1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC LÊNIN VỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ QUÁ độ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

16 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 387,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học phần: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌCĐ Ề TÀI : QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trang 1

Học phần: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Đ

Ề TÀI : QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ TÔN GIÁO

VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Giảng viên hướng dẫn : TS LÊ THỊ KIM

Sinh viên thực hiện : LÊ KHÁNH HÒA

Lớp : TC

Mã sinh viên : 23A4550338

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2021

MỤC LỤC

Trang

LỜI MỞ ĐẦU……… 01

Trang 2

1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lenin về tôn giáo … … 03 1.2.Tôn giáo trong Chủ nghĩa xã hội … … 04

Chương 2: Tôn giáo ở Việt Nam và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam hiện nay … 07

2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam………… …… ………07 2.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo hiện nay……… ……… 08 2.3 Các biện pháp để thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam ………… 09 2.4 Nhận thức, cảm nhận của bản thân về chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam ……… 11

KẾT LUẬN………13 TÀI LIỆU THAM KHẢO 14

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội- văn hóa phức tạp, ra đời rất sớm trong lịch sử loài người Trong suốt chiều dài tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội, tôn giáo đã có những lúc tác động cùng chiều hoặc ngược chiều với sự tiến

bộ của loài người Tuy nhiên, không thể phủ nhận vai trò của tôn giáo đối với đời sống tinh thần của nhân loại, nó cũng là một trong những bộ phận cấu thành nên kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo, có tôn giáo mang tính quốc tế du nhập từ bên ngoài, cũng có tôn giáo nội sinh trong lòng dân tộc nhưng có một điều đặc biệt là dù tôn giáo khác nhau, nhưng đại đa số tín đồ đều có một mục đích chung mong muốn được đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, để vừa là một công dân tốt vừa là một tín đồ tốt của tôn giáo mình Chủ nghĩa xã hội không phủ nhận tuyệt đối tôn giáo mà dung hòa tôn giáo trong đời sống, xã hội để phát triển toàn diện hơn Mọi giáo lý của tôn giáo đều mang đậm tính nhân văn sâu sắc Những triết lý ấy giúp cho con người sống gần gũi với nhau hơn;

có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng; gắn với sự phát triển chung của toàn xã hội Tôn giáo là tự do tín ngưỡng của mỗi công dân Vì vậy, trên con đường định hướng xây dựng xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng tôn giáo Dưới sự kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì Đảng ta đã nhìn nhận vấn đề tôn giáo với tư duy mới và từ đó

đã đưa ra những cách làm mới trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam

Trên cơ sở đó, em đã chọn đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lenin

về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, nhà nước Việt Nam trong thời kì quá độ lên CNXH” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Trang 4

Mục đích của đề tài là làm rõ những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin

về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì quá

độ lên CNXH đồng thời đưa ra một số biện pháp để thực hiện chính sách tôn giáo và trách nhiệm của sinh viên ngày nay

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục đích trên thì đề tài phải thực hiện hai nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, cung cấp cái nhìn khái quát về tôn giáo theo quan niệm của Chủ

nghĩa Mác Lê-nin gồm có: bản chất, nguồn gốc, tính chất

Thứ hai, đưa ra các đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam và các chính sách tôn

giáo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kì quá độ lên CNXH

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Việt Nam, trong giai đoạn hiện nay

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong thời kì quá độ lên CNXH

Đề tài sử dụng phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của chủ nghĩa xã hội khoa học vào việc phân tích; thu nhập thông tin, tài liệu, phân tích và sử dụng phương pháp so sánh và đối chiếu

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Giải quyết được lí luận về tôn giáo và vai trò tác động của

Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo trong thời quá độ lên CNXH

Về thực tiễn: Từ việc nghiên cứu, Đảng và Nhà nước sẽ đưa ra những chính

sách phù hợp hơn về tôn giáo, xây dựng nước Việt Nam dân chủ văn minh

Trang 5

CHƯƠNG 1 TÔN GIÁO TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI 1.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lenin về tôn giáo

1.1.1 Bản chất của tôn giáo:

Thứ nhất: Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng tôn giáo là một hình thái ý

thức xã hội, phản ánh hư ảo hiện thực khách quan, thông qua hệ thống các biểu tượng siêu nhiên và niềm tin

Thứ hai: Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện

lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định

Thứ ba: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc

của con người trước tự nhiên và trước các thế lực trong đời sống

1.1.2 Nguồn gốc của tôn giáo:

Nguồn gốc tự nhiên, kinh tế - xã hội: Sự bất lực của con người trước các

thế lực tự nhiên, thế lực xã hội

Nguồn gốc nhận thức: Do khả năng nhận thức của con người về tự

nhiên, xã hội và bản thân con người là có giới hạn nên đã thần thánh hóa những điều chưa nhận thức được

