Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN- Khái niệm Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng của KSV trong thực hành
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra gắn Công tốvới hoạt động điều tra là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước ta đã đượckhẳng định trong Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XI, lần thứ XII và tiếp tụcđược khẳng định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của BộChính trị về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020” Thể chế hóa quanđiểm của của Đảng, Luật tổ chức VKSND năm 2014, BLTTHS năm 2015 đãquy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công
tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự, trong đó có một trong những nội dungquan trọng thuộc quyền năng của VKS đó là quyền đề ra yêu cầu điều tra.Quán triệt và thực hiện chủ trương của Đảng và các quy định của phápluật, ngày 06/12/2013, Viện trưởng VKSND tối cao đã ban hành Chỉ thị số
06/CT-VKSTC “Về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” Triển khai và thực hiện nghiêm túc chủ trương lớn của Đảng, các
quy định của pháp luật và Chỉ thị của Viện trưởng VKSND tối cao, trongnhững năm vừa qua, ngành kiểm sát tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắng trongviệc thực hiện quyền đề ra yêu cầu điều tra đối với các vụ án hình sự nóichung và các vụ án hình sự về chức vụ nói riêng Qua báo cáo tổng kết hàngnăm về công tác đấu tranh phòng chống tham những trên địa bàn tỉnh ĐồngNai, do thực hiện tốt yêu cầu điều tra ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự chođến khi kết thúc điều tra, nên hầu hết các vụ án hình sự về chức vụ đã hạn chếđược tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung, việc điều tra, truy tố, xét xử đềuđảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Tuy nhiên, do tính chất phứctạp của các vụ án hình sự về chức vụ là tội phạm thường xảy ra đã lâu nên tàiliệu, chứng cứ đã lưu trữ nên việc thu thập thường mất nhiều thời gian; hành
vi phạm tội liên quan đến nhiều lĩnh vực chuyên ngành; đối tượng phạm tội là
Trang 2người có chức vụ, quyền hạn, có quan hệ và có năng lực trình độ chuyên môntrong việc thực hiện tội phạm và che dấu tội phạm rất tinh vi, khai báo khôngthành khẩn; việc phát hiện thu giữ kịp thời tài liệu chứng cứ; việc kê biên,phong tỏa tài sản gặp nhiều khó khăn; tài liệu chứng cứ có nhiều bút lục.Chính vì vậy vẫn còn một số tồn tại, hạn chế nhất định như: KSV chưa bámsát hồ sơ ngay từ khi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình khởi tố,điều tra các vụ án hình sự về chức vụ, do đó không phát hiện được vi phạm tốtụng của CQĐT cũng như không phát hiện được những mâu thuẫn còn tồn tạigiữa các tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội để đề rayêu cầu CQĐT khắc phục kịp thời Thậm chí có những vụ án KSV không đề
ra yêu cầu điều tra mặc dù ĐTV có những vi phạm pháp luật cụ thể; một sốYCĐT còn chung chung, không đề ra YCĐT cụ thể là ĐTV vi phạm gì theoquy định của BLTTHS hoặc trong vụ án về chức vụ cần phải điều tra làm rõnhững vấn đề gì, thậm chí có KSV đề ra những yêu cầu điều tra nhưng CQĐTkhông thể thực hiện được hoặc đề ra yêu cầu điều tra sơ sài, từ ngữ khôngchính xác dẫn đến còn một số vụ án hình sự về chức vụ sau khi kết thúcđiều tra, CQĐT chuyển hồ sơ và bản kết luận điều tra, đề nghị truy tố sangVKS, khi đó KSV mới phát hiện các vi phạm của CQĐT, hồ sơ còn thiếuchứng cứ hoặc các tài liệu chứng cứ còn có mâu thuẫn, không thể khắc phụcđược trong giai đoạn truy tố nên phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, kéo dài thờihạn tố tụng không cần thiết
Những tồn tại nêu trên có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyênnhân chủ yếu và căn bản là một số lãnh đạo, Kiểm sát viên VKSND hai cấptỉnh Đồng Nai chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa về yêu cầu điều tra, chưanghiên cứu kỹ hồ sơ để phát hiện các vi phạm tố tụng của CQĐT và các mâuthuẫn giữa các tài liệu, chứng cứ, chưa quan hệ tốt với CQĐT và ĐTV
Chính vì vậy việc lựa chọn vấn đề “Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong
Trang 3giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” là đề
tài luận văn Thạc sĩ là đáp ứng yêu cầu tất yếu khách quan hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề đề ra yêu cầu điều tra trong giai đoạn điều tra các vụ án về chức
vụ của Kiểm sát viên luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lýluận và những người làm công tác thực tiễn đặc biệt là đội ngũ Kiểm sát viênVKSND các cấp được giao nhiệm vụ THQCT và KSĐT, KSXX vụ án hình
sự Chính vì vậy có thể viện dẫn một số công trình luận văn, bài viết điển hìnhsau đây có liên quan đến đề tài luận văn
- Vũ Đắc Thới (2011), bàn về bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, tạp chí kiểm sát số 16 Hà Nội
- Nguyễn Huy Phượng (2011), Kinh nghiệm của VKSND tỉnh VĩnhPhúc trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra có chất lượng, tạp chí kiểm sát
số 16 Hà Nội
- Nguyễn Quang Thành (2011), Một số giải pháp nâng cao hiệu lực,hiệu quả bản yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên, Tạp chí kiểm sát số 16, HàNội
- Trần Thanh Thủy (2017), Bản yêu cầu điều tra theo BLTTHS 2015, kiểm sát.vn ngày 30/03/2017, Hà Nội
- Bùi Mạnh Cường (2017), Tăng cường trách nhiệm công tố trong giaiđoạn điều tra theo yêu cầu các đạo luật mới, Tạp chí kiểm sát số 04, Hà Nội
- Nguyễn Tuấn Anh (2018), Một số vấn đề cần lưu ý khi đề ra yêu cầuđiều tra, Cơ quan điều tra, VKSND tối cao.gov.vn 04/01/2021 Hà Nội
- Thái Thân (2018), vị trí, vai trò của bản yêu cầu điều tra trong vụ án hình sự, VKSND tỉnh Hậu Giang trang thông tin điện tử 25/07/2019
- Trường Đào tạo, Bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát tại Thành phố Hồ ChíMinh (2020), kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát
Trang 4xét xử sơ thẩm các vụ án tham nhũng, chức vụ, tập bài giảng bồi dưỡng
nghiệp vụ kiểm sát
- Vũ Thị Bích Hằng (2016), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm
về chức vụ trong luật hình sự Việt Nam, luận văn thạc sĩ, khoa luật trườngĐại học Quốc Gia Hà Nội
- Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vác, Bình luận BLHS 2015, sửa đổi bổsung 2017) Chương XXII các tội phạm về chức vụ, nhà xuất bản Công annhân dân Hà Nội
- Nguyễn Diệp Ngọc (2018), Tội tham ô tài sản trong pháp luật hình sựViệt Nam, luận văn thạc sĩ Trường Đại học Luật Hà Nội
Qua nghiên cứu các sách chuyên khảo, luận văn, các bài viết nêu trêncho thấy, các tác giả đã nghiên cứu trên nhiều phương diện, dưới nhiều góc độkhác nhau về những vấn đề liên quan đến định tội danh, liên quan đến các quyđịnh của BLHS về các tội phạm chức vụ; về vị trí, tầm quan trọng của yêu cầuđiều tra; về hình thức và nội dung của yêu cầu điều tra Đây là những kiếnthức lý luận và thực tiễn mà tác giả luận văn có thể tham khảo, kế thừa vàphát triển trong quá trình thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ Tuy nhiên, cáccông trình nghiên cứu trên chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về lý luận
đề ra YCĐT của KSV, về đối tượng chứng minh trong các vụ án hình sự vềchức vụ để làm cơ sở đề ra YCĐT của KSV, cũng như chưa đánh giá đượcnhững tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong việc đề ra và thực hiện YCĐTcủa KSV… Đặc biệt, tại địa bàn tỉnh Đồng Nai, việc đề ra YCĐT và thực hiệnYCĐT trong các vụ án hình sự về chức vụ của KSV Viện kiểm sát 02 cấp thờigian qua cũng còn nhiều hạn chế, bất cập và trên thực tế, chưa có một công
trình, đề tài, bài viết nào nghiên cứu về vấn đề “Yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” Do đó, đề tài luận văn hoàn toàn mới, không trùng lặp với bất cứ
công trình, đề tài, bài viết nào đã được công bố
Trang 53 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là: nghiên cứu những vấn đề
lý luận và thực tiễn về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên khi được phân côngthực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án về chức vụ từ đó đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra của KSV tronggiai đoạn điều tra các vụ án hình sự về chức vụ
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, trong quá trình thực hiện, đề tài có những nhiệm vụ cụ thể sau đây
+ Nghiên cứu và phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích
và ý nghĩa của yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự về chức vụ
+ Nghiên cứu, phân tích và làm rõ thẩm quyền, phạm vi, cơ sở, nội dung
và hình thức của yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án vềchức vụ
+ Khảo sát, thu thập thông tin, số liệu có liên quan đến các vụ án về chứcvụ; các bản YCĐT một số vụ án về chức vụ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
+ Đánh giá thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự vềyêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự vềchức vụ và thực tiễn thi hành tại tỉnh Đồng Nai rút ra những kết quả đạt được,những tồn tại, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận vàpháp luật về yêu cầu điều tra và thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tốtụng hình sự về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự về chức vụ
- Phạm vi nghiên cứu
Trang 6+ Về nội dung bao gồm những vấn đề liên quan đến yêu cầu điều tra của KSV khi được phân công THQCT, KSĐT các vụ án về chức vụ.
+ Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
+ Về thời gian: 05 năm, kể từ năm 2016 đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn sử dụngphương pháp luận là phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin;quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống các tội phạm
về tham nhũng, chức vụ nhằm bảo đảm cho việc nghiên cứu đề tài đi đúnghướng
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để đạt được mục đích yêu cầu đã đề
ra trong quá trình thực hiện, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau đây:+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng trong quátrình nghiên cứu lý luận, pháp luật và đánh giá thực tiễn hoạt động đề ra yêucầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ để làm rõ sựkhác biệt giữa yêu cầu điều tra loại án này so với các loại án khác
+ Phương pháp thu thập thông tin, số liệu các vụ án về chức vụ có bảnyêu cầu điều tra của Kiểm sát viên và hồ sơ một số vụ án điển hình có hoặckhông có bản yêu cầu điều tra để phân tích đánh giá thực trạng đề ra yêu cầuđiều tra của Kiểm sát viên đối với các vụ án về chức vụ
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện
về mặt lý luận về yêu cầu điều tra và bổ sung những kinh nghiệm thực tiễncho đội ngũ KSV khi đề ra YCĐT đối với các vụ án hình sự nói chung và các
vụ án hình sự về chức vụ nói riêng nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năngthực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự về chức vụ
Trang 7- Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể dùnglàm tài liệu tham khảo, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của ngànhKiểm sát.
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; kết luận; tài liệu tham khảo; nội dung của luận vănđược kết cấu thành 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra củaKiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Chương 2 Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự vềyêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự vềchức vụ và thực tiễn thi hành tại tỉnh Đồng Nai
Chương 3 Các giải pháp nâng cao chất lượng yêu cầu điều tra của Kiểmsát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Trang 8Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN
- Khái niệm
Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng của KSV trong thực hành quyềncông tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói chung và án hình sự vềchức vụ nói riêng nhằm đảm bảo việc điều tra vụ án tuân thủ đúng các quyđịnh của pháp luật để xác định sự thật khách quan của vụ án, không làm oanngười vô tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội Yêu cầu điều tra củaKSV có thể bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Khái niệm về Bản yêu cầu điều tra
Hiện nay chưa có khái niệm chính thức về bản yêu cầu điều tra Quatham khảo bài viết của một số tác giả khi nghiên cứu về bản YCĐT của KSVđược đăng trên tạp chí ngành kiểm sát có thể đưa ra một số khái niệm về bảnyêu cầu điều tra như sau:
Theo quan điểm của tác giả Vũ Đức Thới [28, tr 15] thì: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản pháp lý do Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình giám sát hoạt động điều tra Nhằm xác định điều tra vụ án đúng hướng và việc điều tra phải khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác đúng pháp luật nhằm tránh làm oan, sai và bỏ lọt tội phạm”.
Trang 9Qua nghiên cứu và phân tích cho thấy khái niệm này đã làm rõ và xácđịnh được giá trị của bản yêu cầu điều tra; chủ thể là KSV ban hành trong quátrình thực hiện chức năng THQCT và KSĐT vụ án hình sự Tuy nhiên hạn chếcủa khái niệm này là chưa làm rõ được mục đích và ý nghĩa của việc ban hànhyêu cầu điều tra do đó chưa thỏa mãn được yêu cầu của khái niệm bản yêucầu điều tra.
Theo quan điểm nghiên cứu của tác giả Bùi Mạnh Cường [2, tr.23] và
tác giả Vũ Việt Hùng thì: “Bản yêu cầu điều tra là một văn bản tố tụng do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực hiện (ban hành), nêu rõ những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng bảo đảm cho việc điều tra, truy tố được toàn diện, khách quan và triệt để theo đúng quy định của pháp luật”.
Qua nghiên cứu và phân tích, chúng tôi thống nhất cao với quan điểmcủa tác giả Bùi Mạnh Cường và tác giả Vũ Việt Hùng về khái niệm bản yêucầu điều tra của KSV Khái niệm này không chỉ làm rõ được giá trị pháp lý,chủ thể ban hành trong giai đoạn nào của TTHS mà còn lãm rõ được nội hàmcủa khái niệm bản yêu cầu điều tra, mục đích, ý nghĩa của việc ban hành bảnyêu cầu điều tra
Khi đưa ra khái niệm về bản yêu cầu điều tra, các tác giả đều dựa trên
các quy định của pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ của VKS, củaKSV trong việc ban hành bản yêu cầu điều tra khi THQCT và KSĐT vụ ánhình sự, từ đó xác định nội dung, phạm vi và ý nghĩa của bản YCĐT để kháiquát chúng thành khái niệm Tuy nhiên, do sự thay đổi của các quy định phápluật và yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hìnhmới đặc biệt là đối với tội phạm về chức vụ, đòi hỏi VKS phải tăng cườngtrách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều
tra, theo đó “Viện kiểm sát các cấp chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra đảm bảo có căn cứ, sát với nội dung vụ án” Do vậy khái niệm về bản yêu
Trang 10cầu điều tra cũng được nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn Trên cơ sở kế thừacác quan điểm về khái niệm bản yêu cầu điều tra của KSV của các tác giả nêutrên đồng thời trên cơ sở nghiên cứu những quy định của pháp luật thực định,nội hàm của bản yêu cầu điều tra, tác giả đưa ra khái niệm bản yêu cầu điềutra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ như sau:
“Bản yêu cầu điều tra là văn bản tố tụng do Kiểm sát viên ban hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ theo quy định của pháp luật TTHS, nêu rõ những vấn đề cần yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, những vấn đề cần điều tra để thu thập, củng cố chứng cứ, làm rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự hoặc để hoàn thiện các thủ tục tố tụng nhằm bảo đảm việc điều tra được tiến hành một cách khách quan, toàn diện và đầy
đủ theo đúng quy định của pháp luật, không làm oan, sai và không bỏ lọt tội phạm”.
- Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ có những đặc điểm cơ bản sau:
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là văn bản pháp lý trong TTHS doKSV được giao nhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ ánhình sự về chức vụ ban hành Bản yêu cầu điều tra phải được đưa vào hồ sơ
vụ án hình sự và lưu hồ sơ kiểm sát theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông
tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 củaViện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng và quy định tại khoản 1Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố,điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao
- Yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ của KSV có tính chất định hướngcho hoạt động điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hành mộtcách khách quan, nhanh chóng và kịp thời Do đó, ĐTV được phân công điều
Trang 11tra vụ án và CQĐT phải có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu điều tra củaVKS (quy định tại khoản 1 Điều 167 BLTTHS và khoản 2 Điều 11 Thông tưliên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 của ViệnKSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng).
- Trong một vụ án hình sự về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặcnhiều yêu cầu điều tra nếu trong quá trình điều tra, KSV thấy còn có nhữngvấn đề cần điều tra mà ĐTV chưa thực hiện nhằm bảo đảm để ĐTV kịp thờithu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án Do đó, yêu cầu điều tra củaKSV mang tính chất pháp lý đặc thù so với các văn bản tố tụng hình sự khác
Đây chính là điểm khác biệt giữa yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ củaKSV với bản kế hoạch điều tra vụ án của ĐTV bởi vì, bản kế hoạch điều tra
vụ án về chức vụ do ĐTV xây dựng để báo cáo Lãnh đạo duyệt và tiến hànhcác hoạt động điều tra theo kế hoạch Nội dung bản kế hoạch điều tra vụ án vềchức vụ bao gồm: Căn cứ lập kế hoạch, mục đích, yêu cầu, nội dung điều tra,biện pháp tiến hành, dự kiến các tình huống xảy ra, báo cáo và đề xuất Nómang tính chất nội bộ của CQĐT không mang tính pháp lý bắt buộc và khôngđược đưa vào hồ sơ vụ án
- Vai trò, mục đích và ý nghĩa của YCĐT
Thông qua YCĐT, KSV thể hiện rõ được quan điểm của mình trongviệc thu thập, củng cố chứng cứ và hoàn thiện thủ tục tố tụng trong giai đoạnđiều tra vụ án hình sự về chức vụ, nhằm mục đích làm rõ những vấn đề cầnđiều tra thu thập chứng cứ, hoàn thiện các thủ tục tố tụng, đảm bảo cho việcđiều tra, truy tố các vụ án hình sự về chức vụ được khách quan, toàn diện, kịpthời, đúng pháp luật, tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động THQCT và kiểm sáthoạt động xét xử của KSV tại phiên tòa
Yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụ có
ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với việc điều tra vụ án nói riêng và cả quá trình
xử lý vụ án nói chung, đó là:
Trang 12+ Yêu cầu điều tra có tính định hướng cho công tác điều tra nói chung
và xử lý vụ án, bị can nói riêng
+ Yêu cầu điều tra giúp cho việc điều tra, xử lý vụ án được tiến hànhmột cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, nhanh chóng và kịp thời
+ Yêu cầu điều tra còn có ý nghĩa khẳng định vị trí, vai trò của VKS;
uy tín, năng lực, trình độ của KSV trong hoạt động THQCT ở giai đoạn điềutra VAHS
Thực tế cho thấy, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ được KSV banhành kịp thời, đúng thời điểm và có chất lượng sẽ có ý nghĩa rất quan trọng
đối với kết quả điều tra của CQĐT “ bảo đảm cho hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ khách quan, toàn diện, đầy đủ” [9, tr.2] và đúng
hướng Đồng thời, giúp ĐTV khắc phục ngay những thiếu sót trong giai đoạnđiều tra nhằm giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và triệt để, gópphần hạn chế oan, sai hoặc phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm kéo dài thờigian giải quyết vụ án Thông qua đó, uy tín của KSV, của VKS đối với ĐTV
và CQĐT được nâng cao Ngược lại, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ có nộidung chung chung, khó thực hiện hoặc không thể thực hiện được làm kéo dàithời gian giải quyết vụ án, thậm chí còn làm chệch hướng điều tra
Tóm lại, yêu cầu điều tra vụ án về chức vụ là sản phẩm kết tinh từ kếtquả của hoạt động nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh, đốichiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và các văn bản pháp luật có liênquan đến việc giải quyết vụ án của KSV, qua đó giúp KSV nắm chắc diễnbiến của vụ án và tìm ra những tài liệu, chứng cứ còn thiếu, còn mâu thuẫnhoặc những vấn đề cần phải điều tra, xác minh, làm rõ mà ĐTV chưa thựchiện để đề ra các nội dung yêu cầu điều tra có tính sát thực, cụ thể và trực tiếpgiải quyết được các vấn đề của vụ án, tránh việc đề ra YCĐT chung chung,hình thức
Trang 131.1.2 Thẩm quyền, phạm vi, cơ sở, nội dung và hình thức của yêu cầu điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
- Thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra
Thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra các vụ án về chức vụ được trao choVKS và người thực hiện trực tiếp là KSV được phân công THQCT và KSĐT
vụ án Đây là hoạt động tố tụng quan trọng trong việc gắn chặt chức năngcông tố với điều tra theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020” và được cụthể hóa tại khoản 7 Điều 14 Luật Tổ chức VKSND năm 2014; điểm e khoản 1Điều 42 và khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 Theo đó, khi được phâncông THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, KSV
có nhiệm vụ, quyền hạn “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội”.
Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số BCA-BQP ngày 19/10/2018 của Viện KSND tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốcphòng quy định về phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số
04/2018/TTLT-VKSNDTC-quy định của BLTTHS cũng 04/2018/TTLT-VKSNDTC-quy định rõ: “Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về những vấn đề cần điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra, bảo đảm để Điều tra viên, Cán bộ điều tra kịp thời thu thập đầy đủ các chứng cứ, tài liệu của vụ án….; Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập”.
Như vậy, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT thực hiện” là
một quyền năng quan trọng và cơ bản của KSV Chỉ có KSV là chủ thể duynhất khi được phân công nhiệm vụ THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự mới có thẩm quyền đề ra yêu cầu điều tra
Trang 14- Phạm vi đề ra yêu cầu điều tra
Đề ra yêu cầu điều tra trong các vụ án về chức vụ là nội dung thuộcphạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.Phạm vi này được bắt đầu từ khi cơ quan (người) tiến hành tố tụng hình sự cóthẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luậnđiều tra và quyết định của Cơ quan Điều tra về việc đề nghị Viện kiểm sáttruy tố bị can trước Tòa án hoặc đình chỉ vụ án hình sự về chức vụ
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm
2014 khi thực hiện chức năng THQCT, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ,
quyền hạn sau đây: “Khi cần thiết đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện”; điểm e khoản 1 Điều 42 BLTTHS năm 2015 quy định: “Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: e) Đề ra yêu cầu điều tra…”; khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố,
kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số111/QĐ-VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định:
“Trường hợp thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện thì Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra; Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra hoặc bằng văn bản; Đối với vụ án thuộc trường hợp phạm tội quả tang, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng thì không cần thiết phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản”.
Ngoài ra, trong Quyết định số 379/QĐ-VKSTC ngày 10/10/2017 củaViện trưởng VKSND tối cao về ban hành hệ thống chỉ tiêu cơ bản đánh giákết quả công tác nghiệp vụ trong ngành kiểm sát nhân dân hiện nay là Quyếtđịnh số 139/QĐ-VKSTC ngày 29/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao có
Trang 15quy định về tỷ lệ ban hành bản YCĐT trên tổng số án thụ lý là ≥ 80% đối vớiVKS cấp huyện và ≥ 90% đối với VKS cấp tỉnh và VKSND tối cao.
Từ các quy định của pháp luật và quy định của ngành Kiểm sát chothấy, không phải bất kỳ vụ án về chức vụ nào KSV cũng phải đề ra yêu cầu
điều tra Chỉ khi nào thấy “cần thiết” hoặc “thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện” thì KSV mới đề ra yêu cầu điều tra.
Trong một vụ án về chức vụ, KSV có thể ban hành một hoặc nhiều yêu cầuđiều tra và được thực hiện trong suốt quá trình điều tra Khi KSV thấy còn cónhững vấn đề cần điều tra mà ĐTV chưa thực hiện nhằm đảm bảo cho việcgiải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để và đúng pháp luật Đốivới những vụ án phạm tội về chức vụ bị phát hiện và bắt quả tang, sự việcphạm tội đơn giản, chứng cứ và thủ tục tố tụng đã đầy đủ, rõ ràng thì KSVkhông nhất thiết phải đề ra yêu cầu điều tra
Vấn đề đặt ra đối với các vụ án về chức vụ là khi nào, trong trường hợp
nào KSV phải “cần thiết” đề ra YCĐT nhất là đối với loại án tham nhũng đa
số đều là án phức tạp có nhiều nội dung cần phải yêu cầu CQĐT tiến hành
điều tra, làm rõ hoặc trường hợp nào KSV “thấy có những vấn đề cần điều tra
mà Điều tra viên chưa thực hiện” thì phải ban hành YCĐT Trong khi những
nội dung này đối với ĐTV, CQĐT đương nhiên phải thực hiện mà không cầnphụ thuộc vào YCĐT của KSV như yêu cầu ĐTV xác định căn cước, lý lịch
bị can, lập danh chỉ bản của bị can v.v Do chưa có khung tiêu chí chung vềvấn đề này nên sẽ có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau tùy thuộc vàokhả năng nhận thức, đánh giá của từng KSV khi được phân công nhiệm vụTHQCT và KSĐT đối với từng vụ án hình sự về chức vụ
- Cơ sở đề ra YCĐT
Để việc đề ra các nội dung YCĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
về chức vụ đảm bảo chính xác và có căn cứ thì KSV cần phải xác định được
cơ sở đề ra yêu cầu điều tra, hay nói cách khác là “cần xác định đối
Trang 16tượng chứng minh, tức là nhóm các sự kiện, tình tiết được làm sáng tỏ và khẳng định” [26, tr.127] Việc xác định đối tượng chứng minh có vai trò định
hướng cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, nếu xác định không đúngđối tượng chứng minh sẽ làm cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ bịlãng phí thời gian và nguồn lực, không tập trung làm rõ được những vấn đềbản chất của vụ án hoặc bỏ sót các tình tiết, chứng cứ cần thiết cho việc chứngminh giải quyết vụ án
Theo quy định tại Điều 85 BLTTHS năm 2015 và các quy định phápluật khác có liên quan thì những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình
sự về chức vụ bao gồm:
+ Chứng cứ để chứng minh “có hành vi phạm tội xảy ra hay không” là
chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thuộccấu thành của một tội phạm cụ thể được quy định từ Điều 353 đến điều 366Chương XXIII (các tội phạm về chức vụ) của BLHS hay thuộc các trườnghợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế v.v…); chứng cứ
chứng minh “thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội” là chứng cứ xác định nếu có hành vi phạm tội xảy ra thì xảy ra vào thời
gian nào, ở đâu; phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện tộiphạm như thế nào v.v…
+ Chứng cứ để chứng minh “ai là người thực hiện hành vi phạm tội” là
chứng cứ xác định một chủ thể cụ thể là người “có chức vụ, quyền hạn trongkhi thực hiện công vụ, nhiệm vụ; được giao một nhiệm vụ nhất định và cóquyền hạn nhất định trong khi thực hiên công vụ, nhiệm vụ” đã thực hiện
hành vi phạm tội đó; chứng cứ chứng minh “có lỗi hay không có lỗi” là
chứng cứ xác định chủ thể có lỗi hoặc không có lỗi khi thực hiện hành vi nguyhiểm cho xã hội; nếu có lỗi thì là lỗi cố ý trực tiếp hay lỗi cố ý gián tiếp hoặclỗi vô ý do quá tự tin hay lỗi vô ý do cẩu thả theo quy định tại Điều 10 và
Điều 11 của BLHS; chứng cứ chứng minh “có năng lực trách nhiệm hình
Trang 17sự hay không” là chứng cứ xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã đủ tuổi chịu tráchnhiệm hình sự chưa; có mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khảnăng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không; nếu cóthì mắc bệnh đó vào thời gian nào, trong giai đoạn tố tụng nào; chứng cứ
chứng minh “mục đích, động cơ phạm tội” là chứng cứ xác định chủ thể thực
hiện hành vi phạm tội với mục đích, động cơ gì; mục đích, động cơ phạm tội
là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay là tình tiết định tội, tình tiết địnhkhung hình phạt v.v…
+ Chứng cứ để chứng minh “tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định bị can, bị cáo
được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều51của BLHS hoặc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy
định tại Điều 52 của BLHS; chứng cứ chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định lý lịch, tiền án, tiền sự của bị can, bị
cáo
+ Chứng cứ để chứng minh “tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra” là chứng cứ để đánh giá tính chất, mức độ thiệt hại, hậu quả
về vật chất, phi vật chất do hành vi phạm tội về chức vụ gây ra
+ Chứng cứ để chứng minh “nguyên nhân và điều kiện phạm tội” là
chứng cứ xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan, điều kiện cụ thể dẫn đến việc chủ thể thực hiện hành vi phạm tội;
+ Chứng cứ để chứng minh “những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt” là
chứng cứ chứng minh những vấn đề được quy định tại các điều 20, 21, 22, 23,
