1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SÁNG KIẾN dạy học phát triển năng lực thông qua hoạt động trải nghiệm và tích hợp trong môn tiếng việt 1

25 89 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 55,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bước sang thế kỉ 21, do tốc độ phát triển của xã hội, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, giáo dục và đào tạo của Việt Nam đã được ưu tiên ở vị trí hàng đầu trong hệ thống các chính sách phát triển quốc gia. Để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực cho sự phát triển của thời đại, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29NQTW) với nội dung “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là đổi mới mục tiêu giáo dục. Đại hội XII đã nâng tầm các quan điểm trong Nghị quyết số 29NQTW, ngày 4112013 của Hội nghị Trung ương 8 khoá XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thành Văn kiện Đại hội Đảng. Trong đó, khẳng định: Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Đây là là một bước chuyển đổi căn bản của giáo dục Việt Nam, hướng vào đổi mới mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục. Mục tiêu giáo dục truyền thống chủ yếu là coi trọng trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp. Thực hiện Nghị quyết 29 của Đảng, ngành giáo dục đã tiến hành đổi mới toàn diện với nhiều nội dung khác nhau. Năm học 2020 2021 bắt đầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018, và thay sách với lớp 1 trên cả nước. Trong các nội dung đổi mới hiện nay, dạy học theo hướng phát triển năng lực người học là nội dung cơ bản, trọng tâm được triển khai rộng rãi ở tất cả các cấp học, môn học. Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu học. Bởi lẽ tiếng Việt là một môn học giúp cho học sinh chiếm lĩnh tri thức mới đồng thời là công cụ để học sinh có thể học tập và tìm hiểu với các môn học khác. Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic cho học sinh, việc học Tiếng Việt sẽ giúp các em hình và phát triển tư duy ngôn ngữ. Thông qua môn Tiếng Việt, học sinh sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm. Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến việc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng sống cần thiết cho trẻ.. Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợp trong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tự nhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh.

Trang 1

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

1 Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

Bước sang thế kỉ 21, do tốc độ phát triển của xã hội, cùng với xu thế hộinhập quốc tế và toàn cầu hóa, giáo dục và đào tạo của Việt Nam đã được ưu tiên

ở vị trí hàng đầu trong hệ thống các chính sách phát triển quốc gia Để đảm bảocho sự phát triển bền vững của đất nước, đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực

cho sự phát triển của thời đại, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết

số 29-NQ/TW) với nội dung “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

Khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và phát

triển nguồn nhân lực là đổi mới mục tiêu giáo dục Đại hội XII đã nâng tầm cácquan điểm trong Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 của Hội nghị Trungương 8 khoá XI, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thành Văn

kiện Đại hội Đảng Trong đó, khẳng định: Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Đây là là một bước chuyển đổi căn bản của giáo dục Việt Nam, hướng vào đổi mới mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục Mục tiêu giáo dục truyền thống chủ yếu là coi trọng trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp Thực hiện

Nghị quyết 29 của Đảng, ngành giáo dục đã tiến hành đổi mới toàn diện vớinhiều nội dung khác nhau Năm học 2020- 2021 bắt đầu thực hiện chương trìnhgiáo dục phổ thông 2018, và thay sách với lớp 1 trên cả nước Trong các nộidung đổi mới hiện nay, dạy học theo hướng phát triển năng lực người học là nộidung cơ bản, trọng tâm được triển khai rộng rãi ở tất cả các cấp học, môn học

Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu học Bởi lẽ tiếng Việt là một môn học giúp cho học sinh chiếm lĩnh tri thức

mới đồng thời là công cụ để học sinh có thể học tập và tìm hiểu với các môn họckhác Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic cho học sinh, việc họcTiếng Việt sẽ giúp các em hình và phát triển tư duy ngôn ngữ Thông qua mônTiếng Việt, học sinh sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc

của mình một cách chính xác và biểu cảm Ngoài ra, tầm quan trọng của Tiếng Việt ở bậc tiểu học còn hướng đến việc hình thành các kỹ năng mềm, kỹ năng

sống cần thiết cho trẻ Tiếng Việt sẽ dạy trẻ biết cách giao tiếp, ứng xử phù hợptrong các mối quan hệ với người thân, với cộng đồng và với môi trường tựnhiên, biết sống tích cực, chủ động trong mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh

Trang 2

Như vậy có thể khẳng định, Tiếng Việt là môn học không thể thiếu trong

hệ thống giáo dục của đất nước, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh ở bậc tiểu học– lứa tuổi đang trong giai đoạn hình thành về nhân cách và tư duy Tiếng Việtkhông những là “công cụ của tư duy” mà còn bước đệm để hình thành nhân cáchcủa một đứa trẻ Vì vậy, để thực hiện được mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện

ở bậc tiểu học cần phải đổi mới trong dạy học tất cả các môn học và đặc biệt làmôn Tiếng Việt Nội dung đổi mới cần phải toàn diện, trong đó đổi mới tổ chứcdạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm

Tổ chức dạy học nhằm giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực,phẩm chất bước đầu đã được triển khai ở một số trường tiểu học Tuy nhiên,quá trình tổ chức dạy học để phát huy năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho họcsinh phát huy được năng lực, tính sáng tạo và phối hợp, tương trợ lẫn nhautrong học tập trong mỗi đơn vị kiến thức, mỗi tiết học, hoạt động giáo dục vẫncòn là một thách thức rất lớn đối với tất cả giáo viên

Xuất phát từ những lí do trên, nên tôi đã lựa chọn sáng kiến: “ Dạy

học phát triển năng lực thông qua hoạt động trải nghiệm và tích hợp trong môn Tiếng Việt 1 ”.

2 Cơ sở lí luận:

2 1 Dạy học phát triển năng lực

Một trong những điểm đổi mới và xu thế chung của chương trình giáo dục

phổ thông nhiều nước trên thế giới từ đầu thế kỉ XXI đến nay là chuyển từ dạyhọc cung cấp nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực ngườihọc Với Việt Nam, đây là yêu cầu mang tính đột phá của công cuộc đổi mớitheo nghị quyết 29 ( 2013) của Đảng và Nghị quyết số 88 (2014) của Quốc hội

2.1.1.Năng lực và dạy học phát triển năng lực

Năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh competentia“ Ngày nay

khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau Tiếp thu quan niệm về

năng lực của các nước phát triển, Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể của

Bộ Giáo dục & Đào tạo ( tháng 7 năm 2017) đã xác định:

- Năng lực: Là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất

sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợpcác kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ýchí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mongmuốn trong những điều kiện cụ thể Có hai loại năng lực lớn:

Trang 3

+ Năng lực cốt lõi: Là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần

phải

có để sống, học tập và làm việc hiệu quả

+ Năng lực đặc biệt: Là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao,

kỹ

năng sống,… nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người

Cũng theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực đặc thù

- Năng lực chung là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo

dục góp phần hình thành, phát triển như: năng lực tự chủ và tự học, năng lựcgiao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Năng lực đặc thù là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông

qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: năng lực ngôn ngữ,năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ,năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáodục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu)của học sinh

2.1.2.Dạy học định hướng nội dung và dạy học phát triển năng lực

Từ những năm 90 của thế kỉ trước, khi so sánh quốc tế về thiết kế chương

trình giáo dục phổ thông, người ta thường nêu hai cách tiếp cận chính là tiếp cậndựa vào nội dung hoặc chủ đề ( Chương trình theo nội dung) và tiếp cận dựa vàokết quả đầu ra (Chương trình theo kết quả đầu ra)

