Bước 3: Xác định độ lớn tương đối của các chỉ tiêu với mỗi phương án R Các chỉ tiêu lượng hóa được: IRR, dân số, công ăn việc làm thuộc nhóm I, độ lớn các chỉ tiêu được xác định theo côn
Trang 1ỨNG DỤNG PH ƠNG PHÁP PHÅN TÍCH THỨ BẬC AHP TRONG LỰA
CHỌN DỰ ÁN ĐÆU T XÅY DỰNG CÔNG TRÌNH
Lê Hải Quân 1
1 Phân hiệu Trường Đại học Giao thông Vận tải tại TP.HCM.
Tóm tắt
Phương pháp phân tích thức bậc AHP (Analytic Hierarchy Process) là một phương pháp phân tích định lượng, được sử dụng để so sánh, lựa chọn phương án Bài báo giới thiệu nội dung phương pháp phân tích thứ bậc AHP và áp dụng trong lựa chọn dự án đầu tư xây dựng công trình Nội dung của bài báo nhằm giải quyết các mục tiêu:
(1) Nội dung phương pháp AHP và Ứng dụng của AHP trong lựa chọn dự án đầu tư hướng đến sự phát triển bền vững; (2) Yếu tố giúp cho việc áp dụng AHP thành công và
(3) Định hướng nghiên cứu trong tương lai Nghiên cứu này sẽ cung cấp cho độc giả một cái nhìn sâu rộng hơn về việc áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP trong lựa chọn dự án xây dựng ở Việt Nam.
1. Đặt vấn đề
Trong quá trình lập dự án đầu tư, chúng ta đưa ra nhiều phương án đầu tư khác nhau
và thường xuyên phải so sánh để tìm ra phương án đầu tư tốt hơn Để so sánh, chúng ta cóthể đánh giá dựa trên một trong các tiêu chí như thời gian, chi phí hoặc hiệu quả của phương
án để ra quyết định lựa chọn phương án nào
Tuy nhiên, trong thực tế khi lựa chọn dự án đầu tư chúng ta phải xem xét và đánh giá trênnhiều tiêu chí khác nhau để hướng đến sự phát triển bền vững, trong đó có một số tiêu chí lạikhông định lượng được như: thẩm mỹ, cảnh quan công trình… gây khó khăn cho việc lựa chọn
dự án đầu tư Khi đó phương pháp phân tích thứ bậc AHP có thể là phương pháp phù hợp để thaythế phương pháp lựa chọn truyền thống Bài báo trình bày nội dung phương pháp phân tích thứbậc AHP và cách ứng dụng nó để lựa chọn dự án đầu tư thông qua một ví dụ cụ thể
2 Nội dung
2.1 Phương pháp phân tích thứ bậc AHP
AHP là một phương pháp ra quyết định đa mục tiêu được đề xuất bởi Thomas L.Saaty
từ những năm 1980 Đây là phương pháp định lượng, dùng để sắp xếp các phương án quyếtđịnh và lựa chọn một phương án thỏa mãn các tiêu chí cho trước Dựa trên nguyên tắc sosánh cặp, phương pháp HP có thể đươc mô tả với ba nguyên tắc chính là: phân tích, đánh giá,tổng hợp Phương pháp HP trả lời các câu hỏi như “chúng ta nên chọn phương án nào?” hay
“phương án nào tốt nhất?” bằng cách chọn một phương án tốt nhất thỏa mãn các tiêu chí của
Trang 2người ra quyết định dựa trên cơ sở so sánh các cặp phương án và một cơ chế tính toán cụ thể.Quá trình này bao gồm các bước sau:
Bước 1: Thiết lập cây cấu trúc phân tích AHP;
Bước 2: Xác định véc tơ tầm quan trọng tương đối các chỉ tiêu (W);
Bước 3: Xác định độ lớn tương đối của các chỉ tiêu với mỗi phương án R);
Bước 4: Xác định giá trị hữu ích tương đối của mỗi phương án;
Bước 5: Xác định phương án tốt nhất
Bước 1: Thiết lập cây cấu trúc phân tích AHP
Việc thiết lập cây cấu phân tích nhằm xác định các chỉ tiêu đặc trưng cho các phương
án lựa chọn Không có một cây cấu trúc nào là khuôn mẫu cho các công trình, mà nhữngngười ra quyết định phải thiết lập cây cấu trúc phân tích cho từng công trình cụ thể
Cây cấu trúc phân tích được xây dựng dựa trên mục tiêu, các tiêu chí và phương án lựachọn
Mục tiêu
Tiêu chí 1 Tiêu chí 2 Tiêu chí 3 Tiêu chí 4
Phương án 1 Phương án 2 Phương án 3
Hình 1 Cây cấu trúc phân tích AHP
Trước tiên, những người ra quyết định phải được cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết
và các tài liệu liên quan cùng các chỉ dẫn rõ ràng về phương pháp đánh giá và nhiệm vụ thamgia vào quá trình ra quyết định
Cây phân tích được xây dựng bằng các phương pháp ra quyết định nhóm như: phươngpháp bầu cử, phương pháp bỏ phiếu, phương pháp thảo luận trực tiếp, phương pháp NominalGroup, phương pháp Delphi
Bước 2: Xác định véc tơ tầm quan trọng tương đối của các chỉ tiêu (W)
Để xác định véc tơ tầm quan trọng tương đối của các chỉ tiêu, chúng ta tiến hành sosánh cặp các tiêu chí với nhau
Gọi aịj là tầm quan trọng tương đối của chỉ tiêu i so với chỉ tiêu j tham chiếu, aịj sẽ nhậngiá trị bằng:
• 1 nếu hai chỉ tiêu được cho là quan trọng như nhau,
Trang 3•3 nếu chỉ tiêu i được cho là khá quan trọng hơn chỉ tiêu j,
• 5 nếu chỉ tiêu i được cho là rất quan trọng hơn chỉ tiêu j,
• 7 nếu chỉ tiêu i được cho là cực kỳ quan trọng hơn chỉ tiêu j,
• 9 nếu chỉ tiêu i được cho là tuyệt đối quan trọng hơn chỉ tiêu j
•Các trị số trung gian 2, 4, 6, 8 mang ý nghĩa trung gian giữa hai giá trị tương ứng.Các giá trị aij được xác định bằng các phương pháp ra quyết định nhóm Nên sử dụngphương pháp Delphi cho các công trình cực lớn hoặc đặc biệt quan trọng, phương phápNominal Group cho các công trình lớn và phương pháp tranh luận trực tiếp cho các côngtrình vừa và nhỏ
Khi so sánh cặp đôi các chỉ tiêu, người ta chỉ quan tâm so sánh hai chỉ tiêu đó thamchiếu tới chỉ tiêu mẹ của chúng mà không cần quan tâm tới các chỉ tiêu khác Vì có s chỉ tiêu,
W*T = {W*1 W*2 , W*n) } (2)
Vì khi so sánh cặp đôi các chỉ tiêu người ta chỉ quan tâm so sánh hai chỉ tiêu đó mà không cần quan tâm tới các chỉ tiêu khác nên cần thiết phải kiểm tra tính nhất quán consistency) của các ước lượng trong ma trận s Theo lý thuyết ma trận, tính nhất quán này được đảm bảo khi λmax ≅ s, trong
đó λmax và s lần lượt là giá trị riêng lớn nhất và cấp của ma
Bảng 1 Các giá trị RI cho các ma trận có cỡ khác nhau
RI 0.00 0.00 0.58 0.90 1.12 1.24 1.32 1.41 1.45 1.49
Kinh nghiệm cho thấy, CR nên nhỏ hơn 0.05 với ma trận cỡ 3 × 3, nên nhỏ hơn 0.09 với
ma trận cỡ 4 × 4 và nên nhỏ hơn 0.1 với các ma trận cỡ lớn hơn
Trang 4Thực hiện thủ tục tính toán như đã trình bày ta sẽ xác định được tầm quan trọng tươngđối tham chiếu tới mục tiêu chung của tất cả các chỉ tiêu {q1 ,q2 , ,q j , ,qm} ứng với cácphần tử ở mức cuối cùng của mỗi nhánh của cây phân tích:
W = {W1, W2, ,Wj, Wm} (4)
Bước 3: Xác định độ lớn tương đối của các chỉ tiêu với mỗi phương án (R)
Tổng quát, có thể chia các chỉ tiêu đánh giá thành ba nhóm tùy theo mối quan hệ giữa
độ lớn của chúng với giá trị hữu ích của công trình
– Nhóm thứ nhất là các chỉ tiêu mà độ lớn của chúng tỷ lệ thuận với giá trị hữu ích của công trình, thí dụ như các lợi ích kinh tế và xã hội, độ bền, độ tin cậy của công trình,
– Nhóm thứ hai là các chỉ tiêu mà độ lớn của chúng tỷ lệ nghịch với giá trị hữu ích của công trình, thí dụ như thời hạn xây dựng, các tác động tiêu cực tới môi trường,
– Nhóm thứ ba là các chỉ tiêu mà độ lớn của chúng không quan hệ tuyến tính với giá trị hữu ích của công trình: nhiệt độ, độ ẩm,…
Xác định độ lớn tương đối của các chỉ tiêu lượng hóa được
Đối với các chỉ tiêu lượng hóa được thuộc nhóm I, có thể dễ dàng xác định độ lớn tươngđối của chúng cho từng phương án bằng cách chuẩn hóa (normalize) độ lớn tuyệt đối của chúng.Gọi số lượng các chỉ tiêu lượng hóa được thuộc nhóm I là b, có thể dễ dàng xác địnhđược các véc tơ thể hiện độ lớn tương đối của các chỉ tiêu theo mỗi phương án như sau:
rj = {r1j,r2j, ,rij, ,rnj , j=1-b
Đối với các chỉ tiêu lượng hóa được thuộc nhóm II, độ lớn tương đối của chúng đượcxác định bằng cách chuẩn hóa trị số nghịch đảo độ lớn tuyệt đối của chúng Gọi số lượng cácchỉ tiêu lượng hóa được thuộc nhóm II là c, các véctơ thể hiện độ lớn tương đối của các chỉtiêu thuộc nhóm này của mỗi phương án được xác định bằng công thức:
rj = {r1j,r2j, ,rij, ,rnj } , j=1-c
Xác định độ lớn tương đối của các chỉ tiêu không lượng hóa được
Đối với các chỉ tiêu không lượng hóa được, độ lớn tương đối của chúng sẽ được xácđịnh thông qua quá trình so sánh cặp cho tất cả các phương án theo từng chỉ tiêu Quá trình sosánh cặp này tương tự quá trình so sánh cặp cho các chỉ tiêu nhằm xác định tầm quan trọngcủa các chỉ tiêu Gọi số lượng các chỉ tiêu không lượng hóa được là f, ta sẽ có f ma trận sosánh cặp Rj, j=1-f:
Trang 5Rj là ma trận so sánh cặp các phương án theo các chỉ tiêu không lượng hoá được qj, j
=1-f Phần tử r hkj là độ lớn tương đối của chỉ tiêu q j ứng với phương án h so với chính nó
ứng với phương án A k Việc so sánh cặp được thực hiện bởi nhóm những người ra quyết
định và trị số r hk j được xác định bằng các phương pháp ra quyết định nhóm.
Cuối cùng, ta có thể xác định được các véctơ riêng ứng với các giá trị riêng lớn nhất củacác ma trận Rj, j=1-f Đó chính là các vectơ riêng rj thể hiện độ lớn tương đối của các chỉ tiêukhông lượng hóa được rjT = {r1j , r2 j , rnj }, j=1-f Tính nhất quán của các ước lượng trong các
ma trận Rj cũng phải được kiểm tra theo công thức đã trình bày ở trên Tập hợp tất cả các vectơ rj
đã xác định được, ta có ma trận độ lớn của tất cả các chỉ tiêu theo mỗi phương án như sau:
r11 r12 … r1m
r21 r22 … r2mR=……… …
rn1 rn2 … rnm (8)
Bước 4: Xác định giá trị hữu ích tương đối của mỗi phương án
Giá trị hữu ích tương đối của công trình theo mỗi phương án được xác định bằng cáchnhân ma trận độ lớn tương đối của các chỉ tiêu theo mỗi phương án, R, với véctơ chuyển vịcủa véctơ tầm quan trọng tương đối của các chỉ tiêu, WT
Gọi véctơ giá trị hữu ích của công trình theo mỗi phương án là UQ , ta có:
U Q=R.WT={U1 Q ,U2Q , ,U i Q , ,U n Q }
* Nếu cả giá trị hữu ích tương đối của công trình theo mỗi phương án và giá trị hữu íchtương đối của chi phí theo mỗi phương án là khác nhau thì trong trường hợp này:
– Nếu chỉ có hai phương án, ta xác định [Gia số giá trị hữu ích của công trình]/[Gia số giá trị hữu ích của chi phí] theo công thức:
Trang 6– Nếu tỷ số ∆U Q / ∆U C ≥ 1, phương án tốt hơn là phương án có chi phí lớn hơn và ngược lại, nếu ∆UQ / ∆UC < 1 , phương án có chi phí nhỏ hơn là phương án tốt hơn.