Nguồn gốc tâm lý: Đó là ảnh hưởng của yếu tố tâm lý (tích cực lẫn tiêu

cực) đến sự ra đời của tôn giáo Đặc biệt là sự bất lực trong đời sống, trong nhận thức, tạo ra sự sợ hãi, bi quan Đó là những tình cảm làm nảy sinh và duy trì niềm tin tôn giáo

1.1.3 Tính chất của tôn giáo:

Tính lịch sử: Tôn giáo là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, có sự hình

thành, tồn tại và phát triển (một số còn biến mất); khi hoàn cảnh lịch sử biến đổi, tôn giáo cũng biến đổi theo

Tính quần chúng: Có nhiều người tham gia ở các quốc gia, là nơi sinh hoạt

Trang 6

tinh thần của một bộ phận quần chúng đáng kể.

Tính chính trị: Tính chính trị của tôn giáo xuất hiện khi xã hội phân chia

giai cấp, có sự khác biệt, sự đối kháng về lợi ích giai cấp

Tính đạo đức: Nhiều tôn giáo khuyên con người làm điều thiện, tránh điều

ác, chủ trương bình đẳng

1.2 Tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội

1.2.1 Nguyên nhân tồn tại tôn giáo trong chủ nghĩa xã hội

Nguyên nhân nhận thức: Trong quá trình phát triển chủ nghĩa xã hội,

trình độ dân trí chưa cao, con người vẫn còn bị tự nhiên chi phối Mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ, giúp cho con người có thêm nhận thức về xã hội Nhưng thế giới khách quan là vô cùng rộng lớn nên nhận thức của con người có hạn, còn nhiều vấn đề chưa thể làm

rõ Do đó trước sức mạnh của tự nhiên, con người chưa thể nhận thức được đã khiến cho một bộ phận nhân dân đi tìm sự an ủi, che chở và lý giải chúng từ sức mạnh của thần linh

Nguyên nhân chính trị xã hội: Trong những nguyên tắc tôn giáo có

những điểm vẫn còn phù hợp với chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa Đó là mặt giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đáp ứng được tinh thần của một bộ phận nhân dân Đồng thời các thế lực thù địch vẫn lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho mưu đồ chính trị của mình Các cuộc chiến tranh xung đột dân tộc, sắc tộc, khủng bố, bạo loạn

… còn xảy ra ở nhiều nơi Nỗi lo sợ về chiến tranh bạo loạn, bệnh tật đói nghèo, … cùng với những mối đe dọa khác là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại

Nguyên nhân văn hóa: Tôn giáo có những giá trị văn hóa nhất định do

đó sinh hoạt tôn giáo đáp ứng một phần nhu cầu đời sống tinh thần, tình cảm của một bộ phận nhân dân nên nó tồn tại như một hiện tượng xã hội khách quan

Trang 7

1.2.2 Nguyên tắc giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo vẫn còn tồn tại, nhưng

đã có sự biến đổi trên nhiều mặt Vì vậy, khi giải quyết vấn đề tôn giáo cần đảm bảo những nguyên tắc sau:

 Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân

Tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin của nhân dân vào đấng tối cao nào đó mà

họ tôn thờ Do đó, tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng thuộc quyền tự

do tư tưởng của nhân dân Mọi hành vi cấm đoán, ngăn cản tự do theo đạo, bỏ đạo hay đe dọa, bắt buộc người dân phải theo đạo đều xâm phạm quyền tự do

tư tưởng của họ

Tôn trọng tự do tín ngưỡng cũng chính là tôn trọng quyền con người, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Nhà nước xã hội chủ nghĩa không can thiệp hay không cho bất cứ ai can thiệp, xâm phạm đến quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân Các tôn giáo và mọi hoạt động của tôn giáo bình thường nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng của người dân được Nhà nước xã hội chủ nghĩa tôn trọng và bảo hộ

 Khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

Nguyên tắc này để khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ hướng vào giải quyết những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo đối với quần chúng nhân dân mà không phải chủ trương can thiệp vào công việc nội bộ của các tôn giáo Chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra rằng, muốn thay đổi ý thức xã hội, trước hết cần phải thay đổi bản thân tồn tại xã hội Đó là một quá trình lâu dài, và không thể thực hiện được nếu tách rời việc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới

 Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng; tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng

Trang 8

tín ngưỡng, tôn giáo trong quá trình giải quyết vấn đề tôn giáo.

