1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn: Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

98 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 559 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt kết quả nghiên cứu: Làm rõ thực chất và những nhân tố quy định năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận. Khảo sát, đánh giá thực trạng và chỉ ra nguyên nhân thực trạng năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay. Đề xuất giải pháp phát triển năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Chương 1 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ QUY ĐỊNH

NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH TƯ

1.1 Quan niệm và vai trò năng lực trí tuệ của đội ngũ

giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩquan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận 91.2 Những nhân tố quy định năng lực trí tuệ của đội ngũ

giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quanChính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận 27

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG

LỰC TRÍ TUỆ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ

2.1 Thực trạng năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa

học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trongđấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay 442.2 Giải pháp phát triển năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng

viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chínhtrị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay 62

Trang 3

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có những biến động phức tạp,khó lường, đặc biệt cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận diễn ra hếtsức gay gắt và quyết liệt Chủ nghĩa đế quốc cùng với những thế lực thù địchtận dụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đặcbiệt là mạng internet, ráo riết thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” tiếncông nước ta từ nhiều phía, trên cất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,

tư tưởng, nhằm mục đích xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, vô hiệu hóa Nhànước, phá hoại lực lượng vũ trang về tư tưởng và tổ chức Điều đó đặt ra yêucầu cấp bách về nâng cao năng lực trí tuệ của đội ngũ làm công tác tư tưởng,

lý luận của Đảng, trong đó có đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường Sĩquan Chính trị

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng,Tổng cục Chính trị, trực tiếp là Ban chỉ đạo 94, lãnh đạo, chỉ huy các cấp củaNhà Trường đã triển khai nhiều chủ trương, biện pháp, tổ chức bồi dưỡngnâng cao năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn

- lực lượng nòng cốt trong đấu tranh tư tưởng, lý luận Do đó, năng lực trí tuệ

và hiệu quả đấu tranh tư tưởng, lý luận của đội ngũ này ngày càng được nânglên tầm cao mới Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển mới của cuộc đấu tranh

tư tưởng, lý luận hiện nay thì năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viênKHXH&NV ở Nhả trường còn nhiều hạn chế

Xuất phát từ những lý do trên, cùng với sự trăn trở về xây dựng đội ngũnhà giáo ở Nhà trường có đủ phẩm chất, năng lực để hoàn thành nhiệm vụ

trong giai đoạn mới, tác giả lựa chọn vấn đề “Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay” làm đề tài nghiên cứu có ý nghĩa cả về

lý luận, thực tiễn, vừa cơ bản và lâu dài

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Trang 4

Xung quanh vấn đề nghiên cứu của đề tài, đã có nhiều công trình tiêubiểu của các tác giả trong và ngoài Quân đội đề cập, nghiên cứu với nhữngmục đích, nhiệm vụ khác nhau Các công trình khoa học đó đã bàn về lý luận,thực tiễn hình thành, phát triển nhân cách con người Việt Nam; phát triểnphẩm chất, năng lực người quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Namdưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.

Đề cập đến tư duy biện chứng, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực trí tuệcho một số đối tượng trong Quân đội cũng có nhiều nhà nghiên cứu bàn đến, tiêubiểu là: tác giả Nguyễn Văn Tài, với bài viết “Phát huy vai trò trí tuệ của đội ngũ

sĩ quan trong xây dựng quân đội ta hiện nay”, năm 1996 [37]; Luận án tiến sĩ triếthọc của Nguyễn Bá Dương, “Đặc điểm quá trình phát triển tư duy biện chứng duyvật của đội ngũ sĩ quan phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam trong nhận thứcnhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”, năm 2000 [7] Luận án tiến sĩ triết học: “Nâng caonăng lực tư duy sáng tạo của đội ngũ sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân dân ViệtNam hiện nay” của Đào Văn Tiến, năm 2000 [40] Luận án tiến sĩ triết học “Pháttriển năng lực trí tuệ của sĩ quan trẻ trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”của Lê Quý Trịnh, năm 2002 [41] Luận án tiến sĩ triết học “Quan hệ giữa nănglực trí tuệ và phát triển phẩm chất đạo đức của học viên đào tạo sĩ quan trong cáctrường đại học quân sự hiện nay” của Võ Văn Hải, năm 2011 [23] Các côngtrình khoa học trên đều đề cập đến tư duy biện chứng, năng lực tư duy sáng tạo,năng lực trí tuệ ở nhiều cấp độ, mức độ khác nhau và cho rằng năng lực là toàn bộkhả năng của con người, giúp cho con người đạt hiệu quả cao trong nhận thức vàhành động ở từng lĩnh vực cụ thể Tiến sĩ Lê Quý Trịnh quan niệm năng lực trí tuệ

là “khả năng hoạt động của trí tuệ trong việc tìm kiếm, khám phá, tích lũy tri thức

và vận dụng tri thức vào giải quyết những nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra, đảm bảocho hoạt động của con người đạt chất lượng và hiệu quả cao” [41, tr 17] Nhưvậy, với phương pháp tư duy biện chứng, các tác giả đều đã trình bày khá rõ nétcác yếu tố cấu thành năng lực và mối quan hệ giữa các yếu tố đó, cũng như vai tròcủa chúng trong sự hình thành và phát triển năng lực của mỗi con người

Trang 5

Nghiên cứu về công tác tư tưởng, lý luận và đấu tranh tư tưởng, lý luận

đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài Quân đội Tiêu biểu như một

số công trình: Lê Bỉnh, “Đặc thù của cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ở nước tahiện nay và sự tác động của nó đến quân đội” [5]; Học viện Chính trị, “Bảo vệ

và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiệnmới” [24]; Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, “Độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội - sự lựa chọn của chúng ta” [46]; Ban Tuyên giáo Trung ương,

“Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởngcủa Đảng Cộng sản Việt Nam” [2]; Nguyễn Bá Dương, “Phòng, chống “diễnbiến hòa bình” ở Việt Nam - Mệnh lệnh của cuộc sống” [9]

Nghiên cứu về bồi dưỡng, nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng, lýluận của cán bộ, giảng viên có: Trần Xuân Trường, “Nghiên cứu khoa học xãhội - nhân văn ở Học viện Chính trị - Quân sự và cuộc đấu tranh trên mặt trận

lý luận - tư tưởng trong thời kỳ mới”, trong sách “Một số vấn đề công táckhoa học ở Học viện Chính trị - Quân sự”, năm 2000 [42]; Phạm Văn Thuần,

“Nâng cao năng lực đấu tranh tư tưởng - lý luận của giảng viên khoa học xãhội ở các nhà trường Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, năm 2003 [53];Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, “Phát huy vai trò của đội ngũ cán

bộ khoa học xã hội nhân văn quân sự ở Học viện Chính trị - Quân sự trongcuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay”, năm 2007 [47]…

Các công trình khoa học trên đây đã khám phá, làm rõ nhiều nội dung

về tư duy biện chứng duy vật, năng lực tư duy lý luận, năng lực trí tuệ, vềnăng lực đấu tranh tư tưởng, lý luận Tuy nhiên, chưa có công trình nàonghiên cứu cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận, thực tiễn về năng lực trítuệ của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường Sĩ quan Chính trị trong đấutranh tư tưởng, lý luận hiện nay

Vì vậy, việc nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống cơ sở lý luận vàthực tiễn vấn đề NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường Sĩ quanChính trị trong ĐTTTLL hiện nay là vấn đề cấp thiết, không trùng lắp vớicông trình khoa học nào đã công bố

Trang 6

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu: Phân tích làm rõ thực chất, những nhân tố quy

định, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp phát triển năng lực trí tuệ của độingũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT đáp ứng yêu cầu đấu tranh tưtưởng, lý luận hiện nay

* Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Luận giải thực chất và những nhân tố quy định năng lực trí tuệ của độingũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong đấu tranh tư tưởng, lý luận

- Đánh giá đúng thực trạng năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

- Đề xuất giải pháp phát triển năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: tập trung vào những vấn đề lý luận và thực

tiễn năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongđấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay

* Phạm vi nghiên cứu: tập trung vào đội ngũ giảng viên KHXH&NV

Trường SQCT; không gian khảo sát và thu thập số liệu ở Trường Sĩ quanChính trị; thời gian sử dụng tài liệu và điều tra khảo sát thực tế chủ yếu từnăm 2011 đến nay

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm

của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc; về giáo dục và đào tạo; về xâydựng và phát triển con người toàn diện trong thời kỳ mới; về công tác tư tưởng, lýluận Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng,của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị về yêu cầu phẩm chất, năng lực của người cán

bộ quân đội trong thời kỳ mới; Ban chỉ đạo 94 về đấu tranh tư tưởng, lý luận; cáccông trình khoa học đã công bố có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Trang 7

* Cơ sở thực tiễn: Dựa trên cơ sở các báo cáo tổng kết, đánh giá công

tác giáo dục, đào tạo, công tác tư tưởng, lý luận của Trường SQCT; số liệukhảo sát, điều tra, thu thập từ thực tế của tác giả về thực trạng năng lực trí tuệcủa đội ngũ giảng viên KHXH&NV trong đấu tranh tư tưởng, lý luận ở Nhàtrường hiện nay

* Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ

nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng cácphương pháp nghiên cứu của các khoa học liên ngành, như: phân tích, tổnghợp; lịch sử và lôgíc; tổng kết thực tiễn; điều tra xã hội học; phương phápchuyên gia Đặc biệt coi trọng các phương pháp trừu tượng hóa và khái quáthóa trong nghiên cứu về tư duy, năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viênKHXH&NV

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tácnghiên cứu, giảng dạy ở Trường Sĩ quan Chính trị và những người quantâm về vấn đề này

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài gồm: mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo, phụ lục

Trang 8

Chương 1 THỰC CHẤT VÀ NHỮNG NHÂN TỐ QUY ĐỊNH NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN 1.1 Quan niệm và vai trò năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh

tư tưởng, lý luận

1.1.1 Quan niệm năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận

Quan niệm về năng lực, trí tuệ và năng lực trí tuệ

Năng lực là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong cuộc sống và

trong NCKH Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là: 1 Khả năng, điều kiện chủ

quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; 2 Phẩm chất tâmsinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt

động nào đó với chất lượng cao [43, tr 848]

Trí tuệ, theo Từ điển Tiếng Việt, là khả năng nhận thức lý tính đạt đếnmột trình độ nhất định [43, tr 1326] Tuy còn nhiều ý kiến khác nhau trongđịnh nghĩa về trí tuệ, nhưng các nhà tư tưởng đều nhấn mạnh đến khả năngnhận thức của con người

Kế thừa những tư tưởng triết học trong lịch sử, chúng tôi quan niệm: Trí tuệ là khái niệm dùng để chỉ một dạng sức mạnh đặc trưng của con người dựa trên cơ sở vật chất là hoạt động của bộ não và vốn tri thức đã tích lũy, nhờ đó

mà con người, cộng đồng người ngày càng nhận thức sâu sắc về thế giới và năng động, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực.

