thập cũng sẽ khác nhau để làm sáng tỏ một hay nhiều tình tiết

có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án

Do BLTTHS không có quy định cụ thể về giới hạn chứng minh, trong giai đoạn điều tra VAHS, để xác định được vấn đề này, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thể dựa vào tổng thể những quy định của BLHS và BLTTHS cũng như những văn bản pháp luật liên quan, kết hợp với trình độ, kinh nghiệm, niềm tin nội tâm, tinh thần trách nhiệm để xác định những tài liệu, chứng cứ cần thiết phải được thu thập Phải dựa vào từng vụ án cụ thể, không thể lấy một vụ án để áp dụng chung cho tất cả các vụ

án Trong giai đoạn điều tra VAHS, hoạt động chứng minh trong có vai trò quan trọng, mang tính định hướng, các chứng cứ thu thập được ở giai đoạn này có ý nghĩa quyết định trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự Do vậy, CQĐT cần phải xác định được đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh khi điều tra vụ án hình sự

2.1.2 Quy định về chủ thể chứng minh

Theo quy định tại Điều 15 BLTTHS năm 2015: “Trách nhiệm chứng minh

tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội…” [20]

Khoản 2 Điều 108 Bộ luật TTHS quy định: “Người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy

đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án”

Điều 15 và Điều 18 nêu trên chỉ quy định “Cơ quan có thẩm quyền tiến hành

tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng” mà không quy định cụ thể là cơ

Trang 34

quan nào và chủ thể nào Căn cứ Điều 34, 35 BLTTHS thì có thể xác định Cơ quan

có thẩm quyền THTT bao gồm Cơ quan THTT và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Người có thẩm quyền THTT bao gồm người THTT

và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Mỗi cơ quan hoặc người có thẩm quyền THTT sẽ có chức năng, nhiệm vụ khác nhau ở các giai đoạn tố tụng

Như vậy, trong giai đoạn điều tra, trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, trách nhiệm này được giao cho những người THTT cụ thể là Điều tra viên, Kiểm sát viên Khi được phân công thụ

lý vụ án, những người này có trách nhiệm chứng minh trong từng vụ án

Đối với CQĐT thì Điều tra viên được phân công thực hiện nhiệm vụ điều tra

vụ án có trách nhiệm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ liên quan đến VAHS, căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định có căn cứ chứng minh tội phạm

và người phạm tội cũng như những tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án hay không, từ đó ban hành các văn bản tố tụng như kết luận điều tra để nghị truy tố hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra

VKS có trách nhiệm chứng minh trong giai đoạn điều tra Trách nhiêm này được giao trực tiếp cho KSV thực hiện Với chức năng thực hành quyền công tố và

và kiểm sát điều tra trong giai đoạn điều tra VAHS, KSV đại diện VKS sẽ tiến hành kiểm tra, giám sát việc lập hồ sơ điều tra vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu điều tra,…nhằm đảm bảo quá trình chứng minh trong giai đoạn điều tra đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội

Quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn khác nhau việc trách nhiệm chứng minh và chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, nhưng có liên quan mật thiết đến nhau Kết quả chứng minh của giai đoạn trước sẽ là tiền đề cho việc đánh giá chứng cứ ở giai đoạn sau Nhất là giai đoạn điều tra, là giai đoạn đầu tiên của quá trình chứng minh Căn cứ vào các quy định của pháp luật cũng như nhiệm vụ của giai đoạn điều tra, có thể kết luận chủ thể có trách nhiệm chứng minh chủ yếu là Điều tra viên và Kiểm sát viên, trong đó vai trò chứng minh của Điều tra viên là rõ nét nhất ở giai đoạn điêu tra Điều tra viên,

Trang 35

Kiểm sát viên là những chủ thể có thẩm quyền THTT, cho nên pháp luật quy định những chủ thể này phải tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc chứng minh

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 2 Điều 153 và Điều 164 BLTTHS năm

