Rất ít tài liệu, giáo trình bàn về việc phân loại các HĐ sư phạm trong dạy học ĐHVB nói riêng; mục đích và vai trò của các HĐ sư phạm khác nhau và mối quan hệ của các HĐ ấy trong dạy học
Trang 11
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Trang 22
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học:
Vào hồi giờ ngày tháng năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam;
- Thư viện Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Trang 31
MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài
1.1 Yêu cầu đổi mới dạy học trong nhà trường phổ thông những năm gần
đây chuyển từ truyền thụ nội dung sang hình thành và phát triển năng lực (NL) cho người học Với việc dạy đọc hiểu (ĐH) trong môn Ngữ văn, người GV cần biết chuyển từ cách dạy học giảng văn sang dạy ĐH các loại văn bản (VB) Chương trình (CT) Ngữ văn 2006 đã nêu lên định hướng dạy học ĐH theo thể loại và kiểu VB CT Ngữ văn 2018 tiếp tục khẳng định yêu cầu và định hướng
đó Do đó các hoạt động dạy học (HĐDH) của GV cần tuân thủ theo yêu cầu
của CT
Yêu cầu đổi mới CT giáo dục theo định hướng phát triển NL đòi hỏi GV phải thay đổi cách dạy theo hướng tổ chức các HĐ, thông qua các HĐ và bằng các HĐ Trong hàng loạt các HĐ của GV ở giờ đọc hiểu văn bản (ĐHVB) đâu
là những HĐ cốt lõi cần tuân thủ trong dạy học theo định hướng mới? Đâu là những HĐ “mềm” có thể và cần vận dụng linh hoạt? HĐDH của người thầy vì vậy cần phải thay đổi theo hướng nào? Các vấn đề lí luận và phương pháp dạy học mới vừa nêu chưa được chú ý; chưa có công trình chuyên sâu phân tích một cách cụ thể Rất ít tài liệu, giáo trình bàn về việc phân loại các HĐ sư phạm trong dạy học ĐHVB nói riêng; mục đích và vai trò của các HĐ sư phạm khác nhau và mối quan hệ của các HĐ ấy trong dạy học ĐHVB cũng chưa được trình bày một cách tường minh,…Và vì thế cần có những công trình nghiên cứu đề xuất các HĐ cụ thể trong dạy học ĐHVB nhằm phát triển NLĐH của HS
1.2 Để đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng dạy học phát triển NL nói chung, dạy học ĐHVB nói riêng, vừa giúp thay đổi chất lượng của dạy học theo
CT hiện hành, vừa tập dượt, chuẩn bị cho việc thực hiện CT mới 2018, GV cần được trang bị kiến thức và kĩ năng dạy học mới trong đó có việc nắm được các
HĐ trong giờ ĐH sao cho phù hợp Hệ thống HĐ này chịu sự chi phối của 02 yêu cầu lớn: 1) Hình thành cách ĐHVB gắn với đặc trưng của kiểu/ loại (thể) VB; 2) Phát huy tính tích cực của HS trong việc dạy học theo định hướng phát triển NL Lâu nay, GV dạy ĐHVB nhưng về lí thuyết, sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV) chưa hướng dẫn cho GV cách tổ chức HĐ có cơ sở khoa học của dạy học ĐHVB theo định hướng phát triển NL Nghĩa là cần xác định được một mô hình (MH) thống nhất về những HĐ cốt lõi GV cần tuân thủ ở giờ dạy ĐH; từ đó mà vận dụng linh hoạt, sáng tạo Mô hình hoạt động (MHHĐ) dạy học ĐHVB phải đáp ứng 2 yêu cầu sau: một là, MH phải thể hiện những
Trang 42
HĐ cốt lõi của GV làm thành “khung” HĐ dạy học ĐHVB, đáp ứng tiến trình dạy học trước, trong và sau giờ học; hai là phải hướng tới hình thành và phát triển NL đọc, phát huy được tính tích cực chủ động, khuyến khích sự sáng tạo của HS trong đọc hiểu, tiếp nhận VB