Xét về dạng thức, với tính cách là kết quả hoạt động của bộ não người, trí tuệtồn tại dưới hai dạng thức: dạng tiềm năng (tĩnh) và dạng năng lực hiện hữu (động)

Khái niệm trí tuệ và khái niệm năng lực trí tuệ, về bản chất thống nhấtdùng để phản ánh một dạng sức mạnh đặc trưng của con người Tuy vậy, vẫn

có sự khác nhau tương đối của hai khái niệm này Khái niệm trí tuệ dùng để

Trang 9

chỉ trạng thái tương đối tĩnh của trí tuệ với tư cách là một thực thể tồn tại dướihai dạng thức: tiềm năng và năng lực Còn khái niệm năng lực trí tuệ dùng đểchỉ sức mạnh hiện thực của trí tuệ con người, biểu đạt cho trình độ phát triểntrí tuệ của một chủ thể hoạt động cụ thể.

Từ sự phân tích khái quát về năng lực và trí tuệ trên đây, chúng tôi

quan niệm: năng lực trí tuệ là điều kiện chủ quan và khả năng hoạt động của trí tuệ trong việc tìm kiếm, khám phá, tích lũy tri thức và vận dụng tri thức vào giải quyết những nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra, đảm bảo cho hoạt động của con người đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Xét theo phương diện hệ thống kết cấu của các yếu tố bên trong, NLTTgồm 3 yếu tố cơ bản là: tri thức, phương pháp tư duy, khả năng sáng tạo

Tri thức là yếu tố cơ bản, nền tảng cấu thành NLTT Đó là sự hiểu biếtcủa con người về thế giới và đời sống của con người; là những thông tin màmỗi người lĩnh hội được về các sự vật, hiện tượng trong thế giới Phươngpháp tư duy là hạt nhân trong cấu trúc của NLTT Nó giữ vai trò quy địnhtrực tiếp các kết quả nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan Khả năngsáng tạo là yếu tố đặc trưng cơ bản nhất của NLTT, là hệ quả tất yếu của mốiquan hệ giữa tri thức với phương pháp tư duy khoa học

NLTT được cấu thành bởi 3 yếu tố cơ bản như đã trình bày ở trên Mỗiyếu tố có vị trí, vai trò nhất định trong sự hình thành, phát triển NLTT Song,giữa chúng có mối quan hệ gắn bó với nhau, tác động qua lại và chuyển hóa lẫnnhau, thúc đẩy nhau phát triển NLTT tồn tại như một chỉnh thể thống nhất 3yếu tố, sự suy giảm hay mất đi của một yếu tố nào đều dẫn tới sự suy giảm trítuệ Điều đó tất yếu dẫn tới sự suy giảm hiệu quả hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn của con người

Quan niệm về NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT

Trường Sĩ quan Chính trị có nhiệm vụ đào tạo cán bộ chính trị, chính trịviên, giảng viên KHXH&NV cho toàn quân, đào tạo cán bộ chính trị cho quânđội của một số nước anh em (Lào, Campuchia); đồng thời, là trung tâm nghiêncứu, phát triển khoa học xã hội - nhân văn và các khoa học khác Học viên được

Trang 10

đào tạo cơ bản, toàn diện để trở thành những sĩ quan chính trị, có trình độ cửnhân trở lên theo chuyên ngành đào tạo, có phẩm chất chính trị vững vàng, kiếnthức cơ bản và năng lực hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ theo chức danh đào tạo,góp phần xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Nhà trường có ba đội ngũ cơ bản: những người làm công tác lãnh đạo,chỉ huy, quản lý và phục vụ; giảng viên; học viên Trong đội ngũ giảng viên

có bốn nhóm: giảng viên KHXH&NV; giảng viên khoa học quân sự; giảngviên chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ; giảng viên văn hóa, ngoại ngữ Sự phânđịnh này theo nhóm ngành chuyên môn mà giảng viên đảm nhiệm giảng dạy

Quan niệm về đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT

Theo Từ điển Tiếng Việt, Khoa học xã hội và nhân văn, tên gọi chungcác khoa học nghiên cứu những qui luật hình thành, hoạt động và phát triểncủa xã hội và con người, như: chính trị học, sử học, văn học, kinh tế học, luậthọc, ngôn ngữ học, đạo đức học [43, tr 646] Giảng viên là người làm côngtác giảng dạy ở các trường trên bậc phổ thông hoặc các lớp đào tạo, huấnluyện [43, tr 507] Giảng viên KHXH&NV gồm những giảng viên giảng dạycác môn lý luận cơ bản, cơ sở và chuyên ngành, như: Triết học Mác - Lênin, Kinh

tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nhà nước và pháp luật, Lịch sử ĐảngCộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Tâm lý học, Giáo dục học… Hoạtđộng của giảng viên là lao động sư phạm ở lĩnh vực đào tạo con người với các giátrị xã hội và nhân văn đích thực theo ngành, chuyên môn đào tạo Bên cạnh nhiệm

vụ giảng dạy, giảng viên còn có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, tham gia đấutranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận Đây là một trong những nhiệm vụ trực tiếpđặt ra ở các trường đào tạo bậc đại học Với lẽ đó, giảng viên là trí thức, hoạt độngcủa họ là lao động trí óc có chuyên sâu, có trình độ học vấn cao, là những người

có văn hóa và đạo đức cao, tích cực tham gia vào đời sống xã hội

Trong quân đội, theo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, giảngviên KHXH&NV Trường SQCT là sĩ quan chính trị trong Quân đội nhân dân ViệtNam [31, tr 13]

Trang 11

Từ cách tiếp cận trên có thể quan niệm: Đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là những trí thức, những cán bộ chính trị đang đảm nhiệm công tác giảng dạy các môn KHXH&NV ở Nhà trường; là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính trị, chính trị viên và giảng viên KHXH&NV quân sự.

Cũng như những giảng viên KHXH&NV ở các học viện, nhà trườngtrong cả nước, đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là những trí thức,được đào tạo cơ bản trong hệ thống giáo dục quốc gia, có trình độ đại học trởlên Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ và môi trường hoạt động mang tínhđặc thù nên đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT có những điểmkhác biệt so với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng dân sự nóichung và đội ngũ giảng viên trong các nhà trường quân đội nói riêng

So với đội ngũ giảng viên ở các trường đại học ngoài quân đội, yêu cầukhách quan đặt ra bên cạnh trình độ, năng lực giảng dạy của giảng viênKHXH&NV, ở đội ngũ giảng viên Trường SQCT còn có phẩm chất củangười cán bộ quản lý, chuyên gia NCKH thuộc lĩnh vực chuyên môn Ngườigiảng viên KHXH&NV Trường SQCT vừa là nhà trí thức, đồng thời lại là sĩquan chính trị Điểm khác biệt căn bản này do chính môi trường công tác cótính đặc thù trong quân đội quy định đối với đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT so với đội ngũ giảng viên ở các trường dân sự

Sự khác biệt giữa đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT vớiđội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các học viện, nhà trường trong toàn quân.Đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT cũng giống như những giảngviên KHXH&NV ở các nhà trường quân đội Họ cũng là những trí thức,những sĩ quan chính trị, song do chức năng nhiệm vụ đào tạo của mỗi họcviện, nhà trường khác nhau và môi trường công tác khác nhau đã quy địnhphẩm chất và năng lực của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT cóđiểm khác biệt so với giảng viên ở các trường khác Nếu sản phẩm của cáchọc viện, nhà trường khác trong toàn quân là học viên sau khi tốt nghiệp ra

Trang 12

trường sẽ trở thành những sĩ quan chỉ huy, sĩ quan kỹ thuật, sĩ quan hậu cần…theo chuyên ngành đào tạo thì sản phẩm của Trường SQCT là những cán bộchính trị, chính trị viên và giảng viên KHXH&NV quân sự Nếu các khoaKHXH&NV ở các trường đào tạo sĩ quan chỉ huy - kỹ thuật là những khoachung gồm nhiều bộ môn ghép lại, thì các khoa KHXH&NV ở Trường SQCTlại là những khoa chuyên ngành Do đó, yêu cầu khách quan đòi hỏi đội ngũgiảng viên này phải có một trình độ kiến thức KHXH&NV chuyên sâu, nănglực giảng dạy, nghiên cứu khoa học tốt và hoạt động công tác đảng, công tácchính trị cao hơn hẳn so với đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các học viện,nhà trường khác trong toàn quân mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

Từ những phân tích trên đây, chúng tôi quan niệm: NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là khả năng nắm vững, làm chủ tri thức khoa học, vận dụng tri thức đó vào giải quyết những nhiệm vụ do cuộc sống và công tác đặt ra, đáp ứng với yêu cầu của hoạt động giảng dạy chuyên ngành KHXH&NV trong lĩnh vực quân sự, đảm bảo cho hoạt động của đội ngũ này đạt chất lượng và hiệu quả cao.