Chương trình theo nội dung là loại chương trình tập trung xác định và nêu

ra một danh mục đề tài của một lĩnh vực/môn học nào đó Tức là tập trung trảlời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh cần biết những gì? Cách tiếp cận này chủyếu dựa vào cấu trúc nội dung học vấn của một khoa học bộ môn tương ứng vớibậc đại học để thu nhỏ lại cho cấp phổ thông nên thường mang tính “hàn lâm”,nặng về lí thuyết và tính hệ thống, nhất là khi người thiết kế ít chú ý đến các giaiđoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú và điều kiện của người học

Chương trình theo kết quả đầu ra là cách tiếp cận nêu rõ kết quả, những

khả năng hoặc kĩ năng mà học sinh mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạnhọc tập trong nhà trường ở một môn học cụ thể ( theo NIER2 – 1999) Nói cáchkhác chương trình này nhằm trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn học sinh biết và cóthể làm được những gì? Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lựcđược bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX và ngày nay đã trở thành

Trang 4

xu hướng giáo dục quốc tế Chương trình giáo dục định hướng phát triển nănglực có thể coi là một tên gọi khác hay một mô hình cụ thể hoá của chương trìnhđịnh hướng kết quả đầu ra, một công cụ để thực hiện giáo dục định hướng điềukhiển đầu ra Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, mụctiêu dạy học của chương trình được mô tả thông qua các nhóm năng lực.

2.2 Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực ở bậc tiểu học

2.2.1 Mục tiêu

Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triểnnhững yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinhthần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân,gia đình, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinhhoạt

2.2.2 Yêu cầu cần đạt về năng lực

Chương trình giáo dục phổ thông hình thành và phát triển cho học sinhnhững năng lực cốt lõi sau:

- Năng lực chung (gồm 10 năng lực): Năng lực tự chủ và tự học, giaotiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo, ngôn ngữ, tính toán, tìm hiểu tự

nhiên và xã hội, Năng lực công nghệ, năng lực tin học, thẩm mĩ, thể chất

- Những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếuthông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ,năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ,năng lực tin học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất

Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáodục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu)của học sinh

2.3.Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực trong dạy học

môn Tiếng Việt ở tiểu học

2.3.1.Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học

- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (đọc,viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn với việc học TiếngViệt nhằm từng bước tạo ra ở học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập ởtiểu học và các bậc học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt độngcủa lứa tuổi

- Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinhcác thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán )

Trang 5

- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và conngười, về văn hoá và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó:

- Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt,

lẽ phải và sự công bằng trong xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thóiquen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt

- Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: có tri thức,biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh,ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này

2.3.2 Yêu cầu cần đạt về năng lực trong dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học

Năng lực trong môn Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và môn Tiếng Việtlớp là năng lực ngôn ngữ Đó chính là khả năng sử dụng tiếng nói và chữ viếttrong giao tiếp, thể hiện ở các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe Đây chính là biểuhiện rõ nhất của năng lực giao tiếp, một năng lực chung hết sức quan trọng dốivới người học, năng lực công cụ Năng lực ngôn ngữ được thể hiện thông quacác tiêu chí sau:

- Đọc trôi chảy và hiểu đúng các văn bản thuộc các kiểu loại khác nhau cóchủ đề, nội dung phù hợp với lứa tuổi; biết phản hồi về các văn bản đã học; cóthói quen tìm tòi, mở rộng phạm vi đọc

- Viết được các văn bản thuộc các kiểu loaị khác nhau có chủ đề, nội dungphù hợp về lứa tuổi, phục vụ yêu cầu học tập và đời sống; bảo đảm các yêu cầu

2.4 Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo định hướng phát triển năng lực

2.4.1 Phương pháp dạy học

Trong dạy học nói chung, đã có rất nhiều định nghĩa, cách hiểu về phương

pháp dạy học Theo các tác giả trong cuốn “ Dạy học phát triển năng lực môn

Tiếng Việt tiểu học” – NXB ĐHSP thì “ Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên khi thực hiện dạy học; quy định mô hình hoạt động của giáo viên nhằm giúp học sinh chiếm lĩnh dối tượng và đạt mục tiêu bài học”.