– Nếu có nhiều hơn hai phương án, ta so sánh hai phương án theo nguyên tắc trên,chọn phương án tốt hơn để so sánh với phương án thứ ba, chọn phương án tốt hơn giữa haiphương án này và tiếp tục so sánh với phương án thứ tư v.v Cuối cùng, phương án tốt nhất
sẽ được xác định sau chuỗi so sánh liên tiếp này
2.2 Ví dụ về việc ứng dụng phương pháp phân tích thức bậc AHP trong lựa chọn dự
– Phương án 2: Đào hồ ở giữa, ít biệt thự, diện tích cây xanh là 6 (ha), thời gian xâydựng là 27 (tháng), chi phí là 1200 (tỷ), quy mô dân số: 5000 người, dự án tạo công ăn việclàm cho: 2300 người, suất thu lợi nội tại của phương án IRR = 0,09
– Phương án 3: Không có hồ, rất ít biệt thự, nhiều chung cư, diện tích cây xanh là 3(ha), thời gian xây dựng là 30 (tháng), Chi phí là 1500 (tỷ), quy mô dân số: 6000 người, dự ántạo công ăn việc làm cho: 2500 người, suất thu lợi nội tại của phương án IRR = 0,08
Ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc để lựa chọn phương án đầu tư tốt
nhất Bước 1: Thiết lập cây cấu trúc phân tích AHP
Trên cơ sở phân tích các điều kiện và thực trạng cụ thể của dự án, và tham khảo ý kiếnmột số chuyên gia, đã đưa ra các tiêu chí để so sánh, lựa chọn các phương án
Có rất nhiều tiêu chí được đề xuất , tùy vào điều kiện thực tế của dự án Tác giả đưa ra
5 tiêu chí cơ bản để so sánh, lựa chọn phương án, từ đó có được cây cấu trúc phân tích AHP
Chọn phương án đầu tư
IRR Cảnh quan Dân số Việc làm Thời gian xâydựng
Phương án 1 Phương án 2 Phương án 3
Hình 2 Cây cấu trúc phân tích AHP
Trang 7Bước 2: Xác định véc tơ tầm quan trọng tương đối của các chỉ tiêu (W)
Sau khi tổ chức nhóm đánh giá, phương pháp ra quyết định là thảo luận trực tiếp vàtham khảo ý kiến chuyên gia, tiến hành so sánh cặp giữa các chỉ tiêu và đánh giá theo thangđiểm của Satty, ta được ma trận sau
IRR Cảnh quan Dân số Việc làm Thời gian xây dựng
Thời gian xây dựng 1/2 2 1/2 1/2 1
Sau khi giải ma trận trên, giá trị riêng lớn nhất max = 5,366, tương ứng với đó là véc
W = 0,314 0,149 0,240 0,149 0,149
Bước 3: Xác định độ lớn tương đối của các chỉ tiêu với mỗi phương án (R)
Các chỉ tiêu lượng hóa được: IRR, dân số, công ăn việc làm thuộc nhóm I, độ lớn các
chỉ tiêu được xác định theo công thức: rij = qij / ∑qij (13)
Các chỉ tiêu thời gian xây dựng thuộc nhóm II, độ lớn chỉ tiêu được xác định theo công
Trang 8W = 0,539 0,297 0,164 Đây chính là véc tơ độ lớn tương đối của chỉ tiêu cảnh quan của ba phương án.
Ta có ma trận độ lớn tương đối R của các chỉ tiêu :
IRR Cảnh quan Dân số Việc làm Thời gian xây dựng
Bước 4: Xác định giá trị hữu ích tương đối của mỗi phương án
Ta có giá trị hữu ích của công trình theo mỗi phương án UQ là:
2.3 Các yếu tố để áp dụng AHP thành công
Qua phân tích cho thấy một vài yếu tố giúp cho việc áp dụng HP thành công là:
– Ra quyết định nhóm khách quan hơn nhận định của cá nhân Nhiều người với nhiềuquan điểm và thông tin khác nhau sẽ làm cho vấn đề được phân tích toàn diện hơn Tuynhiên, số lượng các thành viên ra quyết định quá lớn sẽ làm cho quá trình giá quyết định khókhăn hơn Do đó, cần đưa ra số lượng, phẩm chất, cơ cấu nghề nghiệp của thành viên thamgia vào quá trình ra quyết định hợp lý
– Quá trình phân tích theo HP có thể mất rất nhiều thời gian vì phải tiến hành theonguyên tắc so sánh cặp và kiểm tra hệ số nhất quán Khi hệ số nhất quán vượt quá giới hạn,người ra quyết định cần phải xem xét và điều chỉnh lại bảng đánh giá Để khắc phục, chúng ta
có thể sử dụng một số phần mềm ra quyết định để điều chỉnh nhanh hơn như: Expert Choice,Super Decision…
– Tính phức tạp của quá trình đánh giá sẽ gia tăng khi tăng số lượng các tiêu chí hayphương án lựa chọn Vì vậy khi xác định cây cấu trúc phân tích, các tiêu chí nên được trìnhbày trong nhóm các chuyên gia để loại bỏ các yếu tố kém quan trọng trước khi áp dụng HP
Trang 92.4 Định hướng nghiên cứu
Qua quá trình tìm hiểu, tác giả nhận thấy tiềm năng cho việc áp dụng AHP trong việc lựachọn dự án đầu tư xây dựng nói riêng và công tác quản lý xây dựng nói chung để đáp ứng pháttriển bền vững là rất lớn Trong quá trình quản lý xây dựng cần đưa ra các tiêu chí đánh giá chophù hợp với từng giai đoạn phát triển của dự án Cần nghiên cứu và sử dụng những phần mềm raquyết định như: Expert Choice, Super Decision… để giải quyết các bài toán cụ thể với nhiều tiêuchí đánh giá và phương án lựa chọn hơn và đưa ra các hướng giải quyết cho các tình huống cụthể trong quá trình quản lý dự án Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để công tác quản lý dự án đạtđược hiệu quả hơn Cần tìm hiểu thêm về phương pháp phân tích mạng
NP nalytic Network Process) để đo lường hiệu quả hoạt động và đánh giá dự án đầu tư khicần xem xét tác động qua lại giữa các tiêu chí
3 Kết luận
Bài viết đã giới thiệu nội dung và ứng dụng của phương pháp phân tích thức bậc AHPđược áp dụng trong công tác lựa chọn dự án đầu tư thông qua một ví dụ cụ thể Bên cạnh đóbài viết đã đề xuất được định hướng nghiên cứu trong tương lai và chỉ ra các yếu tố để ápdụng AHP thành công
Hiện nay quá trình lựa chọn dự án đầu tư chủ yếu dựa trên một hoặc một số yếu tố chính đểđưa ra quyết định, mà không có sự đánh giá tác động giữa các yếu tố đó, dẫn đến dễ đánh giá chủquan, chưa chính xác Khi áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc AHP vào trong quá trình raquyết định, sẽ khắc phục được tình trạng trên, mang lại hiệu quả cao hơn cho dự án Việc lựachọn các tiêu chí để đánh giá và đánh giá trọng số của các tiêu chí được thực hiện theo nhiềuphương pháp khác nhau như: thảo luận trực tiếp, Nominal Group, Delphi và tham khảo ý kiếnchuyên gia Sau đó kiểm tra tính nhất quán qua tỷ số nhất quán CR, làm giảm yếu tố chủ quan của
cá nhân trong quá trình đánh giá Phương pháp phân tích thứ bậc AHP, dựa vào mô hình thuậttoán để lựa chọn phương án tốt hơn, nên có ưu điểm hơn nhiều so với việc ra quyết định chỉ dựavào một hoặc một vài yếu tố như phương pháp lựa chọn dự án truyền thống
TÀI LIỆU THAM KHÂO
1. Bùi Trọng Cầu (2017), Đề tài Khoa học và Công nghệ cấp Bộ: “Nghiên cứu đánh giá đa chỉ tiêu
các giải pháp thiết kế và thi công công trình cầu bê tông đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”,
Trường Đại học Giao thông Vận tải.
2 Cấn Thu Văn, Nguyễn Thanh Sơn 2015), Xây dựng phương pháp tính trọng số để xác định chỉ số
dễ bị tổn thương lũ lụt lưu vực Sông Vu Gia - Thu Bồn, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ, Tập 31, Số 1S, trang 93-102.
3 Trần Thị Mỹ Dung (2012), Tổng quan về ứng dụng phương pháp phân tích thứ bậc trong quản lý
chuỗi cung ứng, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, số 21a, trang 180-189.
Trang 10XU THẾ PHÁT TRIỂN VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRONG T ƠNG LAINguyễn Xuân Mãn 1 , Nguyễn Duyên Phong 1 , Phạm Mạnh Hào 2 , Đào Văn Tuyết 3
1 Trường Đại học Mỏ - Địa chất, 2 Trung tâm Phát triển Công nghệ Cao,
3 Trường Đại học Bình Dương.
Xu thế phát triển vật liệu xây dựng VLXD) trong tương lai là sản xuất các loại VLXDthông minh, tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường (vật liệu xanh) Ngành sảnxuất VLXD sẽ góp phần quan trọng vào quá trình xây dựng XD) đô thị thông minh, giá trị sảnxuất của ngành cũng sẽ tăng trưởng dựa trên nền tảng của khoa học: Công nghệ với nhữngtính năng mới của VLXD, sản xuất và xây dựng theo công nghệ in 3D; Dùng robot trong cáccông đoạn sản xuất, chế tạo, tiết kiệm được thời gian, nhân lực và nguyên liệu Các loạiVLXD này phải có tính năng kỹ thuật và công nghệ cao đáp ứng các yêu cầu xây dựng côngtrình Hiện nay, ngành VLXD đã sản xuất được một số sản phẩm mới và sản phẩm thôngminh, như: bê tông tính năng siêu cao BTTNSC), xi măng tự chữa, bê tông nhẹ, tấm xốp cáchnhiệt; tấm lợp sinh thái; gạch bê làm sạch không khí, kính siêu bền; gỗ ốp tường xanh; gạch
ốp lát tái chế; Đây là những sản phẩm đáp ứng yêu cầu xây dựng, tiết kiệm năng lượng vàthân thiện với môi trường
2. Một số vật liệu mới thông minh đã được chế tạo
2.1 Một số vật liệu mới dạng sợi và gạch xây dựng
Khi xuất hiện những vật liệu mới sẽ làm thay đổi cả về quan điểm thiết kế, phương pháp thicông và quy trình khai thác sử dụng (Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học (2018) Một số vậtliệu mới dùng trong xây dựng tương lai, truy cập tại http://nctk.edu.vn/mot-so-vat-lieu-
Trang 11moi-va-dinh-dang-vat-lieu-moi-cho-nganh-xay-dung) Dưới đây giới thiệu một số VLXD mới đã được sản xuất và dùng trong xây dựng hiện nay trên thế giới (Hình 1).
a Mạng lưới tinh thể carbon của graphene d Cấu trúc sợi của VLSH
b.Cấu tạo sợi Cacbom e Gốm xây dựng làm mát thụ động
c Cấu trúc lặp các tế bào dạng hình học f Vật liệu kính siêu bền
Hình 1 Một số vật liệu xây dựng mới
– Các loại gạch xây dựng mới, bao gồm (Hình 2).
a Gạch bê tông khí chưng áp b Gạch bloc bê tông cốt liệu thực vật
c Gạch bloc bê tông bọt khoáng d Gạch làm sạch không khí
e Gạch đất nung nhồi bông khoáng f Gạch bloc hấp thụ sóng tần số cao
Hình 2 Một số loại gạch xây dựng mới
Trang 12– Graphene H.1a) đã được sử dụng trong xây dựng Về lý thuyết, đó là một loại vật liệu
xây dựng xuất sắc, vì nó vô cùng nhẹ trong khi cứng hơn cả thép và sợi cacbon
– Sợi carbon (H.1b) là loại vật liệu composite (vật liệu tổng hợp từ hai hay nhiều vật
liệu khác nhau) với trọng lượng nhẹ chưa từng có mà độ cứng khó có thể thay thế nó
– Isomax (H1c) là loại vật liệu tuyệt vời cho cách âm và cách nhiệt, siêu cứng mà nhẹ,
ra đời năm 2015, vật liệu này được tạo thành bằng cách lặp đi lặp lại các tế bào có dạng hìnhhọc; nó thực sự là loại vật liệu tổng hợp cứng nhất từng được thiết kế
– Vật liệu sinh học (H.1d) được làm từ Cellulose Nanofibers, có độ chắc chắn nhiều lần
hơn thép, mà tự phân hủy được trong thiên nhiên
– Gốm xây dựng (H.1e) làm mát thụ động Passive Cooling Ceramics) Nước thu thập
trong các giọt Hydrogel được nhúng trong hỗn hợp đất sét Khi tòa nhà nóng lên, nhiệt đượctruyền vào nước và sau đó mất đi do bốc hơi
– Vật liệu kính H.1f) siêu bền, được làm từ gỗ, công bố năm 2016.
