Trong bài tiểu luận này, người viết sẽ trình bày và phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn phát sinh trong quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ đệ thực tế, bài tiêu luệi nến một sẽ để xuất
Trang 1MỤC LỤC 967.008 l
1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẼ VẤN ĐÈ CẤÁP DƯỠNG NUÔI CON
KHI VỢ CHÒNG LY HỒÔN - 56 2S E111 1921115 311111111111E 1111111111 1111111111111 11.11 5E 2
1.1 Khái niệm “cấp dưỡng nuôi €0In”” - - kSx+E19E1+E2E2EE2EEEXEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEEETErkerketksei 2
1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng - 2 ST xTH TH TxE111111111111111 111111111 EEer xe 3 1.3 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi €on - - 2-5252 ESExeEEEEEEESEEEEErkerkerkerree 5
1.4 Mức cấp dưỡng nuôi €0n - ¿2S se ST 2 12E121111071171111111111111 1111111111111 cer 6
1.5 Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi €0n 2 2 Sẻ se SsềEESEESEESEEEEEEEEEEEEEEEEEEkEEkrrkerrie §
2 THỰC TIỀN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VẺ VẤN ĐÈ CÁP DƯỠNG NUÔI
CON KHI VỢ CHÒNG LLY HÔN 55 1 E11 1921211111111 11111 1111111111111011 11111111 1 5E 8
2.1 Một số vướng mắc trong thực tiễn ấp dụng quy định pháp luật về vấn đề cấp dưỡng I1ì1Nv))(0 4i) 0/1ã/1))/1 0)/8/1)).ĐPƯHâẳiiỔỔÃỔỐỔÝỔ §
2.1.1 Vướng mắc về căn cứ xác định mức cấp dưỡng HHÔi €0H cccctntererererrsed § 2.1.2 Vướng mắc về thời điểm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, s-cceriererererred 10 2.1.3 Vướng mắc về nghĩa vụ của cha, mẹ khi chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng II
2.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về vẫn đề cấp dưỡng nuôi con '4)0/0ấ9/0).-0ì0.1 0070778 12
KẾT LUẬN - c5 s3 3 311171111111 11 111 111111 11 11 1111E1.111111111111111111.111E11 1111k gru 13 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 5-5 - S6 2S SE E329 1231111211171 11 1111111 0 14
Trang 2MỞ ĐẦU
Cũng như những mối quan hệ gia đình khác, quan hệ giữa cha mẹ và con chịu
sự ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các quy phạm đạo đức và quy phạm pháp luật Bên
cạnh sự găn kết về mặt tình cảm, cha mẹ có rất nhiều quyền và nghĩa vụ mang tính
tài sản đối với con Thông thường, cha mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Tuy vậy, trên thực tê cũng có không ít các trường hợp cha mẹ không có điêu kiện đề chung sống cùng con, điển hình nhất là trường hợp cha mẹ ly hôn Việc đặt
ra nghĩa vụ cấp dưỡng trong những hoàn cảnh như vậy có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình phát triển của người con và việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thê khác có liên quan Trong bài tiểu luận này, người viết sẽ trình bày và phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn phát sinh trong quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ
đệ thực tế, bài tiêu luệi nến một sẽ để xuất nhằm hoàn thiện quy dịnh pháp luật về
vẫn đề thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tiễn
Trang 3NỘI DUNG
1 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VẼ VẤN ĐÈ CÁP DƯỠNG NUÔI CON KHI VỢ CHÒNG LY HÔN
1.1 Khái niệm “cấp dưỡng nuôi con”
Cấp dưỡng theo quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người
đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu
Về bản chất, quan hệ cấp dưỡng tôn tại giữa hai chủ thể, một bên là người có nghĩa vụ cấp dưỡng và một bên là người nhận cấp dưỡng (người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật HN và GÐ năm 2014)
Theo quy định của Luật HNGĐ 2014, quan hệ cấp dưỡng được đặt ra khi người con chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động và
1
