Tuy nhiên, do sự thay đổi của các quy định pháp luật và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đặc biệt là đối với tội phạm về chức vụ, đòi hỏi VKS p
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
DOÃN CAO SƠN
YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
VỀ CHỨC VỤ TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH XUÂN NAM
Hà Nội, năm 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn “Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” đã được hoàn thành thể
hiện kết quả tổng hợp, cô đọng của hai năm học cao học tại Học viện Khoa học xã hội
Tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn các thầy, cô là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ đã tham gia giảng dạy lớp cao học khoá 2019 - 2021, đặc biệt xin cảm ơn TS Đinh Xuân Nam – Trường Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình, nghiêm túc, trực tiếp hướng dẫn, chỉ đạo tôi hoàn thành luận văn này
Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Hội đồng chấm luận văn; cảm ơn Học viện Khoa học xã hội đã giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn
Tác giả
Doãn Cao Sơn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ 8
1.1 Những vấn đề lý luận về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ 8 1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ 24
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 30
2.1 Các kết quả đạt được về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai 30 2.2 Thực trạng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai 34 2.3 Thực trạng thực hiện yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai 57
Chương 3 : CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ 64
3.1 Tăng cường nhận thức, trách nhiệm về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự về chức vụ 64 3.2 Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ 65 3.3 Tăng cường năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Kiểm sát viên, Điều tra viên 67 3.4 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành 69
Trang 43.5 Tăng cường quan hệ phối hợp giữa Kiểm sát viên và Điều tra viên, giữa Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra 02 cấp tỉnh Đồng Nai 70
KẾT LUẬN 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN
Khái niệm về Bản yêu cầu điều tra
Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về bản yêu cầu điều tra Qua tham khảo bài viết của một số tác giả khi nghiên cứu về bản YCĐT của KSV được đăng trên tạp chí ngành kiểm sát có thể đưa ra một số khái niệm về bản yêu cầu điều tra như sau:
Theo quan điểm của tác giả Vũ Đức Thới [28, tr 15] thì: “Bản yêu cầu
điều tra là một văn bản pháp lý do Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình giám sát hoạt động điều tra Nhằm xác định điều tra vụ án đúng hướng và việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác đúng pháp luật nhằm tránh làm oan, sai và bỏ lọt tội phạm”
Trang 6Qua nghiên cứu và phân tích cho thấy khái niệm này đã làm rõ và xác định được giá trị của bản yêu cầu điều tra; chủ thể là KSV ban hành trong quá trình thực hiện chức năng THQCT và KSĐT vụ án hình sự Tuy nhiên hạn chế của khái niệm này là chưa làm rõ được mục đích và ý nghĩa của việc ban hành yêu cầu điều tra do đó chưa thỏa mãn được yêu cầu của khái niệm bản yêu cầu điều tra
Theo quan điểm nghiên cứu của tác giả Bùi Mạnh Cường [2, tr.23] và
tác giả Vũ Việt Hùng thì: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện (ban hành), nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật”
Qua nghiên cứu và phân tích, chúng tôi thống nhất cao với quan điểm của tác giả Bùi Mạnh Cường và tác giả Vũ Việt Hùng về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV Khái niệm này không chỉ làm rõ được giá trị pháp lý, chủ thể ban hành trong giai đoạn nào của TTHS mà còn lãm rõ được nội hàm của khái niệm bản yêu cầu điều tra, mục đích, ý nghĩa của việc ban hành bản yêu cầu điều tra
Khi đưa ra khái niệm về bản yêu cầu điều tra, các tác giả đều dựa trên
các quy định của pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKS, của KSV trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra khi THQCT và KSĐT vụ án hình sự, từ đó xác định nội dung, phạm vi và ý nghĩa của bản YCĐT để khái quát chúng thành khái niệm Tuy nhiên, do sự thay đổi của các quy định pháp luật và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đặc biệt là đối với tội phạm về chức vụ, đòi hỏi VKS phải tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra, theo đó “Viện kiểm sát các cấp chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra
đảm bảo có căn cứ, sát với nội dung vụ án” Do vậy khái niệm về bản yêu
Trang 7cầu điều tra cũng được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn Trên cơ sở kế thừa các quan điểm về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV của các tác giả nêu trên đồng thời trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật thực định, nội hàm của bản yêu cầu điều tra, tác giả đưa ra khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ như sau:
“Bản yêu cầu điều tra là văn bản tố tụng do Kiểm sát viên ban hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ theo quy định của pháp luật TTHS, nêu rõ những vấn đề cần yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, làm rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự hoặc để hoàn thiện các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy
đủ theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm”
- Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức
vụ có những đặc điểm cơ bản sau:
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là văn bản pháp lý trong TTHS do KSV được giao nhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ ban hành Bản yêu cầu điều tra phải được đưa vào hồ sơ
vụ án hình sự và lưu hồ sơ kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông
tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng và quy định tại khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV có tính chất định hướng cho hoạt động điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách khách quan, nhanh chóng và kịp thời Do đó, ĐTV được phân công điều
Trang 8tra vụ án và CQĐT phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu điều tra của VKS (quy định tại khoản 1 Điều 167 BLTTHS và khoản 2 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng)
- Trong một vụ án hình sự về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặc nhiều yêu cầu điều tra nếu trong quá trình điều tra, KSV thấy còn có những vấn đề cần điều tra mà ĐTV chưa thực hiện nhằm bảo đảm để ĐTV kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án Do đó, yêu cầu điều tra của
KSV mang tính chất pháp lý đặc thù so với các văn bản tố tụng hình sự khác
Đây chính là điểm khác biệt giữa yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV với bản kế hoạch điều tra vụ án của ĐTV bởi vì, bản kế hoạch điều tra
vụ án về chức vụ do ĐTV xây dựng để báo cáo Lãnh đạo duyệt và tiến hành các hoạt động điều tra theo kế hoạch Nội dung bản kế hoạch điều tra vụ án về chức vụ bao gồm: Căn cứ lập kế hoạch, mục đích, yêu cầu, nội dung điều tra, biện pháp tiến hành, dự kiến các tình huống xảy ra, báo cáo và đề xuất Nó mang tính chất nội bộ của CQĐT không mang tính pháp lý bắt buộc và không được đưa vào hồ sơ vụ án
- Vai trò, mục đích và ý nghĩa của YCĐT
