TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚCTỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚCTỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚCTỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THIÊN KIM
TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA
CƠ QUAN, TỔ CHỨC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP.HCM - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THIÊN KIM
TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA
CƠ QUAN, TỔ CHỨC TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ
ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGUYỄN THANH DƯƠNG
TP.HCM – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan nội dung luận văn “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức từ thực tiễn thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước” là công trình nghiên cứu khoa học của
riêng tôi thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Dương Tất cả những tài liệu, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thiên Kim
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ………7
1.1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,
tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức 7 1.2 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức 23
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC 34
2.1 Tổng quan tình hình xét xử tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức;
tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức từ thực tiễn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước 34 2.2 Thực tiễn định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước 40 2.3 Thực tiễn quyết định hình phạt tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước 45 2.4 Nhận xét, đánh giá thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức 54
Trang 5Chương 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA
CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC 61
3.1 Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức ……… 61 3.2 Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức ……… 65
KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Diễn biến tình hình tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,
tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trên địa bàn thành phố Đồng Xoài từ năm 2016 đến năm 2020
2 Bảng 2.2 Thống kê số vụ án và số bị cáo phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã được TAND thành phố Đồng Xoài xét xử, giai đoạn 2016 – 2020
3 Bảng 2.3 Thống kê mức hình phạt của TAND thành phố Đồng Xoài đã xét xử
về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, giai đoạn 2016 – 2020
4 Bảng 2.4 Thống kê mức hình phạt tù có thời hạn mà TAND thành phố Đồng
Xoài xét xử đã xét xử về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, giai đoạn 2016 – 2020
5 Bảng 2.5 Thống kê số lượng án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
hủy, sửa đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, giai đoạn 2016 - 2020
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bình Phước là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là cầu nối giữa Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, là cửa ngõ quan trọng của hành lang Đông - Tây, đặc biệt sở hữu vị trí chiến lược đầy tiềm năng khi tiếp giáp với hai trong ba tam giác phát triển (Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai)
Từ những ngày đầu thành lập cho đến nay, Bình Phước đang đổi mới từng ngày, cơ sở hạ tầng ngày càng hoàn thiện với hệ thống giao thông thông suốt, hình thành những khu kinh tế - công nghiệp ngày càng nhiều như: khu công nghiệp đồng Xoài I, II, II; Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú, Khu công nghiệp Nam Đồng Phú; ngành nông nghiệp phát triển vượt bậc; văn hóa - giáo dục, y tế và cộng đồng các dân tộc đoàn kết cũng có những bước tiến đáng kể Thành phố Đồng Xoài nằm ở
vị trí trung tâm tỉnh, có mật độ dân cư cao, có tốc độ đô thị hóa nhanh và được xác định là một trong những vùng tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Bình Phước
Tuy vậy, Bình Phước vẫn là tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và là nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp nên là địa bàn thuận lợi cho nhiều loại tội phạm lợi dụng hoạt động, trong đó có tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức Những năm gần đây, cùng với sự phát triển như vũ bảo của ngành công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cho những vụ việc làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan, tổ chức có chiều hướng gia tăng và ngày càng tinh vi, gây ra hậu quả to lớn cho xã hội, tạo tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân
Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam hiện hành đã có những quy định cụ thể về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật (ADPL) trong xét xử loại tội này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và chưa thống nhất, còn có bất cập, khó khăn trong việc xác định đối tượng tác động của tội phạm, một số dấu hiệu định tội, các dấu hiệu định khung tăng nặng, giảm nhẹ… của người tiến hành tố tụng
Trang 9(THTT) còn nhiều hạn chế, có vụ định tội danh chưa thật sự thuyết phục, quyết định hình phạt (QĐHP) vẫn còn mang tính chủ quan cá nhân của một số người THTT
Để khắc phục những khó khăn vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình
sự (ADPLHS) và đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trên địa bàn thành phố Đồng Xoài tỉnh
Bình Phước, tôi lựa chọn đề tài “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức từ thực tiễn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước” làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua có rất ít công trình khoa học nghiên cứu về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức Có một công trình khoa học có liên quan nhưng cũng chủ yếu tập trung đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến công tác giám định hoặc các vấn đề
thuộc chuyên ngành điều tra tội phạm như: Võ Văn Thọ, “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra vụ án làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức do Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an tiến hành”, luận văn Thạc sĩ luật học, Trường
Đại học an ninh nhân dân, năm 2012
Ngoài ra, cũng có một vài công trình nghiên cứu dưới góc độ Tội phạm học và
phòng ngừa tội phạm như: Trần Ngọc Trân Trọng “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh Bình Dương: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”, luận văn Thạc sĩ luật, Học viện Khoa học Xã hội, năm 2016; Hoàng Văn Bắc “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trong Luật hình
sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Phú Thọ)”, luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015; Bùi Trường Giang “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn Thạc sĩ luật học, Học Viện Khoa
học Xã hội, năm 2017
Khi thực hiện luận văn, học viên có tham khảo một số tài liệu tham khảo sau:
Trần Văn Biên – Đinh Thế Hưng (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình
Trang 10sự năm 2015, Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội; Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên, 2017), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
Võ Khánh Vinh (2014), Bình luận Bộ luật hình sự năm 2015, Nxb thông tin và
