1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phạm-Thị-Thảo-Qui-2054030262-010100510506

14 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 288,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi nghiên cứu về xã hội loài người, C.Mác khẳng định mọi sự thay đổi của đời sống chính là do những tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.. Nói một các

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP.HỒ CHÍ MINH

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

VẤN ĐỀ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT

VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI CUỘC SỐNG VÀ VIỆC HỌC TẬP

CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY

Phạm Thị Thảo Qui – 2054030262 – 010100510506

Giảng viên hướng dẫn: ThS/TS Nguyễn Thế Anh

Thành phố Hồ Chí Minh - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

ĐỀ MỤC TRANG

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 3

1 Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài 3

1.1 Lực lượng sản xuất 3

1.2 Quan hệ sản xuất 5

2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 7

2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất 7

2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất 7

2.3 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất 8

3 Ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên 9

3.1 Đối với cuộc sống 9

3.2 Đối với việc học tập của sinh viên 10

KẾT LUẬN 11

TÀI LIỆU THAM KHẢO 12

Trang 3

MỞ ĐẦU

Lịch sử xã hội loài người ngày càng tiến bộ từ thấp đến cao, từ thô sơ, đơn giản đến đa dạng, phức tạp Từ khi con người xuất hiện trên hành tinh đã trải qua các phương thức sản xuất như: nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, tư bản chủ nghĩa, xã hội chủ nghĩa Theo dòng thời gian tư duy, nhận thức của loài người phát triển ngày càng hoàn thiện hơn, kéo theo đó là

sự thay đổi và phát triển của lực lượng sản xuất

C.Mác phê phán quan điểm duy tâm của Ph.Li-xtơ về lực lượng sản xuất khi Ph.Li-xtơ cho rằng lực lượng sản xuất biểu hiện “bản chất tinh thần” và là cái vô hạn C.Mác cho rằng lực lượng sản xuất là những cái có sức mạnh vật chất Khi nghiên cứu về xã hội loài người, C.Mác khẳng định mọi sự thay đổi của đời sống chính là do những tác động qua lại biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất luôn song song tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau để hình thành một phương thức sản xuất Nói một cách khác quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất

và trình độ của lực lượng sản xuất là một điều kiện tất yếu để phát triển một nền kinh tế

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định Việt Nam xuất phát thấp từ một nước nông nghiệp lạc hậu trong hàng nghìn năm đô hộ, bị chủ nghĩa thực dân cai trị nên yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất càng bức thiết Sự phát triển của lực lượng sản xuất và mở rộng thị trường thế giới trong thế kỉ XX, trong văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định phát triển lực lượng sản xuất là vấn đề quan trọng hàng đầu – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo tiềm lực kinh tế đủ mạnh, hội nhập kinh tế quốc tế từng bước tiến lên chủ nghĩa xã hội

Trang 4

Vì vậy, qua phần lý luận trên ta có thể thấy việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hết sức cần thiết ở Việt Nam hiện, là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc học tập của sinh viên hiện nay nói riêng cũng như trong cuộc sống nói chung và cấp thiết về cả

lý luận và thực tiễn Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong Triết học Mác – Lênin và ý nghĩa của nó đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên hiện nay” Với đề tài này , tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ của mình vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội cho đất nước ngày một văn minh, tiến bộ

2 Mục tiêu

Đề tài nhằm nghiên cứu quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất

và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong cuộc sống con người Nghiên cứu về đề tài này sẽ giúp cho mỗi sinh viên kinh tế nói riêng cũng như sinh viên Việt Nam nói chung có thêm những hiểu biết sâu sắc hơn về sự phát triển của nước ta cũng như trên thế giới và từ đó có thể góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp xây dựng nước nhà hiện tại và trong tương lai

3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Triết học – Mác Lênin, phương pháp logic kết hợp với lịch sử để phân tích đánh giá sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngoài ra tiểu luận còn sử dụng những phương pháp khác như thống kê, so sánh, khảo sát, tổng hợp

4 Kết cấu của tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm: cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, ý nghĩa của mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đối với cuộc sống và việc học tập của sinh viên

Trang 5

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý luận liên quan đến đề tài

1.1 Lực lượng sản xuất

* Khái niệm lực lượng sản xuất

Theo Ph.Ăngghen: “điểm khác biệt căn bản giữa xã hội loài người với xã hội loài vật là ở chỗ: loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất” (Phạm Văn Sinh – Phạm Quang Phan, 2009) Như vậy con người muốn tồn tại và phát triển thì cần phải sản xuất ra những tư liệu để đáp ứng những nhu cầu thiết yếu Khi tiến hành sản xuất vật chất, con người nắm bắt được những quy luật của tự nhiên biến thế giới hoang sơ thành một thế giới khác với sự tham gia của khối óc và bàn tay con người Tức là, trong quá trình sản xuất, con người chinh phục giới tự nhiên bằng tổng hợp tất cả sức mạnh hiện thực của mình Sức mạnh hiện thực đó được triết học duy vật lịch sử khái quát bằng khái niệm “lực lượng sản xuất” Vậy, theo quan điểm của C.Mác có thể hiểu: lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động và tư liệu sản xuất nhằm làm biến đổi các đối tượng vật chất theo nhu cầu của con người và

xã hội

* Kết cấu của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất bao gồm hai bộ phận: tư liệu sản xuất và người lao