24, 25, 26, 27, 28, 29, 59, 88 và các điều luật khác của BLHS
+ Chứng cứ khác để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tạiĐiều 85 của BLTTHS mà thiếu chứng cứ đó thì không có đủ căn cứ để giải
Trang 18quyết vụ án hình sự về chức vụ, như: chứng cứ để chứng minh vị trí, vai tròcủa từng bị can, bị cáo trong trường hợp đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức;chứng cứ để xác định trách nhiệm dân sự của bị can, bị cáo và những vấn đềkhác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật v.v…
- Về hình thức
Ngoài các trường hợp KSV đề ra YCĐT bằng lời nói khi kiểm sát trựctiếp một số hoạt động điều tra theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 Thông tưliên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018, thì cáchoạt động điều tra khác, KSV phải đề ra YCĐT bằng văn bản
Khi ban hành YCĐT bằng văn bản, KSV phải thực hiện theo đúng mẫu
văn bản tố tụng do Viện trưởng VKSND tối cao quy định (mẫu số 20 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 07/QĐ- VKSTC ngày 02/01/2008, hiện nay là mẫu số 83 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao) Theo quy định này, văn bản yêu
cầu điều tra gồm 02 phần chính: Căn cứ để ban hành bản YCĐT và những nộidung yêu cầu CQĐT cần tiến hành điều tra, xác minh làm rõ
Thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản phải đảm bảo thực hiện theo Thông
tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và
kỹ thuật trình bày văn bản hành chính; Quy định về thể thức và kỹ thuật trìnhbày văn bản hành chính trong ngành KSND ban hành kèm theo Quyết định số393/QĐ-VKSTC ngày 01/7/2016 của Viện trưởng VKSNDTC Bản yêu cầu điềutra phải đảm bảo chính xác về mặt câu từ, văn phong, chính tả
Việc ký văn bản YCĐT phải đúng thẩm quyền, trong vụ án về chức vụ
có nhiều KSV tham gia giải quyết thì bản YCĐT phải do KSV thụ lý chính
ký Đối với những vụ án về chức vụ trọng điểm, phức tạp; vụ án dư luận xã
hội đặc biệt quan tâm, vụ án có bị can là người giữ chức vụ quyền hạn nhất
Trang 19định trong Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và trường hợp xét thấy có thểphải thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can thìtrước khi ký bản yêu cầu điều tra, KSV phải báo cáo xin ý kiến lãnh đạo đơn
vị, Lãnh đạo Viện (khoản 1 Điều 47 Quy chế 111)
- Về nội dung của yêu cầu điều tra
Đối với mỗi loại tội phạm về chức vụ khác nhau như vụ án tham ô tàisản, vụ án nhận hối lộ đòi hỏi nội dung YCĐT cũng khác nhau, phù hợp vớicấu thành tội phạm, đặc trưng cụ thể của loại tội đó Trong từng tội phạmchức vụ cụ thể, đối với mỗi vụ án khác nhau thì việc đề ra nội dung YCĐTcũng khác nhau, phù hợp với tính chất, diễn biến của từng vụ án Hiện nay,không có khuôn mẫu chung về nội dung YCĐT đối với tất cả các loại tộiphạm Tuy nhiên, đối với vụ án hình sự về chức vụ nào thì cũng đòi hỏi phảilàm rõ tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và những vấn đề cầnchứng minh trong vụ án hình sự như đã nêu trên Các nội dung YCĐT phảiđược diễn đạt mạch lạc, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng
cứ, tài liệu cần thu thập; có phương pháp trình bày bảo đảm thứ tự vấn đề vàlôgic về nội dung Nội dung bản YCĐT phải toàn diện, đầy đủ, triệt để, giúpcho công tác điều tra đi đúng hướng, phục vụ tốt hoạt động truy tố, xét xử;tránh đề ra yêu cầu điều tra một cách chung chung, không sát với hồ sơ vàtiến độ điều tra Để thực hiện được nhiệm vụ này, KSV phải có kiến thứcchuyên môn tốt, am hiểu một số quy định về lĩnh vực, ngành liên quan đến vụ
án chức vụ đang giải quyết như vụ án liên quan đến lĩnh vực tài chính, ngânhàng…; nắm chắc các dấu hiệu cấu thành, đặc trưng của từng tội phạm cụ thể;bám sát hoạt động điều tra của ĐTV; nắm chắc hồ sơ thông qua nghiên cứuđầy đủ toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã được CQĐT thu thập, kịp thời phát hiệnhành vi phạm tội, đối tượng phạm tội chưa được CQĐT xác minh, làm rõhoặc những tình tiết còn mâu thuẫn cần được làm sáng tỏ; những tình tiết mớiphát sinh trong vụ án; những vấn đề về dân sự trong vụ án về chức vụ; về áp
Trang 20dụng một số biện pháp điều tra đặc biệt theo quy định của BLTTHS; nhữngvấn đề về hoàn thiện thủ tục TTHS; vấn đề về khám xét, thu giữ đồ vật tàisản, niêm phong tài sản, phong tỏa tài sản tham nhũng, vấn đề về tạm thờicấm xuất nhập cảnh, thu hồi tài sản tham nhũng… Trong đó cần lưu ý:
- Để xác định khách thể là hoạt động đúng đắn, hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, đơn vị này đã bị xâm phạm thì KSV phải yêu cầu ĐTV thu thập cácvăn bản, tài liệu chứng cứ quy định chức năng, nhiệm vụ (quy chế, nội quylàm việc, điều lệ hoạt động) của cơ quan, tổ chức, đơn vị mà người phạm tội
về chức vụ đang công tác
- KSV phải yêu cầu ĐTV thu thập tài liệu chứng cứ xác định chủ thể cóchức vụ, quyền hạn được giao, được phân công là gì, đã có hành vi phạm tộipháp luật như thế nào trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ; các chứng cứ vậtchất, là các văn bản như công văn, quyết định, hợp đồng…và các dấu tích bútphê ý kiến chỉ đạo … nằm rải rác ở các tài liệu khác nhau hoặc ở các cơ quan,
tổ chức, cá nhân khác nhau hoặc tồn tại dưới dạng dữ liệu điện tử Nếu yêucầu điều tra thu được đầy đủ tài liệu, chứng cứ thì chúng ta mới có thể chủđộng nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp và đưa ra các quan điểm đề xuất, quyếtđịnh xử lý chính xác, có căn cứ, đúng pháp luật ngay từ khi CQĐT ra quyếtđịnh khởi tố vụ án, khởi tố bị can
Đối với người phạm tội chức vụ là Đảng viên, là cấp ủy viên thì sau khikhởi tố hoặc tạm giam bị can yêu cầu CQĐT phải có văn bản thông báo chocấp ủy hoặc Ủy ban kiểm tra có thẩm quyền tiến hành các thủ tục đình chỉsinh hoạt đảng theo quy định của Điều lệ Đảng hoặc có văn bản báo cáo Tổchức Đảng quản lý Đảng viên đó biết và tổ chức đảng cấp trên của mình theoChỉ thị số 26-CT/TW ngày 09/11/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điềutra, xử lý các vụ án, vụ việc
Trang 21- Đối với các vụ án về chức vụ liên quan đến các lĩnh vực đầu tư xâydựng, tài chính, kế toán, bảo hiểm, ngân hàng… cần thiết phải trưng cầu giámđịnh tư pháp, định giá tài sản để xác định thiệt hại, thì KSV phải yêu cầu ĐTVkhẩn trương thu thập đầy đủ các hồ sơ, tài liệu, đối tượng trưng cầu giámđịnh, định giá tài sản để kịp thời ban hành quyết định trưng cầu giám định,trưng cầu định giá và nội dung yêu cầu điều tra phải định hướng nội dunggiám định cho đúng, sát với vấn đề cần kết luận, thường xuyên theo dõi, đônđốc việc triển khai thực hiện quyết định trưng cầu giám định, yêu cầu tổ chức,
cá nhân được trưng cầu giám định khẩn trương thực hiện để sớm ban hành kếtluận giám định làm cơ sở cho việc điều tra, xử lý vụ án đảm bảo có căn cứ,đúng quy định của pháp luật, tránh việc phải yêu cầu trưng cầu giám định,định giá tài sản lại hoặc bổ sung, làm kéo dài thời hạn điều tra vụ án
- KSV yêu cầu ĐTV làm rõ giá trị tài sản chiếm đoạt, của hối lộ cũngnhư trị giá tài sản thiệt hại thực tế do hành vi phạm tội gây ra quy định tại cácđiều 353, 354, 355 và 358 của BLHS có mối quan hệ nhân quả như thế nàovới hành vi phạm tội (không bao gồm tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác màngười phạm tội đã hoặc sẽ chiếm đoạt) để làm cơ sở định tội danh và xác địnhtình tiết định khung tăng nặng, giảm nhẹ có căn cứ, chính xác và đúng phápluật
- KSV yêu cầu ĐTV thu thập các tài liệu chứng cứ xác định hành vi của
bị can là lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để làm trái, không làm hoặclàm không đúng quy định của pháp luật hay là vượt quá quyền hạn, chứctrách, nhiệm vụ được giao mặc dù không được giao, không được phân côngnhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực đó để họ thực hiện hành vi phạm tội; cáctài liệu chứng cứ xác định yếu tố lỗi của bị can và đồng phạm, làm rõ vai trò,trách nhiệm của những người liên quan trong vụ án; các tài liệu chứng cứ xácđịnh người phạm tội có động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác quy địnhtại các tội Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Đ356);