Với những lí do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề: Mô hình hoạt động của giáo viên trong dạy đọc hiểu văn bản ở trung học phổ thông
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Để làm cơ sở trước khi triển khai nghiên cứu nội dung chính của đề tài, luận
án (LA) đã tìm hiểu một số tài liệu liên quan theo các vấn đề sau:
2.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề hoạt động giảng dạy của giáo viên
Điểm qua các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về HĐDH và MHHĐ dạy học cho thấy những điểm sau đây:
Thứ nhất, các tài liệu nghiên cứu chỉ ra đặc thù của HĐDH là HĐ tương
tác:“quá trình khách thể hóa chủ thể” và “quá trình chủ thể hóa khách thể”(A
Leontiev) Trong HĐDH, thầy và trò cùng hướng về một mục tiêu, trong đó
HĐ của GV là “máy cái” làm ra sản phẩm (Carl Rogers)
Thứ hai, HĐ của GV nhằm tăng cường hiệu quả trong giảng dạy phải có các thủ thuật (J.Stronge), phương pháp giảng dạy và trình độ lành nghề của
GV (Trần Bá Hoành),…
Thứ ba, HĐDH phải được nghiên cứu trên cơ sở khoa học của lý thuyết học tập: “Mô hình dạy học là điển hình hóa những HĐ, những mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố trong cấu trúc hệ thống của quá trình dạy học tại một
cơ sở giáo dục”(Đỗ Thế Hưng- Nguyễn Thị Kim Hoa)
Những kết quả nghiên cứu trong các tài liệu nói trên, đáng chú ý là quan điểm xuất phát từ lý thuyết HĐ và đặc thù của HĐDH, về MH dạy học theo tiếp cận các lí thuyết học tập là những gợi ý bổ ích, tác giả LA đã tiếp thu và vận dụng trong LA để làm cơ sở khoa học nghiên cứu về HĐ của GV trong dạy học ĐHVB ở THPT
2.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến đọc hiểu văn bản và phát
triển năng lực cho HS trong dạy đọc hiểu văn bản ở nhà trường phổ thông
2.2.1.Những công trình nghiên cứu về dạy học đọc hiểu trong nhà trường phổ thông
Ở Đức, nghiên cứu về phương pháp dạy học ĐHVB diễn ra từ thập niên 70 của thể kỉ XX [Nguyễn Thanh Hùng, 2008] Ở Liên Xô cũ, A.Nhi Kônxki rất quan tâm đến HĐ đọc của HS Đặc biệt việc đọc diễn cảm của GV sẽ gây được
Trang 53
ấn tượng sâu sắc cho HS khám phá nội dung tác phẩm, làm tăng hứng thú học tập cho người học [Nguyễn Thanh Hùng, 2008] Ở Mĩ, vấn đề ĐH trong nhà trường phổ thông đã được nghiên cứu một cách sâu rộng và khá toàn diện [Phạm Thị Thu Hiền, 2014]
Nói đến vấn đề ĐHVB không thể không đề cập đến quan niệm của PISA Đánh giá NLĐH của HS - nhìn từ yêu cầu PISA cho thấy: "NL ĐH không chỉ còn là một yêu cầu suốt thời kì tuổi thơ trong nhà trường phổ thông, mà nó còn trở thành một nhân tố quan trọng trong việc xây dựng, mở rộng những kiến thức, kĩ năng và chiến lược của mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời”[Đỗ Ngọc Thống, 2014]
Việc dạy học ĐHVB đã được đề cập ở Việt Nam từ giữa thập niên 80 (thế
kỷ XX) Việc nghiên cứu về dạy học ĐHVB vẫn nằm trong khuôn khổ dạy học môn Ngữ văn theo CT định hướng nội dung
Từ sau năm 2000, với tinh thần đổi mới CT và SGK môn Ngữ văn theo nghị quyết 40 của Quốc hội (năm 2000), ý kiến các nhà nghiên cứu, nhà giáo