không có tài sản để tự nuôi mình C e thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tron trưỜng hợp không chủng sông VN con oạc đhng sông th con hưng phạni nghĩa vụ nuôi dưỡng.ˆ Thông thường, cha, mẹ chung sông cùng con đề có điêu kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Tuy vậy, cũng có những trường hợp trẻ chỉ chung sông với cha hoặc với mẹ Cha mẹ không cùng nhau chung sông với con khi họ đã ly hôn hoặc hai người không tôn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp Lúc
1
: Niên MjIuAuutp J20Mfda vụ giữa cha mẹ và con, Luật HNGĐ 2014
Trang 4này, người trực tiêp chung sông cùng con thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, người còn lại (không chung sống với con) phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
1.2 Đặc điểm của nghĩa vụ cấp dưỡng
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì nghĩa vụ cấp
dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con Quan hệ cấp dưỡng là một trong các
quan hệ đặc trưng trong lĩnh vực HN và GĐÐ Đây là một quan hệ pháp luật có điêu kiện, tương ứng với mỗi quan hệ khác nhau giữa các thành viên trong gia đình với những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các chủ thể trên cơ sở quan
hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng Theo đó, tại khoản 1 Điều 107 Luật
HN và GÐ năm 2014 đã xác định rõ: “Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của
Luật này” Các chủ thể này có thể là thành viên trong gia đình hoặc không phải là thành viên trong gia đình nhưng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Trên cơ sở
kế thừa các quy định của Luật HN và GĐÐ năm 2000, Luật HN và GÐ năm 2014 vẫn quy định đầy đủ về vấn đề cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình như: Khái niệm cấp dưỡng, điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng Luật
HN và GÐ năm 2014 cũng đã mở rộng phạm vi quy định về quyền và nghĩa vụ cấp
dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột (Điều 114), đây là quy định mới
so với các văn bản Luật HN và GŒÐ trước đó
Thứ hai, quan hệ cấp dưỡng không chỉ là quan hệ nhân thân mà còn mang tính tài sản, song không mang tính đền bù ngang giá Người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định nhăm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu cho người được cấp dưỡng Khi thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, luôn có sự chuyển giao một phần lợi ích nhất định từ phía người cấp dưỡng sang người được cấp
Trang 5dưỡng Trường hợp bên có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế, không thể thực hiện việc cấp dưỡng thì tuy nghĩa vụ cấp dưỡng chưa chấm dứt, nhưng ý nghĩa thực tế của nghĩa vụ này cũng hầu như không có, bởi vì lợi ích tài sản của nghĩa vụ không còn tổn tại
Quan hệ cấp dưỡng không mang tính đền bù ngang giá do yếu tố tình cảm giữa các
chủ thê Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện một cách tự nguyện, không tính toán
đến giá trị tài sản đã cấp dưỡng, không đòi hỏi người được cấp dưỡng phải hoàn lại một số tiền tương ứng Do nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ được đặt ra khi có những điều kiện nhất định Vì vậy, quan hệ cấp dưỡng không mang tính đền bù tương đương
Thứ ba, nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thê chuyên giao cho người khác Bên có nghĩa vụ cấp dưỡng không thể cam kết sẽ dùng nghĩa vụ khác để thay thế, bù trừ nghĩa vụ cấp dưỡng như là bôi thường thiệt hại hay phạt vi phạm Nghĩa vụ cấp dưỡng này cũng không thể sử dụng làm cơ sở đảm bảo cho những nghĩa vụ khác; đồng thời, chủ thê có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng không thể chuyển giao nghĩa vụ cấp dưỡng cho bất cứ ai Đây cũng là một đặc trưng xuất phát từ tính chất của quyền nhân thân “ là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”