truyền thông, Hà Nội… và các nguồn tài liệu tham khảo khác như sách báo, internet
Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật hình sự (ADPLHS) đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, trên địa bàn
thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước Do đó, tác giả khẳng định Đề tài: “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước” không trùng với bất kỳ đề
tài nào đã được công bố tính đến thời điểm ngày 12 tháng 03 năm 2021
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,
tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức cũng như những quy định về tội phạm này theo pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật trong hoạt động xét xử về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức từ thực tiễn thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước Từ đó đề xuất các giải pháp bảo đảm việc áp dụng đúng pháp luật hình sự về định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức tại thành phố Đồng Xoài tỉnh Bỉnh Phước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, tác giả đề tài luận văn cho rằng cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số khái niệm, thế nào là tài liệu, con dấu; làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Những vấn đề lý luận về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật hình sự
Trang 11Việt Nam
- Thực tiễn ADPLHS về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Đề xuất các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật hình sự mà cụ thể là định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức từ thực tiễn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Lý luận về áp dụng pháp luật hình sự bao gồm rất nhiều nội dung như định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự (TNHS), miễn chấp hành hình phạt, Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu, làm rõ hai nội dung cơ bản là định tội danh và quyết định hình phạt trong hoạt động xét xử đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức Cụ thể:
- Về cơ sở pháp lý, “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” trong luận văn này được quy định tại Chương XXII, Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
- Về thời gian, đề tài đã sử dụng tài liệu nghiên cứu trên cơ sở thống kê theo
số liệu trong thời gian 05 năm, từ năm 2016 đến năm 2020 với thực trạng ADPLHS đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước
- Về không gian, luận văn này thực hiện đề tài nghiên cứu trên phạm vi địa bàn thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống tội phạm
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học như:
- Phương pháp phân tích: được sử dụng xuyên suốt luận văn để phân tích làm
rõ các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,
tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Phương pháp thống kê: được dùng để thống kê các số liệu thu thập được nhằm làm rõ thực trạng về người phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức từ thực tiễn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Phương pháp so sánh: so sánh tỷ lệ số vụ án, số bị can bị khởi tố về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức với các tội phạm khác, chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng số vụ án và số bị can
bị khởi tố; so sánh hình phạt tù giam có thời hạn và hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo của loại tội phạm này tại thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước từ năm 2016 đến năm 2020
- Phương pháp tổng hợp: nghiên cứu các vụ án điển hình được thu thập từ TAND thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước, VKSND thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước, các báo cáo tổng kết hàng năm, bảng thống kê thụ lý và giải quyết các
vụ án hình sự và các bài viết khoa học được đăng tải trên Tạp chí TAND, Cổng thông tin điện tử VKSND, …
Trong quá trình thực hiện luận văn, các phương pháp này được vận dụng linh hoạt và đan xen lẫn nhau để việc nghiên cứu đạt hiệu quả tốt nhất
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
nghiên cứu, học tập về khoa học Luật hình sự
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về tội làm
giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự
đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài
liệu giả của cơ quan, tổ chức tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; TỘI
SỬ DỤNG CON DẤU, TÀI LIỆU GIẢ CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC TRONG
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1.1.1 Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý về tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1.1.1.1 Một số khái niệm cơ bản về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,
tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Khái niệm con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức:
+ Khái niệm con dấu của cơ quan, tổ chức:
Con dấu xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử hình thành và phát triển ở Nhà nước Việt Nam Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau thì hình dáng, nội dung, kích thước, biểu tượng, chất liệu của con dấu khác nhau Con dấu là một phương tiện đặc biệt phục vụ cho việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội, được hầu hết các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và nhiều chức danh nhà nước sử dụng
Con dấu gồm có hai phần, phần vật chất và phần giá trị pháp lý Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, con dấu ngày nay được thống nhất khắc và quản
lý bởi các cơ quan chuyên môn thuộc Bộ Công an Phần lớn con dấu được làm bằng đồng, phía trên (cán) được làm bằng gỗ
Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân, Nxb Công an nhân dân năm 2005:
“Con dấu vật làm bằng gỗ, kim loại, cao su… mặt dưới hình tròn hoặc hình vuông, hoặc hình chữ nhật… theo những kích cỡ nhất định, có khắc chữ hoặc hình, được dùng in trên giấy tờ để làm bằng, làm tin trong quan hệ giao dịch giữa các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị vũ trang và tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội Con dấu được quản lý chặt chẽ từ việc khắc đến việc sử dụng Ở Việt Nam, con dấu được sử dụng
Trang 15trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và một số chức danh nhà nước” [15]
Tại Điều 1 của Nghị định số 58/NĐ-CP ngày 24 tháng 8 năm 2001 của Chính
phủ về quản lý và sử dụng con dấu nêu rõ: “Con dấu được sử dụng trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam (dưới đây gọi tắt là cơ quan, tổ chức) và một số chức danh nhà nước Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước” [6]
Từ phân tích trên, có thể rút ra khái niệm: Con dấu là thành phần biểu thị vị trí cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước, là một trong những yếu tố quan trọng giúp cơ quan tự nhân danh mình thực hiện các hoạt động giao dịch, trao đổi với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác Con dấu là yếu tố thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của các cơ quan, tổ chức và các chức danh nhà nước Văn bản không có con dấu là những văn bản không có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành Con dấu còn là thành phần quan trọng giúp các cơ quan, tổ chức tránh được tình trạng giả mạo giấy tờ
+ Khái niệm về tài liệu của cơ quan, tổ chức:
Theo từ điển Tiếng Việt, “tài liệu” được định nghĩa như sau: “Tài liệu là thông tin được gắn trên vật mang tin với những tiêu chí cho phép nhận dạng nó”
Đối với công tác quản lý, văn thư, lưu trữ, điều quan trọng là làm sao có thể nhận dạng được thông tin chứa đựng trong tài liệu, sao cho tài liệu được trình bày theo trật tự được thiết lập với những tiêu chí nhất định (các yếu tố trình bày tài liệu) Tài liệu có hai đặc điểm phân biệt:
Thứ nhất, thông tin chứa đựng trong tài liệu nhờ sự tham gia sáng tạo của con
người, vì vậy tài liệu phản ánh quá trình quản lý hay hoạt động cá nhân; tài liệu không chỉ đơn giản là tập hợp các dữ liệu mà còn là kết quả hoặc là sản phẩm của một sự kiện nào đó
Trang 16Thứ hai, một thành phần mang tính pháp lý của tài liệu - khả năng dùng làm
bằng chứng của nó đóng vai trò không kém phần quan trọng trong hoạt động quản
lý và hoạt động cá nhân Chính vì vậy, trong tiêu chuẩn quốc tế ISO 15489, “tài liệu” được hiểu là thông tin được tạo lập, tiếp nhận và lưu giữ bởi tổ chức hoặc cá nhân như là bản chứng nhận để khẳng định trách nhiệm pháp lý hay hoạt động quản
lý Nghĩa là, khác biệt với thông tin và dữ liệu, trước tiên tài liệu là bằng chứng về hoạt động của tổ chức hoặc cá nhân trong xã hội
Theo Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 của Chính phủ về hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ thì “tài liệu là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dang văn bản, âm thanh, đồ họa, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quả, phổ biến và sử dụng” [5]
Hiện nay, Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật Lưu trữ số 01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam về lưu trữ: “Tài liệu là vật mang tin được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm: văn bản, dự án, bản vẽ thiết kế, bản
đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác” [39]
- Khái niệm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng con
dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
+ Khái niệm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức:
Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là hành vi làm ra con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức một cách trái phép Việc làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức được thực hiện bằng những phương pháp, thủ đoạn đa dạng như: đúc, khắc… để tạo ra con dấu giả giống như con dấu thật của cơ quan, tổ chức; hoặc vẽ, in, phôtô, viết, các kỹ thuật khác… nhằm làm ra các loại giấy tờ, tài liệu giả giống như các loại tài liệu, giấy tờ thật của cơ quan, tổ chức [17]
Trang 17Những hành vi giả mạo này chỉ được coi là phạm tội khi các tài liệu, giấy tờ, con dấu giả được sử dụng vào việc làm trái pháp luật Các loại giấy tờ thường được làm giả là:
Làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thực hiện các giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế giữa các bên;
Làm giả các giấy tờ cá nhân, sổ hộ khẩu, giấy khai sinh, giấy đăng ký kết hôn, giấy tờ xe các loại;
Làm giả các giấy tờ liên quan đến học tập bằng đại học, chứng chỉ tiếng anh, tin học, bảng điểm, hộ chiếu để được đi du học, đi nước ngoài, …
Làm giả các hợp đồng khi thực hiện giao kết hợp đồng giữa các bên: hợp đồng vay vốn, hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ, …
+ Khái niệm sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hành vi sử dụng con dấu giả, tài liệu hoặc giấy tờ giả giống với con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ thật của cơ quan, tổ chức đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức, công dân Việc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức bao gồm các hành vi sử dụng con dấu, giấy tờ, tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật như bán lại cho người khác, giao nộp tài liệu giả cho cơ quan chức năng…
- Khái niệm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan, tổ chức:
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu, con dấu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999 và Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 267 BLHS 1999: “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm” [34]
Theo Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu,
Trang 18tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ
30.000.000đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm” [36]
Như vậy, Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) đã có một số sửa đổi, bổ sung so với BLHS năm 1999, cụ thể:
Thứ nhất, tên điều luật quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999 chưa bao hàm
hết nội dung trong điều luật vì ngoài nội dung hành vi làm giả con dấu, tài liệu, giấy
tờ của cơ quan, tổ chức, còn có hành vi sử dụng con dấu, giấy tờ, tài liệu giả nhằm lừa dối các cơ quan, tổ chức, hoặc công dân cũng là hành vi phạm tội được quy định tại điều luật này Do đó, việc đổi tên điều luật và tách hai hành vi (làm và sử dụng)
đã bao hàm và chứa đựng đầy đủ nội dung của điều luật cũng như là cơ sở để các cơ quan THTT, xem xét, đánh giá một cách toàn diện trong quá trình giải quyết vụ án
Thứ hai, về nội dung điều luật của BLHS năm 2015 sử dụng dấu hiệu “thực
hiện hành vi trái pháp luật” thay thế cho hành vi “nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân” Điều này chứng tỏ BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017) đã giới hạn dấu hiệu phạm tội hẹp hơn, chính xác hơn và có nhiều thay đổi phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm, thiệt hại về kinh tế, xã hội do tội phạm này gây ra và mang tính răn đe, phòng ngừa cao hơn Các hành vi khách quan được quy định trong điều luật gồm:
+ Hành vi làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức là hành vi đúc, khắc… để tạo
ra con dấu giả giống như con dấu thật của cơ quan, tổ chức đang sử dụng vào những việc trái pháp luật (như sử dụng để làm các loại giấy tờ giả, )
+ Hành vi làm giả tài liệu, giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là hành vi viết,
vẽ, in, phô tô, … các loại giấy tờ, tài liệu giả giống như các loại tài liệu, giấy tờ thật của cơ quan, tổ chức đang sử dụng để sử dụng vào những việc trái pháp luật (như làm giả các tài liệu công nhận con liệt sĩ để hưởng các ưu đãi của Nhà nước…) + Hành vi sửa các thông tin, giá trị, … trên các giấy tờ, tài liệu, … thật có chữ
ký, con dấu, mẫu giấy thật để sử dụng vào những việc trái pháp luật (như sửa tên trên giấy chứng nhận QSDĐ, bằng cấp, sửa số tiền trên sổ tiết kiệm, …)
Trang 19+ Và hành vi sử dụng con dấu giả, tài liệu giả hoặc giấy tờ giả khác của cơ quan, tổ chức nhằm thực hiện hành vi vi phạm (để lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân)
1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Cấu thành tội phạm cụ thể là hệ thống các dấu hiệu pháp lý được luật quy định mang tính đặc trưng, điển hình phản ánh đầy đủ bản chất của tội phạm ấy và làm căn cứ để phân biệt nó với các tội phạm khác [42, tr 126] Các dấu hiệu pháp lý của cấu thành tội phạm bao gồm: mặt khách quan, khách thể, chủ thể, mặt chủ quan Đó
là căn cứ để xác định một hành vi vi phạm pháp luật có phải là tội phạm hay không
và làm cơ sở pháp lý truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi phạm tội Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là sự ghép cuả hai tội danh gần nhau trong một Điều luật Do đó, các yếu tố cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức cơ bản cũng không quá khác nhau và được thể hiện như sau:
- Về khách thể của tội phạm
Tội phạm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác Bảo vệ sự an toàn của con dấu và các tài liệu, giấy tờ trên cũng chính là bảo đảm sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước về con dấu và các loại tài liệu, giấy tờ này Đối tượng tác động của tội phạm này là con dấu giả, tài liệu giả, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức Việc xác định con dấu giả, tài liệu giả, giấy tờ giả có thể nhìn bằng mắt thường để phân biệt Nhưng với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và công nghệ, đôi khi để xác định con dấu giả, tài liệu giả, giấy tờ giả cần phải giám định mới có thể biết được là thật hay giả, điều này cũng phải mất một khoảng thời gian nhất định
Trang 20- Về mặt khách quan của tội phạm
Hai tội danh được thực hiện bởi hai hành vi khác nhau: hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức và hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật
Đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức đó là hành vi này đã là tội phạm hoàn thành kể từ khi người đó tạo ra được con dấu, tài liệu, giấy tờ giả của cơ quan, tổ chức mà không cần biết việc “làm” giả này
có nhằm hoặc sử dụng vào mục đích gì hay không của người không có thẩm quyền cấp con dấu, tài liệu, giấy tờ của cơ quan, tổ chức nhưng đã tạo ra con dấu, tài liệu, giấy tờ đó bằng những phương pháp nhất định giống như thật Việc làm giả này có thể là giả toàn bộ hoặc từng phần (con dấu, tiêu đề, chữ ký, nội dung…) bằng những phương pháp nhất định nhằm tạo ra con dấu, tài liệu, giấy tờ giả giống với thật Khi xác định hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức cũng cần chú ý: Nếu người phạm tội chỉ làm giả con dấu thì chỉ định tội làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức, nếu người phạm tội chỉ làm giả tài liệu hoặc giấy
tờ của cơ quan, tổ chức thì chỉ định tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức mà không định tội danh đầy đủ như điều luật quy định
Đối với hành vi sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả khác của cơ quan, tổ chức, người phạm tội không có hành vi “làm” giả các đối tượng trên nhưng đã có hành vi “sử dụng” chúng để thực hiện việc làm trái pháp luật Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật cũng tương tự như đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 174 BLHS chỉ khác ở chỗ người có hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật, như: dùng bằng tốt nghiệp giả để xin việc, để được bổ nhiệm, để tăng lương, để được đi lao động ở nước ngoài; làm giả sổ hộ khẩu để được mua nhà ở thành phố, để được giao đất trồng trồng rừng, …
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành cơ bản loại tội phạm này nhưng lại là tình tiết định khung hình phạt vì nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo Điểm c khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015 được sửa đổi năm 2017; còn nếu gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt
Trang 21nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo Khoản 3 Điều 342 BLHS
2015 được sửa đổi năm 2017
Để xác định hành vi phạm tội cần dựa trên các quy định của Nhà nước về con dấu, về tài liệu hoặc các giấy tờ của cơ quan, tổ chức Trong trường hợp việc xác định gặp khó khăn cần trưng cầu giám định tư pháp, để xác định con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ có phải là giả hay không
- Về mặt chủ quan của tội phạm
Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp Người phạm tội biết hành vi làm ra con dấu, tài liệu hoặc các giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là giả, không được pháp luật cho phép; hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ điều đó nhưng vẫn mong muốn thực hiện hành vi đó hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra, không cần biết hậu quả như thế nào
Yếu tố lỗi trong nhận thức chủ quan của người phạm tội là rất quan trọng Vì đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức thì mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội, chỉ cần thực hiện xong hành vi làm giả con dấu, giấy tờ tài liệu là cấu thành tội phạm, không cần biết mục đích là gì Riêng đối với tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đòi hỏi phải có mục đích phạm tội là để thực hiện hành vi trái pháp luật thì mới cấu thành tội phạm Nếu
họ không dùng chúng để thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc sử dụng chúng để thực hiện hành vi có lợi cho xã hội (bắt tội phạm, ngăn chặn tội phạm) thì hành vi không CTTP
Ngoài ra việc xác định động cơ của người phạm tội cũng rất quan trọng, chẳng hạn như phạm tội vì nể nang, vì thành tích cục bộ thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội khác với trường hợp phạm tội vì trả thù cá nhân hay vì động cơ hèn
hạ khác
- Về chủ thể của tội phạm
Tại Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017) cho thấy mức độ nghiêm trọng của tội phạm chỉ dừng lại ở tội phạm ít nghiêm trọng và nghiêm trọng Chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài
Trang 22liệu giả của cơ quan, tổ chức là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực TNHS theo quy định của BLHS Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt vì không có những dấu hiệu riêng Tuy nhiên, nếu chủ thể tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn, có trách nhiệm trong việc bảo quản, gìn giữ con dấu
mà phạm thội thì thuộc trường hợp “lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi năm 2017) là một tình tiết tăng nặng TNHS [36]
1.1.2 Phân biệt tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức với một số tội danh khác
1.1.2.1 Phân biệt với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và tài liệu của
cơ quan, tổ chức (Đ340 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017)
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu
giả của cơ quan, tổ chức với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và tài liệu của
cơ quan, tổ chức đều nằm trong nhóm tội Xâm phạm trật tự quản lý hành chính thuộc chương XII BLHS năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 Hai tội này có những điểm giống nhau và khác nhau như sau:
- Giống nhau:
+ Về khách thể: Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và tài liệu của cơ quan, tổ chức với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đều là tội phạm trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý hành lý hành chính và hoạt động bình thường, uy tín của cơ quan nhà nước + Về chủ thể: Chủ thể của tội phạm đều là người đạt độ tuổi chịu TNHS và có năng lực TNHS
+ Về mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi của mình đều với lỗi
cố ý Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét tính chất, mức độ của tội phạm và quyết định tội danh đối với người phạm tội
- Khác nhau:
+ Về mặt khách quan: Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức là hành vi sửa chữa, làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu,
Trang 23hộ tịch hoặc các giấy chứng nhận và tài liệu khác của cơ quan, tổ chức được hiểu là hành vi thay thế hoặc sửa đổi ảnh chụp, thêm, bớt, tẩy, xóa chữ, hình con dấu, biểu tượng hoặc các dấu hiệu khác của các giấy tờ này bằng các thủ đoạn như dùng phương tiện kỹ thuật, dùng hóa chất, … nhằm làm cho cơ quan, tổ chức, người có liên quan hiểu sai nội dung các giấy tờ Sửa chữa là tiền đề của hành vi sai lệch, nếu sửa chữa mà không làm sai lệch nội dung thì không cấu thành tội phạm