Thông qua YCĐT, KSV thể hiện rõ được quan điểm của mình trong việc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ, nhằm mục đích làm rõ những vấn đề cần điều tra thu thập chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố các vụ án hình sự về chức vụ được khách quan, toàn diện, kịp thời, đúng pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động THQCT và kiểm sát hoạt động xét xử của KSV tại phiên tòa
Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ có
ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc điều tra vụ án nói riêng và cả quá trình
xử lý vụ án nói chung, đó là:
Trang 9+ Yêu cầu điều tra có tính định hướng cho công tác điều tra nói chung
và xử lý vụ án, bị can nói riêng
+ Yêu cầu điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời
+ Yêu cầu điều tra còn có ý nghĩa khẳng định vị trí, vai trò của VKS;
uy tín, năng lực, trình độ của KSV trong hoạt động THQCT ở giai đoạn điều tra VAHS
Thực tế cho thấy, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ được KSV ban hành kịp thời, đúng thời điểm và có chất lượng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng
đối với kết quả điều tra của CQĐT “ bảo đảm cho hoạt động điều tra, thu
thập tài liệu, chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ” [9, tr.2] và đúng hướng Đồng thời, giúp ĐTV khắc phục ngay những thiếu sót trong giai đoạn
điều tra nhằm giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và triệt để, góp phần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thời
gian giải quyết vụ án Thông qua đó, uy tín của KSV, của VKS đối với ĐTV
và CQĐT được nâng cao Ngược lại, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ có nội dung chung chung, khó thực hiện hoặc không thể thực hiện được làm kéo dài
thời gian giải quyết vụ án, thậm chí còn làm chệch hướng điều tra
Tóm lại, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là sản phẩm kết tinh từ kết quả của hoạt động nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và các văn bản pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án của KSV, qua đó giúp KSV nắm chắc diễn biến của vụ án và tìm ra những tài liệu, chứng cứ còn thiếu, còn mâu thuẫn hoặc những vấn đề cần phải điều tra, xác minh, làm rõ mà ĐTV chưa thực hiện để đề ra các nội dung yêu cầu điều tra có tính sát thực, cụ thể và trực tiếp giải quyết được các vấn đề của vụ án, tránh việc đề ra YCĐT chung chung, hình thức
Trang 101.1.2 Thẩm quyền, phạm vi, cơ sở, nội dung và hình thức của yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
- Thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra
Thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra các vụ án về chức vụ được trao cho VKS và người thực hiện trực tiếp là KSV được phân công THQCT và KSĐT
vụ án Đây là hoạt động tố tụng quan trọng trong việc gắn chặt chức năng công tố với điều tra theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020” và được cụ thể hóa tại khoản 7 Điều 14 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; điểm e khoản 1 Điều 42 và khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 Theo đó, khi được phân công THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, KSV
có nhiệm vụ, quyền hạn “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra,
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội”
Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số
04/2018/TTLT-VKSNDTC-quy định của BLTTHS cũng 04/2018/TTLT-VKSNDTC-quy định rõ: “Kiểm sát viên phải kịp thời trao
đổi với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra, bảo đảm để Điều tra viên, Cán bộ điều tra kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án….; Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập”
Như vậy, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT thực hiện” là
một quyền năng quan trọng và cơ bản của KSV Chỉ có KSV là chủ thể duy nhất khi được phân công nhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự mới có thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra
Trang 11- Phạm vi đề ra yêu cầu điều tra
Đề ra yêu cầu điều tra trong các vụ án về chức vụ là nội dung thuộc phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Phạm vi này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sát truy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự về chức vụ
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm
2014khi thực hiện chức năng THQCT, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây: “Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan
điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện”; điểm e khoản 1 Điều 42 BLTTHS năm 2015 quy định: “Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: e) Đề ra yêu cầu điều tra…”; khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định:
“Trường hợp thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện thì Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra; Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra hoặc bằng văn bản; Đối với vụ án thuộc trường hợp phạm tội quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì không cần thiết phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản”
Ngoài ra, trong Quyết định số 379/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 của Viện trưởng VKSND tối cao về ban hành hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giá kết quả công tác nghiệp vụ trong ngành kiểm sát nhân dân hiện nay là Quyết định số 139/QĐ-VKSTC ngày 29/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao có
Trang 12quy định về tỷ lệ ban hành bản YCĐT trên tổng số án thụ lý là ≥ 80% đối với VKS cấp huyện và ≥ 90% đối với VKS cấp tỉnh và VKSND tối cao
Từ các quy định của pháp luật và quy định của ngành Kiểm sát cho thấy, không phải bất kỳ vụ án về chức vụ nào KSV cũng phải đề ra yêu cầu
điều tra Chỉ khi nào thấy “cần thiết” hoặc “thấy có những vấn đề cần điều
tra mà Điều tra viên chưa thực hiện” thì KSV mới đề ra yêu cầu điều tra
Trong một vụ án về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặc nhiều yêu cầu điều tra và được thực hiện trong suốt quá trình điều tra Khi KSV thấy còn có những vấn đề cần điều tra mà ĐTV chưa thực hiện nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để và đúng pháp luật Đối với những vụ án phạm tội về chức vụ bị phát hiện và bắt quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ và thủ tục tố tụng đã đầy đủ, rõ ràng thì KSV không nhất thiết phải đề ra yêu cầu điều tra
Vấn đề đặt ra đối với các vụ án về chức vụ là khi nào, trong trường hợp
nào KSV phải “cần thiết” đề ra YCĐT nhất là đối với loại án tham nhũng đa
số đều là án phức tạp có nhiều nội dung cần phải yêu cầu CQĐT tiến hành
điều tra, làm rõ hoặc trường hợp nào KSV “thấy có những vấn đề cần điều tra
mà Điều tra viên chưa thực hiện” thì phải ban hành YCĐT Trong khi những
nội dung này đối với ĐTV, CQĐT đương nhiên phải thực hiện mà không cần phụ thuộc vào YCĐT của KSV như yêu cầu ĐTV xác định căn cước, lý lịch
bị can, lập danh chỉ bản của bị can v.v Do chưa có khung tiêu chí chung về vấn đề này nên sẽ có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau tùy thuộc vào khả năng nhận thức, đánh giá của từng KSV khi được phân công nhiệm vụ THQCT và KSĐT đối với từng vụ án hình sự về chức vụ
- Cơ sở đề ra YCĐT
Để việc đề ra các nội dung YCĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự về chức vụ đảm bảo chính xác và có căn cứ thì KSV cần phải xác định