Trang 22tội Lạm quyền trong khi thi hành công vụ (Đ357) và tội Giả mạo trong côngtác (Đ359) bảo đảm cho việc khởi tố, xử lý bị can và các đối tượng liên quan
có căn cứ, đúng pháp luật
- Về công tác thu hồi tài sản thiệt hại trong các vụ án về chức vụ, do đốitượng phạm tội là những người có chức vụ, quyền hạn, có trình độ, kiến thứcpháp luật nên thường có thủ đoạn đối phó, bào chữa, che giấu hành vi phạmtội và tài sản tham nhũng hoặc có vụ án xảy ra sau một thời gian dài mới đượcphát hiện, xử lý dẫn đến việc thu hồi tài sản cũng còn chậm và gặp nhiều khókhăn Vì vậy, ngay sau khi khởi tố vụ án, KSV phải kịp thời đề ra các yêu cầuđiều tra tiến hành điều tra xác minh, làm rõ tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt đểkịp thời áp dụng các biện pháp cần thiết để thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản,tài khoản… tránh việc tẩu tán cũng như làm mất mát, hư hỏng tài sản, nhằmđảm bảo cho việc thu hồi tài sản đạt hiệu quả cao nhất cho nhà nước và cáccông ty, doanh nghiệp
1.1.3 Mối quan hệ giữa Yêu cầu điều tra với Kiểm sát điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Giữa YCĐT với hoạt động KSĐT của KSV trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự về chức vụ có sự giống nhau và khác nhau sau đây:
+ Về phạm vi: Được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can cho đến khi vụ án hình sự về chức vụ kết thúc điều tra theo quy địnhcủa pháp luật tố tụng hình sự:
Trang 23+ Mục đích: Đảm bảo cho hoạt động điều tra thu thập các tài liệuchứng cứ của ĐTV được khách quan, kịp thời, có căn cứ và đúng pháp luậttránh việc bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội.
+ Về nhiệm vụ: Đề ra YCĐT là nhiệm vụ thực hành quyền công tố củaKSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ được quy định tạikhoản 6 Điều 165 BLTTHS Còn KSĐT là nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theopháp luật của KSV trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án hình sự vềchức vụ của CQĐT, của ĐTV; kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của ngườitham gia tố tụng; yêu cầu Cơ quan điều tra, cung cấp tài liệu liên quan đểkiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra… và một sốnhiệm vụ quyền hạn khác được quy định tại Điều 166 BLTTHS
+ Nội dung: Nội dung của YCĐT chính là các tài liệu, chứng cứ màKSV yêu cầu ĐTV thu thập để làm rõ tội phạm, người phạm tội và các tìnhtiết chứng cứ khác của vụ án Việc đề ra YCĐT được thể hiện dưới 02 hìnhthức bằng lời nói hoặc bằng văn bản
Nội dung của KSĐT chính là hoạt động nghiên cứu, kiểm tra, đánh giátính có căn cứ và tính hợp pháp của các tài liệu chứng cứ, các tài liệu tố tụng
có trong hồ sơ vụ án mà ĐTV, CQĐT thu thập, ban hành; là kiểm tra, giám
Trang 24sát hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và chủ thể tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ.
- Mối quan hệ
Giữa YCĐT với hoạt động KSĐT của KSV trong giai đoạn điều tra vụ
án về chức vụ có đối tượng, nhiệm vụ và nội dung không giống nhau, nhưnglại có mối quan hệ chặt chẽ, biện chứng và hỗ trợ cho nhau bởi vì, YCĐT vàKiểm sát điều tra của KSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụđều có chung một mục đích là nhằm đảm bảo cho việc khởi tố, điều tra các vụ
án hình sự về chức vụ được khách quan, kịp thời, đúng người, đúng tội, đúngpháp luật, không bỏ lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan, sai Hoạtđộng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự về chức vụ của KSV có hiệu quả làđiều kiện để bảo đảm thực hành quyền công tố trong việc đề ra YCĐT củaKSV được đúng đắn, chính xác, khách quan và ngược lại
1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
1.2.1 Các quy định của các văn bản luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
VKSND là cơ quan duy nhất được giao nhiệm vụ THQCT, KSĐT tất cảcác vụ án hình sự nói chung, vụ án hình sự về chức vụ nói riêng và phải chịutrách nhiệm trước Nhà nước, trước xã hội về quyết định truy tố của mình Do
đó, để xác định sự thật khách quan của vụ án, giúp cho việc truy tố của VKS
có căn cứ, đúng pháp luật thì KSV có trách nhiệm đề ra yêu cầu điều tra.Trong giai đoạn điều tra, KSV không phải là người chứng kiến các hoạt độngđiều tra mà phải sử dụng tất cả các quyền năng pháp lý, trong đó có quyền đề
ra yêu cầu điều tra để yêu cầu CQĐT tiến hành điều tra nhằm phát hiện, thuthập, củng cố chứng cứ bảo đảm cho việc truy tố người phạm tội được chínhxác, đúng pháp luật
Trang 25Tại khoản 7 Điều 14 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định khiTHQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, VKSND có nhiệm vụ, quyền
hạn“Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm
rõ tội phạm, người phạm tội”.
Điểm e khoản 1 Điều 42 BLTTHS năm 2015 quy định “Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có những nhiệm vụ, quyền hạn: … e) Đề ra yêu cầu điều tra”.
Khoản 6 Điều 165 BLTTHS năm 2015 quy định về nhiệm vụ, quyềnhạn của VKS khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự là: “Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm
rõ tội phạm, người phạm tội”.
Tóm lại, việc “đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu CQĐT thực hiện” là
một quyền năng pháp lý quan trọng và cơ bản của KSV được pháp luật tốtụng hình sự quy định và chỉ có KSV khi được phân công nhiệm vụ THQCT
và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ mới có thẩmquyền này
1.2.2 Các quy định của các văn bản dưới luật về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ
Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số BCA-BQP ngày 19/10/2018 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốcphòng quy định rõ, ngoài các trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra
04/2018/TTLT-VKSNDTC-thì KSV được quyền “đề ra yêu cầu điều tra bằng lời nói”, còn đối với các hoạt động điều tra khác thì “Kiểm sát viên phải đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản, nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập”.
Trang 26Nghị quyết số 96/2019/QH14 ngày 27/11/2019 của Quốc hội về côngtác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác của Viện kiểm sát
nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án, có yêu cầu: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo các Viện kiểm sát áp dụng đồng bộ các giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác thực hành quyền công tố,… kiểm sát chặt chẽ các hoạt động điều tra, kịp thời đề ra yêu cầu điều tra để giải quyết vụ án khẩn trương, đúng pháp luật”.
Trong ngành Kiểm sát nhân dân, Viện trưởng VKSND tối cao cũng đãban hành nhiều quy định liên quan đến việc đề ra yêu cầu điều tra của KSVkhi được phân công THQCT và KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sựnói chung và án hình sự về chức vụ nói riêng, cụ thể:
Chỉ thị số 06/CT-VKSTC ngày 06/12/2013 của Viện trưởng VKSND
tối cao “về tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm” nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống
tội phạm; bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đúng người, đúng tội,đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tội phạm, kiên quyết
không để xảy ra oan, sai, trong đó có nội dung chỉ đạo“Viện kiểm sát các cấp chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra bảo đảm có căn cứ, sát với nội dung
vụ án”.
Chỉ thị số 04/CT-VKSTC ngày 10/7/2015 của Viện trưởng VKSND tối
cao “về tăng cường các biện pháp phòng chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động
tố tụng hình sự” trong đó, có nội dung yêu cầu các đơn vị trong toàn ngành Kiểm sát phải“tăng cường ban hành các yêu cầu điều tra”.
Chỉ thị số 05/CT-VKSTC ngày 27/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối
cao “về tăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm” trong đó có nội dung yêu
Trang 27cầu VKSND các cấp “Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án, phải nắm chắc tiến độ điều tra vụ án, chủ động đề ra yêu cầu điều tra chính xác để hỗ trợ Điều tra viên thu thập chứng cứ làm rõ vụ án”.