có kinh nghiệm về dạy học ĐHVB trong nhà trường phổ thông có sự “đột phá” thể hiện ở mấy điểm sau:
– Trong dạy học ĐHVB, hai đối tượng cần chú ý là văn bản và người đọc
“Người đọc xem xét kỹ VB để hình thành cách hiểu riêng của mình”
– HĐ dạy học ĐHVB trong nhà trường để phát triển kĩ năng đọc của HS;
HS phải được trang bị trên hai phương diện “kiến thức để đọc văn và phương pháp đọc văn”
– Phải thay đổi phương pháp dạy học Ngữ văn của GV: “Vai trò của người thầy thể hiện ở năng lực tổ chức cho HS ĐHVB”
2.2.2 Những bài viết, công trình nghiên cứu về dạy ĐHVB nhằm phát triển năng lực đọc hiểu cho HS trong nhà trường phổ thông
LA đã tìm hiểu ý kiến, quan điểm nghiên cứu liên quan đến vấn đề dạy học phát triển NL ĐHVB cho HS trong trường phổ thông của Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Thị Hạnh, Phạm Thị Thu Hương và các nhà nghiên cứu thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam,…Các kết quả nghiên cứu đã tiếp cận HĐ dạy học ĐHVB trong trường phổ thông theo CT định hướng NL, với xu hướng dạy học ĐHVB trên thế giới Cách hiểu khái niệm ĐHVB không chỉ giới hạn ở VB tác phẩm văn học
mà nhiều kiểu loại VB, gắn với yêu cầu dạy học ĐHVB là rèn luyện NL ĐHVB cho HS Từ việc nhận thức vai trò của người đọc - HS, như chủ thể tiếp nhận tích cực, với nhận thức mới về lý luận và thực tiễn, phương pháp dạy
Trang 64
ĐHVB trong trường phổ thông với cách nhìn mới mang tính “đột phá” được coi là phương pháp có ưu thế trong dạy và học Ngữ văn hiện nay
2.3 Tài liệu hướng dẫn, công trình nghiên cứu về phương pháp giảng
dạy, luận án liên quan đến hoạt động của GV trong dạy đọc hiểu văn bản
2.3.1 Tài liệu hướng dẫn, bồi dưỡng GV thực hiện chương trình, sách giáo khoa THPT môn Ngữ văn
Điểm lại các bộ sách hướng dẫn giảng dạy từ năm 2002 đến 2008 cho thấy: mục tiêu mà đội ngũ tác giả thể hiện trong tài liệu là là “vật chất hóa được HĐ của HS” bằng một hệ thống thao tác trong giờ học Công việc của GV Ngữ văn là bám sát mục tiêu của CT và tổ chức HĐ dạy phù hợp với mục tiêu
và đối tượng theo CT dạy học định hướng nội dung GV tuân theo những định hướng, những “lối mòn” đã bày sẵn là cung cấp đủ dung lượng kiến thức và hoàn tất mọi công việc được chỉ dẫn từ SGV Phương pháp và tiến trình tổ chức
dạy học chưa xác định rõ nội dung cụ thể các HĐ của GV Coi nhẹ việc cụ thể hóa các hình thức HĐ của GV nhằm tổ chức cho HS đọc trong vai trò người học tích cực
2.3.2 Những công trình nghiên cứu về phương pháp giảng dạy của GV trong dạy đọc hiểu
Công trình nghiên cứu liên quan đến hướng dẫn giảng dạy đọc hiểu văn bản
LA khảo sát các tài liệu: Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản (bản dịch tiếng Việt - 2008) của T E.Raphael và E.H.Hiebert, Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học (2005) của Nguyễn Hữu Châu Các HĐ của
GV trong dạy học được quan sát dưới góc nhìn của chủ thể là người học, tuy khá đa dạng, phong phú nhưng các HĐ của GV trong dạy ĐHVB chưa được
minh định rõ ràng Phạm Thị Thu Hương trong cuốn Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông (2012) đề cập đến những khó
