1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tương quan so sánh đối lập trong thơ Chế Lan Viên

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 31,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông sáng tác rất nhiều, lúc sinh thời, nhà thơ viết đến hơn 10 tập thơ, tạo cho mình một chỗ đứng vững vàng trong nền thi ca hiện đại.. Hành trình sáng tác của nhà thơ với số lượng tác p

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

KHOA NGỮ VĂN

BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC : CHUYÊN ĐỀ VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI II

CHỦ ĐỀ: TƯƠNG QUAN SO SÁNH ĐỐI LẬP TRONG THƠ CHẾ LAN VIÊN

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Quỳnh Mai Lớp: Gk68

Hà Nội, tháng 12, năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 4

I MỞ ĐẦU

1.1 Khái quát về tác giả Chế Lan Viên

1.2 Phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên

1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ của Chế Lan Viên

1.3.1 Ngôn ngữ thơ giàu tính triết lý

1.3.2 Ngôn ngữ độc đáo qua cách sử dụng ngôn từ

II Giải quyết vấn đề

2.1 Tương quan so sánh đối lập trong hình ảnh nghệ thuật 2.1.1 Hình ảnh đối lập nghịch chiều

2.1.2 Hình ảnh đối lập thuận chiều

2.2 Tương quan so sánh đối lập trong không gian và thời gian 2.2.1 Không gian đối lập

2.2.2 Thời gian đối lập

III Kết luận

I Mở đầu

1.1 Khái quát về tác giả Chế Lan Viên

Trang 5

Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan (1920-1989), sinh ra ở Quảng Trị

Ngay từ thuở thiếu thời 16,17 tuổi, ông đã là một cái tên gây kinh ngạc trong giới văn học và độc giả Khi Chế Lan Viên trưởng thành và thực sự bước chân vào con đường sáng tác văn học chuyên nghiệp, tên tuổi của ông càng ngày càng vang dội, luôn gây kinh ngạc cả thế hệ bạn đọc ngày nay Trong suốt những năm tháng sáng tác, ông viết không ngừng nghỉ, sự sáng tạo và nỗ lực ấy để lại cho nền văn học hiện đại Việt Nam một kho tàng tác phẩm quý giá

Ông sáng tác rất nhiều, lúc sinh thời, nhà thơ viết đến hơn 10 tập thơ, tạo cho mình một chỗ đứng vững vàng trong nền thi ca hiện đại Tập thơ đầu tay “Điêu tàn” làm nên một hiện tượng thơ Mới - Chế Lan Viên Sau cách mạng tháng Tám, các tác phẩm như tập “Ánh sáng và phù sa”, “Hoa ngày thường- Chim báo bão”,

“Hoa trước lăng Người”, gây chú ý khi nhà thơ chuyển tâm ngòi bút mang tính

hư vô, siêu hình trong các tập thơ đầu tay sang chất thơ giàu tính triết lý sâu sắc, độc đáo Đến khi ông qua đời, các nhà nghiên cứu văn học đã tìm hiểu và góp nhặt được hơn 600 bài thơ và cho xuất bản tập “Di cảo thơ” của chế Lan Viên Các nhà phê bình đánh giá chỉ riêng tập “Di cảo” cũng đủ làm nên một tượng đài thơ ca lớn của dân tộc

Chế Lan Viên là một tài năng tỏa sáng sớm Ông tiếp thu rất nhiều tinh hoa của thơ ca Phương Đông hay phương Tây với đa dạng thể loại như thơ lãng mạn trữ tình, thơ hiện thực, thơ siêu thực và bị chịu ảnh hưởng của trường phái thơ hiện đại của Baudelaire Hành trình sáng tác của nhà thơ với số lượng tác phẩm đồ sộ gắn liền với sự thay đổi về tư tưởng, quan niệm, ông liên tục kế thừa, thay đổi và sáng tạo