Khoản 1 Điều 47 Quy chế công tác thực hành quyền công tố, kiểm sátviệc khởi tố, điều tra và truy tố ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-
VKSTC ngày 17/4/2020 của Viện trưởng VKSND tối cao quy định “Kiểm sát viên phải kịp thời trao đổi với Điều tra viên, Cán bộ điều tra được phân công điều tra vụ án về những nội dung điều tra ngay từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án hình sự và trong quá trình điều tra Trường hợp thấy có những vấn đề cần điều tra mà Điều tra viên chưa thực hiện thì Kiểm sát viên phải đề
ra yêu cầu điều tra; Yêu cầu điều tra có thể được thực hiện nhiều lần, bằng lời nói trong trường hợp kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra hoặc bằng văn bản Yêu cầu điều tra phải nêu rõ ràng, cụ thể những vấn đề cần điều tra, chứng cứ, tài liệu cần thu thập Văn bản yêu cầu điều tra được đưa vào hồ sơ
vụ án, lưu hồ sơ kiểm sát”.
Ngoài ra, tại các Chỉ thị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao
về công tác kiểm sát hàng năm (từ năm 2016 đến năm 2020) đều chỉ đạo toànngành kiểm sát thực hiện tốt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyên môn được giaotrong đó có nội dung yêu cầu VKS các cấp tăng cường trách nhiệm công tố,gắn công tố với hoạt động điều tra trong việc đề ra yêu cầu điều tra như Chỉthị số 01/CT-VKSNDTC ngày 25/12/2015 của Viện trưởng VKSND tối cao
về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2016 đã chỉ rõ: “VKSND các cấp thực hiện tốt các biện pháp tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra; thực thi đầy đủ, hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo luật định
để chống oan sai, chống bỏ lọt tôi phạm ngay từ giai đoạn đầu của tố tụng hình sự và đảm bảo hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật; thực hiện nghiêm các quy định của ban chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham những trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng; chủ
Trang 28động áp dụng các biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng”; “tăng cường yêu cầu kiểm tra xác minh, yêu cầu điều tra”; Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày
17/12/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao về công tác kiểm sát năm 2020
đã khẳng định: “Chủ động phối hợp ngay từ đầu với CQĐT và các đơn vị liên quan để yêu cầu xác minh, yêu cầu điều tra đúng và kịp thời”; “Kiểm sát viên phải năm chắc, thực hiện đầy đủ các biện pháp nghiệp vụ, thể hiện vai trò công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra; Viện kiểm sát các cấp phải thể hiện vai trò, trách nhiệm trong công tác phát hiện, điều tra, xử lý có hiệu quả các tội phạm về tham nhũng, chức vụ”.
Như vậy có thể thấy rằng, trong những năm vừa qua Lãnh đạo ngànhkiểm sát luôn quan tâm đến việc tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tốvới hoạt động điều tra trong đó có hoạt động đề ra yêu cầu điều tra của KSV.Việc đề ra yêu cầu điều tra vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của KSV khiđược phân công THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và
án hình sự về chức vụ nói riêng Nếu KSV làm tốt được điều này thì chính nó
đã góp phần rất lớn vào việc truy tố, xét xử của VKS đảm bảo có căn cứ, đúngngười, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc bỏ lọt tộiphạm và để xảy ra oan, sai đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm
và yêu cầu cải cách tư pháp
Trang 29Kết luận chương 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra củaKSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ, luận văn đã tập trungphân tích, làm rõ khái niệm khái niệm, đặc điểm, vai trò, mục đích và ý nghĩacủa yêu cầu điều tra; về thẩm quyền, phạm vi, cơ sở đề ra yêu cầu điều tra; vềhình thức, nội dung của yêu cầu điều tra cũng như các quy định của pháp luật
và của ngành kiểm sát nhân dân về yêu cầu điều tra của KSV… Qua đó khẳngđịnh, đề ra yêu cầu điều tra là một quyền năng pháp lý được trao cho KSV khithực hiện nhiệm vụ THQCT, KSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án về chức vụnói riêng Đây không chỉ là quyền hạn mà còn là trách nhiệm của KSV đượcphân công Yêu cầu điều tra là hoạt động tố tụng hình sự quan trọng, địnhhướng cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của ĐTV được tiếnhành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ nhanh chóng và kịp thời để làm
rõ tội phạm, người phạm tội và những vấn đề phải chứng minh trong vụ án vềchức vụ hoặc yêu cầu về mặt thủ tục tố tụng góp phần đảm bảo cho việc điềutra, truy tố đúng quy định của pháp luật, chống oan, sai và bỏ lọt tội phạm.Kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về yêu cầu điều tra củaKSV trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ là cơ sở để đánh giáthực trạng đề ra yêu cầu điều tra và thực hiện yêu cầu điều tra của KSV tạiChương 2
Trang 30Chương 2 THỰC TIỄN THI HÀNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ YÊU CẦU ĐIỀU TRA CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ CHỨC VỤ VÀ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Các kết quả đạt được về yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai
- Số liệu án hình sự về kinh tế chức vụ đã khởi tố, điều tra từ năm 2016 đến năm 2020
Theo số liệu báo cáo tổng kết của VKSND tỉnh Đồng Nai, từ ngày01/12/2015 đến 30/11/2020, Cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp tỉnh Đồng Nai
đã khởi tố, điều tra 41 vụ/61 bị can về tội phạm chức vụ, cụ thể: Năm 2016khởi tố 05 vụ/10 bị can, năm 2017 khởi tố 06 vụ/11 bị can (tăng 20% về số
vụ, 10% về số bị can so với cùng kỳ năm 2016), năm 2018 khởi tố 09 vụ/18 bịcan (tăng 50% về số vụ, 63,6% về số bị can so với cùng kỳ năm 2017), năm
2019 khởi tố 11 vụ/09 bị can (tăng 11,1% về số vụ, giảm 50% về số bị can sovới cùng kỳ năm 2018) và năm 2020 khởi tố 10 vụ/13 bị can (giảm 9% về số
vụ, tăng 44,4% về số bị can so với cùng kỳ năm 2019)
Tội phạm xảy ra chủ yếu là: Tội tham ô tài sản 20 vụ/27 bị can (chiếm 48,7% số vụ án mới khởi tố và tăng 26,6% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015).
Điển hình là vụ án Vũ Hoàng Đang nguyên nhân viên quản lý hóa đơn kiêmchấm xóa nợ của Điện lực Biên Hòa Từ tháng 9/2014 đến tháng 10/2015, VũHoàng Đang đã có hành vi cấu kết với Hồ Thanh Trúc nguyên nhân viên củangân hàng An Bình thực hiện hành vi thu tiền điện của khách hàng nhưng giữlại một phần để chiếm đoạt, sau đó che dấu hành vi bằng cách sử dụng ủynhiệm chi chấm xóa nợ cho khách hàng nộp tiền mặt mà Trúc và Đang chiếmđoạt, lấy ủy nhiệm chi của khách hàng sau chấm xóa nợ cho khách hàngtrước Bằng thủ đoạn này Trúc và Đang đã tham ô chiếm đoạt của Điện lực
Trang 31Biên Hòa số tiền 9.755.423.447 đồng Vụ án đã được Cơ quan Cảnh sát điềutra Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố vụ án, khởi tố bị can Vũ Hoàng Đang cùng
05 đồng phạm về các tội “Tham ô tài sản” và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậuquả nghiêm trọng” để điều tra, xử lý
Tội nhận hối lộ 08 vụ/17 bị can (chiếm 19,5 số vụ án mới khởi tố và tăng 33,3% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015) Điển hình là vụ án Lê Văn
Thái nguyên cán bộ Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Môi trường Công anthành phố Biên Hoà Ngày 08/12/2017, trong lúc tuần tra, Thái phát hiện 02
xe bồn hút hầm cầu biển số 54Y-9579 và 54X-4876 do anh Đỗ Văn Huy làmchủ đang xả chất thải trái quy định tại khu vực trồng cao su của Lữ Đoàn pháobinh 75 thuộc phường Tân Phong, thành phố Biên Hoà Quá trình làm việcvới anh Đỗ Văn Huy, Thái đã có hành vi đòi anh Huy đưa tiền hối lộ để bỏqua lỗi vi phạm cho anh Huy Đến 18 giờ 30 phút, ngày 11/12/2017, tại quánhải sản Hào Phát, số 78/4, đường Trương Định, khu phố 2, phường Tân Mai,thành phố Biên Hoà, Lê Văn Thái đang nhận hối lộ 50.000.000 đồng (Nămmươi triệu đồng) của anh Đỗ Văn Huy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an tỉnh Đồng Nai bắt quả tang
Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ 06 vụ/07 bị
can (chiếm tỉ lệ 14,6%, tăng 20% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015); Tội Lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản 05 vụ/08 bị can (chiếm tỉ lệ 12,2%, tăng 25% so với cùng kỳ từ năm 2011-2015)
- Số liệu, kết quả đề ra YCĐT của KSV
Trong số 41 vụ/61 bị can về chức vụ đã khởi tố, điều tra, có 31 vụ/40 bịcan, KSV có đề ra YCĐT đạt tỉ lệ 75,6% Trong đó, số vụ KSV ban hành 01YCĐT là 31 vụ chiếm tỉ lệ 75,6%; 12 vụ có 2 YCĐT, chiếm tỉ lệ 38,7% và 07
vụ có 3 YCĐT chiếm tỉ lệ 22,6 % Tổng số YCĐT mà KSV đã ban hành là 50YCĐT Các đơn vị ban hành nhiều yêu cầu điều tra trong một vụ án hình sựnhư: Phòng 3 VKS tỉnh có 04 vụ/14 vụ có 03 yêu cầu điều tra, chiếm tỉ lệ
Trang 3228,6%; VKSND thành phố Biên Hòa có 02vụ/03 vụ có 03 yêu cầu điều tra,chiếm tỉ lệ 66,7%.