được cơ sở đề ra yêu cầu điều tra, hay nói cách khác là “cần xác định đối
Trang 13tượng chứng minh, tức là nhóm các sự kiện, tình tiết được làm sáng tỏ và khẳng định” [26, tr.127] Việc xác định đối tượng chứng minh có vai trò định
hướng cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, nếu xác định không đúng đối tượng chứng minh sẽ làm cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ bị lãng phí thời gian và nguồn lực, không tập trung làm rõ được những vấn đề bản chất của vụ án hoặc bỏ sót các tình tiết, chứng cứ cần thiết cho việc chứng minh giải quyết vụ án
Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan thì những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình
sự về chức vụ bao gồm:
+ Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là
chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thuộc cấu thành của một tội phạm cụ thể được quy định từ Điều 353 đến điều 366 Chương XXIII (các tội phạm về chức vụ) của BLHS hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế v.v…); chứng cứ
chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm
tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời
gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm như thế nào v.v…
+ Chứng cứ để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là
chứng cứ xác định một chủ thể cụ thể là người “có chức vụ, quyền hạn trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ; được giao một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiên công vụ, nhiệm vụ” đã thực hiện
hành vi phạm tội đó; chứng cứ chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là
chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả theo quy định tại Điều 10
và Điều 11 của BLHS; chứng cứ chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình
Trang 14sự hay không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu
có thì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào; chứng cứ
chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định chủ thể thực
hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết định khung hình phạt v.v…
+ Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định bị can, bị cáo
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 51của BLHS hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy
định tại Điều 52 của BLHS; chứng cứ chứng minh “đặc điểm về nhân thân
của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định lý lịch, tiền án, tiền sự của bị can, bị
cáo
+ Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi
phạm tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả
về vật chất, phi vật chất do hành vi phạm tội về chức vụ gây ra
+ Chứng cứ để chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” là
chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội;
+ Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc
loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là
chứng cứ chứng minh những vấn đề được quy định tại các điều 20, 21, 22, 23,
24, 25, 26, 27, 28, 29, 59, 88 và các điều luật khác của BLHS
+ Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 85 của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải
Trang 15quyết vụ án hình sự về chức vụ, như: chứng cứ để chứng minh vị trí, vai trò của từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức; chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo và những vấn đề khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật v.v…
- Về hình thức
Ngoài các trường hợp KSV đề ra YCĐT bằng lời nói khi kiểm sát trực tiếp một số hoạt động điều tra theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, thì các hoạt động điều tra khác, KSV phải đề ra YCĐT bằng văn bản
Khi ban hành YCĐT bằng văn bản, KSV phải thực hiện theo đúng mẫu
văn bản tố tụng do Viện trưởng VKSND tối cao quy định (mẫu số 20 trong
danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số VKSTC ngày 02/01/2008, hiện nay là mẫu số 83 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao) Theo quy định này, văn bản
07/QĐ-yêu cầu điều tra gồm 02 phần chính: Căn cứ để ban hành bản YCĐT và những nội dung yêu cầu CQĐT cần tiến hành điều tra, xác minh làm rõ
Thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản phải đảm bảo thực hiện theo Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính; Quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trong ngành KSND ban hành kèm theo Quyết định
số 393/QĐ-VKSTC ngày 01/7/2016 của Viện trưởng VKSNDTC Bản yêu cầu điều tra phải đảm bảo chính xác về mặt câu từ, văn phong, chính tả
Việc ký văn bản YCĐT phải đúng thẩm quyền, trong vụ án về chức vụ
có nhiều KSV tham gia giải quyết thì bản YCĐT phải do KSV thụ lý chính
ký Đối với những vụ án về chức vụ trọng điểm, phức tạp; vụ án dư luận xã
hội đặc biệt quan tâm, vụ án có bị can là người giữ chức vụ quyền hạn nhất
Trang 16định trong Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và trường hợp xét thấy có thể phải thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thì trước khi ký bản yêu cầu điều tra, KSV phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo đơn
vị, Lãnh đạo Viện (khoản 1 Điều 47 Quy chế 111)
- Về nội dung của yêu cầu điều tra
Đối với mỗi loại tội phạm về chức vụ khác nhau như vụ án tham ô tài sản, vụ án nhận hối lộ đòi hỏi nội dung YCĐT cũng khác nhau, phù hợp với cấu thành tội phạm, đặc trưng cụ thể của loại tội đó Trong từng tội phạm chức vụ cụ thể, đối với mỗi vụ án khác nhau thì việc đề ra nội dung YCĐT cũng khác nhau, phù hợp với tính chất, diễn biến của từng vụ án Hiện nay, không có khuôn mẫu chung về nội dung YCĐT đối với tất cả các loại tội phạm Tuy nhiên, đối với vụ án hình sự về chức vụ nào thì cũng đòi hỏi phải làm rõ tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự như đã nêu trên Các nội dung YCĐT phải được diễn đạt mạch lạc, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng
cứ, tài liệu cần thu thập; có phương pháp trình bày bảo đảm thứ tự vấn đề và lôgic về nội dung Nội dung bản YCĐT phải toàn diện, đầy đủ, triệt để, giúp cho công tác điều tra đi đúng hướng, phục vụ tốt hoạt động truy tố, xét xử; tránh đề ra yêu cầu điều tra một cách chung chung, không sát với hồ sơ và tiến độ điều tra Để thực hiện được nhiệm vụ này, KSV phải có kiến thức chuyên môn tốt, am hiểu một số quy định về lĩnh vực, ngành liên quan đến vụ
án chức vụ đang giải quyết như vụ án liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngân hàng…; nắm chắc các dấu hiệu cấu thành, đặc trưng của từng tội phạm cụ thể; bám sát hoạt động điều tra của ĐTV; nắm chắc hồ sơ thông qua nghiên cứu đầy đủ toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã được CQĐT thu thập, kịp thời phát hiện hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội chưa được CQĐT xác minh, làm rõ hoặc những tình tiết còn mâu thuẫn cần được làm sáng tỏ; những tình tiết mới phát sinh trong vụ án; những vấn đề về dân sự trong vụ án về chức vụ; về áp
Trang 17dụng một số biện pháp điều tra đặc biệt theo quy định của BLTTHS; những vấn đề về hoàn thiện thủ tục TTHS; vấn đề về khám xét, thu giữ đồ vật tài sản, niêm phong tài sản, phong tỏa tài sản tham nhũng, vấn đề về tạm thời cấm xuất nhập cảnh, thu hồi tài sản tham nhũng… Trong đó cần lưu ý:
- Để xác định khách thể là hoạt động đúng đắn, hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, đơn vị này đã bị xâm phạm thì KSV phải yêu cầu ĐTV thu thập các văn bản, tài liệu chứng cứ quy định chức năng, nhiệm vụ (quy chế, nội quy làm việc, điều lệ hoạt động) của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người phạm tội