2.2 Một số loại bê tông mới
2.2.1 Bê tông tự khắc phục khi có vết nứt
Loại bê tông này được chế tạo theo các cách khác nhau:
Một là, trong thành phần bê tông có bào tử nấm Trichoderma reesei có bổ sung thêm
các dưỡng chất) Sau pha trộn, bê tông đông cứng, các bào tử nấm sẽ “ngủ đông” do khôngcòn không khí và nước để chúng sinh sôi hoạt động Khi có một vết nứt trên bề mặt bê tônglàm không khí và hơi nước lọt vào, các bào tử nấm sẽ thức dậy, nẩy mầm, phát triển và sảnxuất ra Carbonat Canci Calcium Carbonate CaCO3) để “vá” vết nứt Khi vết nứt đã liền lại,nấm sẽ lại trở về trạng thái bào tử và tiếp tục ngủ đông cho đến khi có vết nứt khác xuất hiện
Hai là, cho vào thành phần của bê tông các loại vật liệu giống như cát, có độ xốp cao
khác nhau được gọi là chất bảo dưỡng nội bộ có thể dùng để trộn vào bê tông Khi bê tôngnứt, các chất rắn này cùng với nước sẽ tạo ra các phản ứng hóa học làm kín vết nứt, chữa lànhvết thương cho bê tông Quá trình tự chữa lành vết nứt sẽ ngăn nước thấm vào bê tông
Hình 3 Mẫu bê tông tự lành sau 28
ngày 2.2.2 Bê tông nhẹ, bê tông xốp
Có nhiều loại bê tông nhẹ được sản xuất bằng các phương pháp khác nhau như khíchưng áp, tạo bọt và các nguyên liệu khác Bê tông nhẹ Polysterene là vật liệu thông minhđược sản xuất từ xi măng Portland, cát, cốt liệu nhẹ Polystyrene Expanded Polystyrene Beadsviết tắt là EPS), nước và phụ gia đặc biệt trên dây chuyền công nghệ Pháp
Trang 132.2.3 Bê tông áp điện
Loại bê tông này “nhạy cảm” với áp lực và gây phản ứng tạo ra điện thế được sử dụngtrong rất nhiều các cơ cấu thông minh Có hiệu ứng áp điện thuận và áp điện nghịch
Hình 4 Mô hình bê tông áp điện thuận và mô hình điện áp
nghịch 2.2.4 Bê tông tự l n (tự đầm)
Loại bê tông này có độ sụt và độ xòe lớn nhờ sử dụng phụ gia siêu dẻo PGSD) Khi thicông kết cấu bằng loại bê tông này không cần đầm; vữa bê tông tự lấp đầy trong ván khuôn,
kể cả khi có mật độ cốt thép dày, không gian đổ nhỏ, hẹp
3 Bê tông tính năng siêu c o
3.1 Khái quát
Bê tông tính năng siêu cao BTTNSC) tiếng Anh: Ultra-High Performance Concrete, gọitắt là UHPC) là bê tông có những tính năng chịu lực rất lớn, có thể chịu bom đạn, có tínhchống thấm nước và chống thẩm thấu Cl- rất cao, do đó có thể sử dụng hiệu quả cho các côngtrình có tuổi thọ lớn, xây dựng trong môi trường xâm thực mạnh (công trình biển, công trìnhngầm trong địa tầng chứa nước a-xít,…) BTTNSC có các đặc tính sau (AFGC-SETRA,2002): cường độ chịu kéo Rk: ở tuổi 3 ngày: Rk ≥ 6 MPa; 7 ngày: Rk ≥ 10 MPa; 28 ngày: Rk
≥12 MPa; cường độ chịu nén Rn: ở tuổi 3 ngày: Rn ≥ 50 MPa; 7 ngày: R n ≥ 80 MPa; 28ngày: Rn ≥120 MPa; có khả năng chống thấm cao; độ chảy từ 500-700mm và độ linh động độsụt SN) từ 160-180mm; do đó hỗn hợp bê tông này có thể tự chảy dưới tác dụng của trọnglượng bản thân và lấp đầy hoàn toàn ván khuôn khi có mật độ cốt thép dày đặc mà không cầnđầm rung (còn gọi là bê tông tự đầm, bê tông tự lèn hay bê tông chảy); Hỗn hợp bê tông giữnguyên tính đồng nhất trong suốt quá trình vận chuyển và thi công, không bị phân tách cácthành phần riêng và không phân lớp khi thi công
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu sử dụng làm các thành phần của bê tông chất lượng siêu cao, tự đầm
Theo (Phùng, V.L và nnk, 2007) thì vật liệu để chế tạo chất lượng siêu cao, tự đầm baogồm cát thạch anh d =100†600µm), xi măng, silica fume, nước và phụ gia siêu dẻo PGSD)
Do lượng xi măng khoảng 900-1000 kg/m3 nên nhược điểm lớn nhất của loại bê tông này làgiá thành sản phẩm cao và ảnh hưởng đến tính chất kỹ thuật, ảnh hưởng về môi trường dolượng khí cacbonic thải ra trong quá trình sản xuất xi măng Richard và Cheyrezy, 1994).BTTNSC yêu cầu tỷ lệ nước/xi măng (N/X) rất thấp Để bê tông có cường độ cao mà vẫnđảm bảo độ chảy lớn thì việc sử dụng PGSD là yếu tố bắt buộc Hiện nay người ta dùng 5loại thuộc 3 thế hệ PGSD để chế tạo chất lượng siêu cao, tự đầm như sau:
– Phụ gia A1 - Ligno Sulphonates (LS) từ các chất cao phân tử tự nhiên lignin (từ gỗ và senlulo), độ giảm nước tối đa 10%, làm chậm ninh kết, lượng dùng 2,5% xi măng;
Trang 14– Phụ gia B1 - Polime gốc sulphonated melamine (MFS) có thể giảm nước tối đa đến25%; lượng dùng 1,5-2,5% xi măng; cho phép đạt cường độ sớm (R3ng = 0,85R28ng);
– Phụ gia B2 - Naphthalene Sulphonate Polycondesate (NSP), có nguồn gốc từ than đá, giảm nước tối đa 25%; lượng dùng 1,5-2,5% xi măng;
– Phụ gia B3 - Vinglcopolymers (VC), có dầu thô Sunfonated Vinylcopolymers, giảm nước tối đa đến 30%; lượng dùng 1,5-2% xi măng; độ sụt đến 22cm
– Phụ gia C-Polycarboxylates (PC), gốc Polyme cao phân tử tổng hợp, tạo ra độ sụt của
bê tông từ 15-22cm, thời gian đông cứng từ 1-4 giờ; có thể tăng cường độ; giảm lượng nước
từ 30-40% Loại phụ gia đặc biệt này có thể thay đổi cấu tạo phân tử để phù hợp với các yêucầu đặc biệt Với bê tông cường độ cao và siêu cao thường dùng chất PGSD loại PC, với bêtông tự đầm có thể dùng loại cải tiến là: Polyme Viscocrete (PV)
Tác dụng tăng dẻo của loại phụ gia này nhờ hai loại lực đẩy khác nhau giữa các hạt ximăng giúp chúng bị phân tán, cụ thể: lực đẩy tĩnh điện xuất hiện do sự hấp phụ lên bề mặt cáchạt xi măng các ion âm được cung cấp bởi các nhóm carboxylic; hiệu ứng phân tán nhờ cấutrúc mạch nhánh của các phân tử polyme trong phụ gia, bao gồm mạch chính và mạch nhánhhình răng lược
Bài viết này sử dụng các vật liệu thành phần để nghiên cứu BTCLSC - TĐ như sau:– Xi măng Pooclăng PC40 với đường kính hạt trung bình khoảng 14μm; có các tính m; có các tính chất cơ lý trình bày ở bảng 1
– Nước sinh hoạt không dầu mỡ; các thành phần hữu cơ trong nước hợp quy chuẩn.– Cốt liệu là cát thạch anh có đường kính cỡ hạt trung bình khoảng 300μm; có các tính m; độ rỗng khi chưa lèn chặt 45.1%; khô
– Sợi thép các bon của CHLB Đức: mác 2500; đường kính sợi d = 0,16mm; chiều dài sợi l =15mm
– Sử dụng PGSD thế hệ 3 có gốc polycarboxylate PC) của hãng B SF Đây là PGSD vớihàm lượng chất khô 30%; có khả năng duy trì độ chảy của hỗn hợp bê tông tốt hơn so với cácloại phụ gia siêu dẻo khác, thuận lợi cho việc chế tạo bê tông có tỷ lệ N/X thấp nhưng có độchảy cao Một số đặc tính của phụ gia siêu dẻo này như sau: sản phẩm dạng lỏng; màu nâunhạt; khối lượng riêng: 1.07g/cm3; theo tiêu chuẩn ECC 99/45 thì không độc hại
Bảng 1 Một số tính chất cơ lý của xi măng (Nguyễn C T., và nnk, 2015)
Sau 3 ngày, Mpa 26.4 ≥ 21.0 TCVN 6016-1995
Hình 5 là hỗn hợp xi măng với PGSD có gốc polycarboxylate và sợi thép
Trang 15a) b)
Hình 5 Vật liệu thành phần: a) Hỗn hợp xi măng với phụ gia siêu dẻo có gốc
polycarboxylate; b) Sợi thép các bon của CHLB Đức 3.2.2 Lựa chọn cấp phối bê tông sử dụng trong nghiên cứu
Tỷ lệ thành phần hỗn hợp được sử dụng trong nghiên cứu cho trong bảng 2 Tỷ lệ cát/ximăng C/X) là 1,6 theo khối lượng cát được sử dụng là cát thạch anh (quart) nghiền mịn); tỷ
lệ N/X lấy bằng 0,25; tỷ lệ sợi thép/xi măng ST/X ) là 0,18 Để nghiên cứu ảnh hưởng củaPGSD đến cường độ chịu nén của BTCLSC thì hàm lượng PGSD lấy theo tỷ lệ khối lượng
so với xi măng thay đổi từ 0.70 đến 1.10 (bảng 2)
Bảng 2 Thành phần cấp phối BTTNSC sử dụng trong nghiên cứu cho 1m 3
Mẫu X, kg N, lít C, kg ST, kg Phụ gia siêu dẻo (PC), %
3.2.3 Quá trình nhào trộn các thành phần của bê tông
Hỗn hợp được trộn bằng máy trộn cưỡng bức với tốc độ cao khoảng 200 vòng/phút.Hỗn hợp gồm xi măng, cát và phụ gia được cho từ từ vào buồng máy và trộn đều Lượngnước lần đầu cho vào khoảng 10% lượng nước đã xác định trước; sau đó máy trộn làm việc
để quấy đều hỗn hợp Tiếp theo là cho lượng sợi thép đã xác định trước vào buồng trộn cầnđảm bảo tính đồng đều phân bố sợi thép trong hỗn hợp trộn) rồi cho lượng nước còn lại vào
để trộn tiếp Hình 6 là máy trộn cưỡng bức để trộn hỗn hợp bê tông
3.2.4 Phương pháp thực nghiệm
Tính công tác của hỗn hợp bê tông được xác định bằng thí nghiệm độ chảy của côn nhỏtheo tiêu chuẩn nh BS 4551-1:1998 Giá trị độ chảy loang của các hỗn hợp được điều chỉnhtrong khoảng 250-300mm
Xác định cường độ nén theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN3118-1993) với kích thước mẫu500×500×500mm3 Theo tác giả N.V.Tuan (2011) thì cường độ nén của BTTNSC ít phụ thuộcvào kích thước mẫu do đó thường đúc mẫu với kích thước như trên Các mẫu sau khi đúc đượcbảo dưỡng BD) ở điều kiện tiêu chuẩn nhiệt độ 27±2oC, thời gian 24±3h); mẫu được tháo ra khỏikhuôn và tiếp tục BD trong điều kiện tiêu chuẩn 27±2oC, độ ẩm > 95%) Cường độ chịu nén của
bê tông được xác định ở các tuổi 3, 7 và 28 ngày sau khi đúc Hình 7 là quá trình tạo mẫu thínghiệm Xác định độ xòe của hỗn hợp bê tông tại hiện trường cho trên hình 8
Trang 16a) Máy trộn b) Trộn khi lượng nước là 10% c) Đã trộn xong Hình 6
Máy trộn và quá trình trộn hỗn hợp bê tông
Hình 7 Tạo mẫu thí nghiệm
Hình 8 Xác định độ xòe côn nhỏ ở hiện trường 3.3 Kết quả và thảo luận
3.3.1 Độ linh hoạt và độ xòe của hỗn hợp bê tông
Thí nghiệm cho ta kết quả về độ sụt và độ xòe của hỗn hợp bê tông nhƣ trong bảng 3.Các dụng cụ, cách đo độ xòe, độ sụt của hỗn hợp bê tông chỉ ra trên hình 9 và hình 10
Bảng 3 Độ sụt và độ xòe của hỗn hợp bê tông
Mẫu thử số Tỷ lệ phụ gi siêu dẻo PC, % Độ sụt, SN, cm Độ xòe, mm
Phân tích các số liệu trong bảng 2 cho ta các nhận xét sau đây:
– Độ sụt của hỗn hợp bê tông có phụ gia siêu dẻo PC dao động từ 10 đến 20cm phụ thuộc vào hàm lƣợng tỷ lệ phụ gia với khối lƣợng xi măng
– Độ xòe của hỗn hợp bê tông từ 210mm đến 240 mm - là độ xòe thích hợp của bê tông
tự đầm Độ sụt và độ xòe nhận đƣợc do chất phụ gia siêu dẻo có trong thành phần bê tông sẽtạo ra lực đẩy các hạt chất dính kết xa nhau, từ đó khả năng chảy loang của hỗn hợp tăng lên.Đây là tính chất công tác của hỗn hợp bê tông, giúp thi công thuận tiện, không cần đầm
Trang 17Hình 9 Dụng cụ xác định độ xòe Hình 10 Dụng cụ xác định độ sụt
3.3.2 Cường độ của bê tông
– Cường độ chịu nén sau 3 ngày BD ở điều kiện tiêu chuẩn đạt ĐKTC) R3 = 28,0 ÷37,9 Mpa; giá trị lớn nhất = 39,7 Mpa ứng với hàm lượng phụ gia siêu dẻo PC là 0,9%khối lượng của xi măng
– Cường độ chịu nén sau 7 ngày BD ở ĐKTC đạt R7 = 49,6÷67,2 Mpa; giá trị lớn nhất
là ứng với lượng PGSD PC là 0,9% khối lượng của xi măng
– Cường độ chịu nén sau 28 ngày BD ở ĐKTC đạt R28 = 85,6†115,2 Mpa; giá trị lớn nhất
là tương ứng với hàm lượng PGSD PC là 0,9% khối lượng của xi măng
Có thể thấy rằng hàm lượng phụ gia tối ưu là 0,9% khối lượng của xi măng
– Đối với bê tông thường không có cốt sợi bằng thép và không có phụ gia siêu dẻo PC thì cường độ chịu nén ở tuổi 28 ngày sau đúc được tính theo công thức (N V Tuan, 2011):
A1.Rx X/N + 0,5), trong đó: 1 là hệ số lấy theo quy phạm, lấy 1 = 0,34; cường độ của xi măng ở 28 ngày, lấy RX = 40Mpa; tỷ lệ xi măng với nước, lấy X/N = 4,0.Đưa các giá trị vừa nói vào công thức để tính, cho ta:
– Như vậy bê tông có phụ gia siêu dẻo PC và có cốt sợi thép đã cho ta cường độ chịunén ở 28 ngày sau đúc tăng gấp 1,88 lần so với cường độ chịu nén của bê tông thường ở 28ngày sau đúc Điều này xảy ra là do phụ gia siêu dẻo đã làm tăng mức độ chặt của bê tôngcũng như sự có mặt của cốt thép sợi đã gia tăng liên kết và tăng độ bền nén của bê tông
Bảng 3 Cường độ chịu nén của bê tông
Mẫu thử Lượng phụ gi siêu dẻo PC Cường độ chịu nén, Mpa
Trang 18sử dụng công trình xây dựng dân dụng và công nghiệp.