1.2 Phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên

● Trước cách mạng tháng Tám

Chế Lan Viên cùng Hàn Mặc Tử là hai cái tên mà khi nhắc đến người ta ấn tượng với “Trường thơ loạn” Trong một xã hội bị tắc lúc ấy, các nhà thơ người thì theo trường phái lãng mạn thoát ly khỏi hiện thực, kẻ thì đắm mình trong thế giới

cá nhân, còn Chế Lan Viên chọn cho mình một lối đi riêng với tập thơ đầu tiên

Trang 6

“Điêu tàn” (1937) mang một thế giới thẩm mỹ sự hư cấu, thần bí, siêu hình, trừu tượng Thế giới nghệ thuật trong tập thơ này luôn tồn tại những thái cực khác nhau trong con người nhà thơ, cái tôi luôn được chia làm hai cực : vui mà buồn, buồn

mà vui Những hình ảnh tương phản đối lập, những mâu thuẫn nội tâm dằn vặt trong “Điêu tàn” thể hiện quan niệm và tư duy của tác giả về nghệ thuật có tính chất siêu hình, trừu tượng, cái đẹp thẩm mỹ nằm ở cái bi

● Sau cách mạng tháng Tám

Không chỉ Chế Lan Viên mà rất nhiều thi sĩ thời bấy giờ có cho mình một phong cách riêng “điên loạn”, cách mạng tháng Tám thành công đã khiến nhà thơ thay đổi, từ cõi hư vô trở về với hiện thực “Ánh sáng và phù sa” (1960) là tập thơ trở thành một cột mốc đáng nhớ đánh dấu sự nghiệp thơ ca của Chế Lan Viên Ánh sáng của Đảng đã soi chiếu cho nhà thơ thoát khỏi thế giới huyền bí mà ông ẩn nấp trong đó để xuất hiện và góp thơ cho đời, cho dân Những bài thơ trong tập thơ này cũng như giai đoạn này là những bài thơ xuất sắc nhất trong sự nghiệp cầm bút của ông Sự thay đổi trong tư tưởng của Chế Lan Viên tác động lớn đến những thay đổi trong phong cách sáng tác “Ánh sáng và phù sa” ở một đối cực hoàn toàn với

“Điêu tàn” Có thể nói, một bên là ánh sáng, một bên là bóng tối Bóng tối của

“Điêu tàn” là một thế giới kỳ bí, ma quái, huyền ảo, là thế giới của cái bi được tô điểm thành cái đẹp thẩm mỹ Còn “Ánh sáng và phù sa” là cuộc hành trình trở về với sự lạc quan, niềm hạnh phúc của một con người đời thường với những gam màu ấm áp

● Sau giải phóng từ 1975 về sau

Trải qua hai cuộc chiến đấu chống Pháp và Mỹ, chiến tranh qua đi trả lại cho dân tộc cuộc sống thanh bình, êm ả Sự chuyển đổi trong nhận thức về cái tôi cá nhân ở hai giai đoạn trước tạo nên tiếng vang của Chế Lan Viên trên thi đàn Việt Nam thì giai đoạn này giọng điệu thơ của ông hướng nội hơn, triết lý hơn và đi sâu vào thế giới nội tâm của con người Phong cách thơ của Chế Lan Viên giai đoạn này không phải là cái tôi đầy u ám của trước cách mạng, cũng không phải là cái tôi đầy vẻ vang sau cách mạng, nó là một cái tôi với cái nhìn đa diện về cuộc đời, con

Trang 7

người Trong tập “Di cảo”, chúng ta thấy rõ một giọng điệu nội hàm hơn rất nhiều :

“Ta vì ai ? Về đâu ? Hạt móc”, “Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?” Giai đoạn này giọng thơ mang nhiều sự chiêm nghiệm, nỗi buồn hơn trước, Đây không phải nỗi buồn cá nhân trong “Điêu tàn”, nó là nỗi buồn của cuộc sống hiện thực lúc bấy giờ Sự thay đổi của cái tôi trữ tình đã làm đổi thay cả nội dung và hình thức nghệ thuật Giọng điệu nghiêm trang xen lẫn sự chua xót hóm hỉnh bên cạnh sự lạnh lùng của giọng điệu tự sự, đặc biệt ngôn ngữ thơ mang tính triết lý sâu sắc hơn cả, có cái nhìn đa diện về con người và thế sự

1.3 Đặc trưng ngôn ngữ thơ của Chế Lan Viên

1.3.1 Ngôn ngữ thơ giàu tính triết lý

Chế Lan Viên là một nhà thơ có óc sáng tạo kinh ngạc và luôn tìm tòi học hỏi Bởi vậy ông có cái nhìn về cuộc sống, về con người theo nhiều hướng đa diện, có khả năng khái quát các vấn đề trong cuộc sống trong thơ, tạo nên một hình thức thẩm mỹ mới Đọc thơ của ông, chúng ta dễ dàng nhận ra một đặc điểm đó là ngôn ngữ thơ giàu tính triết lý Nhà thơ luôn biện luận công khai những luận điểm mà ông là chân lý.”