Sau khi sửa chữa, làm sai lệch các loại giấy tờ trên, người phạm tội có hành vi
sử dụng các giấy tờ đã sửa chữa, làm sai lệch để thực hiện hành vi trái pháp luật Sử dụng giấy tờ đó để thực hiện hành vi trái pháp luật được hiểu là hành vi dùng một trong những giấy tờ nêu trên đã bị sửa chữa, làm sai lệch nội dung để thực hiện tội phạm hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác Đây cũng là dấu hiệu để phân biệt tội này với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức quy định tại điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Về hậu quả: Đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi làm giả hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả để thực hiện hành vi trái pháp luật thì được coi là tội phạm hoàn thành Đối với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức thì hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm Hành vi sửa chữa, làm sai lệch hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch hoặc các loại giấy chứng nhận hoặc tài liệu khác của cơ quan, tổ chức gây hậu quả nghiêm trọng thì mới CTTP
+ Về chủ thể: Chủ thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức có phạm vi rộng hơn đối với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức, đó là bất
kỳ ai có đủ năng lực TNHS vì chủ thể của tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức thì không bao gồm những người có thẩm quyền quản lý và cấp các loại giấy tờ đó
+ Về đối tượng phạm tội: Đối tượng phạm tội của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là con dấu, tài liệu giả Còn đối với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu
Trang 24của cơ quan, tổ chức là hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch, giấy chứng nhận hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức là thật nhưng bị sửa chữa thay đổi về mặt nội dung
1.1.2.2 Phân biệt với tội giả mạo trong công tác (Đ359 BLHS 2015)
Giả mạo trong công tác là hành vi vì vụ lợi hoặc vìđộng cơ cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy
tờ giả; giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn Để phân biệt tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan,
tổ chức với tội giả mạo trong công tác cần làm rõ các vấn đề sau:
- Về chủ thể:
Đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu,
tài liệu giả của cơ quan, tổ chức thì chủ thể tội phạm là bất kỳ ai đạt độ tuổi theo luật định và có năng lực TNHS theo quy định của BLHS Tuy nhiên, đối với tội giả
mạo trong công tác, chủ thể của tội phạm này phải là người có chức vụ, quyền hạn
nhất định Phạm vi chức vụ, quyền hạn của người phạm tội giả mạo trong công tác cũng tương đối rộng Tuy nhiên, người phạm tội giả mạo trong công tác là người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; để làm hoặc cấp giấy tờ giả; để giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn khác Nếu người có chức vụ, quyền hạn lại lợi dụng chức vụ, quyền hạn tiếp tay cho người khác để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; để làm hoặc cấp giấy
tờ giả; để giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người lợi dụng chức vụ, quyền hạn bị tổ chức TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội tham ô
Trang 25Đối tượng tác động của tội giả mạo trong công tác là giấy tờ, tài liệu, chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn Người phạm tội đã tác động vào làm cho các tài liệu, giấy tờ, chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn bị sai lệch, không đúng với thực tế Đối tượng tác động của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là con dấu, tài liệu giả
- Về mặt khách quan:
Để phân biệt tội giả mạo trong công tác với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức thì dấu hiệu về mặt khách quan là một trong những căn cứ quan trọng
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hành vi tạo ra các con dấu, giấy tờ giả giống như thật bằng những nhiều phương pháp của người không có chức vụ quyền hạn cấp con dấu, tài liệu đó Còn tội giả mạo trong công tác là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả, giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn Số lượng giấy tờ giả cũng được BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) bổ sung ở các khung tăng nặng
- Về mặt chủ quan:
Cả hai tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội giả mạo trong công tác đều là lỗi cố ý Tuy nhiên, động cơ phạm tội vì mục đích vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác là yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm tội giả mạo trong công tác, còn đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức thì mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội, chỉ có tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức mới đòi hỏi phải có mục đích phạm tội là để thực hiện hành vi trái pháp luật thì mới cấu thành tội phạm
- Về hình phạt: cả hai tội đều quy định về hình phạt chính và hình phạt
bổ sung
1.1.2.3 Phân biệt với tội giả mạo chức vụ, cấp bậc (Đ339 BLHS năm 2015)
Giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác là hành vi của một người không có chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhưng đã mạo danh là mình có chức vụ, cấp bậc, vị
Trang 26trí công tác đó để thể hiện hành vi trái pháp luật Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và tội giả mạo chức vụ, cấp bậc có những điểm giống và khác sau:
- Giống nhau:
+ Về khách thể: Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc và tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đều xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính và hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, xâm hại đến lợi ích của cơ quan, tổ chức và công dân
+ Về chủ thể: Hai tội danh này đều do người đủ tuổi và có năng lực TNHS theo luật định
+ Về mặt chủ quan: Cả hai loại tội phạm đều thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhận thấy được hậu quả của hành vi phạm tội hoặc bỏ mặc cho nó xảy ra nhằm đạt được mục đích phạm tội
- Khác nhau:
+ Về mặt khách quan: Đối với tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, người phạm tội chỉ cần có một trong các hành vi như: giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác, được thực hiện bằng mọi hình thức (nói, viết, mặc trang phục, phù hiệu…) nhằm thực hiện hành vi trái pháp luật là đã cấu thành tội phạm Tuy nhiên, nếu hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác để thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ cấu thành thêm các tội phạm tương ứng đó Còn nếu thực hiện hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác chỉ để khoe khoang bắt tội phạm hay mục đích nào khác nhưng không phải để thực hiện hành vi trái pháp luật thì không cấu thành tội phạm
Đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được thể hiện ở hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi trái pháp luật
+ Về động cơ và mục đích: Đối với tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, động cơ và mục đích không là dấu hiệu bắt buộc để định tội Còn đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức,
Trang 27chỉ có hành vi sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức mới đòi hỏi phải có mục đích phạm tội để cấu thành tội phạm, còn hành vi làm giả con dấu, tài liệu thì không cần