– Dựa trên những kết quả nghiên cứu về BTTTSC, nhóm tác giả đi đến những kết luận:
+ Sử dụng BTTNSC là một xu hướng tất yếu khi thi công các công trình có điều kiệnthi công đặc biệt, các cấu kiện có mật độ bố trí cốt thép dày, không gian sau ván khuôn đổ hẹp
và vận chuyển vữa bằng cách bơm theo đường ống Trong điều kiện đó sẽ không cần phảiđầm mà vữa bê tông sẽ tự lèn, tự chảy, tự đầm lấp kín không gian cần đổ mà vẫn đảm bảotính đồng đều, độ chặt của kết cấu;
+ Bê tông TNSC chế tạo từ các vật liệu thành phần: xi măng Pooclăng PC40, cát thạchanh nghiền mịn, sợi thép mác 2500 của Đức, PGSD thế hệ 3 có gốc polycarboxylate PC) củahãng B SF và nước với cấp phối phù hợp X = 840kg/m3, C = 1345kg/m3, PGSD = 9%X =7,56kg/m3, ST = 151kg/m3, N = 210 l/m3
+ Sử dụng PGSD thế hệ 3 có gốc polycarboxylate PC) của hãng B SF với lượng dùngbằng 9% khối lượng xi măng cho phép tạo ra BTTNSC có cường độ chịu nén ở 28 ngày là115,2 Mpa, độ sụt SN=18cm và độ xòe là 230mm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. AFGC-SETRA, (2002) Ultra High Performance Fibre-Reinforced Concretes Paris, France:
Interim Recmmendations, AFGC publication p.124
2. Lự, P.V., và nnk., (2007) Giáo trình Vật liệu xây dựng NXB Giáo dục và Đào tạo.
3 Richard , P and Cheyrezy, H., 1994), “Reactive Powder concretes with high ductility and 200-800 MPa compressive strength” in Mehta, P.K ED) Concrete Technology: Past, Present and
Future, Proceedings of the V Mohan Malhotra Symposium: p ACI SP 144-24, 507-518 Detroit:
Victoria Wieczorek
4. Thắng, N.C., và nnk 2015) Nghiên cứu chế tạo bê tông chất lượng siêu cao sử dụng hỗn hợp phụ
gia khoáng silica fume và tro bay sẵn có ở Việt Nam Hội nghị Khoa học Công nghệ, ĐH Xây
dựng.
5. Tuan, N.V.,(2011) Rice Husk Ash as a Mineral Admixture for Ultra High Performance Concrete,
in Faculty of Civil Engineering and Geociences, Delft University of Technology The Netherlands.
p.165.
6. Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học (2021) Một số vật liệu mới dùng trong xây dựng tương lai,
Truy cập ngày 18/04/2021 nganh-xay-dung.
Trang 19http://nctk.edu.vn/mot-so-vat-lieu-moi-va-dinh-dang-vat-lieu-moi-cho-QUÂN LÝ NHÀ N ỚC VỀ TRẬT TỰ XÅY DỰNG TR N ĐÐA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THỰC TRÄNG VÀ GIÂI PHÁP
Nguyễn Qu ng Giải 1 , Nguyễn Hải Linh 1 , Nguyễn Thùy Dương 2
1 Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2 Nhà nghiên cứu tự do.
Tóm tắt
Trật tự xây dựng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững đô thị Là một trong những quận mới của Thành phố Hồ Chí Minh, Quận 7 đã sớm phát triển nhanh chóng về mọi mặt Theo đó, lượng người nhập cư vào Quận 7 ngày một gia tăng, mức độ đô thị hóa cao khiến nhu cầu nhà ở cũng tăng theo trong khi khả năng cung ứng còn hạn chế Thực trạng này tạo ra những rào cản và áp lực nặng nề đối với công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn quận Phần đầu bài viết trình bày vắn tắt cơ sở lý luận và thực trạng quản lý trật tự xây dựng đô thị tại Quận 7 tổng hợp từ nguồn dữ liệu thứ cấp Sau đó, bài viết nỗ lực đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về lĩnh vực này.
1 Dẫn nhập
Trật tự xây dựng dành được sự quan tâm của chính quyền đô thị đặc biệt tại nhữngnước đang phát triển Trong tiến trình phát triển, nhiều quốc gia đã không ngừng nỗ lựcnghiên cứu, huy động mọi nguồn lực nhằm tìm ra những phương thức và mô hình quản lýhiệu quả vấn đề trật tự xây dựng đô thị
Khoảng hai thập kỷ gần đây 1997-2017), số lượng đô thị Việt Nam không chỉ tăngnhanh mà còn có sự biến đổi, nhất là các đơn vị phường, thị trấn Cùng với đà đô thị xuất hiệntheo diện rộng, nhiều đô thị cũng được nâng cấp từ loại nhỏ lên loại lớn hơn và kết quả làbình quân mỗi tháng Việt Nam có thêm khoảng 123 đô thị mới ra đời Nguyễn Quang Giải,2018) Năm 1990, số đô thị Việt Nam là 500, năm 2005 là 700, năm 2015 là 871 và dự báođến 2025 có khoảng gần 1.000 đô thị Như vậy, trong vòng 25 năm Việt Nam có thêm 371 đôthị Tăng trưởng đô thị nhanh, vì vậy quản lý trật tự xây dựng đô thị càng trở nên cấp thiết.Thành phố Hồ Chí Minh TP Hồ Chí Minh) là đô thị đặc biệt, một cực tăng trưởng,trung tâm kinh tế, khoa học - công nghệ của cả nước, là nơi tạo ra 1/3 GDP, 1/3 giá trị sảnlượng công nghiệp, 30% tổng thu ngân sách và thu hút dòng vốn lớn FDI vào Việt NamNguyễn Quang Giải, 2019) Bên cạnh những kết quả đạt được, tăng trưởng đô thị nhanhđồng thời cũng tạo ra thách thức lớn đối với chính quyền địa phương trong nỗ lực quản lý trật
tự xây dựng đô thị Theo đó, một thực trạng chung dễ dàng nhận thấy tại các đô thị Việt Nam
là hoạt động xây dựng không được kiểm soát tốt, lộn xộn, không theo quy hoạch; nền kinh tếphi chính thức chưa được quản lý tốt dẫn đến tình trạng mất trật tự, mỹ quan đô thị
… đã ảnh hưởng xấu và tạo nên rào cản lớn đối với sự phát triển đô thị bền vững
Trang 20Là một trong năm quận mới của TP Hồ Chí Minh, được tách ra từ huyện Nhà Bè, khởiđầu mới thành lập, hạ tầng kỹ thuật đô thị và hạ tầng xã hội đô thị Quận 7 còn nhiều hạn chế
và khó khăn; song sau hơn hai thập kỷ xây dựng và phát triển Quận 7 đã có một diện mạophát triển mới, dấu ấn đầu tiên là Khu chế xuất Tân Thuận và Phú Mỹ Hưng - khu đô thị kiểumẫu của Việt Nam với số lượng lớn người nước ngoài sinh sống và làm việc Theo dõi dân
số Quận 7 qua các năm cho thấy dân số trên địa bàn quận tăng nhanh, sự gia tăng dân số cơhọc đã tác động và đặt ra những thách thức đối với chính quyền địa phương về nhà ở, giáodục, giao thông, an ninh, trật tự, an sinh và phúc lợi xã hội,… đặc biệt nhất là vấn đề quản lýtrật tự xây dựng Vì vậy, việc tìm hiểu thực trạng quản lý nhà nước về trật tự xây dựngQLNNTTXD) từ thực tiễn Quận 7, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm giúp công tác quản
lý trật tự xây dựng mang lại hiệu quả hơn, bảo đảm cuộc sống an ninh trật tự cho người dân
là cần thiết
2 Quản lý trật tự xây dựng - Nội dung và các chủ thể liên qu n
Nội dung và các chủ thể liên quan Quản lý trật tự xây dựng là một trong những hoạt
động của quản lý nhà nước QLNN) về xây dựng nói chung được quy định tại Luật Xây dựng
2014 Theo đó, căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Xây dựng 2014 vàcác văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, các chủ thể QLNNTTXD thực hiện cácnội dung QLNNTTXD phù hợp với thẩm quyền của mình Theo quy định từ Điều 161 đếnĐiều 165 Luật Xây dựng 2014 thì các chủ thể sau đây được xác định có trách nhiệm trongcông tác QLNNTTXD nói chung, trật tự xây dựng đô thị nói riêng: Chính phủ, Bộ Xây dựng,UBND các cấp, Thanh tra xây dựng thuộc Bộ Xây dựng và Sở Xây dựng
Bộ máy quản lý trật tự xây dựng tại Quận 7 Để hiểu công tác QLNNTTXD, điều đầu
tiên cần tìm hiểu là chức năng, nhiệm vụ của Phòng Quản lý đô thị QLĐT) và Đội kiểm traquy tắc đô thị KTQTĐT) Sở Xây dựng là cơ quan quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ củaPhòng QLĐT và Đội kiểm tra QTĐT quận Đội kiểm tra QLĐT quận quản lý chuyên môn,nghiệp vụ của Tổ KTQTĐT phường
Phòng QLĐT
UBND Thành phố Sở Xây dựng
Trang 21Thanh tra Sở XD
Đội KTQTĐT
quận
Tổ KTQTĐT phường
Trang 22Sơ đồ 1 Phân cấp quản lý nhà nước về trật tự xây dựng
274
Trang 233 Quản lý trật tự xây dựng từ thực tiễn Quận 7, TP Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp
3.1 Thực trạng quản lý nhà nước về trật tự xây dựng tại Quận 7
Nhu cầu xây dựng nhà ở, hạ tầng kỹ thuật và xã hội đô thị cao Với quy mô dân số
tương đối lớn và tăng đều đặn theo thời gian, đặc biệt là tăng cơ học khiến nhu cầu xây dưng
hạ tầng kỹ thuật và xã hội, nhất là nhu cầu nhà ở trên địa bàn quận là rất lớn Là một quậnmới của thành phố, với mức độ đô thị hóa rất cao, Quận 7 đã thu hút nhiều dự án đô thị hiệnđại, trong đó có Khu chế xuất Tân Thuận đã “kéo” một lượng lớn dân cư về đây tìm kiếmviệc làm và cư trú, dẫn đến tăng nhu cầu về xây dựng, sửa chữa nhà ở, dễ phát sinh vi phạmtrong lĩnh vực trật tự xây dựng
Bảng 1 Dân số Quận 7 và TP Hồ Chí Minh (2010-2018) (đơn vị: 1.000 người)
Thành phố 7.396.446 8.247.829 8.441.902 8.643.044 8.831.865 Quận 7 274.828 309.770 325.024 339.909 349.308
% dân số so với Thành phố 3,71 3,75 3,85 3,93 3,95
Mức độ đô thị hóa quận 7 %) 100 95,79 95,30 95,62 97,30 Mức độ đô thị hóa Thành phố %) 83,20 81,60 80,90 80,10 79,50
(Nguồn: Niên giám Thống kê TP Hồ Chí Minh, 2018)
Theo Báo cáo của Jones Lang LaSalle JLL), chỉ trong 5 năm, số lượng dự án bất động sảntại Quận 7 đã tăng 69%, mặt khác đây cũng là khu vực có giá nhà đất thuộc nhóm cao nhất tại TP
Hồ Chí Minh Điều quan tâm hơn hạ tầng giao thông kết nối khu vực này với trung tâm thành phốluôn trong tình trạng quá tải Hiện nay, từ Quận 7 nối vào trung tâm hiện hữu chỉ có hai trụcđường chính là Nguyễn Hữu Thọ - cầu Kênh Tẻ và Huỳnh Tấn Phát - cầu Tân Thuận - NguyễnTất Thành, và cả hai trục giao thông kết nối này đều có chung tình trạng kẹt xe
Nguyễn Hữu Thọ là con đường chính nối từ Quận 7 vào trung tâm qua cầu Kênh Tẻ Đây làkhu vực tập trung dày đặc các tòa chung cư với hàng trăm nghìn căn hộ Con đường luôn trongtình trạng ách tắc giao thông kéo dài, tồi tệ nhất trong giờ cao điểm 6-9 giờ và 17-21 giờ
Sát hai bên đường Nguyễn Hữu Thọ, nhiều cao ốc mọc lên san sát như Sunrise City,The Park Residence, Park Vista, Lavila, Dragon City, Trong khi quy hoạch Quận 7 đến năm
2020 chỉ có sức chứa tối đa 424.000 người, thì thực tế các dự án hàng nghìn căn hộ tại đâyđang gây sức ép lớn lên hạ tầng kỹ thuật và xã hội
Vi phạm trong lĩnh vực xây dựng Phòng Quản lý đô thị là cơ quan chuyên môn về quản lý
đô thị trên địa bàn Quận 7 đã tích cực phối hợp với Thanh tra địa bàn Quận 7, thanh tra Sở Xâydựng và UBND 10 phường vừa thực hiện nhiệm vụ do Ủy ban nhân dân quận giao, vừa duy trìchế độ tuần tra giám sát địa bàn Đặc biệt tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trườnghợp không phép, sai phép, xây dựng trên đất không được phép xây dựng trên địa bàn
Theo dõi số liệu xử phạt hành chính trong xây dựng đô thị giai đoạn 2013-2017 sẽ chỉ
ra một số thông tin cần quan tâm sau: 1/ nhìn chung có sự diễn biến phức tạp về trật tự xâydựng đô thị trên địa bàn Quận 7 vi phạm: không phép, sai phép, xây dựng trên đất khôngđược phép xây dựng); 2/ trong từng lỗi vi phạm về xây dựng đô thị cũng có sự biến động lớn
Trang 24Trong 05 năm tổng số trường hợp vi phạm là 201 trường hợp, cụ thể là 103 trường hợp xâydựng không phép, chiếm 51,2%, 42 trường hợp xây dựng sai phép, chiếm 20,9% và 56trường hợp xây dựng công trình trên đất không được xây dựng, chiếm 27,9%.