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT là một chỉnhthể thống nhất các yếu tố tri thức, phương pháp tư duy khoa học và khả năngsáng tạo; gắn với tính đặc thù của đối tượng này, NLTT của họ biểu hiện trênnhững nội dung sau

Về hệ thống tri thức, trình độ học vấn, chiều sâu sự hiểu biết trên lĩnh vực công tác của người giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường

Đây là yếu tố biểu hiện đặc điểm về mặt tri thức của NLTT đội ngũ giảngviên KHXH&NV ở Nhà trường Yếu tố này phản ánh tính chất phát triển khôngđều của hệ thống kiến thức đã tích lũy của đội ngũ giảng viên; đồng thời, cũngchỉ rõ sự khác biệt về tầm rộng và chiều sâu của sự hiểu biết giữa giảng viênKHXH&NV so với đội ngũ cán bộ khác trong Nhà trường

Đặc trưng đào tạo ở Nhà trường là kết hợp giữa đào tạo theo học vấn vớiđào tạo theo chức vụ Vì vậy, đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trườnghiện nay ngoài những tri thức KHXH&NV còn có sự hiểu biết khá sâu về kỹ

Trang 13

thuật và chiến thuật chiến đấu, về hoạt động công tác đảng, công tác chính trị,ĐTTTLL Đây là một đặc điểm riêng về nội dung của hệ thống kiến thức của

họ so với đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở các trường ngoài quân đội

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT biểu hiện ở phương pháp tư duy nhạy bén, năng động, sáng tạo

Đây là nét đặc trưng tư duy của đội ngũ giảng viên KHXH&NV ởNhà trường Các nhà nghiên cứu về tư duy cho rằng, mọi người đều suynghĩ theo quy luật chung, theo phương pháp chung của tư duy Song , hoạtđộng tư duy của mỗi người có những đặc điểm riêng được biểu hiện ở trình

độ cao hay thấp các phẩm chất của tư duy, như: tính độc lập, tính sâu sắc,tính linh hoạt, tính mau lẹ, tính nhất quán

Tính nhạy bén và năng động trong tư duy của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT biểu hiện ở sự nhanh nhạy trong phát hiện, đánhgiá tình hình, nhanh chóng tìm ra các phương án hành động và đưa ra các quyếtđịnh cần phải giải quyết trong những tình huống tham gia ĐTTTLL cụ thể

Nhạy bén và năng động là những phẩm chất tư duy cần thiết cho hoạtđộng trí tuệ của người giảng viên trong môi trường quân đội Điều này xuấtphát từ thực tiễn hoạt động của môi trường quân sự Người giảng viênKHXH&NV Trường SQCT không chỉ là người thầy dạy tri thức lý luận thôngthường mà còn là người cán bộ chính trị của quân đội Sản phẩm của họ lànhững sĩ quan chính trị, người tổ chức các hoạt động công tác đảng, công tácchính trị cho đơn vị quân đội, chiến sĩ trên mặt trận ĐTTTLL Chính vì lẽ đó,đòi hỏi đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường phải có tư duy năngđộng, nhạy bén, sáng tạo để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thực tiễn

Ngoài ra, NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường cònbiểu hiện ở khả năng huy động tri thức, vận dụng phương pháp tư duy trong tổchức hành động thực tiễn của người giảng viên KHXH&NV đáp ứng yêu cầunhiệm vụ giáo dục, đào tạo, NCKH, ĐTTTLL

Trang 14

Quan niệm về đấu tranh tư tưởng, lý luận:

Trong Từ điển Chính trị vắn tắt, đấu tranh tư tưởng là một trongnhững hình thức đấu tranh giai cấp giữa giai cấp tư sản và giai cấp côngnhân Giai cấp công nhân vũ trang bằng chủ nghĩa Mác - Lênin chống mọibiểu hiện của hệ tư tưởng tư sản Trong nội bộ phong trào công nhân, biểuhiện giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với sự xuyên tạc hữu khuynh, tả khuynhchủ nghĩa Mác - Lênin, tức là chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đấu tranh tư tưởng là: Đấu tranhtrên lĩnh vực hình thái ý thức; một trong những hình thức đấu tranh giai cấpquan trọng Bất cứ lúc nào, nhất là trong điều kiện diễn ra cuộc đấu tranhgiữa CNXH và CNTB trên phạm vi toàn thế giới, các chính đảng vô sản cầmquyền tại các nước XHCN, cũng như các Đảng Cộng sản và công nhân trêntoàn cầu đều không thể coi nhẹ đấu tranh tư tưởng, lý luận

Đảng ta nêu thuật ngữ “tư tưởng, lý luận” là cụ thể hoá thuật ngữ hệ tưtưởng, nhằm chỉ ra cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta bao gồm đấu tranh trêncác quan điểm, học thuyết lý luận

Từ những vấn đề trên, chúng tôi quan niệm: Đấu tranh tư tưởng, lý luận là một hình thức quan trọng của đấu tranh giai cấp; là hoạt động của chủ thể chống lại các quan điểm, tư tưởng thù địch, phản động nhằm bảo vệ, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng trong sự nghiệp cách mạng hiện nay

Quan niệm về NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL

Từ sự phân tích khái quát về NLTT, về NLTT của đội ngũ giảng viên

KHXH&NV Trường SQCT và ĐTTTLL, chúng tôi quan niệm: NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL là khả năng nắm vững, làm chủ tri thức khoa học, vận dụng tri thức đó vào phát hiện, phê phán, ngăn chặn, khắc phục ảnh hưởng của các quan điểm, tư tưởng phản

Trang 15

động, thù địch nhằm bảo vệ, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bản chất truyền thống của quân đội và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta trong quá trình giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động chính trị - xã hội.

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongĐTTTLL chịu sự chi phối của đặc điểm tâm, sinh lý và tính chất hoạt độngcủa họ, đồng thời in đậm dấu ấn của điều kiện xã hội, giai cấp mà họ gắn bóvới tư cách là chủ thể hoạt động tích cực, biểu hiện trên những nội dung sau

đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật; am hiểu sâu sắc mônhọc mình giảng dạy và nghiên cứu; nhạy bén phát hiện những sai lầm, phảnđộng và tác hại của các quan điểm ngoài mácxít Giảng viên KHXH&NV cònphải hiểu tường tận các đối tượng giao tiếp, nhất là người học, về mục tiêu,yêu cầu đào tạo, về các quy luật nhận thức của học viên, về các quy tắc ứng

xử, kỹ năng giao tiếp, các phương pháp dạy học hiện đại… Đó là biểu hiện cụthể về NLTT, về thế giới quan, phương pháp luận khoa học để phân tích, đánhgiá tình hình, chỉ đạo hoạt động thực tiễn Những tri thức đó liên tục đượccủng cố, bổ sung và phát triển không ngừng trong thực tiễn hoạt động củangười giảng viên, trong đó có thực tiễn tham gia ĐTTTLL

Trình độ nhận thức lý luận thể hiện ở khả năng phân biệt bản chất cácquan điểm lý luận KHXH&NV, các khuynh hướng chính trị; có cơ sở thế giới

Trang 16

quan, phương pháp luận khoa học, vốn kiến thức rộng, là nền tảng trên đó xâydựng tri thức chuyên ngành; nhận thức cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc và đấutranh hệ tư tưởng trên thế giới và trong nước; khả năng vận dụng và phát triểnsáng tạo các nguyên lý mácxít, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng vàolĩnh vực quân sự, nhất là trong giáo dục, đào tạo ở Nhà trường.

Khả năng nhận thức lý luận của giảng viên KHXH&NV là kết quả của quátrình học tập, rèn luyện và hoạt động thực tiễn của họ Mặt khác, khả năng đó dựatrên cơ sở sự phát triển hoàn thiện bộ não, hệ thần kinh, các cơ quan cảm giác; sự

nỗ lực, lòng say mê và được kết hợp với phương pháp tư duy khoa học tốt

Khả năng nhận thức lý luận của đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT còn biểu hiện ở sự “hoài nghi khoa học”, biết phát hiện nhữngvấn đề mới từ thực tiễn để bổ sung cho lý luận, phát triển lý luận Ngườigiảng viên KHXH&NV không bao giờ được phép bằng lòng với tri thức lýluận đã thu lượm trong quá trình học tập và công tác, cho dù rất uyên bác Bởi

vì, thực tiễn luôn biến đổi, phát triển nên cần có sự khái quát lý luận mới Bảnthân những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin không bao giờ coi họcthuyết của mình đã đầy đủ, cho dù thực tế nó là học thuyết rất khoa học và cáchmạng Hoài nghi khoa học là cơ sở cho phấn đấu tìm tòi, sáng tạo Nó hoàn toàn

xa lạ với chủ nghĩa hoài nghi, bảo thủ, kinh nghiệm Hoài nghi khoa học là điềurất quan trọng trong NCKH, nhận thức lý luận, tiếp cận chân lý, đặc biệt là trongbối cảnh nhiều thông tin trái ngược nhau, thậm chí đối lập Hoài nghi khoa họckhông đối lập với niềm tin Hoài nghi để mà tin, tin một cách có trí tuệ, duy lý chứkhông tin dễ dãi, mù quáng Nhận thức lý luận mácxít cần phải có niềm tin Nếumất hết niềm tin vào hệ thống lý luận nền tảng của mình (lý luận mácxít) thì chắcchắn sẽ không thể đem lại cho chúng ta động lực tìm tòi, sáng tạo, vươn tới chân

lý, thậm chí sẽ dẫn đến suy thoái, phản động về chính trị

Giảng viên KHXH&NV Trường SQCT cần đạt tới trình độ biến những trithức khoa học thành niềm tin cộng sản, đạo đức cách mạng, củng cố vững chắcbản lĩnh chính trị, không ngừng phấn đấu theo lý tưởng CNXH Đồng thời, họ cònphải biết cách truyền thụ, xây dựng phẩm chất tốt đẹp đó cho học viên

Trang 17

Về phương pháp tư duy khoa học

Phương pháp tư duy khoa học được đặt trên cơ sở phương pháp tư duybiện chứng duy vật Nó nhìn sự vật, hiện tượng (cả tự nhiên, xã hội và tư duy)một cách khách quan, toàn diện, hệ thống, trong sự vận động phát triển, mangtính lịch sử, cụ thể và sáng tạo Nó đối lập với kiểu tư duy siêu hình, duy tâm,giáo điều Phương pháp tư duy khoa học mang tính sáng tạo cao, không thoảmãn dừng lại ở những tri thức, kinh nghiệm đã có mà quan trọng hơn là liên tụctìm tòi, khái quát mới

Trong ĐTTTLL, yêu cầu về phương pháp tư duy khoa học rất cao.Người giảng viên KHXH&NV Trường SQCT phải am hiểu và sử dụng thànhthạo nội dung, phương pháp tư duy khoa học để biến những tri thức đã cóthành những tri thức mới, khắc phục những nhận thức lệch lạc; không ngừngphát triển tư duy sáng tạo, có khả năng tự học, tự hoàn thiện và phát triển, khảnăng làm việc với cá nhân và tập thể khoa học Việc phát hiện và vạch trần bảnchất các quan điểm sai trái, phản động rất khó khăn, phức tạp Bởi vì, các quanđiểm đó (có thể sai lầm về khoa học hoặc phản động về chính trị) là kết quả củaquá trình “nhào nặn”, khái quát bởi những lý luận gia tư sản hoặc một số nhà lýluận vốn một thời có uy tín lớn trong giới lãnh đạo và trí thức, nay đã từ bỏ cáchmạng Những quan điểm đó thường được luận chứng khá chặt chẽ theo lôgíc hìnhthức, nhìn thoáng qua có vẻ hợp lý, có thể đáp ứng một số nhu cầu, nguyện vọng,lợi ích nào đó của một bộ phận nhỏ quần chúng nhân dân; được cổ vũ, ủng hộbằng nhiều phương tiện thông tin đại chúng hiện đại và đã ít nhiều “mê hoặc”được một số ít nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên

Nhờ phương pháp tư duy khoa học, giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT nhận thức bản chất vấn đề ĐTTTLL, gạt bỏ những hiện tượng bên ngoàiđánh lừa để xác định bản chất, lựa chọn và sử dụng biện pháp đấu tranh phù hợp

Có phương pháp tư duy khoa học tốt giúp đội ngũ giảng viên KHXH&NV khôngchỉ dừng lại phân tích, khái quát, tổng hợp các vấn đề lý luận của cuộc ĐTTTLLđang diễn ra và vạch hướng cho cuộc đấu tranh đó, mà còn dự báo đúng đắn vàchỉ ra cách thức đối phó với cuộc ĐTTTLL tương lai Đội ngũ giảng viênKHXH&NV ở Nhà trường vừa phải biết khái quát hóa, suy luận tình hình

Trang 18

ĐTTTLL, vừa biết cụ thể hóa trong từng vấn đề đấu tranh một cách đúng đắn,sáng tạo.