Mặt chính trị phản ánh mối quan hệ giữa tiến bộ và phản tiến bộ, phản ánh mâu thuẫn đối kháng về lợi ích kinh tế, chính trị giữa các giai cấp Mặt tư tưởng biểu hiện sự khác nhau về mức độ tin tưởng giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo và những người không theo tôn giáo Phân biệt hai mặt chính trị và tư tưởng trong giải quyết vấn đề tôn giáo là phân biệt tính chất khác nhau của hai loại mâu thuẫn luôn tồn tại trong bản thân tôn giáo và trong vấn

đề tôn giáo Việc phân biệt hai mặt này là cần thiết nhằm tránh khuynh hướng cực đoan trong quá trình quản lý, ứng xử những vấn đề liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo

 Quan điểm lịch sử cụ thể trong giải quyết vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo Tôn giáo không phải là một hiện tượng xã hội bất biến, ngược lại, nó luôn luôn vận động và biến đổi không ngừng tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế

- xã hội – lịch sử cụ thể Vì vậy, cần phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề có liên quan đến tôn giáo và đối với từng tôn giáo cụ thể

Trang 9

CHƯƠNG 2 TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam

Thứ nhất: Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo

Nước ta hiện nay có 13 tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân và trên 40 tổ chức tôn giáo đã được công nhận về mặt tổ chức hoặc đã đăng ký hoạt động

Thứ hai: Tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, đan xen, chung sống hòa bình và

không có xung đột tôn giáo

Các tôn giáo ở Việt Nam có sự đa dạng về nguồn gốc và truyền thống lịch

sử, có quá trình tồn tại và phát triển khác nhau Tín đồ tôn giáo khác nhau cùng chung sống hòa bình trên một địa bàn, giữa họ có sự tin tưởng và chưa từng xảy ra xung đột, chiến tranh tôn giáo

Thứ ba: Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam phần lớn là nhân dân lao động, có

lòng yêu nước và tinh thần dân tộc

Tín đồ tôn giáo Việt Nam có thành phần đa dạng, chủ yếu là người lao động… Đa số tín đồ các tôn giáo đều có tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm, gắn bó với dân tộc, hăng hái tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

Thứ tư: Chức sắc tôn giáo có vai trò, vị trí quan trọng trong xã hội, có uy

tín và ảnh hưởng với tín đồ

Chức sắc tôn giáo là tín đồ có chức vụ, phẩm sắc trong tôn giáo, họ tự nguyện thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật của tôn giáo mà mình tin theo Về mặt tôn giáo, chức năng của họ là truyền bá, quản lý tổ chức, duy trì và phát triển tôn giáo

Thứ năm: Tôn giáo ở Việt Nam thường bị các thế lực phản động lợi dụng.

Trang 10

Trong những năm trước đây cũng như giai đoạn hiện nay, các thế lực phản động lợi dụng tôn giáo để thực hiện âm mưu “diễn biên hòa bình” đối với nước ta Tìm mọi cách quốc tế hóa “vấn đề tôn giáo” ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo

Thứ sáu: Tôn giáo ở Việt Nam đều có quan hệ với các tổ chức, cá nhân tôn

giáo ở nước ngoài

Trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Đây chính là điều kiện gián tiếp củng cố và phát sinh mối quan hệ giữa các tôn giáo Việt Nam với các tôn giáo ở các nước trên thế giới

2.2 Quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo hiện nay

 Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Đảng ta khẳng định, tín ngưỡng tôn giáo sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa Sự khẳng định đó mang tính cách mạng và khoa học, hoàn toàn khác với cách nhìn nhận chủ quan

 Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc Đoàn kết đồng bào theo tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân Nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật, kích động chia rẽ nhân dân, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia

 Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng Công tác vận động quần chúng các tôn giáo nhằm động viên đồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập; đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã

Trang 11

hội, văn hóa vùng đồng bào theo tôn giáo, nhằm nâng cao đời sống nhân dân; nghiêm chỉnh thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

 Công tác tôn giáo là hệ thống trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Công tác tôn giáo có liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại của Đảng, Nhà nước Cần củng cố tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tôn giáo

 Vấn đề theo đạo và truyền đạo

Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ

2.3 Các biện pháp để thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam

Một là, nâng cao nhận thức về vấn đề đoàn kết tôn giáo trong tình hình

mới

Các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân về tín ngưỡng tôn giáo Cần tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, về công tác tôn giáo đến đồng bào tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tuyên truyền và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới

Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo và vai trò

lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước về tôn giáo trong bối cảnh hiện nay Những năm qua, nhiều địa phương đã bổ sung, tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo Song thực tế cho thấy, đa số cán bộ làm công tác tôn giáo chưa được đào tạo cơ bản, chưa được hệ thống thông tin về công tác tôn giáo Do vậy, các cấp ủy, chính quyền phải tăng cường đào tạo cán bộ làm công tác tôn giáo, giúp họ có kiến thức cơ bản về tôn giáo, nắm vững pháp luật để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Ngày đăng: 14/01/2022, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w