+ Về hình phạt: Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc áp dụng hình phạt chính và hình phạt bổ sung Còn tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức thì còn quy định thêm hình phạt tiền
từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
1.1.2.4 Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017)
+ Về chủ thẻ: Hai tội danh này đều do người đủ tuổi và có năng lực TNHS theo luật định
- Khác nhau:
+ Về khách thể:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật hình sự bảo vệ Còn tội làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức; tội sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức xâm phạm đến sự hoạt động bình thường, uy tín của cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước + Về động cơ phạm tội:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin giả, tài liệu giả không chính xác tạo lòng tin đối với chủ tài sản, làm chủ tài sản tin tưởng người phạm tội mà trao tài sản cho họ
Còn đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức không cần phải
có động cơ, chỉ cần có hành vi làm giả con dấu, tài liệu cơ quan tổ chức là phạm tội;
Trang 28tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức phải có động cơ là thực hiện hành vi trái pháp luật thì mới cấu thành tội phạm
Như vậy, trong các chuỗi hành vi nhằm đạt được mục đích của mình, có thể sử dụng các loại giấy tờ, tài liệu giả để làm phương thức chiếm đoạt tài sản Tuy nhiên, cần tách bạch trong chuỗi các hành vi đó, hành vi nào đã có tính chất nguy hiểm đáng kể phải bị xử lý hình sự, bằng cách định danh pháp lý chính xác từng hành vi
đó là tội phạm cụ thể nào hoặc là hành vi nào trong hành vi khách quan tổng thể của tội phạm cụ thể
1.1.2.5 Phân biệt với xử phạt vi phạm hành chính
Các văn bản hành chính quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi làm giả con dấu, tài liệu, gồm có:
- Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/08/2013 của Chính phủ quy định xử
phạt VPHC trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, tại Điều 8 khoản 4: “Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: d) Làm giả hoặc sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc cung cấp thông tin không trung thực cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình đăng ký kiểm tra nghiệp vụ giám định sở hữu công nghiệp, yêu cầu cấp thẻ giám định viên sở hữu công nghiệp, yêu cầu ghi nhận tổ chức giám định sở hữu công nghiệp”
- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và
chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình tại Điều 12 khoản 4: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: d) Khắc dấu giả hoặc sử dụng con dấu giả”
- Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22/10/2013 của Chính phủ (NĐ 138/2013) quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục tại Khoản
3, 4,5 Điều 16 quy định “…3 Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng
đối với hành vi mua bán, sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả 4 Phạt tiền từ 20.000.000đồng đến 40.000.000đồng đối với hành vi làm giả văn bằng, chứng chỉ
5 Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này…” và Khoản 5
Trang 29Điều 9 quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi khai man, giả mạo giấy tờ trong hồ sơ tuyển sinh để được trúng tuyển…” [4]
Ranh giới giữa xử lý hình sự và hành chính đối với hành vi làm giả con dấu tài liệu của cơ quan tổ chức, sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan tổ chức, sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ chức là phải thực hiện hành vi trái pháp luật Hành vi trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hành vi trái pháp luật nói chung (kể cả pháp luật hình sự, pháp luật dân sự, pháp luật hành chính…) xâm phạm quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ mà không cần phải có điều kiện là đã có quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật
Đồng thời cũng phải căn cứ vào tính chất mức độ của hành vi và hậu quả xảy
ra, những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác
1.2 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1.2.1 Quy định pháp luật hình sự Việt Nam về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015
1.2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Những quan hệ pháp luật hình sự - hành chính ở nước ta thời kỳ này chưa có nhiều sự khác biệt, Chủ tịch nước cũng đã ban hành các sắc lệnh quan trọng để điều chỉnh và ADPL Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam ở giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985 chưa có quy định về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu con dấu giả của cơ quan, tổ chức
1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1985 đến khi ban hành Bộ luật Hình sự 1999
Nền kinh tế nước ta lúc đó vẫn còn là bao cấp và lạc hậu Năm 1985, để đáp ứng và phục vụ công cuộc đổi mới của đất nước, nhà nước ban hành BLHS đầu tiên trong đó quy định tội phạm và hình phạt, gồm có 12 chương với 280 điều; mục C,
Trang 30chương VIII phần các tội phạm có 14 Điều (từ Điều 205 đến Điều 217) đã quy định
về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính Lần đầu tiên, theo quy định của BLHS năm 1985, hành vi làm giả con dấu tài liệu của cơ quan, tổ chức được thể hiện tại Điều 211: “Tội giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan nhà nước của
tổ chức xã hội”
Trong hơn mười năm có hiệu lực, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần, đó là vào ngày 28/12/1989, ngày 12/08/1991, ngày 22/12/1992 và ngày 10/05/1997 Qua những lần sửa đổi, quy định tại Điều 211 vẫn được giữ nguyên, điều này chứng tỏ quy định này đã phát huy giá trị nhất định trong việc ngăn chặn, phòng ngừa, đấu tranh chống lại tội phạm giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội
1.2.1.3 Giai đoạn từ năm 1999 đến khi ban hành Bộ luật Hình sự 2015
So với BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 có rất nhiều quy định mới về tội phạm và hình phạt, về cơ cấu các chương, các điều, khoản trên cơ sở kế thừa những nội dung hợp lý tích cực của BLHS năm 1985 Nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính được BLHS năm 1985 quy định tại chương XX (từ Điều 257 đến Điều 276) “Tội giả mạo giấy chứng nhận, tài liệu của cơ quan nhà nước, của tổ chức xã hội” theo Điều 211 của BLHS năm 1985 đã được tách ra thành hai tội mới
là “Tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức” (Điều 266) và “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” (Điều 267) Mục đích của việc phân biệt này nhằm làm rõ hơn và có sự phân biệt giữa những tội phạm trong cùng nhóm như: hành vi trong mặt khách quan của tội phạm, đối tượng tác động, chế tài hình sự…) và là cơ sở để nhận thức đúng đắn về chính sách hình
sự đối với từng tội phạm
1.2.2 Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1.2.2.1 Nhận thức về áp dụng pháp luật hình sự đối với tội làm giả con dấu,
Áp dụng pháp luật (ADPL) được hiểu là hình thức thực hiện pháp luật, trong
đó cơ quan Nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật
Trang 31thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể [31, tr.469]
Từ cơ sở khái niệm ADPL, tác giả rút ra khái niệm của áp dụng pháp luật hình sự như sau:
Áp dụng pháp luật hình sự (ADPLHS) là hình thức thực hiện pháp luật hình