khăn nảy sinh trong quá trình chiếm lĩnh VB khi người đọc (HS) trực tiếp tiếp xúc với các yếu tố cấu thành VB như: điển tích, điển cố, thuật ngữ khoa học, cách miêu tả, tổ chức cốt truyện, biện pháp xây dựng nhân vật, giọng điệu,v.v Cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích về phương pháp dạy ĐHVB cho GV Ngữ văn qua việc giới thiệu và phân tích một số chiến thuật, kĩ năng ĐH có
thể áp dụng vào dạy ĐHVB ở nhà trường phổ thông hiện nay Tài liệu Phương pháp dạy đọc văn bản (2016) của Nguyễn Thị Hồng Nam và Dương Thị Hồng
Hiếu là giáo trình đầu tiên ở nước ta đề cập đến phương pháp dạy học ĐHVB Tuy nhiên, tài liệu minh họa cho các biện pháp dạy ĐHVB chủ yếu là
Trang 75
của học viên cao học nên giáo trình đã hạn chế phạm vi đối tượng sử dụng
(chủ yếu cho GV bậc đại học)
Hướng nghiên cứu hoạt động dạy học đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại
Trong Mô hình đọc hiểu tác phẩm văn chương (2011) của Nguyễn Thanh
Hùng và Nguyễn Thanh Bình “Phương hướng thiết lập mô hình đọc hiểu tác phẩm văn chương (TPVC) theo loại thể đã được thể hiện trong nội dung chuyên luận” (tr.112) Đi sâu nghiên cứu về giảng dạy ĐHVB ở THPT theo loại thể có 04 luận án (LA) tiến sĩ đáng chú ý: LA nghiên cứu về MH dạy học ĐHVB nghị luận của Phạm Thị Huệ (2014); về dạy ĐH kịch bản văn học của Nguyễn Thành Lâm; Phát triển NL ĐHVB thơ trữ tình cho HS qua hệ thống bài tập của Nguyễn Thị Thanh Lâm (2016); LA của Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2020) nghiên cứu về câu hỏi ĐHVB tự sự cho HS THPT theo định hướng phát triển NL
2.3 Nhận định chung về các hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.3.1 Những vấn đề chưa được các công trình, bài viết đề cập
Điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến hướng nghiên cứu của đề tài có thể nhận thấy nghiên cứu về MHHĐ của GV Ngữ văn trong dạy ĐHVB ở cấp THPT chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu Một số công trình nghiên cứu, bài viết có đề cập đến công việc tổ chức hay thiết kế giờ dạy Văn theo phương pháp đọc – hiểu nhưng chỉ ở phạm vi một bài dạy hoặc một thể loại, chưa khái quát được MH chung một cách bao quát và có hệ thống của HĐDH ĐHVB gắn với quá trình dạy học: trước, trong
và sau giờ học trên lớp, ngoài giờ lên lớp, trong đó vừa có những HĐ cốt lõi,
vừa đáp ứng yêu cầu dạy ĐHVB gắn với đặc trưng thể loại, có những định
hướng mang tính “mở” để khuyến khích sự sáng tạo của GV trong việc rèn luyện NLĐH cho HS
Tài liệu hướng dẫn dạy ĐHVB hiện có cũng chưa được biên soạn theo một quan niệm thống nhất về hệ thống các HĐ của GV Ngữ văn trong dạy ĐH theo yêu cầu đổi mới CT giáo dục
2.3.2 Những vấn đề luận án cần giải quyết
– Xác định cơ sở khoa học cho các HĐ của GV Ngữ văn trong dạy ĐHVB theo định hướng phát triển NL cho HS ở THPT
– Đề xuất MHHĐ của GV trong dạy ĐHVB đáp ứng yêu cầu ĐHVB
(gắn với đặc trưng thể loại) hướng đến mục tiêu phát triển NL cho HS THPT
Trang 86
– Tiến hành thực nghiệm, vận dụng MHHĐ của GV trong dạy học ĐHVB
(gắn với đặc trưng thể loại) mà LA đề xuất vào dạy cho HS ở cấp THPT nhằm
chứng minh tính hiệu quả, tính khả thi của MHHĐ này, làm sáng tỏ giả thuyết khoa học của LA
3.Mục đích nghiên cứu