Thứ tr, nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh trong điều kiện nhất định Quan hệ
cấp dưỡng là quan hệ phái sinh, tức là khi quan hệ nuôi dưỡng không thực hiện
được hoặc thực hiện không đây đủ thì lúc đó quan hệ câp dưỡng mới xuât hiện
Trong thực tế, không chỉ do người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng không thực hiện nghĩa vụ đó thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh Bất kỳ thành viên nào trong gia đình cũng có thể rơi vào hoàn cảnh không đầy đủ hoặc thiếu hụt về phương diện
nào đó; song chỉ khi người đó có sự thiếu hụt về vật chất, làm ảnh hưởng trực tiếp
đến cuộc sông của họ thì nghĩa vụ cấp dưỡng mới đặt ra Điêu này biểu hiện ở chỗ,
Bên để TẾ nhỐy mình? ThỌNg quan hệ cấp tường Nay, chứ the KHÔNg chỉ lạ Hành
Trang 6viên gia đình trong mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng mà còn phải
thoả mãn những điều kiện nhất định về độ tuổi, tình trạng nhân thân, tài sản
Thứ năm, việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thông qua lương tâm,
đạo đức, dư luận xã hội và cả các biện pháp cưỡng chế thi hành Quan hệ huyết
thống là gốc rễ hình thành mối quan hệ gắn bó, khăng khít giữa các thành viên trong gia đình Khi các thành viên trong gia đình không thể trực tiếp chăm sóc nhau
thì họ thực hiện nghĩa vụ thông qua việc cấp dưỡng Việc thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng trước hết xuất phát từ ý thức, trách nhiệm của bên thực hiện cấp dưỡng Pháp luật cũng đã đưa ra các chế tài nhằm xử lý những trường hợp trốn tránh nghĩa
vụ cấp dưỡng, không chỉ trong pháp luật dân sự, HN và GÐ mà còn trong pháp luật hình sự
1.3 Căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
Theo quy định của Luật HNGĐ 2014, quan hệ cấp dưỡng được đặt ra khi người con chưa thành niên hoặc đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình? Cha mẹ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp không chung sống với con hoặc chung sống cùng con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng” Thông thường, cha, mẹ chung sống cùng con đề có điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ Tuy vậy, cũng có những trường hợp trẻ chỉ chung sống với cha hoặc với mẹ Cha mẹ không cùng nhau chung sống với
con khi họ đã ly hôn hoặc hai người không tôn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp Lúc này, người trực tiêp chung sông cùng con thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, người còn lại (không chung sống với con) phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
Thực tế cho thấy, cha mẹ có thê không (thường xuyên) cùng chung sống dưới một mái nhà với con, nhưng nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn không được đặt ra nếu giữa
họ tỐn tại mối quan hệ hôn nhân Luật HNGĐ 2014 không định nghĩa thế nào là việc cha, mẹ “chung sông” cùng với con hoặc ngược lại Theo chúng tôi, nêu cha
3 Điều 110 Luật HNGĐ 2014
* Xem Mục 1, Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, Luật HNGĐ 2014
Trang 7mẹ vẫn tôn tại quan hệ hôn nhân thì họ cùng có nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái (vấn
để chỉ là cách thức chăm sóc, nuôi dưỡng con cái của mỗi gia đình có thể khác biệt
- thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp) Việc con không chung sống cùng với cha hoặc mẹ nên được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý Cha, mẹ lúc này thường
không có sự ràng buộc trong mối quan hệ nhân thân, tình cảm, họ có chỗ ở riêng
biệt và việc phải lựa chọn tại một thời điểm cụ thê chỉ sống với cha hoặc mẹ là điều
tất yếu
1.4 Mức cấp dưỡng nuôi con