về chức vụ đang công tác
- KSV phải yêu cầu ĐTV thu thập tài liệu chứng cứ xác định chủ thể có chức vụ, quyền hạn được giao, được phân công là gì, đã có hành vi phạm tội pháp luật như thế nào trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ; các chứng cứ vật chất, là các văn bản như công văn, quyết định, hợp đồng…và các dấu tích bút phê ý kiến chỉ đạo … nằm rải rác ở các tài liệu khác nhau hoặc ở các cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác nhau hoặc tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử Nếu yêu cầu điều tra thu được đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì chúng ta mới có thể chủ động nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp và đưa ra các quan điểm đề xuất, quyết định xử lý chính xác, có căn cứ, đúng pháp luật ngay từ khi CQĐT ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Đối với người phạm tội chức vụ là Đảng viên, là cấp ủy viên thì sau khi khởi tố hoặc tạm giam bị can yêu cầu CQĐT phải có văn bản thông báo cho cấp ủy hoặc Ủy ban kiểm tra có thẩm quyền tiến hành các thủ tục đình chỉ sinh hoạt đảng theo quy định của Điều lệ Đảng hoặc có văn bản báo cáo Tổ chức Đảng quản lý Đảng viên đó biết và tổ chức đảng cấp trên của mình theo Chỉ thị số 26-CT/TW ngày 09/11/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc
Trang 18- Đối với các vụ án về chức vụ liên quan đến các lĩnh vực đầu tư xây dựng, tài chính, kế toán, bảo hiểm, ngân hàng… cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp, định giá tài sản để xác định thiệt hại, thì KSV phải yêu cầu ĐTV khẩn trương thu thập đầy đủ các hồ sơ, tài liệu, đối tượng trưng cầu giám định, định giá tài sản để kịp thời ban hành quyết định trưng cầu giám định, trưng cầu định giá và nội dung yêu cầu điều tra phải định hướng nội dung giám định cho đúng, sát với vấn đề cần kết luận, thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu tổ chức, cá nhân được trưng cầu giám định khẩn trương thực hiện để sớm ban hành kết luận giám định làm cơ sở cho việc điều tra, xử lý vụ án đảm bảo có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, tránh việc phải yêu cầu trưng cầu giám định, định giá tài sản lại hoặc bổ sung, làm kéo dài thời hạn điều tra vụ án
- KSV yêu cầu ĐTV làm rõ giá trị tài sản chiếm đoạt, của hối lộ cũng như trị giá tài sản thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra quy định tại các điều 353, 354, 355 và 358 của BLHS có mối quan hệ nhân quả như thế nào với hành vi phạm tội (không bao gồm tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác mà người phạm tội đã hoặc sẽ chiếm đoạt) để làm cơ sở định tội danh và xác định tình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ có căn cứ, chính xác và đúng pháp luật
- KSV yêu cầu ĐTV thu thập các tài liệu chứng cứ xác định hành vi của
bị can là lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái, không làm hoặc làm không đúng quy định của pháp luật hay là vượt quá quyền hạn, chức trách, nhiệm vụ được giao mặc dù không được giao, không được phân công nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó để họ thực hiện hành vi phạm tội; các tài liệu chứng cứ xác định yếu tố lỗi của bị can và đồng phạm, làm rõ vai trò, trách nhiệm của những người liên quan trong vụ án; các tài liệu chứng cứ xác định người phạm tội có động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác quy định tại các tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Đ356);
Trang 19tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Đ357) và tội Giả mạo trong công tác (Đ359) bảo đảm cho việc khởi tố, xử lý bị can và các đối tượng liên quan
có căn cứ, đúng pháp luật
- Về công tác thu hồi tài sản thiệt hại trong các vụ án về chức vụ, do đối
tượng phạm tội là những người có chức vụ, quyền hạn, có trình độ, kiến thức pháp luật nên thường có thủ đoạn đối phó, bào chữa, che giấu hành vi phạm tội và tài sản tham nhũng hoặc có vụ án xảy ra sau một thời gian dài mới được phát hiện, xử lý dẫn đến việc thu hồi tài sản cũng còn chậm và gặp nhiều khó khăn Vì vậy, ngay sau khi khởi tố vụ án, KSV phải kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra tiến hành điều tra xác minh, làm rõ tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt
để kịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết để thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản… tránh việc tẩu tán cũng như làm mất mát, hư hỏng tài sản, nhằm đảm bảo cho việc thu hồi tài sản đạt hiệu quả cao nhất cho nhà nước và các công ty, doanh nghiệp
1.1.3 Mối quan hệ giữa Yêu cầu điều tra với Kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Giữa YCĐT với hoạt động KSĐT của KSV trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự về chức vụ có sự giống nhau và khác nhau sau đây:
+ Về phạm vi: Được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can cho đến khi vụ án hình sự về chức vụ kết thúc điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự:
Trang 20+ Mục đích: Đảm bảo cho hoạt động điều tra thu thập các tài liệu chứng cứ của ĐTV được khách quan, kịp thời, có căn cứ và đúng pháp luật tránh việc bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội
+ Về nhiệm vụ: Đề ra YCĐT là nhiệm vụ thực hành quyền công tố của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ được quy định tại khoản 6 Điều 165 BLTTHS Còn KSĐT là nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của KSV trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án hình sự về chức vụ của CQĐT, của ĐTV; kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu Cơ quan điều tra, cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra… và một số nhiệm vụ quyền hạn khác được quy định tại Điều 166 BLTTHS
+ Nội dung: Nội dung của YCĐT chính là các tài liệu, chứng cứ mà KSV yêu cầu ĐTV thu thập để làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tình tiết chứng cứ khác của vụ án Việc đề ra YCĐT được thể hiện dưới 02 hình thức bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Nội dung của KSĐT chính là hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp của các tài liệu chứng cứ, các tài liệu tố tụng
có trong hồ sơ vụ án mà ĐTV, CQĐT thu thập, ban hành; là kiểm tra, giám
Trang 21sát hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
- Mối quan hệ
Giữa YCĐT với hoạt động KSĐT của KSV trong giai đoạn điều tra vụ
án về chức vụ có đối tượng, nhiệm vụ và nội dung không giống nhau, nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng và hỗ trợ cho nhau bởi vì, YCĐT và Kiểm sát điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ đều có chung một mục đích là nhằm đảm bảo cho việc khởi tố, điều tra các vụ
án hình sự về chức vụ được khách quan, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan, sai Hoạt động kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về chức vụ của KSV có hiệu quả là điều kiện để bảo đảm thực hành quyền công tố trong việc đề ra YCĐT của KSV được đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức
vụ
1.2.1 Các quy định của các văn bản luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
VKSND là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ THQCT, KSĐT tất