Số án KSV không ban hành YCĐT là 10 vụ/21 bị can chiếm tỉ lệ24,4% Trong đó, một số VKSND cấp huyện có tỉ lệ ban hành yêu cầu điều trathấp như: VKSND huyện Thống Nhất 01 vụ/04 vụ có yêu cầu điều tra chiếm
tỉ lệ 25%; VKSND huyện Định Quán 02 vụ/04 vụ có yêu cầu điều tra chiếm tỉ
lệ 50% Những con số trên cho thấy, tỉ lệ ban hành yêu cầu điều tra của một
số VKSND cấp huyện chưa đạt chỉ tiêu theo yêu cầu của Ngành kiểm sát.Thậm chí có đơn vị cấp huyện như VKSND huyện Nhơn Trạch thụ lý 02 vụ
án về Tội nhận hối lộ nhưng không ban hành yêu cầu điều tra nào
Qua nghiên cứu 50 YCĐT/31 vụ án hình sự về chức vụ được KSV banhành, có 40 YCĐT được KSV Viện kiểm sát 02 cấp tỉnh Đồng Nai ban hànhđúng, kịp thời và có căn cứ (chiếm tỉ lệ 80%) giúp cho hoạt động điều tra thuthập tài liệu, chứng cứ của ĐTV được tiến hành một cách khách quan, toàndiện, nhanh chóng và kịp thời để làm rõ tội phạm, người phạm tội và nhữngvấn đề phải chứng minh trong vụ án về chức vụ hoặc yêu cầu về mặt thủ tục
tố tụng góp phần đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự
về chức vụ có căn cứ, đúng ngoài, đúng tội và đúng pháp luật, không bỏ lọttội phạm, người phạm tội và không làm oan, sai Còn lại, 10 YCĐT do KSVban hành có nội dung chung chung, không cụ thể, không sát với hồ sơ và tiếnđộ điều tra hoặc yêu cầu những vấn đề CQĐT đương nhiên phải thực hiện, đãthực hiện hoặc những vấn đề không liên quan đến vụ án (chiếm tỉ lệ 20%),làm ảnh hưởng đến quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự về chức vụ
- Số liệu án hình sự về chức vụ bị Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, điều tra lại có liên quan đến YCĐT của KSV.
Từ năm 2016 đến năm 2020, có 03 vụ án hình sự về chức vụ bị VKS raQuyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung; 04 vụ bị Tòa án nhân dân ra quyết địnhtrả hồ sơ để điều tra bổ sung; 02 vụ bị Tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm
Trang 33tuyên hủy án để điều tra lại có liên quan đến việc đề ra YCĐT của KSV khôngkịp thời, đầy đủ, bỏ lọt tội phạm hoặc sót các tỉnh tiết, chứng cứ quan trọngkhác của vụ án Điển hình là vụ án Phạm Minh Tân phạm tội “Nhận hối lộ” bịTòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy án tuyên hủytoàn bộ bản án hình sự phúc thẩm của TAND tỉnh Đồng Nai và bản án hình sự
sơ thẩm của TAND thành phố Biên Hòa để điều tra lại theo quy định của pháp
luật vì lý do bỏ lọt hành vi phạm tội“lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị can Phạm Minh Tân và hành vi “đưa hối lộ” của bà Nguyễn Thị Ánh
* Đánh giá, nhận xét chung
Trong 05 năm qua (từ năm 2016 đến năm 2020), KSV Viện kiểm sát 02cấp tỉnh Đồng Nai trong quá trình thực hiện nhiệm vụ THQCT và KSĐT các
vụ án hình sự về chức vụ đã tích cực và chủ động bám sát hồ sơ vụ án để đềcác YCĐT nhìn chung đều đảm bảo kịp thời, chính xác và có căn cứ ngay từkhi khởi tố vụ án hình sự và trong suốt quá trình điều tra, góp phần làm chohoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ của ĐTV được khách quan, toàndiện và đúng pháp luật Do vậy, hầu hết các vụ án hình sự về chức vụ đềuđược điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, có căn cứ, đúng người, đúng tội vàđúng pháp luật Mặc dù vậy, vẫn còn một số YCĐT của KSV ban hành chưakịp thời, nội dung còn chung chung, không cụ thể hoặc không có căn cứ làmảnh hưởng đến tiến độ, điều tra giải quyết vụ án, thậm chí có một số vụ ánhình sự về chức vụ phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hoặc bị cấp phúc thẩm,giám đốc thẩm tuyên hủy án để điều tra lại làm kéo dài thời hạn tố tụng khôngcần thiết
Trang 342.2 Thực trạng đề ra yêu cầu điều tra của Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự về chức vụ tại tỉnh Đồng Nai
2.2.1 Những kết quả đạt được
- Về số liệu
Trong 05 năm qua, ngành Kiểm sát tỉnh Đồng Nai đã có nhiều cố gắngtrong việc đề ra YCĐT trong quá trình thực hiện nhiệm vụ THQCT và KSĐTcác vụ án hình sự về chức vụ với tỉ lệ đề ra YCĐT năm sau cao hơn nămtrước, cụ thể:
Từ năm 2016 đến năm 2020, KSV Viện kiểm sát 02 cấp đã ban hành 50yêu cầu điều tra/41 vụ án hình sự về chức vụ đã khởi tố, đạt tỉ lệ 121,9%.Trong đó: Năm 2016, VKS 02 cấp đã ban hành 05 yêu cầu điều tra/05 vụ, đạt
tỉ lệ 100% trên tổng số vụ án khởi tố; năm 2017 ban hành 05 yêu cầu điều tra /
06 vụ, đạt tỷ lệ 83,3% trên tổng số vụ án khởi tố; Năm 2018 ban hành 08YCĐT/09 vụ đạt tỉ lệ 88,9% trên tổng số vụ án khởi tố; năm 2019 ban hành
16 yêu cầu điều tra 11 vụ đạt tỉ lệ 145,5% trên tổng số án khởi tố và năm 2020ban hành 16 bản yêu cầu điều tra /10 vụ đạt tỉ lệ 160% trên tổng số án khởi tố.Nhiều đơn vị có 100% số vụ án hình sự về chức vụ đều ban hành bản yêu cầuđiều tra như: Phòng 3 VKS tỉnh, VKSND thành phố Biên Hòa, VKSNDhuyện Vĩnh Cửu, VKSND huyện Long Thành
- Về hình thức và nội dung của yêu cầu điều tra
Các yêu cầu điều tra về cơ bản đều được ban hành theo đúng biểu mẫu
của Ngành (mẫu số 20 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 07/QĐ-VKSTC ngày 02/01/2008 của Viện trưởng VKSND tối cao và mẫu số 83 trong danh mục biểu mẫu tố tụng hình sự Ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC ngày 09/01/2018 của Viện trưởng VKSND tối cao) Theo đó, các KSV đã chú trọng thực hiện các quy
định về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản theo quy định của Bộ Nội vụ vàcủa ngành Kiểm sát Hầu hết các yêu cầu điều tra đảm bảo chính xác về mặt
Trang 35câu từ, văn phong, chính tả và việc ký văn bản đúng thẩm quyền Trong đó, có40/50 YCĐT do KSV đề ra nhìn chung đều đảm bảo có căn cứ, sát với nộidung vụ án (chiếm tỉ lệ 80%) được ĐTV, CQĐT thực hiện đầy đủ và nghiêmtúc đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án, cụ thể:
+ Có 18 yêu cầu điều tra có nội dung toàn diện, đầy đủ, triệt để giúp cho việc điều tra đúng hướng, phục vụ tốt hoạt động truy tố, xét xử.