Theo Điều 116 Luật HNGĐ 2014, mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn
cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu
thiết yêu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết Việc xác định mức cấp dưỡng giữa cha mẹ với con dựa trên hai yếu tố chính: các nhu cầu chính đáng cần được đáp ứng của người con và khả năng tài
chính trên thực tê của cha, mẹ
Thứ nhất, mức cấp dưỡng được xác định dựa trên nhu cầu thiết yếu của người
con được cấp dưỡng Ngoại trừ những nhu cầu chung mà bất cứ một cá nhân nào cũng cần được đáp ứng để duy trì sự sống (như ăn, mặc, ở), nhu cầu thiết yếu của
mỗi người thường được xác định dựa trên độ tuổi Càng ở độ tuổi phát triển, nhóm
nhu cầu thiết yếu càng có xu hướng mở rộng hơn Chăng hạn, bên cạnh những nhu
cầu cơ bản để duy trì sự sống, người ta bắt đầu hình thành nhu câu học tập, đi lại,
thông tin liên lạc Cùng với đó, nhu câu thiết yếu còn được xác định trên hoàn cảnh
cụ thể của mỗi người Có những nhu câu là cần thiết với người này nhưng với
người khác lại không được đặt ra Ví dụ như với một số người, việc khám, chữa
bệnh là vô cùng cân thiệt, nhưng cũng có những người gân như không có nhu câu
này trên thực tê Vì vậy, mặc dù nhu câu thiệt yêu là những yêu câu cơ bản đôi với
Trang 8tât cả mọi người, nhưng việc xác định nhu câu cụ thê của một người trên thực tê lại
cân có sự xem xét cân trọng từ nhiêu yêu tô và cơ sở khác nhau
Dưới góc độ văn bản pháp luật và thực tiễn xét xử, có thê nhận thấy răng, liên quan đến người được cấp dưỡng, mức cấp dưỡng chủ yếu được xác định dựa trên
nhu cầu thiết yếu của người này Tuy vậy, việc giới hạn mức cấp dưỡng trong phạm vi những nhu cầu thiết yêu trong một số trường hợp là chưa thực sự hợp lý Khi xét đến mức cấp dưỡng cho người con, pháp luật Hoa Kỳ luôn dành một sự
quan tâm đặc biệt đến hoàn cảnh về mọi mặt của người con Theo đó, các yêu tô
được chú trọng bao gồm: nguồn tài chính của con, mức sống mà người con có thê được hưởng nếu cha mẹ không ly hôn, điều kiện về thể chất, tinh thần và những nhu câu về giáo dục của tré.° Điều này cho thấy việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
của cha, mẹ luôn hướng đến sự ồn định trong đời sống của con Nói cách khác, pháp luật hồ trợ tôi đa đê quyên lợi của trẻ không thay đôi trong hoàn cảnh được nuôi dưỡng hay cấp dưỡng Nhu câu thiết yếu lúc này chỉ được xem xét như là một trong những yêu tô đê xác định điều kiện sông của trẻ
Thứ hai, mức cấp dưỡng được xác định trên khả năng tài chính của cha
mẹ Khả năng tài chính của cha mẹ có thể được đánh giá thông qua giá trị tài sản
mà cha, mẹ sở hữu, nguồn thu nhập cũng như những nghĩa vụ tài sản mà cha, mẹ
phải thực hiện Trong đó, việc xác định nguồn thu nhập của cha mẹ không phải là điêu đơn giản Khái niệm “thu nhập” được hiệu rât khác biệt đôi với từng ngành luật khác nhau.” Thu nhập được xác định để tính mức cấp dưỡng nên là những nguồn thu có tính ồn định Điều này xuất phát từ tính chất quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con Thông thường, mức cấp dưỡng được định sẵn trong một khoảng
Š Trong một vụ việc, Toà án đã tuyên người cha có nghĩa vụ cấp dưỡng với số tiền 365.000 đồng/tháng cho mỗi người cơn Tuy vậy, thực tê người con trai mặc chứng bệnh “U sun suon (Úoo) phải điêu trị khá lâu dài”
5 John De Witt Gregory, Peter N Swisher, Robin Fretwell Wilson (2013), Jnderstand family law, LexisNexis, 4”,
PPring hạn nhự Luật Thuê thu nhập cá nhân hay luật dân sự, Luật HNGĐ sẽ có những cách nhìn không hoàn toàn đồng nhât về “thu nhập”
Trang 9thời gian dài, những khoản thu nhập tăng hoặc giảm có tính “đột biến” chỉ nên được xác định để yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng Việc thực hiện nghĩa vụ này cần được diễn ra một cách ồn định để không tạo nên biến động lớn trong đời sống của con được câp dưỡng