Bảng 2 Vi phạm trong lĩnh vực xây dựng đô thị tại Quận 7 giai đoạn 2013-2017
(Nguồn: Phòng Quản lý Đô thị, UBND Quận 7)
Trong những trường hợp vi phạm này, nổi lên vấn đề cần quan tâm là trường hợp “xâydựng trên đất không được xây dựng” có xu hướng ngày một gia tăng Theo đánh giá củaPhòng Quản lý Đô thị Quận 7, thời gian gần đây công tác kiểm tra quản lý xây dựng trên địabàn quận từng bước đi vào nề nếp, cán bộ chuyên trách được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ;công tác kiểm tra, giám sát được phối hợp chặt chẽ, xử lý kiên quyết và đúng pháp luật, giúpcho công tác quản lý ngày càng hiệu quả, vi phạm xây dựng luôn được phát hiện kịp thời, tạođiều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và xử lý vi phạm một cách dễ dàng, nhanh nhóng vànghiêm ngặt trên địa bàn Thành phố nói chung và địa bàn Quận 7 nói riêng, tuy nhiên, thựctrạng vi phạm và xử phạt hành chính lỗi “xây dựng trên đất không được xây dựng” chưa códấu hiệu khả quan Đâu là nguyên nhân của vấn đề này? Theo ghi nhận chung, hiện trạng nàyphần lớn xuất phát từ nhu cầu về nhà ở, đặc biệt nhu cầu về nhà ở đối với người nhập cư,người bị di dời, giải tỏa, người nghèo đô thị Mặt khác, hiểu biết của họ về pháp luật xâydựng cũng là một vấn đề cần được quan tâm hơn Nguyên nhân của tình trạng xây dựng saiphép chủ yếu do quy hoạch xây dựng một số dự án còn chậm, mẫu nhà thiết kế lạc hậu, ngườidân tự thay đổi thiết kế,…
Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong xây dựng.
Các quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực phápluật buộc chủ thể vi phạm phải thực hiện, nếu không tự nguyện thực hiện sẽ bị cưỡng chế thihành Cụ thể số liệu thống kê tình trạng thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đô thị các năm như sau:
Bảng 3 Thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính
trong xây dựng đô thị tại Quận 7 giai đoạn 2013-2017
(Nguồn: Phòng Quản lý Đô thị, UBND Quận 7)
Nhìn chung, tình hình cưỡng chế trên địa bàn Quận 7 giai đoạn 2013-2017 có xuhướng tăng mạnh Mặc dù đã cố gắng hoàn thành các trường hợp cưỡng chế trong từng nămnhưng vẫn không thể thi hành hết tất cả do số lượng tồn đọng khá nhiều và đây là một trong
Trang 25những hạn chế mà chính quyền địa phương đang nỗ lực khắc phục Nguyên nhân các quyếtđịnh cưỡng chế tăng cao chủ yếu là do người vi phạm không am hiểu pháp luật xây dựng, lànsóng nhập cư vào Quận 7 ngày một tăng, nhu cầu cấp thiết về xây dựng nhà ở rất cao trongkhi quỹ đất thì hạn hẹp.
Xử phạt xây dựng không phép, sai phép, sai quy hoạch xây dựng Theo Báo cáo của
UBND Quận 7 năm 2020, năm 2017: xử phạt xây dựng không phép là 41 trường hợp, đã thựchiện xong biện pháp khắc phục hậu quả là 19 trường hợp đạt 46,34%); sai phép, sai quyhoạch xây dựng là 121 trường hợp, đã thực hiện xong biện pháp khắc phục hậu quả là 24trường hợp đạt 19,83%) Năm 2018: xử phạt xây dựng không phép là 28 trường hợp, đã thựchiện xong biện pháp khắc phục hậu quả là 16 trường hợp đạt 57,14%); sai phép, sai quyhoạch xây dựng là 149 trường hợp, đã thực hiện xong biện pháp khắc phục hậu quả là 15trường hợp đạt 10,06%) Trong 6 tháng đầu năm 2019: xử phạt xây dựng không phép là 11trường hợp, đã thực hiện xong biện pháp khắc phục hậu quả là 3 trường hợp đạt 27,27%); saiphép, sai quy hoạch xây dựng là 43 trường hợp chưa thực hiện xong biện pháp khắc phụchậu quả) UBND Quận 7, 2020)
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về trật tự xây dựng tại Quận 7
Dân số cơ học tăng nhanh khiến nhu cầu xây dựng nhà ở cao Tăng trưởng đô thị
nhanh, dòng người di cư từ nông thôn đổ về đô thị tăng vọt Dân số cơ học tăng nhanh, cónhiều lý do “đẩy” người di cư rời bỏ nông thôn, tìm đến đô thị, tuy nhiên quan trọng nhất là
lý do kinh tế Họ tìm đến đô thị để sinh sống và cư trú trong khi khả năng cung ứng nhà ởkhông đủ đáp ứng đối với cư dân tại chỗ chứ chưa nói đến người nhập cư Vấn đề này sẽdẫn đến các hệ quả sau: 1/ tình trạng xây dựng nhà ở không phép, trái phép, xây dựng nhà ởtrên đất nông nghiệp gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, nội dung, làm phá vỡ quyhoạch xây dựng của đô thị, các trường hợp xây dựng nhà trái phép, xây dựng nhà trên đấtnông nghiệp diễn ra khá phổ biến tại huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh là một thực tiễn cụthể, minh chứng rõ nét cho thực trạng vừa nêu; 2/ nhà ổ chuột, nhà tạm bợ trên kênh, rạch giatăng về số lượng, chẳng hạn theo thống kê, tính đến tháng 01/2018 tại TP Hồ Chí Minh đangtồn tại ít nhất khoảng 20.000 căn nhà ổ chuột, nhà lụp xụp ven kênh, rạch Thực trạng vừa nêu
là rào cản lớn đối với hoạt động QLNNTTXD đô thị, cần nhấn mạnh rằng nếu hoạt độngQLNNTTXD không được thực hiện tốt không chỉ dẫn đến phá vỡ quy hoạch xây dựng của đôthị, mà còn làm mất mỹ quan đô thị, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển đô thị bềnvững, cũng như việc xây dựng thương hiệu đô thị
Năng lực chủ thể QLNN về trật tự xây dựng đô thị Năng lực tức là khả năng, điều kiện
chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện và hoàn thiện một công việc với chất lượng cao.Cũng giống như các hoạt động QLNN khác, hoạt động QLNNTTXD được hiện thực hóabằng các hành vi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức có trách nhiệm theo quy định củapháp luật Kinh nghiệm cho thấy năng lực QLNNTTXD là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu lực
và hiệu quả của hoạt động QLNNTTXD
Thực tiễn đã chỉ ra, thời gian gần đây những đô thị nào mà cán bộ, công chức tham giavào công tác QLNNTTXD có tâm, có năng lực thì tại đó trật tự đô thị được giải quyết vàbước đầu đi vào nề nếp, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật Ngược lại, tại những nơi
mà hoạt động công vụ của cán bộ, công chức quản lý về trật tự đô thị chỉ mang tính hình thức,chưa có tâm và có tầm thì ở đó trật tự đô thị đang có vấn đề, đặc biệt là trật tự vỉa hè
Trang 26đô thị Vấn đề “đòi lại” vỉa hè đô thị thời gian gần đây tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đãchứng minh điều đó.