cả các vụ án hình sự nói chung, vụ án hình sự về chức vụ nói riêng và phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước xã hội về quyết định truy tố của mình Do đó, để xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc truy tố của VKS có căn cứ, đúng pháp luật thì KSV có trách nhiệm đề ra yêu cầu điều tra Trong giai đoạn điều tra, KSV không phải là người chứng kiến các hoạt động điều tra mà phải sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý, trong đó có quyền đề ra yêu cầu điều tra để yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra nhằm phát hiện, thu thập, củng cố chứng cứ bảo đảm cho việc truy tố người phạm tội được chính xác, đúng pháp luật
Trang 22Tại khoản 7 Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định khi THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKSND có nhiệm vụ, quyền
hạn“Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm
rõ tội phạm, người phạm tội”
Điểm e khoản 1 Điều 42 BLTTHS năm 2015 quy định “Kiểm sát viên
được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: … e) Đề ra yêu cầu điều tra”
Khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự là: “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm
rõ tội phạm, người phạm tội”
Tóm lại, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT thực hiện” là
một quyền năng pháp lý quan trọng và cơ bản của KSV được pháp luật tố tụng hình sự quy định và chỉ có KSV khi được phân công nhiệm vụ THQCT
và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ mới có thẩm quyền này
1.2.2 Các quy định của các văn bản dưới luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số BCA-BQP ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định rõ, ngoài các trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra
04/2018/TTLT-VKSNDTC-thì KSV được quyền “đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói”, còn đối với các hoạt động điều tra khác thì “Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng
văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập”
Trang 23Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về công
tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát
nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án, có yêu cầu: “Viện
kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các Viện kiểm sát áp dụng đồng bộ các giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác thực hành quyền công tố,… kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra để giải quyết vụ án khẩn trương, đúng pháp luật”
Trong ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng VKSND tối cao cũng đã ban hành nhiều quy định liên quan đến việc đề ra yêu cầu điều tra của KSV khi được phân công THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và án hình sự về chức vụ nói riêng, cụ thể:
Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND
tối cao “về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn
công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống
tội phạm; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết
không để xảy ra oan, sai, trong đó có nội dung chỉ đạo“Viện kiểm sát các cấp
chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra bảo đảm có căn cứ, sát với nội dung
vụ án”
Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 của Viện trưởng VKSND tối
cao “về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách
nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động
tố tụng hình sự” trong đó, có nội dung yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành
Kiểm sát phải“tăng cường ban hành các yêu cầu điều tra”
Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 27/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao “về tăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm” trong đó có nội dung yêu
Trang 24cầuVKSND các cấp “Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, phải nắm chắc
tiến độ điều tra vụ án, chủ động đề ra yêu cầu điều tra chính xác để hỗ trợ Điều tra viên thu thập chứng cứ làm rõ vụ án”
Khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-
VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định “Kiểm sát
viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về những nội dung điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra Trường hợp thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện thì Kiểm sát viên phải đề
ra yêu cầu điều tra; Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra hoặc bằng văn bản Yêu cầu điều tra phải nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập Văn bản yêu cầu điều tra được đưa vào hồ sơ
vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát”
Ngoài ra, tại các Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác kiểm sát hàng năm (từ năm 2016 đến năm 2020) đều chỉ đạo toàn ngành kiểm sát thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyên môn được giao trong đó có nội dung yêu cầu VKS các cấp tăng cường trách nhiệm công
tố, gắn công tố với hoạt động điều tra trong việc đề ra yêu cầu điều tra như Chỉ thị số 01/CT-VKSNDTC ngày 25/12/2015 của Viện trưởng VKSND tối
cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2016 đã chỉ rõ: “VKSND
các cấp thực hiện tốt các biện pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; thực thi đầy đủ, hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định để chống oan sai, chống bỏ lọt tôi phạm ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng hình sự và đảm bảo hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm các quy định của ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham những trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng; chủ
Trang 25động áp dụng các biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng”; “tăng cường yêu cầu kiểm tra xác minh, yêu cầu điều tra”; Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày
17/12/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác kiểm sát năm 2020
đã khẳng định: “Chủ động phối hợp ngay từ đầu với CQĐT và các đơn vị liên
quan để yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra đúng và kịp thời”; “Kiểm sát viên phải năm chắc, thực hiện đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ, thể hiện vai trò công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra; Viện kiểm sát các cấp phải thể hiện vai trò, trách nhiệm trong công tác phát hiện, điều tra, xử lý có hiệu quả các tội phạm về tham nhũng, chức vụ”
Như vậy có thể thấy rằng, trong những năm vừa qua Lãnh đạo ngành kiểm sát luôn quan tâm đến việc tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra trong đó có hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của KSV Việc đề ra yêu cầu điều tra vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của KSV khi được phân công THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và
án hình sự về chức vụ nói riêng Nếu KSV làm tốt được điều này thì chính nó
đã góp phần rất lớn vào việc truy tố, xét xử của VKS đảm bảo có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm và để xảy ra oan, saiđáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm
và yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 26Kết luận chương 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ, luận văn đã tập trung phân tích, làm rõ khái niệm khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích và ý nghĩa của yêu cầu điều tra; về thẩm quyền, phạm vi, cơ sở đề ra yêu cầu điều tra; về hình thức, nội dung của yêu cầu điều tra cũng như các quy định của pháp luật