“Những câu thơ sử dụng những hình ảnh đối lập tương phản được thể hiện rõ điều đó : “Cò một mình cò phải kiếm lấy ăn/Con có mẹ, con chơi rồi lại ngủ” ;

“Đất nước mênh mông đời anh nhỏ hẹp” Tính triết lý còn được thể hiện ở nhan đề của các bài thơ như : “Thơ bình phương - Đời lập phương” ; “Thần và quỷ” ; “Làm Hăm-lét ở Việt Nam” ; “Ong triết học”; Tên của các bài thơ gây ấn tượng ngay đến người đọc, tạo nên sự cuốn hút, cho phép người đọc có những kiến giải và cách nhìn khác nhau trước những vấn đề mà nhà thơ khám phá Tính triết lý trong thơ của Chế Lan Viên còn được biểu hiện qua cách sử dụng một loạt các câu hỏi tu

từ với các từ như : “gì”, “chi”, “đây”, “đâu”, “chăng”, “ư”, “ai” Những câu thơ

có sử dụng trợ từ “là” không chỉ mang nghĩa giải thích một sự vật hiện tượng mà còn khẳng định quan niệm của nhà thơ về nó : “Cẩn gì gọi chân lý thì mới là chân lý”, “Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu”, ”

1.3.2 Ngôn ngữ thơ độc đáo qua cách sử dụng ngôn từ

Trang 8

Với một bộ óc sáng tạo không ngừng nghỉ như Chế Lan Viên, nhà thơ có những sáng tạo độc đáo trong việc phát triển sự phong phú của tiếng Việt và tạo cho mình một phong cách riêng Sự kết hợp giữa các âm thanh hài hoà, chính xác đã tạo nên cái nét riêng trong thơ của Chế Lan Viên Chế Lan Viên chịu ảnh hưởng trong nguyên tắc sáng tác thơ hiện đại của Baudelaire, bởi vậy việc sử dụng các biện pháp tu từ về mặt ngữ âm là nổi bật nhất trong các tác phẩm của ông Sự phối hợp liên tục giữa các thanh điệu bằng - trắc tạo cho câu thơ có nhạc tính nhờ vần điệu của câu thơ

Ví dụ :

“Con chưa biết những cành mềm mẹ hát, (B B T T B B T T)

Sữa mẹ nhiều, con ngủ chẳng phân vân.” (T T B B T T B B)

Để tạo sự cộng hưởng về mặt âm thanh và làm nổi bật các hình tượng nghệ thuật, nhà thơ còn hay sử dụng các biện pháp tu từ điệp âm Các từ láy tượng hình, tượng thanh được tác giả sử dụng biện pháp láy nguyên âm tạo cho hình ảnh thơ đầy tính họa và tính nhạc

Ví dụ :

“Thu thôi sang ! Đông thôi lại não lòng tôi !”

“Sóng hồ lô xô”

“Chim cu gần, chim cu gáy xa xa”

II Giải quyết vấn đề

2.1 Tương quan so sánh đối lập trong hình ảnh nghệ thuật

2.1.1 Hình ảnh đối lập thuận chiều

Chế Lan Viên là một nhà thơ sáng tạo, ông luôn tìm tòi sự sáng tạo trong việc gọt giũa hình ảnh thơ sao cho đặc sắc nhất Ông luôn nhìn thấy cái mới, cái lạ mà người ta tưởng chừng như không thể khám phá được Chúng ta thường nghĩ những thứ đối lập nhau thường sẽ tương phản nhưng trong tư duy của Chế Lan Viên sự trái ngược nhau vẫn có nét tương đồng Trong tập “Di cảo”, ta sẽ bắt gặp rất nhiều các hình ảnh thơ đối lập mang những nét tương đồng :

“Sóng luân hồi biến động buồn hơn hay muối tĩnh lại buồn hơn”

Trang 9

(Qui Tôn - Di cảo III)

Sóng của đại dương thì biến động, muối nằm trong sóng thì dường như ở thế tĩnh Điểm chung giữa chúng được nhà thơ khám phá ra là :

“Ôi muối hay sóng đều vui, chớ còn gì buồn hơn Vạn Pháp đã Qui Tôn”

Giọng thơ mang chất triết lý đầy suy tưởng, độc lạ khí hình ảnh thơ ở đây được thể hiện kín đáo :