sự, trong đó, nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc người
có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể quan hệ pháp luật hình sự thực hiện những quy định của pháp luật hình sự hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật
để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật hình sự
ADPLHS diễn ra trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự bắt đầu ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, xuyên suốt giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự ADPLHS do nhiều chủ thể tiến hành tùy theo từng giai đoạn TTHS Ở giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, giai đoạn khởi tố và giai đoạn điều tra
vụ án hình sự, hoạt động ADPLHS do cơ quan điều tra (CQĐT), cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, viện kiểm sát thực hiện Sang đến giai đoạn xét xử, hoạt động ADPLHS do viện kiểm sát và Tòa án thực hiện
2.2.2.2 Nội dung áp dụng pháp luật hình sự đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
Theo giáo trình định tội danh và QĐHP của Học viện tòa án: “Định tội là hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự nhằm cá biệt hóa các quy định của BLHS vào từng trường hợp hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể xảy ra, được thực hiện trên cơ sở xác định đầy đủ, chính xác, khách quan các tình tiết cụ thể của hành vi được thực hiện và tính tiết khác của vụ án, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm nhất định với các tình tiết cụ thể của hành
Trang 32vi được thực hiện và các tình tiết khác của vụ án, bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định“ [20, tr.12]
Định tội danh là một trong những giai đoạn của ADPLHS, về lý luận là một trong những khái niệm của khoa học luật hình sự, tuy nhiên, luật thực định chưa quy định cụ thể về vấn đề này Xung quanh khái niệm này còn có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau có thể kể đến như:
Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Cảm: “Định tội danh là một quá trình nhận thức lý luận có tính lôgic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng
cứ tài liệu thu thập được và các tính tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân tích trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [3]
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [43, Tr.9]
Từ nghiên cứu các khái niệm nêu trên và nghiên cứu quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015, tác giả rút ra khái niệm về định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức như sau:
Định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp
lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 341 BLHS về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Đặc điểm của việc định tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
Trang 33Một là, Định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hoạt động ADPL vào thực tiễn
Hai là, Định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hoạt động nhận thức
Ba là, Định tội đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội
sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là quá trình tư duy lôgíc
Bốn là, Định tội danh tội đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức mang tính sáng tạo, khoa học
Năm là, Định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là hoạt động độc lập của
các chủ thể có thẩm quyền
Sáu là, định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức;
tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được thực hiện trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ các trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS
Tùy theo các cơ sở căn cứ của việc phân loại khác nhau, việc định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được phân chia thành các trường hợp khác nhau:
Trước hết, căn cứ vào các yếu tố cấu thành tội phạm cơ bản được quy định
trong BLHS, định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được phân chia trên cơ sở bốn yếu tố cấu thành tội phạm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan
+ Định tội danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo khách thể của tội phạm là định tội danh theo quan hệ quản lý, xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy
tờ khác
+ Định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng
con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo mặt khách quan của tội phạm là định tội
Trang 34danh theo các dấu hiệu hành vi khách quan, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành
vi và hậu quả cụ thể được quy định tại Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
+ Định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng
con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo chủ thể của tội phạm là định tội danh theo dấu hiệu chủ thể thường của tội này
+ Định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo mặt chủ quan của tội phạm là định tội
danh theo dấu hiệu lỗi cố ý của tội này
Tiếp theo, căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò của
nó đối với việc ADPL hình sự, cấu thành tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, định tội danh tội tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được phân loại chia thành định tội danh tội này theo cấu thành tội phạm cơ bản cụ thể được quy định ở Khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo cấu thành tội phạm tăng nặng được quy định tại khoản 2, 3 Điều 341 BLHS năm 2015 (được sửa đổi,
bổ sung năm 2017)
Cuối cùng, căn cứ vào tính chất đặc biệt của tội phạm, việc định tội danh tội
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được phân loại chia thành định danh đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trong trường hợp đồng phạm và trường hợp có nhiều tội phạm
- Quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
Theo Điều 30 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm
Trang 35tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó.” [36]
Quyết định hình phạt (QĐHP) là một trong những khái niệm cơ bản quan trọng của Luật hình sự Việt Nam, xác định hành vi nào là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, từ đó đưa ra các biện pháp cưỡng chế phù hợp nhất đối với người phạm tội Do đó, có thể nhận thấy QĐHP là cầu nối, là một mắt xích quan trọng giữa tội phạm và hình phạt Vì vậy, QĐHP là giai đoạn của ADPLHS được Tòa án thực hiện ngay sau việc định tội danh
Hiện nay, pháp luật hình sự Việt Nam chưa có một văn bản chính thức nêu khái niệm QĐHP, khái niệm này chỉ được nghiên cứu dưới góc độ là một khái niệm khoa học luật hình sự mà chưa được quy định trong hệ thống văn bản pháp lý hình
sự có tính chất chính thống Theo PGS.TS Lê Văn Đệ thì: "Quyết định hình phạt là
sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể" [12, tr.161] Dưới góc độ của luật TTHS, TS Chu Thị Trang Vân đưa ra khái niệm như sau:"Quyết định hình phạt là một giai đoạn rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, là việc Tòa án lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt cụ thể được quy định trong luật hình sự tương ứng với cấu thành tội phạm cụ thể để áp dụng với người phạm tội, thể hiện trong bản án buộc tội" [40, tr.55] Vì vậy, khái niệm QĐHP có thể được
nghiên cứu từ hai góc độ khác nhau, từ góc độ luật hình sự và từ góc độ luật TTHS
Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” [32]