động Người lao động – yếu tố giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của

lực lượng sản xuất Chính mặt hoạt động của con người tạo ra phương thức kết hợp tốt nhất giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất Trong quá trình sản xuất của cải vật chất, con người không chỉ dùng sức lực mà còn dùng cả những kinh nghiệm, tri thức, sự sáng tạo, kỹ năng, kỹ xảo để tác động vào tự nhiên để tạo ra những sản phẩm tốt nhất nhằm phục một cách hiệu quả vào đời sống con người Cũng chính nhờ người lao động đã tạo ra công cụ lao

Trang 6

động, những phương tiện máy móc từ thô sơ đến hiện đại nên cuộc sống con người ngày càng được đổi mới, sản xuất phát triển với năng suất và chất lượng cao, đời sống tinh thần và bộ mặt xã hội ngày càng tiến bộ

C.Mác viết: “Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra

lịch sử Nhưng muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, nước uống,

nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy, hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” (Phạm Văn Sinh – Phạm Quang Phan, 2009) Vậy con người muốn tồn tại và phát triển thì cần phải sản xuất ra những tư liệu để đáp

ứng những nhu cầu thiết yếu đó Theo C.Mác, tư liệu sản xuất được chia

thành đối tượng lao động và tư liệu lao động

Đối tượng lao động là một phần của giới tự nhiên mà do trực tiếp sự tác

động bằng sức lao động vào của con người, làm cho giới tự nhiên biến đổi, thay đổi hình thái, tính chất, nhằm phục vụ con người

Ví dụ: xi măng, cát, sỏi, sợi vải, sợi len là những nguyên liệu hay còn gọi là đối tượng lao động của quá trình sản xuất

Tư liệu lao động là một hay hệ thống những cá thể làm nhiệm vụ kết nối

sự tác động của con người lên các đối tượng lao động để đạt được sản phẩm đáp ứng yêu cầu sản xuất của con người Tư liệu lao động gồm phương tiện lao động và công cụ lao động Trong đó, công cụ lao động là bộ phận quan trọng, nó tác dụng trực tiếp vào đối tượng lao động, quy định trực tiếp năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm

Ví dụ: xe máy cày, máy kéo, xe tải, cuốc, xẻng là những phương tiện

và công cụ lao động, trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất

C.Mác viết: “Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệu lao động nào” (Phạm Văn Sinh – Phạm Quang Phan, 2009) Đúng vậy, trải qua nhiều thời kỳ, công cụ lao động đã chứng minh được tầm quan trọng không thể thiếu của nó Công cụ lao động đã góp phần thúc đẩy kinh tế - xã

Trang 7

hội phát triển bằng việc tự hoàn thiện và ngày càng hiện đại khi chuyển từ thời kỳ này sang thời kỳ khác Phương tiện lao động là những yếu tố vật chất của sản xuất, con người sử dụng công cụ lao động để tác động lên đối tượng lao động trong quá trình sản xuất

Ví dụ: Trong thời kỳ đổi mới, công nghệ 4.0, internet, các trang mạng xã hội như zalo, facebook đã có sức ảnh hưởng lớn và làm thay đổi nhiều khâu trong quá trình sản xuất của con người Các công nghệ hiện đại này chính là những đặc trưng mang tính thời đại của lực lượng sản xuất

1.2 Quan hệ sản xuất

* Khái niệm quan hệ sản xuất

Trong quá trình sản xuất, để đảm bảo hoạt động sản xuất diễn ra bình thường và ngày càng hiệu quả thì con người buộc phải tạo dựng, duy trì mối quan hệ nhất định C.Mác viết: “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không phụ thuộc ý muốn của họ, tức những quan hệ sản xuất” (Phạm Văn Sinh – Phạm Quang Phan, 2009) Như vậy quan hệ sản xuất do con người tạo ra song nó được hình thành một cách khách quan không phụ thuộc vào ý muốn của bất kì ai Quan hệ sản xuất là các quan hệ kinh tế - vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất và trao đổi vật chất

Ví dụ: Trong một doanh nghiệp, nếu các nhân viên chỉ làm việc tách biệt, không có sự phối hợp với nhau, không có người chỉ đạo, quản lý nghĩa

là không tồn tại mối quan hệ giữa con người với con người (tức quan hệ sản xuất) thì doanh nghiệp đó không thể tồn tại và sản xuất có hiệu quả

* Kết cấu của quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất bao gồm ba mặt và các mặt này có mối quan hệ hữu

cơ, chặt chẽ, tác động, chi phối lẫn nhau

Trang 8

- Quan hệ giữa người với người trong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất (quan hệ sở hữu).Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan hệ cơ bản và trung tâm của quan hệ sản xuất, giữ vai trò quyết định đối với quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối lưu thông sản phẩm