và của ngành kiểm sát nhân dân về yêu cầu điều tra của KSV… Qua đó khẳng định, đề ra yêu cầu điều tra là một quyền năng pháp lý được trao cho KSV khi thực hiện nhiệm vụ THQCT, KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ nói riêng Đây không chỉ là quyền hạn mà còn là trách nhiệm của KSV được phân công Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng hình sự quan trọng, định hướng cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của ĐTV được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ nhanh chóng và kịp thời để làm
rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án về chức vụ hoặc yêu cầu về mặt thủ tục tố tụng góp phần đảm bảo cho việc điều tra, truy tố đúng quy định của pháp luật, chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm Kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ là cơ sở để đánh giá thực trạng đề ra yêu cầu điều tra và thực hiện yêu cầu điều tra của KSV tại Chương 2
Trang 27Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Các kết quả đạt được về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai
- Số liệu án hình sự về kinh tế chức vụ đã khởi tố, điều tra từ năm 2016 đến năm 2020
Theo số liệu báo cáo tổng kết của VKSND tỉnh Đồng Nai, từ ngày 01/12/2015 đến 30/11/2020, Cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp tỉnh Đồng Nai
đã khởi tố, điều tra 41 vụ/61 bị can về tội phạm chức vụ, cụ thể: Năm 2016 khởi tố 05 vụ/10 bị can, năm 2017 khởi tố 06 vụ/11 bị can (tăng 20% về số
vụ, 10% về số bị can so với cùng kỳ năm 2016), năm 2018 khởi tố 09 vụ/18
bị can (tăng 50% về số vụ, 63,6% về số bị can so với cùng kỳ năm 2017), năm
2019 khởi tố 11 vụ/09 bị can (tăng 11,1% về số vụ, giảm 50% về số bị can so với cùng kỳ năm 2018) và năm 2020 khởi tố 10 vụ/13 bị can (giảm 9% về số
vụ, tăng 44,4% về số bị can so với cùng kỳ năm 2019)
Tội phạm xảy ra chủ yếu là: Tội tham ô tài sản 20 vụ/27 bị can (chiếm
48,7% số vụ án mới khởi tố và tăng 26,6% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015)
Điển hình là vụ án Vũ Hoàng Đang nguyên nhân viên quản lý hóa đơn kiêm chấm xóa nợ của Điện lực Biên Hòa Từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2015, Vũ Hoàng Đang đã có hành vi cấu kết với Hồ Thanh Trúc nguyên nhân viên của ngân hàng An Bình thực hiện hành vi thu tiền điện của khách hàng nhưng giữ lại một phần để chiếm đoạt, sau đó che dấu hành vi bằng cách sử dụng ủy nhiệm chi chấm xóa nợ cho khách hàng nộp tiền mặt mà Trúc và Đang chiếm đoạt, lấy ủy nhiệm chi của khách hàng sau chấm xóa nợ cho khách hàng trước Bằng thủ đoạn này Trúc và Đang đã tham ô chiếm đoạt của Điện lực
Trang 28Biên Hòa số tiền 9.755.423.447 đồng Vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can Vũ Hoàng Đang cùng
05 đồng phạm về các tội “Tham ô tài sản” và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” để điều tra, xử lý
Tội nhận hối lộ 08 vụ/17 bị can (chiếm 19,5 số vụ án mới khởi tố và
tăng 33,3% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015) Điển hình là vụ án Lê Văn
Thái nguyên cán bộ Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Môi trường Công an thành phố Biên Hoà Ngày 08/12/2017, trong lúc tuần tra, Thái phát hiện 02
xe bồn hút hầm cầu biển số 54Y-9579 và 54X-4876 do anh Đỗ Văn Huy làm chủ đang xả chất thải trái quy định tại khu vực trồng cao su của Lữ Đoàn pháo binh 75 thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà Quá trình làm việc với anh Đỗ Văn Huy, Thái đã có hành vi đòi anh Huy đưa tiền hối lộ để bỏ qua lỗi vi phạm cho anh Huy Đến 18 giờ 30 phút, ngày 11/12/2017, tại quán hải sản Hào Phát, số 78/4, đường Trương Định, khu phố 2, phường Tân Mai, thành phố Biên Hoà, Lê Văn Thái đang nhận hối lộ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) của anh Đỗ Văn Huy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh Đồng Nai bắt quả tang
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 06 vụ/07 bị
can (chiếm tỉ lệ 14,6%, tăng 20% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015); Tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản 05 vụ/08 bị can (chiếm tỉ lệ
12,2%, tăng 25% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015)
- Số liệu, kết quả đề ra YCĐT của KSV
Trong số 41 vụ/61 bị can về chức vụ đã khởi tố, điều tra, có 31 vụ/40 bị can, KSV có đề ra YCĐT đạt tỉ lệ 75,6% Trong đó, số vụ KSV ban hành 01 YCĐT là 31 vụ chiếm tỉ lệ 75,6%; 12 vụ có 2 YCĐT, chiếm tỉ lệ 38,7% và 07
vụ có 3 YCĐT chiếm tỉ lệ 22,6 % Tổng số YCĐT mà KSV đã ban hành là 50 YCĐT Các đơn vị ban hành nhiều yêu cầu điều tra trong một vụ án hình sự như: Phòng 3 VKS tỉnh có 04 vụ/14 vụ có 03 yêu cầu điều tra, chiếm tỉ lệ
Trang 2928,6%; VKSND thành phố Biên Hòa có 02vụ/03 vụ có 03 yêu cầu điều tra, chiếm tỉ lệ 66,7%
Số án KSV không ban hành YCĐT là 10 vụ/21 bị can chiếm tỉ lệ 24,4% Trong đó, một số VKSND cấp huyện có tỉ lệ ban hành yêu cầu điều tra thấp như: VKSND huyện Thống Nhất 01 vụ/04 vụ có yêu cầu điều tra chiếm tỉ lệ 25%; VKSND huyện Định Quán 02 vụ/04 vụ có yêu cầu điều tra chiếm tỉ lệ 50% Những con số trên cho thấy, tỉ lệ ban hành yêu cầu điều tra của một số VKSND cấp huyện chưa đạt chỉ tiêu theo yêu cầu của Ngành kiểm sát Thậm chí
có đơn vị cấp huyện như VKSND huyện Nhơn Trạch thụ lý 02 vụ án về Tội nhận hối lộ nhưng không ban hành yêu cầu điều tra nào
Qua nghiên cứu 50 YCĐT/31 vụ án hình sự về chức vụ được KSV ban hành, có 40 YCĐT được KSV Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai ban hành đúng, kịp thời và có căn cứ (chiếm tỉ lệ 80%) giúp cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của ĐTV được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, nhanh chóng và kịp thời để làm rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án về chức vụ hoặc yêu cầu về mặt thủ tục tố tụng góp phần đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự về chức vụ có căn cứ, đúng ngoài, đúng tội và đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan, sai Còn lại, 10 YCĐT do KSV ban hành có nội dung chung chung, không cụ thể, không sát với hồ sơ và tiến độ điều tra hoặc yêu cầu những vấn đề CQĐT đương nhiên phải thực hiện, đã thực hiện hoặc những vấn đề không liên quan đến vụ án (chiếm tỉ lệ 20%), làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự về chức vụ
- Số liệu án hình sự về chức vụ bị Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, điều tra lại có liên quan đến YCĐT của KSV
Từ năm 2016 đến năm 2020, có 03 vụ án hình sự về chức vụ bị VKS ra Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; 04 vụ bị Tòa án nhân dân ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; 02 vụ bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm
Trang 30tuyên hủy án để điều tra lại có liên quan đến việc đề ra YCĐT của KSV không kịp thời, đầy đủ, bỏ lọt tội phạm hoặc sót các tỉnh tiết, chứng cứ quan trọng khác của
vụ án Điển hình là vụ án Phạm Minh Tân phạm tội “Nhận hối lộ” bị Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy án tuyên hủy toàn bộ bản án hình sự phúc thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai và bản án hình sự sơ thẩm của TAND thành phố Biên Hòa để điều tra lại theo quy định của pháp luật vì lý do bỏ
lọt hành vi phạm tội“lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị can Phạm Minh Tân và hành vi “đưa hối lộ” của bà Nguyễn Thị Ánh
* Đánh giá, nhận xét chung
Trong 05 năm qua (từ năm 2016 đến năm 2020), KSV Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai trong quá trình thực hiện nhiệm vụ THQCT và KSĐT các