QĐHP đối với chủ thể chịu TNHS là sự lựa chọn một trong số các hình phạt chính, đồng thời xác định mức hình phạt đối với loại hình phạt có mức độ khác nhau trong khung hình phạt được quy định Nếu chế tài được quy định chỉ có một loại hình phạt chính và có các mức độ khác nhau thì QĐHP trong trường hợp này là xác định mức hình phạt trong phạm vi khung hình phạt được quy định
Trang 36QĐHP bổ sung là lựa chọn một hoặc một số loại hình phạt bổ sung có thể và xác định mức hình phạt trong khung quy định để áp dụng cùng với hình phạt chính Nếu tên hai loại hình phạt trùng nhau thì chỉ áp dụng hình phạt chính
Do vậy, QĐHP bao gồm QĐHP chính và QĐHP bổ sung QĐHP theo nghĩa này được coi là nghĩa hẹp QĐHP cũng có thể được hiểu theo các nghĩa rộng khác nhau như: QĐHP là QĐHP chính, QĐHP bổ sung và quyết định biện pháp tư pháp
Hiện nay, đa số các tác giả ghi nhận trong các sách, báo pháp lý là theo nghĩa hẹp
Trên cơ sở phân tích trên và nghiên cứu Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi,
bổ sung năm 2017), có thể đưa ra khái niệm về QĐHP đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
như sau: Quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức là sự lựa chọn hình phạt
cụ thể trong phạm vi các quy định của BLHS để áp dụng đối với người phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Căn cứ QĐHP đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại điều 50 BLHS năm
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.” Theo đó, các căn cứ QĐHP đối với tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức gồm có:
Thứ nhất, căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017:
Khi QĐHP, tòa án căn cứ vào các quy định của Phần chung của BLHS, bao gồm: quy định về cơ sở của TNHS tại Khoản 1 Điều 2; nguyên tắc xử lý đối với đối tượng chịu TNHS được quy định tại Khoản 1, 2 Điều 3; các quy định về hình phạt
từ Điều 30 đến Điều 45 BLHS; các quy định về biện pháp tư pháp từ Điều 46 đến
49 BLHS; các quy định về căn cứ của QĐHP tại Điều 50; về các tình tiết giảm nhẹ,
Trang 37tăng nặng TNHS tại các Điều 51 và 52; về tái phạm, tái phạm nguy hiểm tại Điều 53; các quy định về QĐHP trong các trường hợp cụ thể từ Điều 54 đến Điều 59 [36] Bên cạnh đó, Tòa án cần phải căn cứ vào quy định về khung hình phạt chính cũng như hình phạt bổ sung của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều
341 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Thứ hai, căn cứ vào tính chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội:
Khi quyết định hình phat, Tòa án phải căn cứ vào tổng thể các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để chỉ ra những tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội, chứng minh cho tính chất và mức độ gây nguy hiểm cho xã hội và đồng thời cũng phải dựa các tình tiết khác (nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và các tình tiết tăng nặng TNHS), Tòa án mới có đầy đủ căn cứ để quyết định được loại và mức hình phạt đúng pháp luật, công bằng, hợp lý
Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức phụ thuộc vào những yếu tố như: tính chất của hành vi phạm tội như thủ đoạn, hình thức thực hiện; tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đã thực hiện và mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nguyên nhân và điều kiện phạm tội; hoàn cảnh phạm tội; những tình tiết và nhân thân có ảnh hưởng đến mức bộ nguy hiểm của hành
vi phạm tội
Thứ ba, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:
Để có căn cứ đầy đủ cho việc QĐHP đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức đúng pháp luật, công bằng, hợp lý thì ngoài việc cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm đã thực hiện, Tòa án còn phải xét đến nhân thân người phạm tội Việc áp dụng quy định này có ý nghĩa giáo dục cải tạo và phòng ngừa rất lớn, thể hiệu tính nhân đạo, công bằng và cá thể hóa hình phạt trong Luật hình sự
Trang 38Thứ tư, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Điều 50 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định, khi QĐHP Tòa án không chỉ phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội đã thực hiện, nhân thân người phạm tội, mà còn phải cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS Do đó, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS
là một trong những căn cứ quan trọng trong QĐHP
Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định mở tại Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình
tự gây ra; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức; người phạm tội là phụ nữ có thai; người đủ 70 tuổi trở lên; người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; người phạm tội tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ,
vợ, chồng, con của liệt sĩ;… Những tình tiết này có thể được quy định cụ thể trong luật hoặc không được quy định cụ thể trong luật nhưng được Tòa án cân nhắc với ý nghĩa làm giảm nhẹ TNHS và hình phạt đối với người phạm tội
Các tình tiết tăng nặng được quy định cụ thể ở Điều 52 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: phạm tội có tổ chức; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội; phạm tội có tính chất côn đồ; phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tôi phạm đến cùng; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; phạm tội đối với người dưới 16 tuổi,
Trang 39phụ nữ có thai hoặc người từ đủ 70 tuổi trở lên; … Những tình tiết này có ý nghĩa làm tăng nặng TNHS và hình phạt đối với người phạm tội
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 51 và Điều
52 của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mang tính chất chung và chỉ được áp dụng đối với tội phạm cụ thể khi tình tiết đó chưa được quy định là dấu hiệu phạm tội, hoặc là tình tiết định khung
Đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức, mức hình phạt được pháp luật hình sự Việt Nam quy định cụ thể tại Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
- Đối với khung hình phạt trong cấu thành tội phạm cơ bản là “… bị phạt tiền
từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm”
- Khung hình phạt trong cấu thành tội phạm tăng nặng:
+ Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: Có tổ chức; phạm tội 02 lần trở lên; làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng; thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; tái phạm nguy hiểm
+ Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên
- Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng
Trang 40Tiểu kết chương 1
Trên cơ cở nghiên cứu lý luận và các văn bản pháp luật trong phạm vi Chương 1 của Luận văn, tác giả đã làm rõ các khái niệm cơ bản về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức; khái quát lịch sử phát triển pháp luật Việt Nam về tội này Đi sâu phân tích làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức Đồng thời phân biệt tội này với các tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội giả mạo trong công tác; tội giả mạo cấp bậc, chức vụ Qua đó làm sáng tỏ hơn các đặc điểm của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Từ kết quả nghiên cứu ở chương 1, tác giả sẽ khái quát những vấn đề lý luận
về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức Đồng thời khảo sát, đánh giá toàn diện thực tiễn trong việc ADPL hình sự đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước để đề xuất các giải phát thiết thực, có tính khả thi trong thực tiễn