2015 thì các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như Hải quan, Kiểm Lâm… và những người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra như cán bộ điều tra của những cơ quan nêu trên cũng có thẩm quyền điều tra trong một số vụ án lĩnh vực và địa bàn quản lý của họ Vì vậy, những cơ quan và người có thẩm quyền nêu trên cũng có thẩm quyền thu thập chứng cứ, chứng minh ở giai đoạn điều tra Tuy nhiên, tùy từng VAHS khác nhau và tính chất, mức độ khác nhau mà xác định những cơ quan này có thẩm quyền chứng minh hay không Đối với tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, không thuộc lĩnh vực mà các cơ quan này quản lý thì các cơ quan và người có thẩm quyền nêu trên không được giao nhiệm vụ chứng minh

Bên cạnh những chủ thể có nghĩa vụ chứng minh nêu trên, pháp luật còn quy định những chủ thể khác, là những người tham gia tố tụng có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến việc giải quyết VAHS Những người này có quyền chứng minh

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khoản 3 Điều 88 BLTTHS năm

2015 quy định: “Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ

cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án”[20] Như vậy, những người tham gia tố

tụng có quyền thu thập, đánh giá chứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho mình, nhưng đây là quyền của họ, họ không có nghĩa vụ buộc phải chứng minh, trách nhiệm chứng minh như đã phân tích ở trên, là thuộc về Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, mà trực tiếp là Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện ở giai đoạn điều tra Do đây là quyền của những người tham gia tố tụng, nên khác với chủ thể có nghĩa vụ chứng minh, pháp luật không quy định một cách chặt chẽ những nguyên tắc chứng minh đối với những người tham gia tố tụng khi thực hiện quyền chứng minh vụ án

2.1.3 Quy định về thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ

2.1.3.1 Quy định về thu thập chứng cứ

Thu thập chứng cứ là hoạt động của các chủ thể chứng minh phát hiện, thu giữ, bảo quản các thông tin, tài liệu liên quan đến vụ án theo trình tự, thủ tục do pháp luật tố tụng hình sự quy định [34, tr.218] Hoạt động thu thập chứng cứ phải

Trang 36

do những chủ thể do BLTTHS quy định mới có quyền hoặc nghĩa vụ thực hiện Như đã phân tích ở mục 2.1.2, trong giai đoạn điều tra, những người có thẩm thẩm quyền do luật tố tụng hình sự quy định có quyền thu thập chứng cứ bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên và cán bộ điều tra của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Ngoài những chủ thể có trách nhiệm thu thập được BLTTHS quy định thì những người tham gia tố tụng, cơ quan tổ chức hoặc bất cứ

cá nhân nào khác có liên quan đến giải quyết vụ án đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật

và trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án, theo Điều 15 BLTTHS

Việc thu thập chứng cứ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự, đặc biệt là giai đoạn điều tra Thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên của quá trình chứng minh Việc thu thập chứng cứ phải từ nguồn chứng cứ và biện pháp hợp pháp do BLTTHS quy định Những tài liệu, đồ vật do những người tham gai tố tụng khác cung cấp cũng phải được lập biên bản ghi nhận theo đúng trình tự, thủ tục mà BLTTHS năm 2015 quy định mới đảm bảo giá trị pháp lý chứng minh Những thông tin, tài liệu dù có thật, phản ánh đúng thực tế khách quan nhưng không được thu thập bởi những chủ thể do pháp luật quy định, không từ nguồn và những biện pháp hợp pháp theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng thì không được thừa nhận là chứng cứ, không được dùng để chứng minh vụ án Do vậy, hoạt động nay phải được tiến hành thận trọng, khách quan, đầy đủ theo quy định

Thu thập chứng cứ được thực hiện qua các trình tự, bao gồm phát hiện, thu giữ, ghi nhận và bảo quản chứng cứ, theo đó:

Phát hiện chứng cứ là sử dụng những biện pháp, phương pháp để tìm ra những dấu vết, tài liệu, đồ vật… có liên quan đến đối tượng chứng minh Mỗi vụ án đều có những đặc trưng riêng về dấu vết, có thể nhiều hoặc ít, có thể bị che dấu, làm giả dấu vết, vật chứng để đánh lạc hướng điều tra, do đó đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền phải hết sức linh hoạt, dựa vào các quy luật khách quan, quy luật hình thành dấu vết và tình hình thực tế vụ án để phát hiện dấu vết cần thu thập