Trong quá trình THQCT và KSĐT vụ án về chức vụ nhiều KSV đãnghiên cứu kỹ các tài liệu, chứng cứ ban đầu do CQĐT cung cấp; bám sát quátrình điều tra, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra cụ thể, sát với nội dung vụ án
án, nội dung yêu cầu điều tra toàn diện, đầy đủ, chính xác, định hướng tốt chohoạt động điều tra của ĐTV, giúp CQĐT tiến hành điều tra đúng hướng, sau
đó Tòa án xét xử có đầy đủ tài liệu chứng cứ kết tội bị cáo và áp dụng hìnhphạt tương xứng với hành vi phạm tội Điển hình như: (1) Vụ án Vũ Hoàng
Đang cùng đồng phạm phạm “Tội tham ô tài sản”, “Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Điện Lực thành phố Biên Hòa; (2) vụ
Võ Thanh Tùng cùng đồng phạm phạm“Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy ra tại phòng Nội vụ thành phố Biên Hòa do Cơ quan
CSĐT - Công an tỉnh Đồng Nai khởi tố điều tra; (3) Vụ Đặng Thị Hòa cùng
đồng phạm phạm “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” xảy
ra Hội liên hiệp Phụ nữ xã Suối Tre, thành phố Long Khánh, vụ Đỗ Thị HạnhĐào phạm tội “Tham ô tài sản” xảy ra tại Bệnh viện đa khoa huyện VĩnhCửu…
+ Có 05 YCĐT, KSV đã yêu cầu CQĐT củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án, bị can về tội phạm chức vụ nhưng chưa được CQĐT khởi tố nên đã không để xảy ra việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội về chức vụ
Trong quá trình THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra các vụ án vềchức vụ, nhiều KSV đã nắm chắc hồ sơ, bám sát hoạt động điều tra của ĐTV,nghiên cứu kỹ tài liệu, chứng cứ, kịp thời phát hiện những hành vi phạm tội,
Trang 36đối tượng phạm tội chưa được CQĐT xác minh, làm rõ để khởi tố Từ đó,KSV đã chủ động báo cáo lãnh đạo đơn vị, đề ra YCĐT yêu cầu CQĐT thuthập, củng cố tài liệu, chứng cứ để khởi tố vụ án, bị can Do đó, đã không đểxảy ra việc bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, thể hiện rõ vai trò, trách nhiệmcông tố trong giai đoạn điều tra của KSV, điển hình là vụ án sau đây:
Vụ án Phạm Đức Bình phạm “Tội tham ô tài sản” xảy ra Cơ sở điều
trị ma túy tỉnh Đồng Nai Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án, KSV đã đề raYCĐT số 33/YCĐT-VKSXL ngày 02/05/2019 để yêu cầu CQĐT làm rõ ĐinhThị Soa – nguyên Kế toán kiêm Tổ trưởng Tổ quản trị đời sống của Cơ sởđiều trị ma túy tỉnh Đồng Nai có hay không có hành vi thông đồng với PhạmĐức Bình phụ trách tổ nuôi ăn trong việc kê khống nâng giá các hàng hóa đểchiếm đoạt khoản tiền chênh lệch của Cơ sở điều trị ma túy Qúa trình điều traxác định Đinh Thị Soa có hành vi đồng phạm với Phạm Đức Bình tham ôchiếm đoạt số tiền chênh lệch mà các đối tượng đã nâng khống là 9.685.000đồng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Lộc đã ra quyết định KTBC
để xử lý đối với Đinh Thị Soa về tội Tham ô tài sản với vai trò là đồng phạm
+ Có 03 YCĐT của KSV dẫn đến thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can đúng với bản chất của vụ án, hành vi phạm tội của
bị can.
Một số vụ án, sau khi CQĐT khởi tố, chuyển hồ sơ, tài liệu đến VKS,KSV đã nghiên cứu hồ sơ, phát hiện ra việc khởi tố vụ án, bị can không chínhxác, không đúng với hành vi phạm tội của bị can nên đã đề ra yêu cầu CQĐTthu thập, củng cố tài liệu, chứng cứ để thay đổi quyết định khởi tố vụ án, bịcan và đã được CQĐT chấp nhận, sau đó đã ban hành quyết định thay đổi.Điều đó cho thấy, bản YCĐT của KSV đã định hướng tốt cho CQĐT, giúpcho việc điều tra đúng người, đúng tội, điển hình là vụ án sau đây:
Vụ án Lê Quốc Khởi nguyên Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự
xã Xuân Bảo, huyện Cẩm Mỹ phạm “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm
Trang 37đoạt tài sản” Ban đầu Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Mỹ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Lê Quốc khởi về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS năm 1999 để tiến hành điều
tra Quá trình THQCT và KSĐT, KSV nhận thấy Lê Quốc Khởi không phải làthành viên của Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã Xuân Bảo nhưng đã lạm dụngchức vụ Phó Chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự xã Xuân Bảo được giaonhiệm vụ xây dựng các kế hoạch liên quan đến việc tuyển quân trên địa bàn
xã, cùng lực lượng quân sự xã lập danh sách những người trong độ tuổi thựchiện nghĩa vụ quân sự (từ18 tuổi đến 27 tuổi) và Khởi đã lạm dụng chức vụ,quyền hạn của mình ba lần chiếm đoạt số tiền 9.000.000 đồng của ông TrầnVăn Thịnh và ông Nguyễn Văn Hiền để đưa các anh Trần Đức Phương vàNguyễn Thành Đặng (con trai của ông Thịnh và ông Hiền) vào danh sáchmiễn, tạm hoãn nghĩa vụ quân sự trái quy định KSV đã kịp thời báo cáo lãnhđạo Viện ra văn bản YCĐT yêu cầu thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố
bị can đối với Lê Quốc Khởi từ “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” sang “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” CQĐT đã thống nhất thay
đổi tội danh đối với bị can Lê Quốc Khởi theo nội dung YCĐT của KSV.Ngày 15/01/2018, Lê Quốc Khởi đã bị TAND huyện Cẩm Mỹ xử phạt 02 năm
tù về “Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.
+ Có 06 YCĐT của KSV đã yêu cầu làm rõ những tình tiết còn mâu thuẫn trong vụ án hình sự về chức vụ.
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, KSV đãphát hiện kịp thời có sự mâu thuẫn giữa lời khai của các bị can, người thamgia tố tụng; mâu thuẫn giữa lời khai của bị can và những người tham gia tốtụng với các tài liệu, chứng cứ khách quan thu thập được; mâu thuẫn giữa cácchứng cứ với kết luận giám định… chưa được CQĐT phát hiện, giải quyết,nên đã kịp thời đề ra YCĐT yêu cầu CQĐT làm rõ các mâu thuẫn đó; trực tiếpkiểm sát việc đối chất, hỏi cung, lấy lời khai, yêu cầu giám định lại…
Trang 38Qua đó, đã giải quyết được các mâu thuẫn, giúp cho việc giải quyết vụ ánđược chính xác, đúng bản chất, không để xảy ra việc trả hồ sơ điều tra bổsung cũng như không để bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội, điển hình
là vụ án sau đây:
Vụ án Lê Văn Thái phạm “Tội nhận hối lộ” xảy ra tại Đội Cảnh sát
phòng chống tội phạm về Môi trường Công an thành phố Biên Hòa Nội dung
vụ án, ngày 08/12/2017, trong lúc tuần tra, Thái phát hiện 02 xe bồn hút hầmcầu biển số 54Y-9579 và 54X-4876 do anh Đỗ Văn Huy làm chủ đang xả chấtthải trái quy định tại khu vực trồng cao su của Lữ Đoàn pháo binh 75 thuộcphường Tân Phong, thành phố Biên Hoà Quá trình làm việc với anh Đỗ VănHuy, Thái đã có hành vi đòi anh Huy đưa tiền hối lộ để bỏ qua lỗi vi phạmcho anh Huy Đến 18 giờ 30 phút, ngày 11/12/2017, tại quán hải sản HàoPhát, số 78/4, đường Trương Định, khu phố 2, phường Tân Mai, thành phốBiên Hoà, Lê Văn Thái đang nhận hối lộ số tiền 50.000.000 đồng của anh ĐỗVăn Huy thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đồng Nai bắtquả tang Quá trình điều tra, anh Đỗ Văn Huy và Lê Văn Thái khai Đỗ NhậtTường là Đội phó Đội Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường Công
an thành phố Biên Hòa là người yêu cầu anh Huy đưa 100 triệu đồng để bỏqua lỗi vi phạm cho anh Huy Tuy nhiên, Đỗ Nhật Tường lại không thừa nhậnhành vi trên KSV đã có văn bản YCĐT yêu cầu CQĐT thu thập các tài liệuchứng cứ đồng thời yêu cầu cho Thái và Huy đối chất với Tường để làm rõmâu thuẫn Kết quả điều tra không có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứngminh lời khai của anh Đỗ Văn Huy và Lê Văn Thái Do đó, không đủ chứng
cứ để chứng minh Đỗ Nhật Tường là người tham gia vụ án với vai trò đồngphạm
+ Có 05 YCĐT đã được KSV yêu cầu làm rõ những tình tiết chưa được CQĐT làm rõ, những tình tiết mới phát sinh trong vụ án về chức vụ
Trang 39Quá trình điều tra vụ án về chức vụ, do chưa làm hết trách nhiệm, dotâm lý chủ quan và kinh nghiệm còn hạn chế nên ĐTV chưa xác minh, điềutra hết các tình tiết của vụ án hoặc quá trình điều tra phát sinh những tình tiếtmới nhưng chưa được CQĐT làm rõ Qua nghiên cứu hồ sơ, KSV đã kịp thờiphát hiện, đề ra các nội dung YCĐT đảm bảo cho việc điều tra vụ án về chức
vụ được nhanh chóng và làm rõ hành vi phạm tội của bị can Điển hình là vụ
Võ Thanh Liêm đồng thời cho những người này đối chất với Toán để xác định
cụ thể số tiền gốc và lãi trong tổng số tiền 18.500.000 đồng mà các ông Danh,
Lê và Liêm nộp cho Toán Kết quả điều tra đã xác định đây là số tiền mànhững người này đã nộp cho Toán để trả tiền gốc vay cho ngân hàng nhưngToán đã không nộp mà chiếm đoạt sử dụng cá nhân
+ Có 04 YCĐT vụ án về chức vụ đã giúp ĐTV hoàn thiện các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Thực tiễn cho thấy, ĐTV là những người được đào tạo chuyên ngành vềnghiệp vụ điều tra, xu hướng điều tra thường thu thập, củng cố tài liệu, chứng
cứ để buộc tội Trong quá trình điều tra, nhiều ĐTV không nghiên cứu triệt đểcác quy định tố tụng hình sự để thực hiện, có tư tưởng chủ quan trong việcthực hiện các thủ tục tố tụng, dẫn đến những vi phạm, sai sót như: Chưa nêu
rõ xuất xứ, quy trình thu giữ tài liệu, vật chứng; không mời người bào