Về khả năng thu thập, xử lý thông tin, phát hiện vấn đề trong đấu tranh

tư tưởng, lý luận

Thu thập, xử lý thông tin là hoạt động tìm kiếm, tích lũy, phân loại đểrút ra những tri thức mới phục vụ cho hoạt động thực tiễn của con người.Chính vì vậy, trong hoạt động thực tiễn ĐTTTLL của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT, việc thu thập, xử lý thông tin có vai trò to lớnnhằm nâng cao khả năng nhận thức, tích lũy tri thức một cách toàn diện

Khả năng thu thập, xử lý thông tin của giảng viên KHXH&NV ở Nhàtrường được thể hiện trong việc sưu tầm tư liệu, tài liệu, số liệu liên quan tớiKHXH&NV, các quan điểm, trường phái tư tưởng, lý luận, những thành tựukhoa học mới, những vấn đề đang tiếp tục nghiên cứu, tranh luận

Thu thập, xử lý thông tin là quá trình thường xuyên, đòi hỏi tính kiên trì,say mê và có phương pháp khoa học Thông tin phục vụ cho giảng dạy, NCKH,ĐTTTLL của giảng viên KHXH&NV rất phong phú, được thu thập từ cácphương tiện nghe nhìn (sách, báo, tạp chí), từ trong cuộc sống; theo nguồn chínhthống và không chính thống; có thông tin chính diện, thông tin phản diện; thôngtin chuyên ngành, thông tin đa ngành… Vì vậy, vấn đề quan trọng là phải có nănglực và phương pháp nhận biết, xử lý thông tin đa chiều Giảng viên KHXH&NVcần có sự lựa chọn, xử lý và lưu trữ thông tin khoa học; cần nắm thông tin cả diệnrộng và chiều sâu, nắm cái bản chất trong vô vàn cái hiện tượng, những giả tưởng.Thước đo khả năng thu thập và xử lý thông tin được thể hiện ở tính hệ thống,chính xác, chân thực, cập nhật, phong phú và hữu ích của thông tin

Cùng với khả năng thu thập và xử lý thông tin, giảng viên KHXH&NV ởNhà trường phải có năng lực phát hiện vấn đề ĐTTTLL Năng lực đó được thểhiện ở khả năng nhận thức đúng đắn, kịp thời, chính xác đối tượng cần đấu tranh,

từ đó làm cơ sở để xác định nội dung, hình thức, phương pháp đấu tranh phù hợp

Giảng viên KHXH&NV Trường SQCT phải có khả năng phát hiện vấn

đề ĐTTTLL nhanh chóng, chính xác và đầy đủ, không cho phép nhầm lẫn,chậm trễ Điều đó rất khó khăn, vì các quan điểm sai trái, phản diện thường

Trang 19

được khái quát dưới các chiêu bài “phát triển sáng tạo”, “đổi mới”, “dân chủ”,

“nhân quyền” để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,đường lối của Đảng ta Chúng thường lấy hiện tượng riêng lẻ, nhất thời để quy

về bản chất; lấy cái không cơ bản để phủ nhận cái cơ bản; dùng con người, đơn

vị, tổ chức cá biệt để quy thành cái chung, cái phổ biến Nếu không có hiểu biếtsâu, rộng về các lĩnh vực KHXH&NV, không có NLTT, không có sự nhạy cảmchính trị, vốn sống và kinh nghiệm ĐTTTLL thì người giảng viên KHXH&NV

ở Nhà trường khó có thể phát hiện kịp thời, chính xác đối tượng ĐTTTLL vàđấu tranh sẽ không có hiệu quả

Về khả năng tổ chức hoạt động tham gia ĐTTTLL

Đây là tổng hợp những điều kiện trí tuệ của chủ thể có thể huy động chohoạt động ĐTTTLL Là yếu tố quan trọng nhất, quyết định chất lượng và hiệuquả ĐTTTLL, chứng tỏ “sức mạnh” trí tuệ, trình độ khoa học và nghệ thuậtđấu trí của chủ thể trước các đối tượng ĐTTTLL ĐTTTLL không chỉ là pháthiện, nhận thức sâu sắc các quan điểm sai trái, phản động mà cao hơn, quantrọng hơn là sự quyết tâm và biết cách tiến hành đấu tranh vạch trần bản chấtphi khoa học, phản động của các quan điểm đó; ngăn chặn, khắc phục ảnhhưởng xấu của nó đối với quần chúng lao động Tất nhiên, hai hoạt động đó có

vị trí, vai trò khác nhau, nhưng luôn thống nhất và có mối quan hệ biện chứngvới nhau, không thể tách rời, tuyệt đối hóa hoặc coi nhẹ mặt nào Thông quahoạt động tiến hành ĐTTTLL, chủ thể đạt được mục đích của mình, kiểmnghiệm sự đúng đắn, bổ sung cho quá trình nhận thức, thu thập, xử lý thông tin,phát hiện vấn đề và tư duy khoa học lúc đầu

ĐTTTLL là đấu tranh bằng trí tuệ khoa học và cách mạng đối với quanđiểm giả khoa học và giả cách mạng Thực chất, đó là sự phê phán khoa học

để khẳng định khoa học, vạch trần và loại bỏ các sai lầm, phản khoa học Vìvậy, đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT phải thực sự có trí tuệkhoa học, bản lĩnh chính trị mới đáp ứng đòi hỏi của cuộc đấu tranh đó

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongĐTTTLL là một chỉnh thể thống nhất các yếu tố khả năng nhận thức lý luận;

Trang 20

khả năng thu thập, xử lý thông tin, phát hiện vấn đề trong ĐTTTLL; phươngpháp tư duy khoa học; khả năng hoạt động tham gia ĐTTTLL Mối quan hệgiữa các yếu tố này chính là mối quan hệ nội tại bên trong của NLTT đội ngũgiảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL.

Trong mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa các yếu tố cấu thành NLTTcủa đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL, khả năngnhận thức lý luận với tư cách là biểu hiện của tri thức là yếu tố giữ vai trò cơ

sở, tiền đề cho sự phát triển kỹ năng thao tác tư duy, khả năng thu thập, xử lýthông tin, phát hiện vấn đề và khả năng sáng tạo trong hoạt động tham giaĐTTTLL Phương pháp tư duy khoa học với tư cách là kỹ năng thao tác trítuệ giữ vị trí hạt nhân, có vai trò tác động trực tiếp tới quá trình tích lũy, nângcao tri thức và khả năng sáng tạo của người giảng viên KHXH&NV trongtham gia ĐTTTLL Khả năng thu thập, xử lý thông tin, phát hiện vấn đề vàkhả năng hoạt động tham gia ĐTTTLL với vai trò là thực tiễn, là cơ sở, độnglực, tiêu chuẩn kiểm nghiệm, đánh giá trình độ tri thức, hiện thực hóa phươngpháp tư duy khoa học, khả năng sáng tạo của đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT trong ĐTTTLL

1.1.2 Vai trò năng lực trí tuệ trong đấu tranh tư tưởng, lý luận của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị

Vai trò, theo Từ điển tiếng Việt, là chức năng, tác dụng của cái gì hoặccủa ai trong sự vận động phát triển của nhóm của tập thể nói chung [43, tr.742] Thông thường, người ta hiểu vai trò là chức năng, vai trò là ý nghĩa, tácdụng… Theo nghĩa đó có thể khái quát: Vai trò NLTT của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL là chức năng, tác dụng nhữngthành tố cấu thành NLTT của họ trong phát hiện, phê phán, ngăn chặn, khắcphục ảnh hưởng của các quan điểm, tư tưởng phản động, thù địch nhằm bảo

vệ, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đườnglối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, bản chất truyền thống củaQuân đội và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta

Trang 21

Từ sự phân tích trên đây cho thấy NLTT của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT có vai trò to lớn trong ĐTTTLL Vai trò NLTTtrong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT được biểuhiện ở những nội dung sau.

NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT góp phần giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị của quân đội, nâng cao chất lượng xây dựng quân đội về chính trị

Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay phảiđặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng quân đội về chính trị Giữ vững, tăngcường trận địa tư tưởng, chính trị của quân đội, nâng cao chất lượng xây dựngquân đội về chính trị là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của quân đội ta

Là lực lượng cơ bản trong hệ thống cán bộ chính trị của quân đội, đội ngũgiảng viên KHXH&NV Trường SQCT có nhiệm vụ trực tiếp tham gia giữvững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị của quân đội, góp phần nâng caochất lượng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị Theo đó, NLTT củađội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT đóng vai trò quan trọng trongthực hiện nhiệm vụ đó Bởi vì, nó góp phần đào tạo những thế hệ cán bộchính trị có đủ phẩm chất và năng lực cho quân đội, đặc biệt về chính trị, tưtưởng Những người này trở thành lực lượng cốt cán để xây dựng quân đội, cókhả năng làm công tác đảng, công tác chính trị, tham gia ĐTTTLL trong quânđội Mặt khác, giảng viên KHXH&NV Trường SQCT cũng trực tiếp tham giatuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối củaĐảng, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, đóng góp cho Đảng và quânđội những ý kiến quý báu về hoạch định đường lối, chính sách trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN

Bằng NLTT của mình, hoạt động ĐTTTLL của giảng viên KHXH&NVTrường SQCT góp phần làm cho cán bộ, học viên trong Nhà trường nắm vữngnhững quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quanđiểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiên định con đường, mục

Trang 22

tiêu mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn; đấu tranh chống bảo thủ, giáo điều,đồng thời kiên quyết phê phán những quan điểm cơ hội, xét lại, khuynh hướngphủ nhận lịch sử dân tộc, muốn đưa đất nước đi chệch con đường XHCN Nêucao tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, gương mẫu trong học tập, công tác;nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không mơ hồ địch - ta; xử lý chính xác,kịp thời mọi tình huống, đấu tranh ngăn chặn và đánh bại mọi âm mưu thủ đoạncủa các thế lực thù địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng Nâng cao bản chất giaicấp công nhân của quân đội, bảo đảm thực sự “miễn dịch” đối với các quan điểmchống phá về tư tưởng, lý luận của kẻ thù, góp phần làm cho quân đội luôn luôn

là lực lượng trung thành, hùng mạnh, tin cậy của Đảng và nhân dân Đây là cơ sởquan trọng để củng cố, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị

NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

Để ĐTTTLL thắng lợi, giảng viên KHXH&NV Trường SQCT phảihiểu rất sâu sắc và toàn diện hệ thống các KHXH&NV mácxít; biết phân tích,luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn một cách khoa học; nghiên cứu, bổsung và vận dụng sáng tạo lý luận đó trong thực tiễn; kiên quyết chống lạinhững quan điểm sai trái Qua đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm của Đảng liên tục được luận giải, chứng minh và vậndụng vào thực tiễn, được thẩm thấu vào người học và lan tỏa đến các đơn vịquân đội Nhờ NLTT, đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT đấutranh chống lại các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng và đường lốicủa Đảng có hiệu quả cao

NLTT của giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL còn

có tác dụng nâng cao khả năng vận dụng sáng tạo và tổ chức hoạt động thựctiễn theo quan điểm mácxít Cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoahọc, những tri thức được thực tiễn kiểm nghiệm, những bài học quý báu vềhoạt động thực tiễn làm cơ sở chỉ đạo thực tiễn đúng đắn

Đối tượng tác động trực tiếp của giảng viên KHXH&NV Trường SQCT

là những công dân Việt Nam (kể cả một số người của các nước anh em), những

Trang 23

quân nhân là cán bộ, học viên, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng đang học tậptại Nhà trường Họ được hấp thụ kiến thức, tác phong công tác, khả năng tổ chứchoạt động thực tiễn, vận dụng lý luận vào thực tiễn ĐTTTLL của giảng viênKHXH&NV Ngoài ra, giảng viên KHXH&NV Trường SQCT có thể tham giavào cuộc ĐTTTLL của đất nước trên các phương tiện thông tin đại chúng, sách,báo, các diễn đàn khoa học Vì vậy, NLTT của giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT trong ĐTTTLL góp phần trực tiếp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lạicác quan điểm sai trái, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và đường lối của Đảng cho đội ngũ học viên ở Nhà trường, mở rộng ra các đốitượng khác trong và ngoài quân đội

Với NLTT cao, khả năng tổ chức thực tiễn ĐTTTLL của đội ngũ giảngviên KHXH&NV Trường SQCT thể hiện đầy đủ các yếu tố tính đảng, tínhkhoa học và nghệ thuật, có nội dung toàn diện, sâu sắc cả về lý luận và thựctiễn trên tất cả các vấn đề đấu tranh, phù hợp với đối tượng, có ngôn ngữtrong sáng và lập luận chặt chẽ

Về nội dung, đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường phải dựa

trên cơ sở lý luận và thực tiễn để vạch trần bản chất các quan điểm thùđịch, chỉ ra tính chất ngụy biện, mị dân của nó, chứ không phải phê phán

vũ đoán, “đao to búa lớn” hoặc kiểu hô khẩu hiệu chung chung

Cũng bằng cơ sở lý luận và thực tiễn, đội ngũ giảng viên KHXH&NVphải làm rõ tính khoa học, cách mạng các luận điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, đập lại những điều mà

kẻ thù xuyên tạc Đồng thời, người giảng viên KHXH&NV phải biết phânbiệt rõ những tư tưởng “mới lạ” trong nội bộ chúng ta, những tư tưởng đó cóthể chứa đựng yếu tố hợp lý, nhưng chưa hoàn thiện và với mục đích trongsáng để khuyến khích tìm tòi, bổ sung, phát triển, tránh phê phán kiểu ápđặt, “chụp mũ”; nhận rõ và kiên quyết phê bình những biểu hiện tư tưởng có

vẻ “kiên định” nhưng thực chất là bảo thủ, trì trệ, không đổi mới sáng tạo

Trang 24

Đối với những vấn đề hiện thực, địch lợi dụng ta có khó khăn, sai lầm(như: CNXH sụp đổ ở Liên xô, Đông Âu ; những điểm nóng ở các địaphương ) để công kích Đảng, Nhà nước, phủ nhận con đường đi lênCNXH thì giảng viên KHXH&NV cũng phải làm rõ đúng, sai, chỉ ranguyên nhân bằng lý luận và thực tiễn, đánh trả vào chỗ địch lợi dụng

Nhờ NLTT trong ĐTTTLL, đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhàtrường sử dụng phương thức tiến hành đấu tranh phù hợp, bằng nhiều hìnhthức, biện pháp tương ứng với các loại đối tượng Thông thường, khả năng tổchức thực tiễn ĐTTTLL của giảng viên KHXH&NV biểu hiện đan xen, đồngthời với hoạt động giảng dạy, NCKH Các hoạt động này cùng chung mụctiêu làm rõ tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; chỉ rabản chất các quan điểm sai trái, phản động; sử dụng tri thức, nội dung, kết quả

và phương pháp của nhau để phục vụ cho mục đích của chủ thể Hơn nữa,thời gian học tập các môn KHXH&NV có hạn, không cho phép bố trí nhiềubuổi chuyên về ĐTTTLL Cách tốt nhất là lồng ghép các hoạt động này trongcác hình thức dạy học và sinh hoạt phong phú của Nhà trường Với hình thứcĐTTTLL trên bục giảng, người giảng viên KHXH&NV chủ yếu đi từ lý luậnchính diện mà phê phán quan điểm phản diện; đồng thời, gợi ra cho học viên

tự phê bình và phê bình những khía cạnh tư tưởng, lý luận thù địch đã ảnhhưởng vào nội bộ ta, nhất là đối tượng đang học tập Vì vậy, phát triển NLTTcủa đội ngũ giảng viên KHXH&NV trong ĐTTTLL luôn gắn liền với nângcao năng lực giảng dạy, NCKH và các phẩm chất, năng lực khác của bản thânngười giảng viên

Trên diễn đàn hội thảo, viết báo, truyền thanh, truyền hình, giảng viênKHXH&NV tiến hành ĐTTTLL phải lựa chọn vấn đề sao cho có tác dụngđấu tranh mà không tuyên truyền hộ cho kẻ địch, gây thêm tò mò cho quần chúng

Ở hình thức này, công chúng theo dõi rất đông nên phải cẩn trọng sử dụng tài liệucủa các ngành, các địa phương, đặc biệt những vấn đề thuộc bí mật quốc gia

Trang 25

Để ĐTTTLL thắng lợi, đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trườngphải biết huy động mọi khả năng sẵn có của bản thân và tổ chức, cả vật chất vàtinh thần, sử dụng thành thạo, sáng tạo các phương pháp, phương tiện, lựclượng Không được tách rời, tuyệt đối hóa hoặc coi nhẹ một yếu tố nào; đồngthời, tuỳ từng đối tượng, hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn phương án đấu tranhthích hợp, tránh mọi biểu hiện rập khuôn, sao chép máy móc.

Nhờ có NLTT trong ĐTTTLL, về lập luận, đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT sử dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để diễn đạtmạch lạc, lập luận chặt chẽ và lôgíc, phân tích sắc sảo; tuyệt đối tránh kiểu diễnđạt dài dòng, lập luận “tiền hậu bất nhất”, trùng lặp Về ngôn từ, dùng ngôn ngữchọn lọc, bảo đảm sự đúng đắn và khái quát, trong sáng, dễ hiểu; đồng thời cókhả năng biểu cảm, thuyết phục quần chúng, học viên bằng lý lẽ khoa học, bằngthực tiễn cuộc sống, bằng lẽ phải và bằng cả lý tưởng cách mạng

NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT góp phần nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng bản lĩnh vững vàng cho học viên ở Nhà trường

Bằng NLTT của mình, thông qua ĐTTTLL đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lýtưởng chiến đấu của học viên Với NLTT trong ĐTTTLL, đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT góp phần củng cố, làm sâu sắc thêm những kiếnthức, kỹ năng mà người học đã được trang bị trong quá trình dạy học Đây là

cơ sở vững chắc để học viên giác ngộ cách mạng, xây dựng mục tiêu, lýtưởng chiến đấu đúng đắn

Với NLTT cao, đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT có cáchthức hiệu quả nhất luận giải cho học viên hiểu rõ tính tất yếu tiếp tục đi theo conđường XHCN; vạch trần âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, xây dựng quânđội “trung lập” về chính trị của các thế lực thù địch; vạch trần các âm mưu, thủđoạn thâm độc, xảo quyệt của kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”.Làm rõ bản chất tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam, là một lực lượngchính trị tự giác đứng vững trên lập trường của Đảng, tham gia tích cực vào cuộc

Trang 26

đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận Động viên học viên khi ra trường sẽ trởthành lực lượng nòng cốt tham gia, hoặc cao hơn là người tổ chức và tiến hànhĐTTTLL ở các đơn vị Do đó, họ càng phải cố gắng phấn đấu học tập và rènluyện nâng cao nhận thức, giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongĐTTTLL góp phần quan trọng vào củng cố niềm tin, lý tưởng cách mạng, vàobồi dưỡng, xây dựng và nâng cao tinh thần chiến đấu, hy sinh vì độc lập dântộc và CNXH, sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ cho đội ngũ học viên

NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT góp phần tạo môi trường sư phạm lành mạnh để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho học viên

Là chủ thể tích cực, hoạt động của đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT có vai trò to lớn trong xây dựng môi trường sư phạm ở Nhàtrường Trong đó, NLTT của họ góp phần to lớn làm “sạch” môi trường chínhtrị, tư tưởng, nêu gương sáng cho học viên; giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, tạokhả năng “miễn dịch” với các tư tưởng sai trái, phản động