Xuất phát từ bản chất của chương trình phát triển năng lực, có thể xác địnhmột số phương pháp dạy học đặc thù trong môn Tiếng Việt ở tiểu học như sau:

Trang 6

- Phương pháp dạy đọc đúng và đọc diễn cảm.

- Phương pháp dạy đọc hiểu

- Phương pháp dạy viết đúng

- Phương pháp dạy viết đoạn văn và văn bản

- Phương pháp dạy nói và nghe

Trong mỗi phương pháp dạy học lớn nêu trên có nhiều biện pháp và kĩthuật dạy học Vì vậy để đạt được mục tiêu dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực, người giáo viên cần vận dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạyhọc, hình thức dạy học cho phù hợp với nội dung, mục tiêu bài học, đối tượnghọc sinh, điều kiện cơ sở vật chất…

2.4.2 Yêu cầu cơ bản của phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học theo định hướng phát triển năng lực

a Phát huy tính tích cực của người học

Đề đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực, giáo viên cần chú ý hình thành cho

học sinh cách học, tự học, từ phương pháp tiếp cận, phương pháp đọc hiểu đếncách thức tạo lập văn bản và nghe – nói; thực hành, luyện tập và vận dụng nhiềukiểu loại văn bản khác nhau để các em có thể học tập suốt đời và có khả nănggiải quyết các vấn đề trọng cuộc sống Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức cáchoạt động cho học sinh; hướng dẫn, giám sát và hỗ trợ để các em từng bước hìnhthành và phát triển các phẩm chất và năng lực mà chương trình giáo dục mongđợi

GV cần khơi gợi, vận dụng kinh nghiệm, vốn hiểu biết đã có của ngườihọc về vấn đề đang học; khuyến khích Hstrao đổi, tranh luận, khám phá, sáng

tạo…bên cạnh việc phát huy tính tích cực của người học,GV cần chú ý về tính

chuẩn mực của người thầy cả về tri thức và kĩ năng sư phạm

b Dạy học tích hợp và phân hóa.

Đòi hỏi GV phả thấy được mối liên hệ nội môn (đọc, viết, nghe, nói), theo

đó nội dung dạy đọc có liên quan đến các nội dung dạy viết, nói và nghe vàngược lại Cùng với yêu cầu tích hợp nội môn, trong khi dạy đọc, viết, nói, nghe

GV còn phải biết tận dụng các cơ hội để lồng ghép một cách nhuần nhuyễn, hợp

lí vào giờ học có các yêu cầu giáo dục liên môn (Đạo đức, Lịch sử, Địa lí…) Dạy học phân hóa được thực hiện bằng nhiều cách: Nêu câu hỏi, bài tậptheo nhiều mức độ khác nhau; yêu cầu tất cả HS đều làm việc và lựa chọn vấn

đề phù hợp với mình; khuyến kkhichs sự mạnh dạn, tự tin… của HS

c Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức và phương tiện dạy học.

Trang 7

GV cần tránh máy móc rập khuôn, không tuyệt đối hóa một phương phápdạy học nào mà cần phải biết vận dụng các phương pháp phù hợp với đối tượng,bối cảnh, nội dung, mục đích giờ học Có thể chọn lựa một cách linh hoạt cácphương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuynhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc

“Học sinh tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn củaGV”

Cần mở rộng không gian dạy và học, không chỉ giới hạn trong phạm vilớp học mà còn có thể tổ chức ngoài lớp học.Việc sử dụng phương pháp dạy họcgắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đốitượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cánhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phươngpháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thựchành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã quiđịnh Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nộidung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vận dụng công nghệ thôngtin trong dạy học