LA tập trung nghiên cứu MHHĐ của GV Ngữ văn trong dạy ĐHVB, giúp hình dung HĐ dạy học ĐHVB của GV Ngữ văn ở THPT trong tình hình đổi mới CT giáo dục hiện nay Theo đó, nội dung của LA phải khái quát được những HĐ cơ bản, cốt lõi, của GV trong giảng dạy ĐHVB, đáp ứng yêu cầu ĐHVB (gắn với đặc trưng thể loại); Phát huy tính tích cực của HS trong việc
dạy học theo định hướng phát triển NL Gọi là HĐ cơ bản, cốt lõi vì những
HĐ đó hướng về mục tiêu phát triển NLĐH của HS làm thành cái “khung” giúp định hình HĐ của GV dạy ĐHVB
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các HĐ cốt lõi của GV Ngữ văn trong dạy học ĐHVB ở trường THPT thuộc lĩnh vực nghiên cứu phương pháp dạy học
Phạm vi nghiên cứu đề tài: Dạy học ĐHVB trong nhà trường THPT rất đa dạng, phong phú, riêng số lượng các thể loại đã rất nhiều Dựa vào CT Ngữ văn
2006, LA xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào các loại VB gồm: VB văn học (thơ, truyện, kịch, ký) và VB nghị luận
Với CT hiện hành đối tượng dạy ĐH chủ yếu là VB văn học (truyện, thơ, kịch, ký, ) và một số ít VB nghị luận LA tập trung xác lập MHHĐ của GV trong dạy học ĐHVB ở loại VB văn học Đây là loại VB tiêu biểu và rất đa dạng, phong phú nên cần có MH thống nhất trong dạy học ĐH Để phù hợp với điều kiện nghiên cứu, khi thực nghiệm chúng tôi tập trung vào dạy ĐHVB thơ và truyện ở lớp 11 là chính,…Các HĐ của GV Ngữ văn trong dạy ĐHVB được đề cập cả trước, trong và sau giờ học trên lớp, ngoài giờ lên lớp
5 Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
1- Đề tài được thực hiện theo hướng tiếp cận liên ngành Các lý thuyết học tập như: Lý thuyết về hoạt động, lý thuyết tiếp cận giáo dục dựa trên NL, thuyết kiến tạo, thuyết hành vi, tri thức về tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, mỹ học tiếp nhận, lý thuyết về sự phản hồi của người đọc,… được vận dụng để trình bày làm sáng tỏ cơ sở khoa học về HĐ của GV trong dạy học ĐHVB ở THPT
2- Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
Trang 97
– Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: hồi cứu tư liệu
– Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Điều tra, khảo sát thực tiễn để tìm hiểu thực trạng
+ Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của kết quả nghiên cứu
– Phương pháp chuyên gia
Ngoài các phương pháp nghiên cứu chính nói trên, trong khi tiến hành nghiên cứu, LA cũng vận dụng phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp so sánh, đối chiếu khi cần thiết
6.Giả thuyết khoa học
Dạy học ĐH đã thành một yêu cầu quan trọng trong CT Ngữ văn hiện hành (trước và sau năm 2000) Tuy nhiên, GV vẫn còn lúng túng và chưa nhất quán trong việc tổ chức các HĐ trong dạy ĐHVB để đạt được mục tiêu phát triển NL của HS Nếu xác lập được một hệ thống những HĐ then chốt, bắt buộc của GV trong dạy học ĐHVB theo hướng gắn với đặc trưng thể loại và phát huy tính tích cực của HS thì việc dạy học ĐHVB sẽ có hiệu quả, bảo đảm được các yêu cầu chung, đáp ứng được mục tiêu dạy học ĐHVB theo định hướng phát triển NL
7 Dự kiến đóng góp của luận án
– Về lý luận:
Hệ thống hóa và đề xuất một số cơ sở khoa học và lý luận dạy học hiện đại vào việc nghiên cứu MHHĐ của GV Ngữ văn trong dạy học ĐHVB, đáp ứng yêu cầu đặc trưng thể loại và phát triển NL đọc