vụ án hình sự về chức vụ đã tích cực và chủ động bám sát hồ sơ vụ án để đề các YCĐT nhìn chung đều đảm bảo kịp thời, chính xác và có căn cứ ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra, góp phần làm cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ của ĐTV được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật Do vậy, hầu hết các vụ án hình sự về chức vụ đều được điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, có căn cứ, đúng người, đúng tội
và đúng pháp luật Mặc dù vậy, vẫn còn một số YCĐT của KSV ban hành chưa kịp thời, nội dung còn chung chung, không cụ thể hoặc không có căn cứ làm ảnh hưởng đến tiến độ, điều tra giải quyết vụ án, thậm chí có một số vụ
án hình sự về chức vụ phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm tuyên hủy án để điều tra lại làm kéo dài thời hạn tố tụng không cần thiết
Trang 312.2 Thực trạng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai
2.2.1 Những kết quả đạt được
- Về số liệu
Trong 05 năm qua, ngành Kiểm sát tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắng trong việc đề ra YCĐT trong quá trình thực hiện nhiệm vụ THQCT và KSĐT các vụ án hình sự về chức vụ với tỉ lệ đề ra YCĐT năm sau cao hơn năm trước, cụ thể:
Từ năm 2016 đến năm 2020, KSV Viện kiểm sát 02 cấp đã ban hành 50 yêu cầu điều tra/41 vụ án hình sự về chức vụ đã khởi tố, đạt tỉ lệ 121,9% Trong đó: Năm 2016, VKS 02 cấp đã ban hành 05 yêu cầu điều tra/05 vụ, đạt
tỉ lệ 100% trên tổng số vụ án khởi tố; năm 2017 ban hành 05 yêu cầu điều tra
/06 vụ, đạt tỷ lệ 83,3% trên tổng số vụ án khởi tố; Năm 2018 ban hành 08
YCĐT/09 vụ đạt tỉ lệ 88,9% trên tổng số vụ án khởi tố; năm 2019 ban hành
16 yêu cầu điều tra 11 vụ đạt tỉ lệ 145,5% trên tổng số án khởi tố và năm 2020 ban hành 16 bản yêu cầu điều tra /10 vụ đạt tỉ lệ 160% trên tổng số án khởi tố Nhiều đơn vị có 100% số vụ án hình sự về chức vụ đều ban hành bản yêu cầu điều tra như: Phòng 3 VKS tỉnh, VKSND thành phố Biên Hòa, VKSND huyện Vĩnh Cửu, VKSND huyện Long Thành
- Về hình thức và nội dung của yêu cầu điều tra
Các yêu cầu điều tra về cơ bản đều được ban hành theo đúng biểu mẫu
của Ngành (mẫu số 20 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành
kèm theo Quyết định số 07/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao và mẫu số 83 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao) Theo đó, các KSV đã chú trọng thực hiện các quy
định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định của Bộ Nội vụ và của ngành Kiểm sát Hầu hết các yêu cầu điều tra đảm bảo chính xác về mặt
Trang 32câu từ, văn phong, chính tả và việc ký văn bản đúng thẩm quyền Trong đó,
có 40/50 YCĐT do KSV đề ra nhìn chung đều đảm bảo có căn cứ, sát với nội dung vụ án (chiếm tỉ lệ 80%) được ĐTV, CQĐT thực hiện đầy đủ và nghiêm túc đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án, cụ thể:
+ Có 18 yêu cầu điều tra có nội dung toàn diện, đầy đủ, triệt để giúp cho việc điều tra đúng hướng, phục vụ tốt hoạt động truy tố, xét xử
Trong quá trình THQCT và KSĐT vụ án về chức vụ nhiều KSV đã nghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ ban đầu do CQĐT cung cấp; bám sát quá trình điều tra, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra cụ thể, sát với nội dung vụ án
án, nội dung yêu cầu điều tra toàn diện, đầy đủ, chính xác, định hướng tốt cho hoạt động điều tra của ĐTV, giúp CQĐT tiến hành điều tra đúng hướng, sau
đó Tòa án xét xử có đầy đủ tài liệu chứng cứ kết tội bị cáo và áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội Điển hình như: (1) Vụ án Vũ Hoàng
Đang cùng đồng phạm phạm “Tội tham ô tài sản”, “Tội thiếu trách nhiệm
gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Điện Lực thành phố Biên Hòa; (2) vụ
Võ Thanh Tùng cùng đồng phạm phạm“Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn
chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại phòng Nội vụ thành phố Biên Hòa do Cơ quan
CSĐT - Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố điều tra; (3) Vụ Đặng Thị Hòa cùng
đồng phạm phạm “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy
ra Hội liên hiệp Phụ nữ xã Suối Tre, thành phố Long Khánh, vụ Đỗ Thị Hạnh Đào phạm tội “Tham ô tài sản” xảy ra tại Bệnh viện đa khoa huyện Vĩnh Cửu…
+ Có 05 YCĐT, KSV đã yêu cầu CQĐT củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án, bị can về tội phạm chức vụ nhưng chưa được CQĐT khởi tố nên đã không để xảy ra việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội về chức vụ
Trong quá trình THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra các vụ án về chức vụ, nhiều KSV đã nắm chắc hồ sơ, bám sát hoạt động điều tra của ĐTV, nghiên cứu kỹ tài liệu, chứng cứ, kịp thời phát hiện những hành vi phạm tội,
Trang 33đối tượng phạm tội chưa được CQĐT xác minh, làm rõ để khởi tố Từ đó, KSV đã chủ động báo cáo lãnh đạo đơn vị, đề ra YCĐT yêu cầu CQĐT thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án, bị can Do đó, đã không để xảy ra việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra của KSV, điển hình là vụ án sau đây:
Vụ án Phạm Đức Bình phạm “Tội tham ô tài sản” xảy ra Cơ sở điều
trị ma túy tỉnh Đồng Nai Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV đã đề ra YCĐT số 33/YCĐT-VKSXL ngày 02/05/2019 để yêu cầu CQĐT làm rõ Đinh Thị Soa – nguyên Kế toán kiêm Tổ trưởng Tổ quản trị đời sống của Cơ sở điều trị ma túy tỉnh Đồng Nai có hay không có hành vi thông đồng với Phạm Đức Bình phụ trách tổ nuôi ăn trong việc kê khống nâng giá các hàng hóa để chiếm đoạt khoản tiền chênh lệch của Cơ sở điều trị ma túy Qúa trình điều tra xác định Đinh Thị Soa có hành vi đồng phạm với Phạm Đức Bình tham ô chiếm đoạt số tiền chênh lệch mà các đối tượng đã nâng khống là 9.685.000 đồng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Lộc đã ra quyết định KTBC
để xử lý đối với Đinh Thị Soa về tội Tham ô tài sản với vai trò là đồng phạm
+ Có 03 YCĐT của KSV dẫn đến thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can đúng với bản chất của vụ án, hành vi phạm tội của
bị can
Một số vụ án, sau khi CQĐT khởi tố, chuyển hồ sơ, tài liệu đến VKS, KSV đã nghiên cứu hồ sơ, phát hiện ra việc khởi tố vụ án, bị can không chính xác, không đúng với hành vi phạm tội của bị can nên đã đề ra yêu cầu CQĐT thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ để thay đổi quyết định khởi tố vụ án, bị can và đã được CQĐT chấp nhận, sau đó đã ban hành quyết định thay đổi Điều đó cho thấy, bản YCĐT của KSV đã định hướng tốt cho CQĐT, giúp cho việc điều tra đúng người, đúng tội, điển hình là vụ án sau đây:
Vụ án Lê Quốc Khởi nguyên Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự
xã Xuân Bảo, huyện Cẩm Mỹ phạm “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm
Trang 34đoạt tài sản” Ban đầu Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Mỹ ra quyết định
khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Lê Quốc khởi về “Tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS năm 1999 để tiến hành điều
tra Quá trình THQCT và KSĐT, KSV nhận thấy Lê Quốc Khởi không phải là thành viên của Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã Xuân Bảo nhưng đã lạm dụng chức vụ Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã Xuân Bảo được giao nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch liên quan đến việc tuyển quân trên địa bàn