Ví dụ: Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và công nhân làm việc cho doanh nghiệp là quan hệ sở hữu trong hệ thống sản xuất xã hội

- Quan hệ giữa người với người trong việc tổ chức, quản lý xã hội và trao đổi hoạt động cho nhau (quan hệ tổ chức, quản lý) Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất có tác động lớn đối với quá trình sản xuất – là nhân tố tham gia quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ, hiệu quả của nền kinh tế

Ví dụ: Quan hệ giữa chủ tịch tập đoàn và các Giám đốc bộ phận là những quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất Nếu các quan hệ này được

tổ chức khoa học và co hệ thống thì doan thu của tập đoàn sẽ ngày càng cao

- Quan hệ giữa người với người trong phân phối, lưu thông sản phẩm sau quá trình sản xuất (quan hệ phân phối lưu thông) Quan hệ về phân phối sản phẩm lao động kích thích trực tiếp lợi ích con người, là chất “xúc tác” quan trọng đặc biệt trong sự tăng trưởng kinh tế

Ví dụ: Quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và nhân viên là quan hệ phân phối sản phẩm lao động Nếu chủ doanh nghiệp trả lương hợp lý sẽ kích thích nhân viên (người lao động) tăng năng suất lao động, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh

Nhận thức được các loại hình sở hữu trên là một vấn đề cần thiết, từ đó không được tuyệt đối hóa bất kỳ một quan hệ nào mà phải chú ý đến tính đồng bộ của cả ba mặt trong quan hệ sản xuất Ba mặt của quan hệ sản xuất thống nhất với nhau, tạo thành một hệ thống tương đối ổn định so với sự vận động, phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất Do vậy, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau theo một quy luật nhất định để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội

Trang 9

2 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 2.1 Vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với quan hệ sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại quy định lẫn nhau, thống nhất với nhau trong cùng một phương thức sản xuất Đây là yêu cầu phổ biến, tất yếu diễn ra trong mọi quá trình sản xuất vật chất hiện thực của xã hội Trong đó lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất Sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đối quan hệ sản xuất cho phù hợp với nó Lực lượng sản xuất luôn vận động phát triển bắt đầu từ công cụ lao động, từ khoa học công nghệ, quan hệ sản xuất thì có tính độc lập tương đối và có tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất Tương ứng với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất đòi hỏi phải có quan hệ sản xuất phù hợp trên cả ba phương diện: sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức – quản lý, quan hệ lưu thông kết quả của quá trình sản xuất

Ví dụ: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người lao động không còn sử dụng những công cụ thô sơ mà đã chuyển sang nhờ sự

hỗ trợ hoàn toàn của các thiết bị máy móc công nghệ hiện đại Những thay đổi này sẽ đặt ra yêu cầu phải thay thế quan hệ sản xuất cũ bằng một quan hệ sản xuất mới và tiến bộ hơn Chỉ như vậy, lực lượng sản xuất mới có thể phát triển lên trình độ cao hơn

2.2 Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất

Quan hệ sản xuất luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất Như vậy sự tác động đó có thể sẽ diễn ra theo hướng tiêu cực hoặc tích cực Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh

mẽ trở lại: thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sản xuất vì nó quyết định mục đích của lực lượng sản xuất, quy định vai trò tổ chức và quản lý của lực lượng sản xuất, quy định phương thức phân phối sản xuất xã hội

Trang 10

Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất Đây là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất và

“tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển

Mặt khác, quan hệ sản xuất thể hiện sự kết hợp giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất Do vậy, sự kết hợp ấy diễn ra như thế nào sẽ là điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự tác động trên diễn ra theo hai trường hợp:

- Khi có sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất đối và lực lượng sản xuất thì quan hệ sản xuất sẽ trở thành động lực cơ bản thúc đẩy, mở đường, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển

Ví dụ: Biểu hiện của sự phù hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất

để sản xuất ra sản phẩm chính là việc các doanh nghiệp, nhà máy sản xuất hàng hóa nhiều và tốt, người lao động hăng hái sản xuất, năng xuất lao động tăng

- Khi không phù hợp: lực lượng sản xuất đã phát triển còn quan hệ sản xuất trở nên lạc hậu, lỗi thời do tính ổn định của chính nó và tính chất thường xuyên vận động của lực lượng sản xuất Và tất nhiên khi quan hệ sản xuất trở nên lạc hậu, lỗi thời thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất nhưng đến một thời điểm nào đó mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan

hệ sản xuất sẽ được giải quyết và thay vào đó là sự phù hợp

Ví dụ: Bước vào thời kì đổi mới sau năm 1975, Việt Nam đã tiến hành xây dựng mô hình hợp tác xã cao cấp (cấp xã) quá nhanh và cải tạo công nghiệp, thương ngiệp ồ ạt trong khi trình độ lực lượng sản xuất còn thấp kém,

vì thế đã gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

2.3 Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Ngày đăng: 14/01/2022, 09:24

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w