Những hạn chế và nguyên nhân Theo tìm hiểu của chúng tôi, bên cạnh một số kết quả
đạt được, công tác QLNNTTXD trên địa bàn Quận 7 còn tồn tại những hạn chế sau:
Thứ nhất, công tác quản lý mới chỉ chú trong khâu tiềm kiểm mà chưa chú trọng đến
khâu hậu kiểm, tức là kiểm tra việc chấp hành pháp luật về xây dựng của các công trình xâydựng trên địa bàn Thực trạng này dẫn đến tình trạng sai phạm trong hoạt động xây dựng diễn
ra thường xuyên và phổ biến trên địa bàn Quận 7 nói riêng và Thành phố nói chung
Thứ hai, đồ án quy hoạch xây dựng ít khả thi Cụ thể các đồ án quy hoạch xây dựng chi
tiết tỷ lệ 1/2000 chất lượng chưa cao, phải thường xuyên điều chỉnh Trong khi đó, các đồ ánquy hoạch xây dựng chi tiết tỷ lệ 1/500 chỉ mới được lập tại một số khu vực trên địa bànquận Thực trạng vừa nêu dẫn đến hoạt động quản lý trật tự xây dựng chưa đảm bảo tínhđồng bộ, tính thống nhất
Thứ ba, đối với những công trình xây dựng sai phạm đã bị phát hiện, tình trạng xử lý
vẫn chưa nghiêm, chưa đảm bảo tính răn đe khi hàng loạt công trình sai phạm được tồn tạisau xử phạt, nhất là đối với các công trình xây dựng không phép Đối với những công trình đãbuộc tháo dỡ vẫn xảy ra tình trạng không chấp hành quyết định của chủ thể vi phạm
4. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về trật tự đô thị trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, để giúp công tác QLNNTTXD trên địa bàn Quận 7 hiệuquả hơn, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng cần quan tâm một số vấn đề sau:
Hoàn thiện cơ sở pháp lý nhà nước về trật tự xây dựng Các văn bản pháp lý
QLNNTTXD đô thị hiện còn những bất cập, chưa đồng bộ, và đôi khi mâu thuẫn với nhau,
do vậy chúng cần được điều chỉnh, bổ sung và chỉnh sửa cho phù hợp và hiệu quả hơn
Kiện toàn tổ chức bộ máy của đội quản lý trật tự đô thị Đội quản lý trật tự đô thị là chủ
thể đắc lực giúp phòng quản lý đô thị quận thực hiện công tác kiểm tra trật tự xây dựng trênđịa bàn Tuy nhiên, cơ sở pháp lý chưa đầy đủ, cùng với nhiều nguyên nhân khác đang khiếncho đội quản lý trật tự đô thị khó có thể tồn tại được lâu dài, hoặc nếu tồn tại được cũng hoạtđộng không hiệu quả, khi mà nhân sự mỏng Ngoài ra, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn,
cơ chế phối hợp hoạt động của đội quản lý trật tự đô thị cũng chưa được quy định rõ ràng
Quy hoạch đô thị Cần rà soát phân loại các trường hợp vi phạm, kiến nghị đề xuất lên cơ
quan có thẩm quyền như Sở Quy hoạch Kiến trúc, Sở Xây dựng chấp thuận chủ trương điềuchỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết đã duyệt hoặc phê duyệt Quy chế Quản lý quy hoạch kiến trúc,trên cơ sở đó cho phép tồn tại các công trình vi phạm xây dựng nhưng vẫn phù hợp Quy chuẩn,Tiêu chuẩn Quy hoạch, không làm ảnh hưởng không gian kiến trúc cảnh quan xung quanh
Nâng cao nhận thức và truyền thông về trật tự xây dựng Phổ biến, nâng cao nhận thức
của cán bộ quản lý cũng như người dân về trật tự xây dựng đô thị qua kênh truyền thông đạichúng, cần đưa ra các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể
Trang 27Nâng cao vai trò QLNN Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về trật tự xây dựng Thanh tra, kiểm tra là khâu quan trọng,không thể thiếu của hoạt động quản lý nói chung và hoạt động QLNNTTXD nói riêng nhằmkịp thời phát hiện đẩy lùi sai phạm, xử lý nghiêm, đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của hoạtđộng quản lý Thanh tra QLNNTTXD là một chức năng được thực hiện bởi cơ quan chuyêntrách nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật, giữ vững kỷ cương trật tự trong quản lý, kịp thờiphát hiện, chấn chỉnh những sai phạm, xử lý vi phạm trong hoạt động chấp hành các quy địnhpháp luật của nhà nước về trật tự xây dựng
Kiểm tra QLNNTTXD là việc xem xét các hoạt động của chủ thể có chấp hành đúngpháp luật của nhà nước trên các lĩnh vực liên quan đến trật tự xây dựng hay không, từ đó xemxét các mức độ vi phạm để kịp thời xử lý theo quy định Quyền và lợi ích của chủ thểQLNNTTXD và đối tượng chịu sự QLNN không phải lúc nào cũng được dung hòa bởinhững nguyên tắc điều chỉnh Vì vậy, khó có thể tránh khỏi những bất đồng, tranh chấp nảysinh trong QLNNTTXD Sự phản ứng của đối tượng chịu sự QLNN là dùng quyền khiếu nại,
tố cáo như một phương tiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình
5 Kết luận
Từ khi tách khỏi huyện Nhà Bè, Quận 7 phát triển khá nhanh về mọi mặt, theo đó vị thế
và vai trò đô thị quận sớm được khẳng định Bên cạnh những thành quả đạt được, địaphương này đang đứng trước những rào cản và áp lực lớn về nhu cầu nhà ở, xây dựng hạtầng kỹ thuật và xã hội và đặc biệt là trật tự xây dựng do tăng trưởng đô thị nhanh, mức độ đôthị hóa cao, dân số cơ học tăng nhanh Do vậy, chính quyền địa phương và cơ quan chuyênmôn cần nỗ lực hoàn thiện cơ sở pháp lý, chuẩn hóa trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệtphát huy và nâng cao vai trò của Nhà nước trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
về trật tự xây dựng đô thị
1 Cục Thống kê TP Hồ Chí Minh 2019), Niên giám Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh 2018,
NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.
2 https://diaocxanh24h.vn/ 2020), “Hai trục đường khốn khổ vì kẹt xe ở quận 7, TP Hồ Chí Minh”, nguồn: https://diaocxanh24h.vn/tin-tuc/bat-dong-san/hai-truc-duong-khon-kho-vi-ket- xe-o-quan- 7-tp-hcm-new-2020/.
3 Nguyễn Quang Giải 2018), “Đô thị hóa và mô hình phát triển bền vững đô thị Bình Dương”,
Tạp chí Khoa học Xã hội, số 9 241).
4 Nguyễn Quang Giải 2019), “Ô nhiễm môi trường không khí - rào cản đối với phát triển bền vững
Thành phố Hồ Chí Minh”, in trong sách: (Nhiều tác giả), Khoa học Xã hội và phát triển bền vững Vùng Nam Bộ, NXB KHXH, Hà Nội.
5. Quốc hội 2014), Luật Xây dựng Luật số 50/2014/QH13), Hà Nội.
6 UBND Quận 7 2018), Báo cáo số 5568/BC-UBND Tình hình kinh tế - xã hội quận năm 2018,
nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm 2019, ban hành ngày 05/11/2018.
7 UBND Quận 7 2020), Báo cáo tham luận Về các giải pháp thực hiện có hiệu quả Chỉ thị 23-CT/TU ngày 25/7/2019 của Ban Thường vụ Thành ủy về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về trật tự xây dựng trên địa bàn quận 7.
Trang 28MỐI LIÊN KẾT KHÔNG GIAN NỘI – NGOẠI THẤT
TRONG CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC
1 Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, bắt đầu từ thời kỳ Cổ đại, nghệ thuật kiến trúcchính thức xuất hiện và người ta dường như quên mất sự có mặt của yếu tố không gian, chỉ cònquan tâm tới thực thể kiến trúc, đó là công trình Từ đây, không gian nội thất và công trình kiếntrúc được xem như là một, nghĩa là người làm kiến trúc sẽ quyết định không gian nội thất vàquyết định tất cả mọi vấn đề liên quan tới thiết kế nội thất Tuy nhiên, khi mà sự phân công laođộng và sự chuyên biệt trong tất cả các lĩnh vực là tất yếu thì kiến trúc cần có những lý luận thậtxác đáng về vai trò và chức năng của hai yếu tố này Sự phát triển của kiến trúc chính là sự pháttriển của việc giải quyết không gian nội thất hay không gian công năng Các thời kỳ kiến trúctrong lịch sử từ Đông sang Tây đều thể hiện rất rõ vai trò của không gian nội thất trong mối liên
hệ với công trình Trong kiến trúc đương đại thì mối quan hệ này được các nhà thiết kế nhận định
rõ ràng hơn, để từ đó có thể xây dựng những lý luận thúc đẩy sự phát triển của kiến trúc theohướng tích cực Bài viết này sử dụng phương pháp quan sát, mô tả khoa học các công trình kiếntrúc dưới góc độ hình khối và cấu trúc không gian nội thất để đánh giá mối quan hệ này
2 Mối quan hệ giữa không gian nội thất và công trình trong kiến trúc đương đại
2.1 Không gian kiến trúc
Theo Từ điển Oxford: “Không gian là một khoảng cách hoặc một khu vực không bị chiếm chỗ và sẵn sàng cho một mục đích sử dụng” Như vậy, không gian nói chung không có
Trang 29định nghĩa riêng Tuy nhiên, khi một yếu tố nào đó đặt trong lĩnh vực của nó thì mối quan hệđược xác lập vì các yếu tố có sẵn trong không gian xác lập nên những mối quan hệ đa chiềugiữa không gian và các yếu tố, cũng như giữa các yếu tố đó với nhau Rõ ràng, không giantạo nên những mối quan hệ và chính chúng ta đã nhận thức được những mối quan hệ này.Theo Francis D.K.CHING: “Không
gian luôn ở xung quanh chúng ta Qua
khoảng không của không gian, chúng ta đi
lại, cảm nhận được hình khối, âm thanh,
thưởng thức vẻ đẹp của nắng, gió và mùi vị
Không gian cũng giống như chất liệu đá,
gỗ… Tuy nhiên, không gian là một chất liệu
không có hình dạng nhất định, giống như
đặc tính của chất khí hay chất lỏng trong
hóa học Các hình thức thị giác của không
gian như kích thước, tỷ lệ, ánh sáng phụ
thuộc vào nhận thức của con người về các
đường bao không gian do các yếu tố hình
khối tạo nên” (Francis D.K CHING, 2009)
Hình 1 Sự hình thành không
gian
(Nguồn: Francis D.K CHING)
Trong các lĩnh vực nghệ thuật về môi trường như kiến trúc, điêu khắc,… thì không
gian có mối liên hệ mật thiết với hình khối Không gian kiến trúc là không gian xuất hiện
trong các công trình xây dựng Theo Edmund BACON: “…Hình khối kiến trúc, kết cấu bề mặt, vật liệu, sự chuyển sắc của ánh sáng và bóng đổ, màu sắc, tất cả cùng với nhau tạo nên chất lượng hay tinh thần khắc họa nên không gian kiến trúc…” (Vitruvius, 2004).
Như vậy, không gian kiến trúc gắn liền với mối quan hệ hình – nền trong nhận thức thị
giác của con người về hình khối và không gian nói chung
Thị giác con người thông thường chứa đựng những yếu tố hỗn tạp có hình dạng, kíchthước, màu sắc và hướng khác nhau Để thấu hiểu rõ ràng cấu trúc của một thực thể vật lý,con người có khuynh hướng phân biệt các yếu tố đó thành hai nhóm đối lập: nhóm các yếu tốdương được xem là hình và nhóm các yếu tố âm tạo thành nền cho hình Cách thức chúng taxem xét mối tương quan thị giác giữa các yếu tố âm và dương sẽ quyết dịnh nhận thức củacon người về một đối tượng vật lý cụ thể, cùng xem xét những ví dụ về mối quan hệ hình –nền giữa những ký tự và hình nền của chúng Đôi khi, mối quan hệ hình và nền quá mờ nhạtđến nỗi chúng ta nhận diện cái này lúc là hình, lúc khác lại là nền
Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, hình các yếu tố dương thu hút sự chú ý của chúng ta,
không thể tồn tại mà không có nền tương phản Do vậy, hình và nền tuy là hai yếu tố đối lậpnhưng cùng thống nhất trong một thực tế khách quan không thể tách rời Đó là một sự thốngnhất trong đối lập Trong nghệ thuật kiến trúc, chính những yếu tố của hình và không gian tạonên một thực thể kiến trúc Xét rộng ra thì kiến trúc ngoài khái niệm là nghệ thuật tổ chứckhông gian nó còn là một nghệ thuật thị giác nhưng được xem xét trong ý niệm ba chiều kíchthước Do vậy, khái niệm hình - nền trong nghệ thuật đồ họa hai chiều mà chúng
Trang 30ta vừa xem xét trên đây cũng đúng trong kiến trúc Trong kiến trúc thì yếu tố hình chính làhình khối hay thực thể công trình, còn yếu tố nền là không gian bên trong hay bên ngoài cácthực thể kiến trúc đó.