“Giữa chiều náo nhiệt phố phường

Bỗng nhớ ngàn cao Yên Tử”

Sự đối lập trong không gian phố phường náo nhiệt nơi đô thị và khung cảnh núi cao vời vợi ở Yên Tử hay độc giả có thể thấy được đây là sự tương phản giữa cõi tục và cõi siêu thoát Sự tấp nập đời thường làm nổi bật lên không khí hoang vu, tĩnh mịch nơi cửa Phật Với Chế Lan Viên, sự tương đồng trong hình ảnh đối lập được thể hiện qua việc A đối lập B mà cả hai cùng đối lập với C như trong câu thơ:

“Tro mềm và đá rắn

Đều xa với lửa cười”

(Tiếng thở dài - Di cảo III)

Sự đối lập của sự vật và hiện tượng trong cái nhìn nhà thơ được đúc kết từ sự chiêm nghiệm, sự trải đời với trí thông minh sắc sảo, sự am hiểu nhiều phương diện của đời sống đã giúp ông khai thác được những vấn đề, luôn nhìn nhận nó trong sự đối lập tương quan Tất cả sự vật hiện tượng trong con mắt của Chế Lan Viên đều được cảm nhận từ mối quan hệ biện chứng

2.1.2 Hình ảnh đối lập ngược chiều

Với một trí thông minh sắc sảo như Chế Lan Viên, nhà thơ luôn đặt mọi thứ, sự vật, hiện tượng trong các mối quan hệ đối lập nhau từ đó mà suy ra những triết luận nhân sinh, ý thơ càng sâu Các mặt đối lập của cuộc sống được ông khám phá

và thể hiện một cách sinh động như : quá khứ - hiện tại, hiện tại - tương lai, cái riêng - cái chung, cái nhỏ bé - cái lớn lao, cái động- cái tĩnh, yêu thương - căm thù, niềm vui - nỗi buồn, sống - chết, ngày - đêm, ánh sáng - bóng tối, cõi trần- địa ngục, thần - quỷ, cái bi - cái hùng,

Trang 10

“Một viên gạch hồng Bác chống lại cả một mùa băng giá”

(Người đi tìm hình của nước)

“Một chiếc hôn cân vạn ngày lửa đạn”

(Kỷ niệm có gì?)

“Chiều đông tàn như mai xuân lộng lẫy

Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn”

(Những sợi tơ lòng)

“Xưa phù du mà nay đã phù sa”

(Nay đã phù sa)

“Đừng buồn đêm phù du

Đã có ngày bất tử”

(Đêm và ngày - Di cảo III)

Tập thơ “Ánh sáng và bóng tối” đúng như tên gọi của nó tràn ngập hình ảnh đối lập giữa ánh sáng và bóng tối Lối tư duy vận dụng và sáng tạo nhiều phương thức tư duy nghệ thuật giúp từng từ, từng câu thơ của Chế Lan Viên mang những nét thẩm mỹ độc đáo riêng Từ lối tư duy thơ đầy triết lý như vậy chúng ta có thể rút ra được nhiều bài học về nhân sinh, thế sự

“Nếp rêu con cũng chói lóa ánh sáng

Khi mặt trời tư tưởng rọi hang sâu”

(Khi đã có hướng rồi)

“Đừng đuổi thì thơ tôi vì một chút chiều ta nào ngả bóng

Hãy kiên lòng, sẽ thấy nắng mai lên”

(Nhật ký một người chữa bệnh)

Những hình ảnh đối lập ngược chiều không tạo ra sự sâu sắc bất ngờ như các hình ảnh đối lập thuận chiều, nhưng quan niệm và tư duy về thơ của tác giả đã giúp người đọc nhìn thẳng vào vấn đề trong thơ một cách trực diện Nhà thơ không ngừng tư duy, khám phá tạo ra những hình tượng thơ mới mẻ, đem lại cho người đọc một cảm xúc thẩm mỹ mà chỉ có thơ của Chế Lan Viên mới làm được

2.2 Tương quan so sánh đối lập trong không gian và thời gian

Trang 11

2.2.1 Đối lập trong không gian

Trong “Điêu tàn”, sự huyền bí bao trùm toàn bộ không gian nghệ thuật, mở ra cho người đọc hai không gian hoàn toàn đối lập nhau, đó là không gian thực và không gian ảo Một không gian của Chiêm quốc xa xưa với cảnh “tháp gầy mòn mong đợi”, “tượng chàm lở lói rỉ rên than”, gửi gắm một nỗi niềm thương tiếc, chua xót về số phận của một dân tộc ở hiện tại

“Thuyền ai giỡn nước sông Ngân ấy

Mà để sao sa xuống cõi trần ?”