1.5 Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
Theo Điều 118 Luật HNGĐ 2014, quan hệ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con chấm dứt khi thuộc một trong các trường sau: (¡) con đã thành niên và có khả năng
lao động hoặc có tài sản đề tự nuôi mình; (1) con đã được nhận làm con nuôi; (11)
con được bên cha mẹ cấp dưỡng trực tiếp nuôi dưỡng; (iv) một trong hai bên chết
Theo logic được thể hiện bởi Luật HNGĐ: cha mẹ chỉ có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp
dưỡng nếu con chưa thành niên Khi người con đã thành niên, có khả năng lao động
thì quyền và nghĩa vụ này sẽ tự động chấm dứt Điều này đã dẫn đến một kết quả
ngâm định răng: khi người con đủ 18 tuôi và có khả năng lao động thì quan hệ câp dưỡng sẽ chấm dứt
2 THỰC TIỀN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÉ VẤN ĐÈ CÁP
DƯỠNG NUÔI CON KHI VỢ CHÒNG LY HÔN
2.1 Một số vướng mắc trong thực tiễn ấp dụng quy định pháp luật về vấn đề cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn
2.1.1 Vướng mặc vê căn cứ xác định mức cấp dưỡng nuôi con
Trong các vụ án ly hôn mà Tòa án thụ lý giải quyết hiện nay, hầu như đương
sự chỉ tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con Chắng hạn như một bên đương sự yêu cầu được quyên nuôi con sẽ yêu cầu bên còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với một số tiền cụ thể hoặc chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật Trong quá trình giải quyết vụ án, bên không trực tiếp nuôi con sẽ có ý kiến không đồng ý cấp dưỡng hoặc chỉ đồng ý mức cấp dưỡng thấp hơn yêu cầu của bên kia
Trang 10hoặc có ý kiến yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật Trong những trường hợp như vậy, Tòa án phải xem xét để quyết định mức cấp dưỡng
Theo quy định tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì khi quyết định mức cấp dưỡng nuôi con, Tòa án phải căn cứ vào hai yếu tố đó là việc
cấp dưỡng phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và phải căn
cứ vào thu nhập, khả năng thực tê của người có nghĩa vụ câp dưỡng Hiện nay, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thê thế nào là “thu nhập, khả năng thực tế của người
có nghĩa vụ cấp dưỡng” và “nhu câu thiết yếu của người được cấp dưỡng” theo quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Trước đây, theo khoản l Điều l6
Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chỉ tiết thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (Nghị định 70/2001/NĐ-CP ) thì “khả năng thực tế của người có nghĩa cấp dưỡng là người có thu nhập thường xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên nhưng còn tài sản sau khi đã trừ đi chì phí thông thường cần thiết cho cuộc sống của người đó” Còn theo khoản 2 Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì: “Nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng được xác định căn cứ vào mức sinh hoạt trung bình tại địa phương nơi người được cấp dưỡng cư trú, bao gồm các chi phí thông thường cần thiết về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác để bảo đảm cuộc sống của người được câp dưỡng”
Tuy nhiên, với những quy định như vậy, rất khó để Tòa án có thể tính toán được thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cũng như tính toán nhu câu thiết yêu của người được cấp dưỡng Từ vướng mắc trong thực tiễn
như vậy, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thắm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 được ban hành và có hướng dẫn như sau: “Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chỉ phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì tuỳ vào từng