Hình 2 - 3 Mối quan hệ giữa hình và nền
( Nguồn: Francis D.K CHING, 1996)
A Nét vẽ tạo nên đường bao ngăn cách giữa khối đặc và khoảng trống không gian
B Hình khối của khối đặc được tô đen như là yếu tố hình
C Hình khối của khoảng trống không gian được tô đen như là yếu tố hình
Hình 4 Lăng mộ Taj Mahal, Agra, Ấn Độ
(Nguồn: Francis D.K CHING, 1996)Mối quan hệ biểu tượng giữa hình của khối và không gian trong kiến trúc có thể đượcxem xét và nhìn thấy ở các mức độ khác nhau Ở mỗi một mức độ, chúng ta nên quan tâmkhông chỉ tới hình thể của ngôi nhà mà còn cả tác động của nó đến không gian xung quanh Ởmức độ quy hoạch, nên cẩn thận xem xét xem vai trò của một công trình có nên là yếu tố tồntại của nơi đó, hay là hình nền cho các tòa nhà khác, hoặc tạo nên một không gian quy hoạchhay không Do đó cũng nên xem xét xem liệu công trình có phù hợp khi đứng một mình như
là một điểm nhấn quan trọng trong không gian quy hoạch đó không
Ở mức độ công trình, khuynh hướng xem cấu trúc của các bức tường như là nhữngyếu tố dương trong mặt bằng Tuy nhiên, không nên coi các không gian màu trắng ở giữa cácbức tường đó đơn giản chỉ là nền cho các bức tường mà còn là yếu tố hình trong bản vẽ cóhình và hình khối Hình khối và kết cấu bao che của mỗi một không gian trong một công trìnhhoặc là quyết định hoặc là bị quyết định bởi hình khối của những không gian xung quanh nó.Trong công trình Nhà hát ở Senajoki do Alvar AALTO thiết kế, có thể phân biệt nhiều loạihình khối không gian và phân tích tương quan giữa chúng Mỗi một loại không gian có vaitrò chủ động và bị động trong việc hình thành không gian
Trang 31A Một số không gian như văn phòng, đặc trưng nhưng có những công năng tương tự
có thể được nhóm thành những hình khối đơn lẻ, thẳng hàng hay hợp khối;
B. Một số không gian khác như phòng hòa nhạc có những công năng và yêu cầu kỹthuật đặc biệt thì đòi hỏi những hình khối đặc biệt và cũng sẽ ảnh hưởng đến những khônggian xung quanh nó;
C. Một số không gian, như tiền sảnh, linh hoạt về bản chất và vì thế được hình thành một cách tự do bằng những không gian và những nhóm không gian xung quanh
Hình 5 Nhà hát ở Senajoki do KTS Alvar AALTO thiết kế ( Nguồn: Francis D.K CHING, 1996)
Ngay cả ở mức độ phòng (không gian nội thất) thì những hạng mục đồ đạc có thể đứngnhư là những hình khối trong phạm vi một vùng không gian hoặc đóng vai trò tạo hình mộtvùng không gian cụ thể nào đó
2.2 Không gian nội thất
Những yếu tố hình học của điểm, đường thẳng, mặt phẳng và khối tích có thể sắp xếptạo thành hình thể và không gian rõ ràng Trong phạm vi kiến trúc thì đó là chính là cột, dầm,tường, sàn, mái
Hình 6 Các yếu tố của không gian kiến trúc tạo thành không gian nội thất
(Nguồn: Francis D.K CHING, 1996)
– Một cái cột đánh dấu một điểm trong không gian và làm rõ nó là không gian xác định.– Hai cái cột giới hạn một khoảng không gian mà chúng ta có thể đi xuyên qua được.– Dầm ở đầu cột miêu tả giữa các cột có một khoảng trống
– Một bức tường là một mặt phẳng đặc làm phân cách một bộ phận của không gian xác định và ngăn cách phần này với phần khác
Trang 32– Sàn nhà xác định một mặt phẳng đặc làm phân cách một bộ phận không gian xác định
và ngăn cách phần này với phần khác
– Mái nhà là chỗ bảo vệ che chắn khối tích không gian ở dưới nó
Trong kiến trúc, những yếu tố này được tổ chức lại để tạo nên một tòa nhà phân biệtphía trong và phía ngoài, xác định giới hạn không gian nội thất Hình thức, quy mô và tổ chứckhông gian của một công trình là sự đáp ứng của người thiết kế với một số điều kiện chứcnăng công trình, cấu trúc công nghệ và xây dựng, tài chính, khả năng thể hiện và phong cách.Hơn nữa, kiến trúc một công trình phải đáp ứng cảnh quan vị trí xây dựng và những vấn đềphát sinh của không gian bên trong
Một công trình có thể liên quan đến vị trí xây dựng, hài hòa với khung cảnh hay nổi bậtlên; có thể chiếm hết hoặc một phần của không gian bên ngoài Một trong số những mặt ngoàicủa công trình có thể được xây dựng đặc biệt để nói lên đặc trưng vị trí hoặc để định rõ ranhgiới của không gian bên ngoài Trong mỗi trường hợp nên cân nhắc kỹ mối tương quan tiềmtàng giữa không gian bên trong và bên ngoài đã được tường ngoài của công trình xác định.Những bức tường bao quanh của công trình tạo nên mặt phân cách giữa nội thất và môitrường xung quanh Khi xác định không gian nội thất và ngoại thất, cần xác định được đặctrưng của từng không gian Những bức tường có thể dày, nặng nề và thể hiện một sự phânbiệt dứt khoát giữa một vùng nội thất đã được thiết kế và không gian ngoại thất đã được phâncách riêng Những bức tường cũng có thể mỏng, thậm chí là trong suốt và cố ý để hòa nhậpkhông gian nội thất và ngoại thất Các cửa sổ, lối vào cửa chính và những khoảng mở xuyênqua những bức tường nội thất của một công trình chính là những nơi chuyển giao giữa khônggian nội thất với bên ngoài Kích thước đặc trưng và sự bài trí của chúng thường cho ta biếtmột điều gì đó về bản chất của không gian bên trong nằm phía sau chúng Không gian chuyểntiếp, đặc biệt là phần thuộc vào cả hai thế giới bên trong và bên ngoài có thể được dùng đểlàm hài hòa giữa hai vùng Một ví dụ quen thuộc trong kiến trúc dân dụng là cổng ra vào.Khi bước vào trong một công trình con người cảm thấy an toàn và ấm cúng Cảm nhậnnày nhờ có không gian nội thất được tạo bởi sàn, tường và trần nhà Đó là những thành phầnkiến trúc xác định giới hạn vật lý của các phòng bao bọc không gian Nhờ đó mà có sự phânchia ranh giới giữa không gian bên trong và không gian bên ngoài
Hình 7 Bảo tàng Kunsthal, Rotterdam, Hà Lan, KTS Rem KOOLHAAS
Trang 33Sàn, tường và trần nhà không làm giảm phần đơn giản chất lượng của không gian.Hình, hình khối và các yếu tố cửa sổ, cửa đi của chúng cũng mang tính kiến trúc và khônggian xác định Trong kiến trúc dùng các thuật ngữ như: đại sảnh, hành lang, phòng tắm nắng
và góc hóng mát,… chỉ là những không gian nhỏ, đơn giản để đạt được tỷ lệ với chất lượngánh sáng; các bề mặt bao quanh chúng và liên quan đến các không gian lân cận
Thiết kế nội thất tất nhiên phải khác với thiết kế không gian kiến trúc xác định Trong
đồ án thiết kế nội thất trình bày cách bố trí đồ đạc trong nhà và sự phong phú của một khônggian, người thiết kế nội thất phải xem xét và nhận thức được đặc điểm riêng của kiến trúccũng như một sự thay đổi tiềm tàng và giá trị của công trình Thiết kế nội thất đòi hỏi phảihiểu biết kiểu dáng đồ đạc với hệ thống kết cấu xây dựng và bao che Một hệ thống cấu trúckhối bao gồm ba chiều Một khối vật liệu đã sử dụng đổ đầy một khoảng trống của khônggian Ở bên trong khối đó một không gian hỗn hợp được tạo thành Bởi vì hiệu quả củanhững phương pháp kỹ thuật và sức bền xây dựng hiện đại, ngày nay những hệ thống khốithuần túy là hiếm có Tuy nhiên ở một tỷ lệ nhỏ, đá và gạch nung có thể coi là những yếu tốcấu tạo khối Ở một tỷ lệ lớn hơn bất cứ một tòa nhà khép kín nào, không gian hỗn hợp có thểxem như một cấu trúc ba chiều phải có sức chịu tải cả chiều rộng, chiều dài và chiều sâu
Hình 8 Cầu thang (đồ vật) đi lên phòng họp trong nội thất Film Studio Reactor, nhà thiết kế
Pugh & Scarpa (Nguồn: PUGH & SCARPA, 1996)
Một công trình kiến trúc xây dựng tạo thành cơ sở hình dáng và thiết kế không gian bêntrong Những tấm tường ngăn và tấm trần treo thường được sử dụng để xác định và thay đổikhông gian bên trong, cấu trúc sườn và tường của công trình Trong một không gian rộng,hình mẫu và bố trí đồ đạc cũng có chức năng giống như những bức tường tạo thành mộtkhông gian khép kín và xác định Thậm chí một yếu tố đơn lẻ cũng tạo thành tỷ lệ hay phongcách có thể là một căn phòng tốt và cơ sở một phạm vi không gian về bản thân nó Ánh sáng
và các mảng sáng tối mà nó tạo ra có thể gây sự chú ý của chúng ta vào khu vực nào đó trongphòng, nhấn mạnh lại những khu vực khác và bằng cách đó tạo ra sự phân chia không gian
Trang 34Việc giải quyết bề mặt của tường, sàn và những tấm trần có thể phân biệt ranh giới khônggian của căn phòng Màu sắc, chất liệu và đồ mẫu có ảnh hưởng đến cách nhìn về vị trí tươngđối của chúng trong không gian và nhờ vậy chúng ta nhận thức về kích thước, tỷ lệ và sự cânđối của căn phòng.
Ngay cả độ vang tự nhiên của bề mặt căn phòng có thể ảnh hưởng đến giới hạn củakhông gian Những bề mặt mềm, hút âm, cách âm và khuếch đại âm của một căn phòng đều
có ảnh hưởng Cuối cùng, không gian được cấu tạo bằng việc chúng ta sử dụng nó Bản chất,
sự hoạt động của chúng ta và cách thức phát triển về việc mở rộng mặt bằng, bố trí tổ chức lạikhông gian bên trong như thế nào cho phù hợp
Hình 9 Fillipo BRUNELESCHI, Nội Hình 10 Le CORBUSIER, Biệt thự Savoye,
thất gian chính nhà thờ S Lorenzo, Poissy, Pháp, 1929-1931.
Florence, Italia (1421-1428) ( Nguồn: John PILE, 2001, 125)
(Nguồn: John PILE, 2001, 125)
Không gian bên trong là hình dáng đầu tiên của việc xây dựng công trình kiến trúc,được xác định bởi tường bao che, những tấm sàn và được liên kết với không gian khác bằngcửa sổ, cửa đi Mỗi công trình xây dựng đều có hình mẫu dễ nhận dạng của các yếu tố vàphương pháp xây dựng Mỗi hình mẫu có một hình dáng nhất định và nó là khuôn mẫu để tạo
ra một thể tích không gian giống nhau Chúng rất hữu ích để có thể đọc được mối liên hệ giữamặt bằng không gian xác định này với không gian xác định khác Những cấu trúc hoặckhoảng không gian có thể chiếm ưu thế thuộc mối quan hệ này Bất cứ có những sự xuất hiện
để chiếm ưu thế như thế nào, chúng ta nên nhận thức cách khác nhau như một dạng tươngđương trong mối quan hệ Nó có tác dụng như nhau, lần lượt nhận thấy trong mối quan hệxảy ra ở mặt bằng như trong bản vẽ thiết kế nội thất, bàn và ghế đã được đưa vào và bố trí ởkhông gian bên trong Khi một chiếc ghế được đặt vào một căn phòng, nó không chỉ chiếmkhông gian mà còn tạo ra mối liên hệ không gian giữa bản thân nó và các vật xung quanh.Chúng ta không chỉ nhìn thấy hình dáng ghế mà còn nhìn ngắm được dáng vẻ không gianxung quanh nó sau khi những chỗ trống đã được thay thế bằng các vật khác Khi những yếu
tố được giới thiệu nhiều trở thành mẫu, mối quan hệ không gian được nhân lên Các yếu tốbắt đầu từ tổ chức đến các bộ hay nhóm, chúng không chỉ chiếm chỗ trong không gian mà cònxác định và liên kết các hình thức không gian
Trang 35Hình 11 . PIC.NIC – Mensa Karlsruhe, Karlsruhe, Đức, Jurgen MAYER H.