(Mơ trăng)

Bước vào không gian của Chiêm quốc, ta như bước vào con đường dẫn tới cỗ máy thời gian trở về với cội nguồn Khung cảnh huy hoàng lộng lẫy ở quá khứ và hoàn cảnh điêu tàn của hiện tại được đẩy lên cao, độc giả không khỏi ám ảnh về sự suy tàn của một nền văn minh cổ đại Nếu hiện tại là cõi tục thì Chiêm quốc giống như địa ngục đối lập Nếu tháp Chàm bị hủy diệt theo thời gian thì đối lập là cõi tục với cuộc sống hân hoan

“Ánh sáng và phù sa” lại đưa chúng ta bước vào một không gian khác, đó là không gian của cái chung - cái riêng, cái nhỏ bé - cái vĩ đại

“Đất nước mênh mông, đời anh nhỏ hẹp

Tàu gọi anh đi, sao chửa ra đi ?”

(Tiếng hát con tàu)

Sự nhỏ bé của cái tôi cá nhân trong mối quan hệ tương quan so sánh với một cộng đồng đang chiến đấu, sống chết vì quê hương Cái tôi trong thơ của Chế Lan Viên đối ngược với một không gian của cái chung to lớn, chúng ta có thể nhìn thấy

sự vận động của cái tôi thay đổi từ “bầu trời của tôi đến với bầu trời của mọi người” Tác giả nhằm ca ngợi khẳng định những thay đổi có ý nghĩa lớn lao của dân tộc trong thời buổi xây dựng chủ nghĩa xã hội

“Di cảo” là một tập thơ với số lượng tác phẩm khổng lồ và ta hoàn toàn có thể xếp riêng nó thành một tủ sách văn học riêng Sự chuyển biến trong tư tưởng thơ của Chế Lan Viên từ giai đoạn trước đến giai đoạn này không còn không gian của

Trang 12

lịch sử hùng tráng mà là không gian cuộc sống đời thường Từ giọng điệu sử thi hào hùng chuyển về giọng điệu thế sự, triết lý nhân sinh Nhà thơ nhìn mọi sự vật hiện tượng trong cuộc sống bằng lăng kính vạn hoa của mình với “phía bên này - phía bên kia”, “ quá khứ - hiện tại”, “ héo tàn - sinh sôi”, “ mặt trời chói lòa - ngọn đèn con con”, Thi sĩ vốn nhạy cảm với sự đổi thay, chính vì vậy nhà thơ cảm thấy vị trí của mình từ chỗ “Ngang tầm chiến lũy” trở thành “như rác đổ thùng”

Sự hội nhập chuyển biến về kinh tế - chính trị đó khiến cuộc sống chạy theo vật chất còn tâm hồn thì trở thành những thứ rác thải Từ cách quan sát ấy, nhà thơ lại càng khẳng định lối sống cao đẹp giữa thời cuộc thay đổi và luôn phải sống hết mình, sống với những gì đẹp nhất

2.2.2 Đối lập trong thời gian

Thơ Chế Lan Viên luôn tồn tại những cặp đối ngẫu thời gian như : quá khứ, hiện tại và tương lai xen kẽ nhau, đan quyện vào nhau Từ tập “Điêu tàn”, ta có thể thấy thời gian trong quan niệm của ông chính là sự hủy diệt đáng sợ nhất

“Ta nhắm mắt mặc yên cho hiện tại

Biến dần ra Dĩ Vãng ở trên mi”

“Trong bóng đêm u ám của hàng mi”

Hay

Kiêu ngạo rằng : “ Đây là bầu thế giới,

Tạo lập ra trong một phứt sầu bi”

(Tạo lập)

“Cả Dĩ Vãng là chuỗi mồ vô tận

Cả Tương Lai là chuỗi huyệt chưa thành

Và Hiện Tại, biết cùng chăng bạn hỡi”

(Những nấm mồ - Điêu tàn)

Nhưng “Ánh sáng và phù sa” lại biến thời gian trở thành viễn tưởng hạnh phúc nhất mà con người ta hướng tới

“Xưa phù du mà nay đã phù sa

Xưa bay đi mà nay không trôi mất

Ngày đăng: 14/01/2022, 09:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w