Thu giữ chứng cứ được tiến hành sau khi đã phát hiện được những thông tin, tài liệu là nguồn chứng cứ có thể sử dụng để phục vụ cho việc chứng minh vụ án Khi đã phát hiện chứng cứ có giá trị chứng minh, các chủ thể có thẩm quyền phải tiến hành thu giữ nhanh chóng, khi thu giữ phải tôn trọng tính khách quan của

Trang 37

chứng cứ, đồng thời phải xác định giới hạn cần thu thập dựa vào những tình tiết liên quan đến vụ án cần phải chứng minh Bên cạnh đó, thu giữ phải cẩn thận, tỉ mỉ, sử dụng khoa học kỹ thuật để thu giữ, tránh trường hợp thu giữ nhưng không đảm bảo giá trị chứng minh vì không đủ định lượng, hoặc bị hư hỏng Cuối cùng, một vấn đề quan trọng không kém là phải bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ, nghĩa là thu giữ phải đúng theo thủ tục pháp luật quy định

Ghi nhận chứng cứ là việc thể hiện chứng cứ thu giữ vào các biên bản tố tụng như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất, Ngoài ra, đối với những vật chứng không đưa trực tiếp vào hồ sơ vụ án được, thì phải tiến hành ghi nhận bằng các hình thức như bản ảnh hiện trường, so đồ hiện trường, …

Bảo quản chứng cứ là hoạt động cuối cùng trong quá trình thu thập chứng

cứ Hoạt động này có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ, giữ gìn tính nguyên vẹn của chứng cứ, không để hư hỏng hoặc mất mát, tráo đổi làm giảm giá trị chứng minh Vấn đề bảo quản chứng cứ thực hiện theo đúng quy định tại Điều 90 BLTTHS năm 2015

Mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau, Cơ quan hoặc người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ khác nhau Đối với giai đoạn điều tra vụ án hình sự, CQĐT thường áp dụng nhiều biện pháp thu thập chứng cứ bao gồm những biện pháp được pháp luật tố tụng hình sự quy định và biện pháp nghiệp vụ theo khoa học Điều tra hình sự Đây là giai đoạn có vai trò quan trọng trong việc thu thập chứng cứ Trong giai đoạn này, những người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cũng có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu và trình bày những vấn đề

có liên quan đến vụ án

“Điều 88 BLTTHS năm 2015 quy định:

“1 Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án

2 Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ

Trang 38

trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa

3 Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án

4 Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ

án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này…”[20]

Căn cứ vào quy định này, có thể thấy, Điều luật quy định về chủ thể và hình thức thu thập chứng cứ Xét về mặt hình thức thu thập, trên tinh thần Điều luật, hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện dưới hai hình thức, là hình thức chủ động và hình thức thụ động

Đối với hình thức chủ động: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà trực tiếp là Điêu tra viên tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ như triệu tập và ghi lời khai những người tham gia tố tụng, yêu cầu cơ quan tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật…hoặc trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra cần thiết như khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định… Khoản 2 Điều 88 BLTTHS năm

2015 còn quy định người bào chữa mặc dù không phải chủ thể có nghĩa vụ bắt buộc chứng minh nhưng có thẩm quyền thu thập chứng cứ Theo quy định thì người bào chữa có quyền gặp và hỏi, nghe bị hại, bị can hoặc những người khác trình bày về tình tiết liên quan đến vụ án Họ cũng có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa

Đối với hình thức thụ động: Chứng cứ, đồ vật, tài liệu, dữ liệu điện tử được người tham gia tố tụng, cơ quan, tổ chức, cá nhân tự mình đưa ra và trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án Những thông tin, tài liệu do những chủ thể này cung cấp sẽ được các chủ thể có thẩm quyền tố tụng thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định

Dù theo hình thức chủ động hay thụ động, thì các thông tin, tài liệu cũng phải được thu giữ bằng các hình thức hợp pháp theo pháp luật tố tụng và đưa vào hồ

sơ vụ án Khi thu thập chứng cứ phải bảo đảm chứng cứ thỏa mãn đầy đủ các tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp Thu thập chứng cứ cụ thể phải tuân thủ