3 Thực trạng việc dạy Tiếng Việt 1 theo hướng phát triển năng lực hiện nay:

Trong những năm học qua, dưới sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Phòngtiểu học Sở giáo dục & Đào tạo tỉnh Hải Dương, Phòng GD&ĐT huyện CẩmGiàng luôn chú trọng tới việc nâng cao chất lượng dạy và học, đặc biệt chútrọng tới việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Phòng Giáodục đã tập trung chỉ đạo tổ chức các chuyên đề, trong đó có chuyên đề về dạyhọc theo định hướng phát triển năng lực học sinh, triển khai tới 100% các đơn

vị trường trong toàn huyện và nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảocác thầy cô giáo

Thực tế trong giảng dạy hiện nay, giáo viên đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, dạy học đến từng đối tượng học sinh, tuy nhiên việc hướng học sinh vào các hoạt động thực tế để các em được trải nghiệm, được trao đổi, khám phá còn hạn chế.

Qua hoạt động trò chuyện, điều tra, phân tích kết quả điều tra về thực trạng

việc tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường tiểu học tôithấy còn tồn tại những vấn đề sau:

Trang 8

- Hầu hết các giáo viên đều đã áp dụng dạy học theo định hướng phát triển nănglực trong giảng dạy ở tất cả các môn học trong trường tiểu học, trong đó cácgiáo viên đều khẳng định môn Tiếng Việt là môn học quan trọng ở cấp tiểu học

và cần phải tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở môn học này.Tuy nhiên, trình độ nhận thức của giáo viên về bản chất của vấn đề dạy học theođịnh hướng phát triển năng lực còn nhiều hạn chế Hầu hết giáo viên còn mơ hồvới vấn đề này Họ cảm thấy rất lúng túng khi thực hiện

- Trong quá trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực hiện nay ở trườngtiểu học, giáo viên còn gặp rất nhiều khó khăn như:

+ Giáo viên thiếu kinh nghiệm, phương pháp, tài liệu tham khảo

+ Khó khăn về phía dư luận xã hội và phụ huynh không hiểu và không đồngtình

+ Học sinh lớp 1 còn thiếu kĩ năng, năng lực tham gia các hoạt động

+ Nội dung chương trình học mới mẻ

+ Khó khăn về điều kiện cơ sở vật chất…

Những khó khăn đó khiến cho việc tổ chức dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực ở trường tiểu học chưa đạt được kết quả như mong muốn

4 Giải pháp:

4.1 Xây dựng kế hoạch dạy học linh hoạt, sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực:

4.1.1 Tự xây dựng kế hoạch dạy học linh hoạt , sáng tạo.

- Qua thời gian học sinh lớp 1 tiếp cận chương trình GDPT 2018 Khoảngthời gian ngắn nhưng chia sẻ trên các diễn đàn, nhiều phụ huynh có con học lớp

1 đánh giá chương trình lớp 1 năm nay quá nặng với trẻ, khiến các con phải tiếpnhận khối lượng kiến thức quá lớn và giáo viên cũng vất vả trong việc dạy học.Đánh giá này chưa chính xác, bởi vì:

+ Hiện sách giáo khoa mới lớp 1 đang triển khai chương trình chuẩn đầu

ra Chẳng hạn, đối với môn tiếng Việt, chuẩn đầu ra nêu rõ tốc độ 40-60tiếng/phút Biết ngắt nghỉ hơi chỗ dấu phẩy hoặc kết thúc dấu câu… Để đạtđược chuẩn đầu đó, học sinh sẽ học 420 tiết/năm Như vậy nếu vừa mới tiếp cậnthì học sinh sẽ còn rất nhiều thời gian để hoàn thành chuẩn đầu ra của môn học.Mặc dù, so với chương trình lớp 1 cũ, nội dung chương trình tiếng Việt mới tinhgiản hơn nhưng thời lượng được kéo dài hơn như vậy thực chất là học sinhkhông phải học nặng hơn như nhiều thông tin dư luận

+ Bên cạnh đó, Bộ GDĐT cũng đã ban hành nhiều văn bản khẳng địnhquyền tự chủ chuyên môn của giáo viên như trong Thông tư 32/2018 ban hànhchương trình giáo dục phổ thông, Điều lệ trường Tiểu học, Thông tư

Trang 9

27/2020/TT-BGD ĐT ngày 04/9/2020 về việc ban hành Quy định đánh giá họcsinh tiểu học Vì vậy, giáo viên cần xây dựng kế hoạch dạy học một cách linhhoạt và phù hợp với điều kiện, nhằm đảm bảo đích đến chuẩn đầu ra cho họcsinh.