2.3 Sự thích ứng giữa không gian nội thất và công trình kiến trúc
Công trình kiến trúc được xem như là một quyển sách chỉ dẫn chứa đựng rất nhiều thôngtin cần thiết cho ý tưởng thiết kế nội thất, đây là những đồ án có sự thích ứng giữa không gian nộithất và công trình kiến trúc hiện hữu Việc tìm hiểu những không gian kiến trúc nguyên thủy cóthể chỉ ra những manh mối hay những chỉ điểm tạo nên bản chất và đặc tính của không gian nộithất mới Không chỉ có những vấn đề về sự bền vững của kết cấu công trình kiến trúc mới là quantrọng, mà những vấn đề về nhịp điệu, xu hướng và tổ chức không gian cũng quan trọng khôngkém Quá trình này có thể bao gồm việc phá bỏ các yếu tố cũ hay xây dựng các thành phần mới.Người thiết kế hay kiến trúc sư có thể phá hủy hay gỡ bỏ những yếu tố cần thiết để phát lộ những
ý tưởng ẩn dấu trong công trình, trước khi thêm vào những yếu tố mới làm sáng tỏ quá trìnhphân tích thiết kế và hình thành nền tảng của việc thiết kế không gian nội thất mới Khi đó,hình thức của cái hiện hữu sẽ ảnh hưởng tới hình thức của cái mới
Các nhà thiết kế kiến trúc nội thất đương đại đã phân biệt ba loại nội thất phát triển dựavào hình khối và cấu trúc của công trình kiến trúc hay tác giả gọi là sự thích ứng giữa khônggian nội thất và công trình kiến trúc là: đan xen, chèn nguyên và sắp đặt Kiến trúc sư hay nhàthiết kế sẽ dùng một trong ba phương pháp thiết kế xuất phát từ ba loại quan hệ này để hìnhthành nên ý tưởng cho không gian thiết kế Những không gian nội thất đan xen sẽ hoàn toànbiến đổi công trình hiện hữu; những không gian nội thất chèn nguyên sẽ tận dụng vị trí sắpxếp đặc biệt của một vật thể không gian độc lập mà bản chất của nó bị chi phối bởi công trìnhhiện hữu và những không gian nội thất sắp đặt sẽ dùng thủ pháp sắp đặt một lo ạt các thànhphần trong phạm vi không gian, có liên hệ rất gần gũi nhưng không làm biến đổi không gianđó
Không gian nội thất đan xen
Công trình kiến trúc được tạo nên khi nhà thiết kế muốn bộc lộ những đặc điểm củacông trình hiện hữu và chuyển dịch những đặc điểm này vào trong thiết kế mới Việc đọc hiểucông trình sẽ giúp nhận diện đặc điểm của công trình gốc và sử dụng kiến thức này như làtiền đề cho việc tái tạo không gian mới Công việc phát lộ các đặc điểm của công trìnhnguyên thủy có thể xâm phạm tới công trình rất nhiều và đôi khi cần thiết phải mở rộngkhông gian gốc bằng cách phá bỏ cũng như xây dựng mới một số hạng mục chức năng Sựcan thiệp này có thể biến hóa hoặc thay đổi công trình hiện hữu nhiều đến nỗi nó không còntồn tại một cách độc lập, cái mới và cái cũ trở nên thống nhất không thể phân biệt được
Trang 36Không gian nội thất chèn nguyên
Những không gian nội thất chèn nguyên trong công trình sẽ thiết lập một mối liên hệ khắngkhít giữa công trình hiện hữu và không gian nội thất mới Ở đây không gian nội thất có tính chấtliên tục và xuyên suốt về hình khối và cần thiết kế một yếu tố đột biến để chèn vào không gianhiện hữu Bộ phận phân biệt này có thể chứa đựng một số hoạt động phục vụ và công năng táchbiệt một cách dễ dàng với các hoạt động chính của công trình gốc Người thiết kế có thể tận dụng
sự toàn vẹn về mặt cấu trúc của công trình hiện hữu để hỗ trợ cho không gian nội thất mới hoặc cóthể sử dụng những kích thước chính xác của một không gian cụ thể để quyết định kích thướcchính xác của một yếu tố mới được chèn vào Kỹ thuật này đặc biệt hiệu quả khi ngôn ngữ củayếu tố mới đối lập với ngôn ngữ của công trình hiện hữu: khối chèn đương đại được để gần vàthể hiện một sự đối lập năng động với những sự đổ nát của công trình cổ xưa
Không gian nội thất sắp đặt
Những không gian nội thất sắp đặt cho phép công trình hiện hữu và các yếu tố của quátrình thiết kế không gian nội thất mới tồn tại độc lập với nhau Cái cũ ảnh hưởng tới thiết kếcủa cái mới, sự sắp xếp và đặt để những yếu tố sắp đặt được quyết định bởi hình thức của cáihiện hữu, nhưng chúng không làm biến đổi cấu trúc hay kích cỡ của không gian nguyên thủy– đơn giản là chúng chỉ phản ánh lại cái cũ Các nghệ sỹ sắp đặt, khi muốn tạo nên một tácphẩm hài hòa trong một không gian cho trước thường dùng kỹ thuật này; các nhà thiết kếtriển lãm nói chung thường dùng phương pháp này và nó đặc biệt thích hợp khi giải quyếtnhững công trình mang tính lịch sử
Hình 12 Sơ đồ không gian nội thất (Không gian Hình 13 Gian bếp đứng tự do trong
nội thất mới chỉ được sắp đặt trong phạm vi các không gian nhà nguyện trước đây của
(Nguồn: Emma CROSS, courtesy of Multiplicity, 2004)
2.4 Sự độc lập của không gian nội thất với công trình kiến trúc
Việc tạo hình và tổ chức không gian nội thất đôi khi được xem như là một quá trình độclập, chỉ bị chi phối bởi quy mô của khối tích không gian đã được thiết lập Công trình hiện trạng
có thể được coi như là một lớp vỏ chứa đựng không gian nội thất mới và có tác động rất nhỏ lênnội thất đó Những thành tố mới được đặt trong không gian, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, khôngtác động lên không gian mà chúng nằm trong Cách giải quyết này có thể được
Trang 37sử dụng để chuẩn hóa những không gian hay hệ thống cấu trúc bất thường, kết quả là tạo nênmột không gian được sắp xếp trật tự; xuất phát từ những gì là vô trật tự và không cân bằng.Không gian nội thất trong kiến trúc đương đại được chú trọng và được nghiên cứu nhưmột yếu tố độc lập nhưng vẫn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với công trình kiến trúc Mốiquan hệ này là mối quan hệ bình đẳng và tồn tại khách quan hay là mối quan hệ thích ứng vàđộc lập của hai mặt đối lập.
Trong trường hợp người thiết kế muốn có sự đáp ứng của không gian nội thất với côngtrình kiến trúc hiện hữu, họ sẽ sử dụng các phương pháp thiết kế đan xen, chèn nguyên hoặcsắp đặt các yếu tố của không gian nội thất vào trong công trình Giải pháp thiết kế của họ sẽlàm cho không gian nội thất thích ứng với công trình kiến trúc
Hình 14 Michael LANDY, “Bán liên kết”, Sảnh Duveen, Bảo tàng Tate Britain, London,
Anh, 2004 (Nguồn: BROOKER+STONE, 2007, 122-123)
3 Kết luận
Mặc dù nhược điểm của kiến trúc Hiện đại là xem kiến trúc như một phạm trù văn hóa thuần túy, nhưng cách nhìn này cho chúng ta một phương pháp để xem xét các vấn đề của kiến trúc một cách chi tiết hơn Trong khi đó quan điểm của VENTURI là “dung nạp” và
“tích hợp” các vấn đề xung quanh hiện tượng kiến trúc trong một vật thể duy nhất Nhưng nếu không có sự cực đoan của kiến trúc Hiện đại thì sẽ không có những hướng đi mới cho kiến trúc đương đại phát triển đa dạng như hiện nay Cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa công năng và hình thức sẽ không có hồi kết Mối quan hệ giữa không gian nội thất, một đối tượng có phạm vi nhỏ hơn và thực thể kiến trúc là công trình dường như khá rõ ràng trong bối cảnh kiến trúc thế giới đương đại Chính từ lý luận của VENTURI mà không gian nội thất được giải phóng khỏi cái vỏ bọc của công trình kiến trúc của nó Không gian nội thất haykhông gian công năng có thể tồn tại một cách độc lập mà không còn bị lệ thuộc hoàn toàn vàocông trình kiến trúc
Nhà thiết kế hay kiến trúc sư có thể dùng các giải pháp để làm cho một không gian nội thất thích ứng với công trình kiến trúc Đó là một giải pháp đan xen các yếu tố của thiết kế nội
Trang 38thất vào không gian kiến trúc một cách hài hòa hay chèn nguyên một khối không gian nộithất có công năng xác định vào cấu trúc của công trình và cũng có thể chỉ là sắp đặt các yếu
tố đó sao cho hài hòa với cấu trúc của khôn gian hiện hữu
Trong trường hợp người thiết kế không muốn đi theo phong cách của công trình kiến trúc thì họ có thể sử dụng giải pháp ngụy trang cấu trúc của không gian kiến trúc để tạo nên một không gian nội thất có phong cách và hình dạng hoàn toàn độc lập Hoặc có thể lắp ráp các yếu tố tổ hợp không gian nội thất một cách độc lập và sau đó đưa vào trong công trình kiến trúc mà hoàn toàn không tác động hay làm mất đi phong cách vốn có của công trình
TÀI LIỆU THAM KHÂO
1. Acro Team (2003), Minimalism Minimalist, NXB Konemann.
2 Francis D.K CHING (2009), Architecture - Form, Space and Order 3rd Edition, NXB Xây dựng.
3. Lê Thanh Sơn (2001), Một số xu hướng kiến trúc đương đại nước ngoài, NXB Xây dựng.
4. Mario Livio (2017), Tỉ lệ vàng, NXB Trẻ.
5 Nguyễn Mạnh Thu (2008), Biểu hiện của những xu hướng trong sáng tác kiến trúc Việt Nam thời
kỳ đổi mới, Tạp chí Kiến Trúc, 04-2008, trang 59-64.
6. Nguyễn Thanh Xuân dịch (2002), Triết học phương Đông trong kiến trúc hiện đại, NXB Đà Nẵng.
7. Vitruvius (2004), Một cuốn sách về kiến trúc, NXB Hà Nội.
Trang 39THIẾT KẾ KHUNG KHÁI NIỆM PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
THÔNG MINH BỀN VỮNG TẠI VIỆT NAM
có liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ những thông tin được giải nghĩa sẽ giúp xác định khung phát triển ĐTTM theo hướng bền vững Những phát hiện của nghiên cứu này cung cấp một cái nhìn tổng quan rõ ràng về các khía cạnh cốt lõi của ĐTTM và các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững trong ĐTTM.
1 Đặt vấn đề
1.1 Về đô thị thông minh
Khái niệm đô thị thông minh (ĐTTM) vẫn còn tương đối mới và có thể được coi là sự
kế thừa của ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông (ICT) và đô thị bền vững Thực tế,khái niệm này đã được sử dụng thường xuyên, đặc biệt là sau năm 2013, khi nó vượt quá sốlần trích dẫn so với các thuật ngữ khác như đô thị bền vững (Jong và cộng sự, 2015;Yigitcanlar, 2016) Tuy nhiên, các cuộc thảo luận trong những năm gần đây vẫn chưa đi đến
sự thống nhất về khái niệm như thế nào là ĐTTM (Angelidou, 2015; Hortz, 2016)
Mặc dù gặp khó khăn khi xác định các khái niệm, nhưng phần lớn các khái niệm khôngmâu thuẫn với nhau mà có phần trùng lặp Trên bình diện tổng quát, người ta hiểu rằngĐTTM sử dụng rộng rãi ICT để giúp các đô thị xây dựng lợi thế cạnh tranh riêng (Yigitcanlar
và Baum, 2008; Caragliu và cộng sự, 2011), hoặc đó là mô hình khái niệm để đạt được sựphát triển đô thị thông qua việc sử dụng nguồn nhân lực và tập hợp nguồn lực công nghệ(Angelidou, 2014)
Do đó, thuật ngữ ĐTTM là một khái niệm tổng quát, trong đó bao gồm các chủ đề như:
Đô thị hóa thông minh; Nền kinh tế thông minh; Môi trường bền vững và thông minh; Côngnghệ thông minh; Năng lượng thông minh; Phương tiện thông minh; Chăm sóc sức khỏethông minh, v.v (Gudes et al., 2010; Cocchia, 2014; Lara và cộng sự, 2016)
Trang 40Theo Caragliu và cộng sự (2011), Lazaroiu và Roscia (2012), Lee và cộng sự (2014),Jong và cộng sự (2015) thì ĐTTM có các đặc điểm chính sau:
(a) Nâng cao hiệu quả kinh tế và hành chính, cho phép phát triển văn hóa và xã hội bằngcách sử dụng mạng lưới cơ sở hạ tầng;
(b) Tập trung cơ bản vào phát triển đô thị theo định hướng thương mại;
(c) Tập trung mạnh mẽ vào mục tiêu hiện thực hóa sự hòa nhập xã hội của các loại cư dân đô thị trong các dịch vụ công cộng;
(d) Nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp công nghệ cao và sáng tạo trong tăng trưởng dài hạn;
(e) Quan điểm cần chú ý đến chức năng nguồn vốn xã hội và quan hệ trong phát triển đôthị;
(f) Tầm nhìn để thực hiện bền vững xã hội và môi trường như một khía cạnh quantrọng của phát triển ĐTTM Một số ý kiến còn chỉ ra những thành phần cần thiết để hìnhthành nên một ĐTTM, chẳng hạn như: nền kinh tế thông minh, phương tiện thông minh, môitrường thông minh, con người thông minh, đời sống thông minh và quản trị thông minh
Hình 1 Sơ đồ khung khái niệm ĐTTM
(Nguồn: Tác giả sưu tập và smartcity index,2020)
1.2 Về đô thị thông minh bền vững
Khái niệm ĐTTM vượt ra ngoài các định nghĩa về đô thị thông tin, đô thị số và thông minh,bởi vì, việc sử dụng công nghệ có lợi cho các hệ thống và dịch vụ phục vụ con người TheoMarsal-Llacuna và cộng sự (2015), để đánh giá một ĐTTM nên xem xét những kinh nghiệm trongquá khứ về mức độ thân thiện với môi trường và đô thị đáng sống, bao gồm tính bền vững và chấtlượng cuộc sống, ngoài ra, yếu tố công nghệ là tất yếu Theo Lazaroiu và Roscia (2012), Harrison
và cộng sự (2010), Carvalho và Campos (2013) và Angelidou (2015) thì ĐTTM phải đại diện chomột cộng đồng công nghệ, được kết nối với nhau, bền vững, thuận tiện, hấp dẫn và an toàn Thực
tế, để hiểu được cách thức hoạt động, một ĐTTM cần sử dụng dữ liệu đô thị để quản lý giaothông, thống kê tiêu thụ năng lượng, an ninh và tối ưu hóa