Trang 39

trình tự thủ tục quy đinh đối với biện pháp, hình thức tố tụng tương ứng với chứng

cứ đó, như thu thập vật chứng phải tuân thủ Điều 105 BLTTHS năm 2015; thu thập phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử phải tuân thủ Điều 107 BLTTHS năm 2015…

Như vậy, thu thập chứng cứ là hoạt động đầu tiên của quá trình chứng minh

vụ án hình sự Trong giai đoạn điều tra, những kết quả của hoạt động thu thập chứng cứ trong giai đoạn này có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đánh giá chứng

cứ và kết luận của CQĐT

2.1.3.2 Quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ

Đánh giá chứng cứ là hoạt động phức tạp trong quá trình nhận thức, là một khâu quan trọng trong quá trình chứng minh Xuyên suốt trong quá trình điều tra vụ án, các chủ thể có thẩm quyền THTT phải kiểm tra, đánh giá thường xuyên, liên tục những chứng cứ thu thập được, nhằm sử dụng kết quả đánh giá vào từng quyết định tố tụng cần thiết như khởi tố bị can, kết luận điều tra… Quy định về hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ được thể hiện trong Điều 108 BLTTHS năm 2015 như sau:

Điều 108 Kiểm tra, đánh giá chứng cứ

“1 Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự

2 Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ

Khi kiểm tra chưng cứ, chủ thể có thẩm quyền tố tụng phải tiến hành với nhiều phương pháp khác nhau Những phương pháp chủ yếu có thể được kiểm tra

Trang 40

là: Phân tích từng chứng cứ để xem xét các thuộc tính của chứng cứ có đảm bảo hay không để đưa vào sử dụng; so sánh, đối chiếu các chứng cứ với nhau để tìm mâu thuẫn; tiến hành thu thập chứng cứ mới hoặc thu thập thêm chứng cứ bổ sung; kiểm tra chéo những chứng cứ được thu thập bởi các chủ thể có nghĩa vụ thu thập, kể cả các chủ thể có quyền chứng minh

Khi đánh giá chứng cứ, các chủ thể có thẩm quyền phải tuân theo những nguyên tắc sau:

- Thứ nhất, đánh giá chứng cứ phải dựa trên quy định của pháp luật, mỗi chứng cứ phải đáp ứng đầy đủ và đạt được yêu cầu chứng minh Khoản1 Điều 108

BLTTHS quy định “Mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá để xác định tính

hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự" Như vậy, khi đánh giá chứng

cứ phải căn cứ vào BLHS, BLTTHS để đảm bảo các chứng cứ có đầy đủ tính khách quan, liên quan và hợp pháp Để đảm bảo yêu cầu chứng cứ phải “đủ để giải quyết

vụ án” thì các chủ thể có thẩm quyền tố tụng phải xác định đúng đối tượng chứng minh và giới hạn chứng minh

- Thứ hai, phải đánh giá tổng hợp toàn bộ chứng cứ đã thu thập được theo yêu cầu toàn diện, đầy đủ và khách quan, theo đúng tinh thần tại khoản 2 Điều 108

BLTTHS “Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền

hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ

đã thu thập được về vụ án" ĐTV, KSV phải kiểm tra, đánh giá toàn bộ hệ thống

chứng cứ trong mối quan hệ với các chứng cứ khác, không xem thường hoặc coi trọng bất cứ chứng cứ nào, có thể ưu tiên thứ tự xem xét chứ không được bỏ qua không xem xét, đồng thời phải kiểm tra, đánh giả cả những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cả chứng cứ buộc tội và gỡ tội, không định kiến theo đúng nguyên tắc suy đoán

vô tội

- Thứ ba, chứng cứ phải được đánh giá với tinh thần, trách nhiệm cao trên cơ

sở ý thức pháp luật Đây chính là yêu cầu đặt ra đối với các chủ thể đánh giá chứng

cứ như CQĐT, VKS mà trực tiếp là ĐTV, KSV Trong giai đoạn điều tra thì vai trò của Điều tra viên khi thu thập, đánh giá chứng cứ là hết sức quan trọng Do vậy, khi đánh giá chứng cứ, trên cơ sở ý thức pháp luật, các chủ thể này phải phải đánh giá

Ngày đăng: 14/01/2022, 23:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w