xã, cùng lực lượng quân sự xã lập danh sách những người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự (từ18 tuổi đến 27 tuổi) và Khởi đã lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình ba lần chiếm đoạt số tiền 9.000.000 đồng của ông Trần Văn Thịnh và ông Nguyễn Văn Hiền để đưa các anh Trần Đức Phương và Nguyễn Thành Đặng (con trai của ông Thịnh và ông Hiền) vào danh sách miễn, tạm hoãn nghĩa vụ quân sự trái quy định KSV đã kịp thời báo cáo lãnh đạo Viện ra văn bản YCĐT yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can đối với Lê Quốc Khởi từ “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” sang “Tội
lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” CQĐT đã thống nhất thay
đổi tội danh đối với bị can Lê Quốc Khởi theo nội dung YCĐT của KSV Ngày 15/01/2018, Lê Quốc Khởi đã bị TAND huyện Cẩm Mỹ xử phạt 02
năm tù về “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”
+ Có 06 YCĐT của KSV đã yêu cầu làm rõ những tình tiết còn mâu thuẫn trong vụ án hình sự về chức vụ
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, KSV đã phát hiện kịp thời có sự mâu thuẫn giữa lời khai của các bị can, người tham gia tố tụng; mâu thuẫn giữa lời khai của bị can và những người tham gia tố tụng với các tài liệu, chứng cứ khách quan thu thập được; mâu thuẫn giữa các chứng cứ với kết luận giám định… chưa được CQĐT phát hiện, giải quyết, nên đã kịp thời đề ra YCĐT yêu cầu CQĐT làm rõ các mâu thuẫn đó; trực tiếp kiểm sát việc đối chất, hỏi cung, lấy lời khai, yêu cầu giám định lại…
Trang 35Qua đó, đã giải quyết được các mâu thuẫn, giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác, đúng bản chất, không để xảy ra việc trả hồ sơ điều tra bổ sung cũng như không để bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, điển hình
là vụ án sau đây:
Vụ án Lê Văn Thái phạm “Tội nhận hối lộ” xảy ra tại Đội Cảnh sát
phòng chống tội phạm về Môi trường Công an thành phố Biên Hòa Nội dung
vụ án, ngày 08/12/2017, trong lúc tuần tra, Thái phát hiện 02 xe bồn hút hầm cầu biển số 54Y-9579 và 54X-4876 do anh Đỗ Văn Huy làm chủ đang xả chất thải trái quy định tại khu vực trồng cao su của Lữ Đoàn pháo binh 75 thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà Quá trình làm việc với anh Đỗ Văn Huy, Thái đã có hành vi đòi anh Huy đưa tiền hối lộ để bỏ qua lỗi vi phạm cho anh Huy Đến 18 giờ 30 phút, ngày 11/12/2017, tại quán hải sản Hào Phát, số 78/4, đường Trương Định, khu phố 2, phường Tân Mai, thành phố Biên Hoà, Lê Văn Thái đang nhận hối lộ số tiền 50.000.000 đồng của anh Đỗ Văn Huy thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đồng Nai bắt quả tang Quá trình điều tra, anh Đỗ Văn Huy và Lê Văn Thái khai Đỗ Nhật Tường là Đội phó Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường Công
an thành phố Biên Hòa là người yêu cầu anh Huy đưa 100 triệu đồng để bỏ qua lỗi vi phạm cho anh Huy Tuy nhiên, Đỗ Nhật Tường lại không thừa nhận hành vi trên KSV đã có văn bản YCĐT yêu cầu CQĐT thu thập các tài liệu chứng cứ đồng thời yêu cầu cho Thái và Huy đối chất với Tường để làm rõ mâu thuẫn Kết quả điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh lời khai của anh Đỗ Văn Huy và Lê Văn Thái Do đó, không đủ chứng
cứ để chứng minh Đỗ Nhật Tường là người tham gia vụ án với vai trò đồng phạm
+ Có 05 YCĐT đã được KSV yêu cầu làm rõ những tình tiết chưa được CQĐT làm rõ, những tình tiết mới phát sinh trong vụ án về chức vụ
Trang 36Quá trình điều tra vụ án về chức vụ, do chưa làm hết trách nhiệm, do tâm lý chủ quan và kinh nghiệm còn hạn chế nên ĐTV chưa xác minh, điều tra hết các tình tiết của vụ án hoặc quá trình điều tra phát sinh những tình tiết mới nhưng chưa được CQĐT làm rõ Qua nghiên cứu hồ sơ, KSV đã kịp thời phát hiện, đề ra các nội dung YCĐT đảm bảo cho việc điều tra vụ án về chức
vụ được nhanh chóng và làm rõ hành vi phạm tội của bị can Điển hình là vụ
án sau đây:
Vụ án Trần Xuân Toán, phạm“Tội tham ô tài sản” và “Tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Nội dung vụ án, Trần Xuân Toán là Tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn xã Gia Canh, huyện Định Quán được Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện Định Quán ký “Hợp đồng ủy nhiệm” thu tiền lãi và tiền gửi tiết kiệm hàng tháng của các Tổ viên để nộp vào Ngân hàng Nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV đã có văn bản YCĐT yêu cầu CQĐT lấy lời khai những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm các ông Nguyễn Hữu Danh, Hồ Phước Lê và
Võ Thanh Liêm đồng thời cho những người này đối chất với Toán để xác định cụ thể số tiền gốc và lãi trong tổng số tiền 18.500.000 đồng mà các ông Danh, Lê và Liêm nộp cho Toán Kết quả điều tra đã xác định đây là số tiền
mà những người này đã nộp cho Toán để trả tiền gốc vay cho ngân hàng nhưng Toán đã không nộp mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân
+ Có 04 YCĐT vụ án về chức vụ đã giúp ĐTV hoàn thiện các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự
Thực tiễn cho thấy, ĐTV là những người được đào tạo chuyên ngành
về nghiệp vụ điều tra, xu hướng điều tra thường thu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ để buộc tội Trong quá trình điều tra, nhiều ĐTV không nghiên cứu triệt để các quy định tố tụng hình sự để thực hiện, có tư tưởng chủ quan trong việc thực hiện các thủ tục tố tụng, dẫn đến những vi phạm, sai sót như: Chưa nêu rõ xuất xứ, quy trình thu giữ tài liệu, vật chứng; không mời người bào
Trang 37chữa theo quy định của pháp luật; thiếu biên bản thu giữ và trả vật chứng; biên bản tài liệu viết sai ngày, tháng, năm hoặc có sự mâu thuẫn về thời gian giữa các tài liệu điều tra; chưa giải thích quyền và nghĩa vụ của bị can, nhân chứng, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan… Trong quá trình kiểm sát hồ sơ, nhiều KSV đã kịp thời phát hiện các vi phạm, sai sót đề ra yêu cầu CQĐT khắc phục, điển hình là vụ án sau đây:
Võ Thanh Tùng cùng đồng phạm cùng đồng phạm, phạm “Tội lạm
dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại Phòng Nội vụ thành
phố Biên Hòa Bản YCĐT số 15/KSĐT ngày 11/12/2017, KSV đã yêu cầu CQĐT ra thông báo về việc bắt tạm giam bị can Võ Thanh Tùng cho gia đình
bị can, chính quyền địa phương nơi bị can cư trú và cơ quan nơi bị can làm việc biết; yêu cầu bị can Nguyễn Thị Hồng Ngọc phải làm giấy cam đoan không đi khỏi nơi cư trú, ra thông báo bằng văn bản và giao cho chính quyền địa phương nơi bị can Ngọc cư trú để quản lý, theo dõi bị can Ngọc theo quy định của pháp luật; ra thông báo cho Uỷ ban kiểm tra Thành ủy Biên Hòa biết
về việc đã khởi tố bị can đối với đảng viên Nguyễn Thị Hồng Ngọc theo quy định của Điều lệ Đảng…
+ Có 06 YCĐT của KSV đã chọn điểm cơ bản, then chốt, có tính đột phá định hướng đúng cho hoạt động điều tra để khởi tố vụ án, bị can theo đúng tội phạm về chức vụ, từ đó đã giải quyết được một số những vụ án về chức vụ có những tình tiết phức tạp, vụ án trọng điểm để điều tra, truy tố, xét
xử, được dư luận xã hội đồng tình và đánh giá cao; chú trọng yêu cầu thu hồi tài sản để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và của công dân
Việc chọn điểm cơ bản, then chốt, có tính đột phá là yếu tố rất quan trọng khi THQCT và KSĐT đối với các vụ án về chức vụ Thông thường các
vụ án này ban đầu chỉ có các kết luận, tài liệu về thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; kết luận nêu nhiều vi phạm, nhưng từ vi phạm để chuyển sang tội phạm