– Về thực tiễn
Bằng việc đề xuất MHHĐ của GV Ngữ văn trong dạy học ĐHVB gắn với đặc trưng thể loại, LA giúp GV tháo gỡ khó khăn trong việc xác định các HĐDH ĐH, cải thiện phương pháp dạy học ĐHVB ở THPT
8 Bố cục của luận án
LA ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính gồm có 03 chương Chương 1 Cơ sở của việc đề xuất mô hình hoạt động của GV trong dạy đọc hiểu văn bản ở THPT
Chương 2 Mô hình hoạt động của GV trong dạy đọc hiểu văn bản ở THPT theo định hướng phát triển NL
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 10Năng lực là “sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ
năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”[Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014] Tính “hiệu quả”, thành công hoặc “chất lượng cao” của HĐ là một đặc điểm quan trọng của NL
CT giáo dục định hướng phát triển NL nhấn mạnh hai nhóm NL cần phát triển cho HS: những NL chung và những NL đặc thù
Nhóm các NL chung, cốt lõi [Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014], bao gồm:
NL làm chủ và phát triển bản thân; NL xã hội; NL công cụ Cùng với việc xác định NL chung, cốt lõi, với tính chất tích hợp trong giáo dục, NL đặc thù đáp ứng yêu cầu định hướng phát triển NL của HS trong từng môn học Mối liên
hệ giữa NL chung và NL đặc thù trong CT giáo dục định hướng NL, đảm bảo
là “nền tảng” của CT giáo dục định hướng NL
1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là rèn luyện năng lực đọc hiểu cho HS
Tham khảo nguồn tư liệu trong và ngoài nước về dạy học môn Ngữ văn theo định hướng phát triển NL cho thấy: Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển NL là rèn luyện NLĐH cho HS Đó là một xu thế phát triển tất yếu
Trang 119
trong CT giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến.“ĐHVB là để hình
thành năng lực đọc hiểu cho học sinh”
1.1.3 Yêu cầu về dạy học đọc hiểu của chương trình môn học Ngữ văn cấp THPT
Để làm cơ sở xác định MHDH ĐH của GV THPT theo định hướng NL,
LA căn cứ vào yêu cầu và mức độ cần đạt của CT môn học, trước hết là CTNV 2006 và tham chiếu yêu cầu cần đạt của CT 2018 Theo đó, LA trình bày yêu cầu về mức độ cần đạt về ĐHVB với HS THPT ở phần Chuẩn CT của CTNV 2006 (trình bày ở tr.44,45 của LA) Chuẩn kết quả đầu ra nêu trên đây của CTNV 2006 là căn cứ quan trọng để xác định các HĐDH ĐHVB bám sát theo đặc trưng thể loại và mức độ cần đạt
Trong mức độ cần đạt nêu trên bao giờ cũng có 3 yêu cầu lớn: một là nêu lên các nội dung đặc sắc cần chú ý của những VB được học; hai là nêu lên yêu cầu “biết cách đọc - hiểu” thể loại hay kiểu VB đó Và ba là biết vận dụng vào việc đọc và viết về thể loại đó Từ mức độ cần đạt cho mỗi thể loại này, GV cần xác định các HĐ dạy học sao cho đạt được các yêu cầu, mức độ ấy
CTNV 2018 tiếp tục quan niệm ĐH theo thể loại và kiểu VB của CTNV 2006 Thể hiện trước hết ở Mục tiêu: “Tiếp tục phát triển các năng lực đã hình thành ở trung học cơ sở với các yêu cầu cần đạt cao hơn: ĐH được