NLTT của giảng viên KHXH&NV Trường SQCT có nội dung sâu sắc cả vềtri thức, kỹ năng, phương pháp hoạt động cả tình cảm, phẩm chất chính trị, đạođức cách mạng nên có tác dụng giáo dục, rèn luyện học viên Đồng thời, năng lực

đó nằm trong chủ thể đặc biệt - nhà giáo, là những người am hiểu KHXH&NV, cónăng lực truyền thụ tri thức, kỹ năng hoạt động có hành vi gương mẫu, lời nói điđôi với việc làm, là tấm gương mẫu mực cho học viên noi theo

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL

có tính chiến đấu cao, có giá trị giáo dục sâu sắc, được thể hiện thường xuyêntrong quá trình công tác của họ Chính vì vậy, NLTT đó góp phần xây dựng vàcủng cố tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình trong Nhà trường, tạo môitrường thuận lợi cho giáo dục, đào tạo học viên Nó góp phần khắc phục các biểuhiện bàng quan, nể nang, né tránh phê bình những khuyết điểm của đồng đội, phêbình kiểu “đao to búa lớn”, vì mục đích vụ lợi; hoặc chỉ biết “phê” mà không chịu

“tự phê”; nhằm đạt mục đích vừa khắc phục sai lầm vừa tạo sự đoàn kết, nhất trítrong Nhà trường Đây là những điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng, giáo dục nhâncách cho các sĩ quan chính trị tương lai của quân đội

Trang 27

1.2 Những nhân tố quy định năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongĐTTTLL hình thành, phát triển tuân theo những quy luật, tính quy luật chungcủa sự hình thành, phát triển những phẩm chất, nhân cách của họ Tuy nhiên,những quy luật, tính quy luật chung đó được biểu hiện ra với những nét riêng,phản ánh tính đặc thù của của cuộc ĐTTTLL ở đội ngũ giảng viên này Bướcđầu, chúng tôi tìm hiểu và phân tích một số nhân tố quy định NLTT của độingũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL sau đây

1.2.1 Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận phụ thuộc vào chất lượng giáo dục, đào tạo của Quân đội và khả năng tự đào tạo của mỗi người giảng viên ở Nhà trường

Con người là sản phẩm của xã hội Sự phát triển nhân cách và trí tuệ củamỗi người phụ thuộc vào điều kiện sống và điều kiện giáo dục của xã hội, dựatrên cơ sở phương thức sản xuất vật chất, điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.Theo đó, giáo dục, đào tạo giữ vai trò to lớn đối với sự phát triển những năng lựcbản chất người, trong đó có NLTT của họ Trong quá trình phát triển của lịch sử

xã hội, thế hệ sau được kế thừa các kết quả của thế hệ trước theo cơ chế ditruyền xã hội Mỗi người của thế hệ sau được phát triển trong thế giới tự nhiên,

xã hội đã được thế hệ trước cải tạo, xây dựng Sự phát triển của con người với tưcách là một thành viên của xã hội và một cá nhân mang nhân cách xã hội chịu sựảnh hưởng trực tiếp và sâu xa của những tác động giáo dục xã hội Đồng thời,con người cũng là chủ thể của giáo dục, tự giáo dục, tự đào tạo để hoàn thiệnmình, không ngừng phát triển NLTT đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Sự hình thành, phát triển nhân cách, cũng như NLTT của đội ngũ giảngviên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL không nằm ngoài sự tácđộng của quy luật chung đó Vì vậy, NLTT của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL phụ thuộc vào chất lượng giáodục, đào tạo và khả năng tự đào tạo của họ gắn với môi trường công tác

Trang 28

Quá trình giáo dục, đào tạo của các nhà trường quân đội có vai trò hếtsức to lớn đối với quá trình hình thành, phát triển NLTT của đội ngũ giảngviên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL Từ những thanh niên mớirời gia đình bước vào học tập và hoạt động trong môi trường quân sự, NLTTcủa họ tuy đã được hình thành nhờ sự giáo dục, giáo dưỡng của gia đình, nhàtrường, xã hội, nhưng lĩnh vực quân sự đối với họ như một “vùng đất lạ” chưađược hiểu biết Quá trình đào tạo ở các nhà trường quân đội sẽ góp phần tạomột bước phát triển mới về chất của nhân cách người giảng viên KHXH&NVnói chung, NLTT của họ nói riêng, đem lại cho họ khả năng thích ứng, hoànhập với môi trường hoạt động sư phạm quân sự.

NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT là kết quả của quá trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên,liên tục có mục đích của Đảng, Nhà nước và Quân đội Trong đó, sự giáo dục

và bồi dưỡng của các tổ chức đảng, Ban Giám hiệu Nhà trường và của tập thểcác khoa giáo viên là tác động giáo dục thường xuyên, liên tục nhất

Quá trình giáo dục, đào tạo của xã hội, của quân đội không những trang

bị cho đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT những tri thức, nhữngphương pháp nhận thức và hành động khoa học để họ đảm đương được chứctrách nhiệm vụ theo yêu cầu, mà còn phát huy tối đa tác động tích cực của môitrường xã hội, của điều kiện kinh tế - xã hội; đồng thời, còn điều chỉnh nhữngsai lệch, những tác động tự phát của môi trường, của mặt trái của nền kinh tếthị trường; phát huy khả năng trí tuệ trong ĐTTTLL

Trong sự tác động của giáo dục, đào tạo, các yếu tố cơ bản của giáodục, đào tạo, như: mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục, đào tạo cóquan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, tác động lẫn nhau hợp thành chất lượng giáodục, đào tạo và tác động mạnh mẽ tới quá trình hình thành, phát triển NLTTcủa đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT Mục tiêu giáo dục, đàotạo quyết định xu hướng phát triển nhân cách người giảng viên KHXH&NV

và qua đó tác động tới xu hướng phát triển NLTT của họ Nội dung giáo dục,

đào tạo quyết định tới quy mô và chất lượng hệ thống tri thức được trang bị

Trang 29

cho giảng viên KHXH&NV và qua đó góp phần phát triển phương pháp tưduy và hành động khoa học, sáng tạo của đội ngũ này Phương pháp giáo dục,

đào tạo tiên tiến giữ vai trò là nhân tố tác động trực tiếp và sâu sắc tới quá

trình hình thành, phát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV.Những thuộc tính năng động và sáng tạo của giảng viên KHXH&NV đượctạo ra một cách trực tiếp từ tác động của những nhân tố trí tuệ, khoa học trongcông nghệ đào tạo, đặc biệt là phương pháp giáo dục, đào tạo tiên tiến

Phương pháp giáo dục, đào tạo tiên tiến tác động trực tiếp và sâu sắc tới

sự hình thành, phát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT chính là ở chỗ, nó không chỉ vạch ra con đường đi tới tri thức, mà còntạo ra khả năng tự tìm tới tri thức của người giảng viên KHXH&NV, kíchthích tính tích cực nhận thức của họ Trong quan điểm đổi mới giáo dục củaĐảng ta, việc đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nănglực trí tuệ cho thế hệ trẻ Việt Nam được đặt lên hàng đầu NQTW 8 khóa XInhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và phương pháphọc theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vậndụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt mộtchiều, ghi nhớ máy móc” [16, tr 128-129]

Hiện nay, Trường SQCT đang đổi mới phương pháp dạy học theohướng phát huy tính tích cực của người học Nội dung của phương pháp đổimới này là sự thống nhất giữa giáo dục, đào tạo với tự giáo dục, đào tạo,nhằm mục đích chuyển hóa quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Đâychính là sự nhận thức và vận dụng đúng đắn vấn đề có tính quy luật về tácđộng của mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục, đào tạo và tự giáo dục, đàotạo trong quá trình phát triển nhân cách vào hoạt động đào tạo giảng viênKHXH&NV quân sự ở Nhà trường

Trong quá trình hình thành, phát triển NLTT, khả năng tự đào tạo lànhân tố giữ vai trò quyết định cuối cùng đối với sự hình thành, phát triểnNLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL

Trang 30

Phần đông giảng viên KHXH&NV Trường SQCT được đào tạo cơ bảntại các nhà trường quân đội, ở đó, họ được trang bị một hệ thống tri thứctương đối cơ bản, toàn diện, tạo nền tảng cho sự hình thành, phát triển NLTT.Thế nhưng, ngay trong quá trình học tập tại trường, nếu họ không biết “tựđộng học”, tức là không phát huy khả năng tự đào tạo thì họ cũng không thểlĩnh hội sâu sắc tri thức Và do đó, NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT cũng khó có thể phát triển được Nếu không xây dựng và rènluyện được bản lĩnh tự đào tạo cho giảng viên KHXH&NV thì khi về Nhàtrường, do tác động của nhiều điều kiện chi phối, họ sẽ không đủ quyết tâmvượt qua khó khăn để tự học, tự nghiên cứu, phát triển NLTT của mình.

Trong quá trình hình thành, phát triển NLTT, khả năng tự đào tạo lànhân tố giữ vai trò quyết định cuối cùng đối với sự phát triển NLTT của độingũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT Xã hội và nhà trường quân đội chỉ

có khả năng trang bị cho đội ngũ giảng viên những tri thức cơ bản, cần thiếtban đầu, còn muốn không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết và biến tri thức mà

xã hội, nhà trường đã trang bị thành tri thức của mình thì họ phải biết tự họctập, tự tìm kiếm tri thức Ngày nay, trước tốc độ phát triển vũ bão của sự pháttriển tri thức khoa học, nếu mỗi giảng viên KHXH&NV Trường SQCT khôngphát huy khả năng tự đào tạo để làm giàu trí tuệ của mình thì sẽ không thểvươn lên làm chủ tri thức khoa học hiện đại và do đó sẽ bị tụt hậu về trí tuệ.Giáo dục của xã hội, của quân đội được thực hiện một cách khoa học, có hiệuquả sẽ giúp cho họ xác định đúng đắn mục tiêu, phương hướng tự học tập, tựnghiên cứu, nhận thức sâu sắc yêu cầu khách quan của xã hội và biến nó thànhnhu cầu nội tại của mỗi người giảng viên; từ đó tích cực, chủ động, tự giác tựhọc tập, tự nghiên cứu và rèn luyện để phát triển NLTT của mình

Giáo dục, đào tạo của xã hội, của quân đội và tự giáo dục, tự đào tạocủa đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT luôn tác động biện chứngvới nhau, tác động chi phối quá trình hình thành, phát triển NLTT của họtrong ĐTTTLL Đây là một vấn đề mang tính quy luật Sự tác động của mối

Trang 31

quan hệ biện chứng giữa giáo dục, đào tạo và tự giáo dục, đào tạo tạo thànhhợp lực chi phối mạnh mẽ tới NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT Sự tác động của mối quan hệ này diễn ra ở mọilúc, mọi nơi, cả trong quá trình học tập, rèn luyện ở Nhà trường lẫn trong quátrình học tập, rèn luyện thực tiễn Nó cũng tác động tới mọi giai đoạn pháttriển, tới mọi yếu tố cấu thành NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT trong ĐTTTLL Bởi vậy, để phát triển NLTT của đội ngũgiảng viên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL, cần giải quyết tốt mốiquan hệ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo với phát huy khả năng tựđào tạo của đội ngũ này.