- Thực hiện theo hướng này, ngay trong quá trình chọn sách, giáo viêncần nghiên cứu, tìm hiểu kĩ chương trình Sau khi có quyết định chọn bộ sáchnào, giáo viên, Ban giám hiệu cùng nghiên cứu cách dạy học, xây dựng yêu cầucần đạt trong từng tuần cho từng môn học Ngay từ khi bắt đầu thực hiệnchương trình, giáo viên cùng với tổ chuyên môn tự xây dựng kế hoạch giáo dụccho môn Tiếng Việt một cách hợp lí Đến khi vào thực giảng, giáo viên căn cứvào phân phối chương trình, cùng tình hình thực tế để điều tiết việc dạy học.Nếu trong tiết học, học sinh chưa đạt yêu cầu đề ra, giáo viên có thể chuyểnsang dạy ở tiết sau hoặc các tiết củng cố

- Sau khi đã có phân phối phù hợp, mỗi giáo viên khi soạn giảng sẽ xâydựng kế hoạch bài học theo định hướng phát triển năng lực phù hợp với thực tếhọc sinh lớp mình theo các bước như sau:

* Bước 1: Tìm hiểu chương trình, sách giáo khoa môn học.

- Ngay khi lựa chọn được bộ sách, giáo viên tìm hiểu chương trình, sáchgiáo khoa môn học để xác định được nhiệm vụ dạy học của mình trong từng tiếtdạy, bài dạy, đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của môn học

Ví dụ: Tại trường tôi, ngay từ những ngày cuối năm học 2019-2020, toàn

tổ đã thực hiện nghiên cứu lựa chọn bộ sách giáo khoa cho phù hợp với trườngmình Sau đó trong tháng 6,7 giáo viên tích cực nghiên cứu mục tiêu và nộidung chương trình từng môn học

* Bước 2: Xác định các năng lực chung và năng lực đặc thù cần phát triển ở học sinh.

- Mỗi môn học đều có thể góp phần hình thành, phát triển năng lực chung

và năng lực đặc thù, tùy vào đặc trưng của môn học Ngoài việc cùng với cácmôn học khác hình thành 3 năng lực chung là : Tự chủ, tự học; Giao tiếp hợptác; Giải quyết vấn đề sáng tạo; môn Tiếng Việt giúp hình thành và phát triểnnăng lực ngôn ngữ, giúp học sinh biết sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong học tập vàđời sống thực tế

- Các năng lực đặc thù được hình thành, phát triển trong quá trình dạyhọc Vì thế khi xây dựng kế hoạch dạy học cần xác định rõ các năng lực này quatừng tiết dạy, bài dạy, từng chương và toàn bộ môn học Có như vậy, giáo viênmới chủ động trong hình thành, phát triển các năng lực chuyên biệt; đồng thờitham gia vào phát triển các năng lực chung cho học sinh

Ví dụ: Trong bài

* Bước 3: Xác định các hoạt động học tập của học sinh

Trang 10

- Năng lực chỉ được hình thành, phát triển trong và bằng hoạt động Đối vớihọc sinh, năng lực được hình thành, phát triển thông qua việc vận dụng kiến thức,

kĩ năng đã học vào các tình huống thực tế với những mức độ khác nhau: từ giảiquyết các nhiệm vụ học tập đến giải quyết các nhiệm vụ của thực tiễn cuộc sống

Vì thế, kế hoạch dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh phải baogồm các hoạt động thực hành, vận dụng kiến thức của từng bài/chương/môn học