cả nội dung tường minh và hàm ẩn của các loại VB với mức độ khó hơn thể hiện qua dung lượng, nội dung và yêu cầu đọc”; “ĐH với yêu cầu phát triển tư duy phản biện”; “Vận dụng được các kiến thức về đặc điểm ngôn từ văn học, các xu hướng – trào lưu văn học, phong cách tác giả, tác phẩm, các yếu tố bên trong và bên ngoài VB để hình thành NL đọc độc lập”
Từ mục tiêu của môn Ngữ văn ở cấp THPT, yêu cầu cần đạt về NL văn học của HS cấp THPT được xác định (LA trích dẫn ở tr 45,46,47)
Những yêu cầu về mức độ ĐH của cả CTNV 2006 và CTNV 2018 đều là chỗ dựa để chúng tôi xác định các HĐDH cốt lõi của GV trong việc dạy ĐH theo thể loại
1.2.Bản chất của đọc hiểu văn bản và mục tiêu của HĐ dạy học ĐH theo định hướng phát triển năng lực
1.2.1.Khái niệm “văn bản” và “đọc hiểu văn bản’
1.2.1.1.Về khái niệm“văn bản”
Xu thế phát triển của xã hội Việt Nam thời đại mới với sự bùng nổ thông tin, khái niệm văn bản cũng mở rộng Trên thực tế, VB phổ biến trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay rất đa dạng
Trang 1210
Cách hiểu khái niệm văn bản trong LA theo nghĩa rộng của thuật ngữ này,
hướng khai thác nhiều nguồn cung VB: nguồn in (sách, báo chí, hình ảnh, các bản in quảng cáo, ) và không in (VB trên TV, Radio, Internet, băng, đĩa,…), VB kết hợp nhiều phương thức thể hiện (sử dụng kênh chữ và kênh hình hoặc kết hợp cả hai), nhiều loại ký hiệu khác nhau (biểu đồ, đồ thị, bảng biểu, sơ đồ, bản đồ,v.v.) Trong LA, chúng tôi phân chia VB thành ba loại sau đây:
VB văn học (bao gồm: VB trữ tình, VB tự sự, VB kịch, VB ký), VB nghị
luận, VB thông tin
Việc gọi tên VB trong LA, tên gọi: “kiểu/loại văn bản” để chỉ 3 kiểu/loại
VB lớn: VB văn học, VB nghị luận và VB thông tin; “thể loại văn bản” để chỉ
các tiểu loại của loại VB
1.2.1.2 Thế nào là “đọc hiểu văn bản”?
“Đọc hiểu là một phạm trù khoa học có lý thuyết và khái niệm của nó”
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về ĐHVB ở phạm vi rộng, chúng
tôi chỉ trình bày một số ý kiến về đọc hiểu, từ đó trình bày cách hiểu về đọc hiểu văn bản để làm công cụ triển khai nội dung LA Khái niệm đọc hiểu văn bản được chúng tôi hiểu tựu trung ở 2 điểm sau:
Thứ nhất: Đọc hiểu là giải mã VB (phù hợp với nhiều loại VB trong thực
tế) thông qua kí hiệu vật chất (con chữ, hình vẽ, màu sắc,…) để tiếp nhận ý nghĩa từ VB, HĐ “đọc” gắn liền với “hiểu”
Thứ hai: Đọc hiểu là HĐ mang tính cá thể cao, thể hiện NLĐH, từ việc nắm được kiều/loại (thể loại) VB để biết phân tích VB đúng đặc trưng kiều/ loại (thể loại) đến trải nghiệm, phê phán và vận dụng
lực
1.2.2.1 Khái niệm“hoạt động dạy học”
Theo lý thuyết hành vi ứng dụng trong dạy học, hoạt động dạy học là HĐ tương tác có tính đặc thù: hoạt động dạy học là “HĐ cùng nhau của thầy và
trò” Thầy và trò cùng hướng về một mục tiêu
Nói là đặc thù vì, thứ nhất, HĐDH nằm trong chuỗi HĐ của con người nhưng là HĐ nghề nghiệp, không phải là HĐ của mọi người Thứ hai, HĐDH
là HĐ tương tác GV tác động vào HS, HS phát triển, GV căn cứ vào sự thay đổi ở HS để điều chỉnh HĐ dạy NL của GV và NL học của HS được thể hiện
ở các mức độ đạt được của mục tiêu CT giáo dục đề ra Do vậy, HĐ dạy có kết quả khi nó tác động cùng hướng với HĐ học Thứ ba, HĐDH nhìn từ phía HĐ của người thầy trong tương tác với HĐ học của trò là hướng dẫn, tổ chức và