1.2.2 Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận phụ thuộc vào hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và đấu tranh tư tưởng, lý luận của đội ngũ giảng viên này

Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xãhội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Xét cho cùng, mọi sự hiểubiết của con người dù trực tiếp hay gián tiếp đều có nguồn gốc từ thực tiễn Đốivới đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT, mặc dù lượng tri thức đãđược tích lũy chủ yếu từ nhà trường, nhưng những tri thức sách vở đó có đượcchuyển hóa thành phương pháp tư duy và hành động sáng tạo của họ haykhông nhất thiết phải được huy động, vận dụng vào hoạt động thực tiễn thamgia giảng dạy, NCKH, ĐTTLL Chỉ có thông qua đó họ mới trau dồi được trithức, tài năng, NLTT của mình

Mặc dù NLTT của con người chịu ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh, nhưngcái quyết định chủ yếu là yếu tố xã hội, là hoạt động thực tiễn của họ Thật ra,cái gọi là tính bẩm sinh, cái thiên bẩm vốn hình thành từ rất xa xưa và tiềm ẩntrong con người cũng là sản phẩm phát triển của thế giới tự nhiên và thế giới conngười mà thôi Cái thiên bẩm ấy đang tiềm ẩn trong sinh thể con người có bộc lộthành NLTT hay không phải nhờ vào cái “hích” của hoạt động thực tiễn chứkhông phải là cái “hích” của thượng đế Nhờ có hoạt động thực tiễn, những khả

Trang 32

năng của con người, trong đó có khả năng nhận thức được bộc lộ, được đánhthức, được huy động vào chiếm lĩnh những lực lượng bản chất của tự nhiên đểphát triển những lực lượng bản chất người.

Thực tiễn vận động phong phú, đa dạng của tình hình chính trị - xã hội

và tính phức tạp của thực tiễn cuộc ĐTTTLL đòi hỏi tất yếu phải phát triểnNLTT của mọi chủ thể tham gia, trong đó có đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT

Hoạt động tham gia giảng dạy, NCKH và ĐTTTLL là hình thái đặc biệtcủa hoạt động chính trị - xã hội - một dạng cơ bản của hoạt động thực tiễn nhằmbiến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội Trong quá trình tham gia hoạt độngthực tiễn đó, đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT từng bước hoànthiện nhân cách, NLTT của mình để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễnxây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Hoạt động giảng dạy, NCKH và ĐTTTLL luôn đề ra nhu cầu đòi hỏi độingũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT phải trau dồi tri thức, tích lũy thêmkinh nghiệm, thúc đẩy NLTT của họ phát triển Để thực hiện tốt những nhiệm vụnày, đòi hỏi đội ngũ giảng viên KHXH&NV phải có đầy đủ kiến thức và kinhnghiệm phong phú, hiểu và biết làm việc trên cương vị chức trách được giao

Tính chất phức tạp của cuộc ĐTTLL hiện nay xuất phát từ tính chấtphức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp đang diễn

ra ở trong nước và thế giới Để tham gia ĐTTTLL có chất lượng, hiệu quả,đòi hỏi đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT phải có kinh nghiệm,kiến thức phong phú, am hiểu thực tiễn và các kiến thức văn hóa chung.Thông qua thực tiễn tham gia ĐTTTLL, họ sẽ tích lũy dần kinh nghiệm, nângcao vốn hiểu biết thực tiễn, từ đó mà nâng cao trình độ hiểu biết, khả năngvận dụng lý luận vào thực tiễn, phát triển NLTT của họ

Hoạt động giảng dạy, NCKH và tham gia ĐTTTLL cũng luôn đặt ranhững tình huống có vấn đề, đòi hỏi đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT phải thường xuyên “động não”, thúc đẩy NLTT của họ phát triển Trongkhi tổ chức, thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, NCKH, tham gia ĐTTTLL, thường

Trang 33

xuyên xuất hiện những tình huống có vấn đề, tức là những mâu thuẫn cần đượcnhận thức và giải quyết Chính quá trình trăn trở, suy nghĩ, tìm kiếm conđường, biện pháp để giải quyết những nhiệm vụ mới, những tình huống mới

mà thực tiễn đang đặt ra cũng chính là quá trình vận động đi lên trong hoạtđộng nhận thức của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT: từ nhữngđiều chưa biết tới những điều đã biết, từ sự hiểu biết đơn giản đến sự hiểu biếtsâu sắc hơn Hoạt động nhận thức như vậy được diễn ra thường xuyên, liên tục

sẽ phát triển các kỹ năng tư duy, như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quáthóa từ đó quy định NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trườngtrong thực tiễn

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongĐTTTLL chỉ thực sự được phát triển khi họ không ngừng phấn đấu rèn luyệntrong thực tiễn giáo dục, đào tạo, NCKH và thực tiễn hoạt động chính trị - xãhội khác Quá trình hoạt động thực tiễn giảng dạy, NCKH và ĐTTTLL cũngchính là quá trình họ tham gia vào các quan hệ chính trị - xã hội và mở rộngquan hệ giao tiếp xã hội

Chính thông qua các quan hệ xã hội và giao tiếp xã hội trong quá trìnhhoạt động thực tiễn, trực tiếp là hoạt động giảng dạy, NCKH và ĐTTTLL củađội ngũ giảng viên KHXH&NV làm phong phú đời sống tinh thần của họ,làm nảy sinh tính năng động và phát triển các năng lực của người giảng viên.Hoạt động giao tiếp thực hiện 3 chức năng: thông tin - điều chỉnh hành vi -kích thích Thông qua sự mở rộng quan hệ giao tiếp xã hội, người giảng viên

sẽ tích lũy thêm vốn sống, kinh nghiệm, điều chỉnh cách thức suy nghĩ vàhành động hợp lý hơn, kích thích họ tích cực học hỏi, rèn luyện để tự khẳngđịnh mình trước tập thể, từ đó quy định NLTT của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT

Rèn luyện và tự rèn luyện của đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT trong thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau và cùng tácđộng mạnh mẽ tới NLTT của đội ngũ này trong ĐTTTLL

Trang 34

Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu đòi hỏi con người phải không ngừngnâng cao trình độ hiểu biết, kích thích NLTT phát triển Song, việc chuyểnhóa nhu cầu đòi hỏi khách quan của thực tiễn thành mục đích hành độngcủa mỗi người lại phụ thuộc vào tính năng động, tích cực của họ Cho nên,NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT chỉ thực sự đượcphát huy thông qua hoạt động thực tiễn khi họ không ngừng phấn đấu rènluyện Nếu người giảng viên không có thói quen “động não”, tức là nỗ lựcnhận thức, tìm kiếm tri thức và phương pháp mới để giải quyết các tìnhhuống, nhiệm vụ thực tiễn phức tạp thì trí tuệ sẽ không thể phát triển tốtđược Nếu người giảng viên không có thói quen nghiền ngẫm, kiểm nghiệmnhững gì đã học bằng cách vận dụng lý luận vào thực tiễn thì kiến thức đãđược tích lũy sẽ không phát huy được tác dụng, thậm chí bị mai một dần.NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT chỉ thực sự đượcphát triển thông qua hoạt động thực tiễn khi họ tự giác rèn luyện thói quensuy nghĩ và hành động khoa học, sáng tạo; khi họ biết tự học hỏi kinhnghiệm của các thế hệ đi trước và tự đúc kết kinh nghiệm giảng dạy,NCKH và kinh nghiệm ĐTTTLL của mình.

Rèn luyện và tự rèn luyện của đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT trong thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau và cùngtác động mạnh mẽ tới sự phát triển NLTT của họ Việc đưa giảng viênKHXH&NV ở Nhà trường vào rèn luyện trong thực tiễn để phát triển bảnlĩnh, trí tuệ thuộc trách nhiệm của các cấp uỷ đảng, của người chỉ huy cáccấp ở Nhà trường Thế nhưng hiệu quả rèn luyện chỉ thật sự phát huy vai tròtác dụng của nó đối với NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV khi đượcchuyển hóa thành quá trình tự rèn luyện của họ

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT chịu sự quyđịnh của hoạt động thực tiễn, là sản phẩm của quá trình không ngừng rènluyện, tự rèn luyện trong hoạt động thực tiễn Đây là một vấn đề có tính quyluật Do đó, để rèn luyện, phát triển NLTT của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT, cần phải tăng cường rèn luyện, thử thách họtrong thực tiễn, nhất là rèn luyện trong những tình huống nhiệm vụ khó khăn,

Trang 35

phức tạp, mới mẻ của cuộc ĐTTTLL dưới tác động của toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế Mặt khác, cần khuyến khích, giáo dục họ nỗ lực tự rèn luyện đểkhông ngừng nâng cao trí tuệ, hướng khả năng sáng tạo của họ phục vụ sựnghiệp xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

1.2.3 Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận phụ thuộc vào môi trường dân chủ, tiếp nhận và xử lý thông tin

Môi trường dân chủ trong giáo dục, đào tạo, NCKH ở Trường SQCT cóvai trò to lớn, tác động thường xuyên, liên tục tới NLTT của đội ngũ giảng viênKHXH&NV trong ĐTTTLL Đây là sự tác động biện chứng, môi trường dân chủtạo địa bàn thuận lợi hoặc khó khăn cho đội ngũ giảng viên phát triển NLTT củamình, cống hiến sáng tạo trong giảng dạy, NCKH, ĐTTTLL NLTT của họ khôngchỉ phụ thuộc vào môi trường dân chủ, mà còn có tác động to lớn trở lại đối vớiquá trình xây dựng môi trường dân chủ ở Nhà trường

Ở Trường SQCT, đội ngũ giảng viên KHXH&NV đóng vai trò rất lớntrong xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh Họ là một lực lượng trực tiếptham gia xây dựng các mối quan hệ trong sáng và bầu không khí dân chủ ở cáckhoa, các bộ môn, góp phần xây dựng môi trường văn hóa của Nhà trường.Được sống, làm việc, học tập và rèn luyện với đội ngũ giảng viên KHXH&NV

có NLTT cao, các thành viên trong Nhà trường, nhất là học viên có điều kiệnphát triển cả về phẩm chất và năng lực toàn diện Họ trở thành các chủ thể tốttham gia xây dựng và bảo vệ môi trường sư phạm ở Nhà trường

NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCT trongĐTTTLL góp phần xây dựng và củng cố bầu không khí dân chủ Bản chất củaĐTTTLL là sự phê phán khoa học để khẳng định khoa học, làm rõ đúng, saibằng trí tuệ khoa học và cách mạng, đòi hỏi khách quan và sáng tạo Nó rấtcần và khuyến khích mở rộng tranh luận dân chủ để tìm ra chân lý NLTT củađội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường trong ĐTTTLL thể hiện tinhthần tôn trọng khách quan, luận giải các vấn đề ĐTTTLL trên cơ sở khoa học,

vì lợi ích của quảng đại quần chúng lao động Hoạt động ĐTTTLL của giảng

Trang 36

viên KHXH&NV thể hiện công khai, minh bạch, với chứng lý khoa học vàlập luận chặt chẽ, phản ánh đặc trưng dân chủ cao Vì vậy, NLTT của đội ngũgiảng viên KHXH&NV trong ĐTTTLL có tác dụng góp phần xây dựng vàcủng cố bầu không khí dân chủ ở Nhà trường.