* Bước 4: Lựa chọn PPDH và đánh giá HĐ học tập của HS

- Đối với dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh, cần phảilựa chọn các phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của các em

- Đánh giá năng lực cần tập trung chủ yếu vào đánh giá khả năng vậndụng kiến thức, kỹ năng, thái độ của các em Vì thế, ở từng nội dung và đốitượng đánh giá, cần lựa chọn được phương pháp và hình thức đánh giá phùhợp

* Bước 5: Xây dựng bản kế hoạch dạy học

- Giáo viên căn cứ điều kiện thực tế và đối tượng học sinh của lớp GV xâydựng bản kế hoạch dạy học, tổ chức hoạt động dạy học theo định hướng pháttriển năng lực học sinh

Ví dụ: Trong tuần 13: Xây dựng kế hoạch dạy học có sự điều chỉnh ở bài 62: um- up – uôm và bài 64: iêm- iêp-yêm Thay vì dạy trong 2 tiết chuyển sang dạy trong 3 tiết/bài Tiết luyện viết của tuần đó chuyển sang gộp với tiết luyện viết của tuần sau đó Tiết Kể chuyện lồng ghép vào cùng hai tiết ôn tập.

4.1.2 Điều chỉnh ngữ liệu dạy học môn TV (tiếng, từ, câu, đoạn, văn bản); nội dung các câu hỏi/bài tập đọc hiểu, chính tả, )

- Bước sang tuần 6 của năm học 2020-2021, tại các trường dạy Tiếng Việt

theo bộ sách Vì sự bình đẳng và dân chủ trong giáo dục, học sinh đã học hết

phần âm, bắt đầu chuyển sang phần vần Tốc độ này từng bị đánh giá là quánhanh so với khả năng tiếp thu của học sinh, khiến cả giáo viên lẫn phụ huynhđều vất vả khi dạy con

- Thời gian gần đây, cuốn Tiếng Việt của bộ Cánh diều lại nhận nhiều ý

kiến phản hồi vì từ ngữ, câu chuyện trong sách

- Những điều trên cho thấy năm học mới với chương trình mới có khởiđầu bỡ ngỡ Cần thừa nhận thừa nhận khi bắt tay vào điều gì mới cũng có khókhăn Chương trình cũ kéo dài nhiều năm, khá quen thuộc nên giáo viên biết bàihọc tiếp theo sẽ dạy gì Với chương trình này, giáo viên cần nghĩ nhiều hoạtđộng để các con ghi nhớ bài học, không phải đọc chép như trước Ở chươngtrình mới, tiến độ bài nhanh, cô trò không có vài tuần làm quen các nét nhưchương trình cũ

Trang 11

- Tuy nhiên, giáo viên có lợi thế khi chương trình theo hướng mở, giáoviên chủ động hơn trong công việc dạy học Ta có thể tự phân bố thời gian giữacác môn học, các nội dung trong bài học tùy thuộc vào tình hình thực tế.

- Sách giáo khoa chỉ là ngữ liệu, chương trình mới là pháp lệnh Do đó,trong quá trình dạy học, giáo viên có thể thay đổi ngữ liệu phù hợp với học sinh

- Cùng hoạt động đó, giáo viên có thể chủ động sử dụng ngữ liệu từ bộsách khác, không nhất thiết của bộ sách đã chọn

Ví dụ: Trong bài 48: uôn-uôt: Thay từ buôn làng bằng từ khuôn bánh Thay câu hỏi luyện nói “ Thành phố có gì?” bằng câu “ Quê em có gì?”

4 2 Thực hiện dạy học phân hóa theo đối tượng học sinh

- Dạy học phân hóa (DHPH) là cách thức dạy học có tính đến sự khác biệtcủa người học (cá nhân) hoặc nhóm người học Ở tiểu học, DHPH thường đượcthể hiện ở việc lấy chuẩn kiến thức, kĩ năng làm nền cơ bản Ngoài kế hoạch dạyhọc, thông thường phân hóa để có những kế hoạch dạy học phù hợp, giúp HSyếu kém đạt chuẩn, các đối tượng đã đạt chuẩn hoặc khá, giỏi phát triển ở mứccao hơn

- Quy trình thực hiện DHPH ở tiểu học thường diễn ra như sau: Đánh giá,phân loại trình độ, năng lực học tập của HS Xây dựng kế hoạch, nội dung vàlựa chọn hình thức, phương pháp dạy học cho phù hợp với từng nhóm đối tượnghoặc từng đối tượng đặc biệt Tổ chức triển khai thực hiện Kiểm tra, đánh giá

và điều chỉnh, hoàn thiện

- Đặc thù của dạy học phân hóa là dạy sao cho vừa sức với đối tượng: họcsinh ở mức độ khá, giỏi thì dạy sao cho các em hứng thú, đam mê với việc học;Đối với học sinh trung bình thì tạo động lực để các em vươn lên; Với học sinhyếu, kém thì phải bù đắp được chỗ hổng về kiến thức để lĩnh hội được kiến thức

cơ bản Như vậy, dạy học phân hóa xuyên suốt và chi phối mọi phương phápdạy học Chẳng hạn khi giáo viên thực hiện phương pháp đọc sáng tạo ở trên lớpthì phải phân hóa cho được các đối tượng học sinh, để áp dụng từng biện phápđọc – hiểu văn bản ở những mức độ khác nhau

- Trong một tiết học Tiếng Việt, việc dạy học phân hóa cần được thựchiện trong một số hoạt động như:

* Ví dụ: Trong phần luyện đọc bài ứng dụng, với những bạn nhanh có thể cho đọc cả bài, những bạn kém hơn sẽ cho luyện đọc số câu giảm hơn tùy khả năng mỗi bạn.

* Ví dụ: Với tiết luyện viết trong vở Tập viết , mỗi từ có thể được viết tối

đa hai dòng Nhưng trong cùng một thời gian có những học sinh viết hết, có bạn

sẽ chỉ viết được 1 dòng

* Ví dụ: Với tiết Kể chuyện thì khi tìm hiểu và kể theo tranh thì tùy theo đối tượng học sinh; Chẳng hạn trong cùng một thời gian HS có thể tìm hiểu và

Trang 12

kể theo 1-2 bức tranh nhưng cũng có HS tìm hiểu và kể lại toàn bộ theo tranh toàn câu chuyện…

4 3 Tăng cường hoạt động trải nghiệm

- Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục làchuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáodục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sángtạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH nói chung

và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sángtạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học.Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ýcác hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học

- Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chươngtrình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là

từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụngđược cái gì qua việc học

- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chứcdạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và bài học cụ thể mà có nhữnghình thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ởngoài lớp Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu

đã qui định Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiếtvới nội dung học và phù hợp với đối tượng học sinh Tích cực vậndụng CNTT trong dạy học

* Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

- Một là: dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp

học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu nhữngtri thức được sắp đặt sẵn Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiếnhành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiếnthức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn

- Hai là: chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa

và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận đểtìm tòi và phát hiện kiến thức mới Định hướng cho học sinh cách tư duy nhưphân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… đểdần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo

- Ba là: tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học

trở thành môi trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết

và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ họctập chung

Ngày đăng: 14/01/2022, 08:57

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Ai nhận ra bức hình này chụp ở đâu? - Trong giờ học nào?  - SÁNG KIẾN  dạy học phát triển năng lực thông qua hoạt động trải nghiệm và tích hợp trong môn tiếng việt 1
i nhận ra bức hình này chụp ở đâu? - Trong giờ học nào? (Trang 19)
Gv ra ký hiệu gõ bảng cho hs mang vở tập viết - SÁNG KIẾN  dạy học phát triển năng lực thông qua hoạt động trải nghiệm và tích hợp trong môn tiếng việt 1
v ra ký hiệu gõ bảng cho hs mang vở tập viết (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w