Trong quá trình tích lũy tri thức mọi mặt của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT, thông tin, tư liệu có vai trò đóng góp quan trọng.Thông tin, tư liệu là chìa khóa để mỗi người tiếp cận nguồn tri thức của nhânloại Cùng với những tri thức đã có, thông tin, tư liệu giúp người giảng viênthường xuyên cập nhật những tri thức mới, mở rộng sự hiểu biết trên nhiều lĩnhvực của đời sống xã hội, đi sâu củng cố tri thức chuyên ngành, phục vụ đắc lựccho quá trình giảng dạy, NCKH, ĐTTTLL Thông tin, tư liệu phong phú, đadạng tạo điều kiện thuận lợi để đội ngũ giảng viên KHXH&NV tích lũy, làmgiàu thêm tri thức của mình; ngược lại, nếu điều kiện thông tin, tư liệu nghèonàn, lạc hậu sẽ là một khó khăn lớn cho việc tích lũy tri thức, làm hạn chế NLTTcủa đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường trong giảng dạy, NCKH vàtham gia ĐTTTLL

Thu thập, xử lý thông tin đóng vai trò rất quan trọng trong nâng caotrình độ nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn Bởi vì, xã hội càng pháttriển, lượng thông tin, tri thức càng nhiều, tăng theo cấp số nhân Nếukhông có quá trình thường xuyên cập nhật, lựa chọn, phân loại, lưu trữ và

xử lý thông tin để bổ sung tri thức thì chúng ta sẽ nhanh chóng bị lạc hậu

Để nhận thức phát triển và hoạt động thực tiễn có hiệu quả, không chophép bất cứ ai (kể cả những người tài giỏi nhất) có thể thoả mãn dừng lại,không tích cực trau dồi, mở mang hiểu biết Giảng viên KHXH&NVTrường SQCT nếu không thường xuyên thu thập, xử lý thông tin sẽ không

đủ kiến thức, năng lực để giảng dạy, giáo dục, càng không thể đủ tri thức

để ĐTTTLL có hiệu quả trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.Ngoài ra, sự thiếu hụt thông tin, trình độ hạn chế, kiến thức lạc hậu, nghèonàn, đơn điệu, nông cạn sẽ làm giảm sút uy tín của người thầy, ảnh hưởngnghiêm trọng tới chất lượng và hiệu quả công tác Vì vậy, thu thập và xử lý

Trang 37

thông tin là công việc thường xuyên và cấp thiết đối với mọi người, đặcbiệt là việc phát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT trong ĐTTTLL

Sự phát triển của khoa học công nghệ hiện đại có vai trò quan trọngkhông thể phủ nhận đối với tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bối cảnh toàncầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng thì sự tác đó ngày càng sâusắc Theo đó, NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCTkhông thể không chịu sự tác động to lớn của khoa học công nghệ, đặc biệt là

sự phát triển của mạng Internet tới quá trình tích lũy tri thức, vận dụng tronggiảng dạy, NCKH và ĐTTTLL

Sự phát triển của mạng lưới Internet toàn cầu thế hệ mới đã dẫn đếnnhiều thay đổi trên lĩnh vực ĐTTTLL, thực hiện vai trò cung cấp thông tin,định hướng dư luận, tạo nên lối sống mới Từ đây, dẫn đến hai xu hướngngược nhau: một mặt, những tri thức mới nhất của nhân loại đến với mọingười, làm phong phú, giàu có trí tuệ, nhân cách của mỗi người; mặt khác,

xã hội và các cá nhân phải đối đầu ở cường độ cao hơn, thường xuyên hơn,phạm vi sâu rộng hơn, nội dung phức tạp hơn những tác động tiêu cực, như:

sự lợi dụng, sự mê hoặc, sự lệch lạc bởi những “điều phi lý”, “sự xuyên tạc

có chủ ý” trên không gian mạng Xu hướng tăng lên của các quan điểm thùđịch là một dự báo rất đáng chú ý, nó không chỉ có tác động trực tiếp đến tưtưởng chính trị, mà cả lĩnh vực đạo đức, theo chiều thuận và chiều nghịch.Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” vớinhiều phương thức mới, trực tiếp thông qua chống phá, xuyên tạc, bịa đặt,nhằm thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, lợidụng các xung đột, mâu thuẫn trong xã hội để kích động chống phá chế độ,Đảng và Nhà nước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đánh giá: “Bốn nguycơ… vẫn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp… “diễn biến hòa bình” của các

Trang 38

thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phươngtiện truyền thông trên mạng Internet để chống phá ta và những biểu hiện “tựdiễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” [18, tr 68] Điều đó đang đặt ranhững yêu cầu trực tiếp cho quá trình phát triển NLTT của đội ngũ giảngviên KHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTLL.

Như vậy, sự bùng nổ thông tin là một tiền đề quan trọng cho sự rađời của tri thức mới Dễ dàng nhận thấy, ngày nay việc tiếp cận thông tinthông qua các ấn phẩm xuất bản hoặc công bố một tài liệu dưới dạng in

ấn hay điện tử đã trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn bao giờ hết Cácnguồn thông tin nở rộ, đặc biệt là Internet, và thế giới thông tin trở nênhết sức phức tạp, đa dạng Ưu điểm của điều này là việc người dùng tin

có nhiều lựa chọn hơn đối với các nguồn thông tin, dễ dàng tiếp cận cácnguồn tri thức hơn Tuy nhiên, mặt trái của nó lại hết sức đáng ngại.Người dùng tin luôn phải tự đặt ra câu hỏi: thông tin này có đáng tin cậykhông? có phù hợp với vấn đề của họ không? phải tổ chức những nguồnthông tin đó như thế nào đây? Không dễ để trả lời những câu hỏi trênnếu như thiếu sự hiểu biết, tức là thiếu NLTT Chính vì vậy, quá trìnhphát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCTtrong ĐTTTLL đòi hỏi phải nhận rõ sự tác động tích cực lẫn tiêu cực củamạng Internet đối với đời sống xã hội, đóng góp trí tuệ của mình nhằmđịnh hướng dư luận, củng cố niềm tin, ổn định tư tưởng, góp phần giữvững trận địa tư tưởng, lý luận của Đảng

1.2.4 Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận chịu

sự quy định của tư chất thông minh và các phẩm chất khác trong nhân cách người giảng viên

Trí tuệ con người có cơ sở sinh học - xã hội NLTT của con người chịu

sự chi phối và ảnh hưởng của cả yếu tố sinh học và yếu tố xã hội Với tư cách

Trang 39

là một yếu tố trong nhân cách, NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT được hình thành, phát triển dưới sự tác động biệnchứng với các yếu tố khác trong nhân cách; đồng thời cũng chịu ảnh hưởngcủa các tố chất thuộc cấu trúc tâm - sinh lý người giảng viên KHXH&NV,đặc biệt là tư chất thông minh, phẩm chất chính trị, tình cảm cách mạng.

Tư chất thông minh là một dạng khả năng bẩm sinh gắn liền với đặc

điểm di truyền và cấu trúc gen, thể hiện ở khả năng tiếp thu, ghi nhớ, tài ứngbiến và sự tháo vát trong hoạt động của cá nhân

Xét ở phương diện phát triển của mỗi cá nhân, tư chất thông minh ảnhhưởng đáng kể tới quá trình hình thành, phát triển NLTT của mỗi giảng viênKHXH&NV Trường SQCT Tư chất thông minh là tiền đề vật chất quy định

sự khác biệt về trí tuệ giữa các giảng viên KHXH&NV Ngoài ra nó còn ảnhhưởng đến tốc độ và chiều hướng của sự phát triển NLTT của mỗi ngườigiảng viên Thực tế cho thấy, cùng một môi trường giáo dục, học tập, hoạtđộng như nhau nhưng có giảng viên trưởng thành nhanh chóng, có giảng viênrất khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹxảo vào giảng dạy, NCKH, tham gia ĐTTTLL Đây chính là biểu hiện sự quyđịnh của tư chất thông minh đến NLTT trong ĐTTTLL của đội ngũ giảngviên KHXH&NV Trường SQCT

Quá trình hình thành, phát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NVTrường SQCT trong ĐTTTLL, tư chất thông minh quy định tốc độ tiếp thu, ghinhớ, tích lũy tri thức, khả năng xử lý thông tin, tri thức và vận dụng tri thức vàothực tiễn của mỗi người Tuy nhiên, tư chất thông minh chỉ là điều kiện cần chứchưa đủ để hình thành, phát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV ởNhà trường Có tư chất thông minh mà không có môi trường thuận lợi, khôngđược giáo dục tốt, không nỗ lực học tập, rèn luyện thì tư chất đó chưa chắc đượcbộc lộ, phát triển mà có khi còn bị thui chột đi

Giữa tư chất thông minh và các phẩm chất xã hội trong nhân cách có mốiquan hệ tác động qua lại nhau Tư chất thông minh chỉ được bộc lộ và phát huy

Trang 40

tác dụng tốt đối với NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV Trường SQCTtrong ĐTTTLL khi nó được kích thích bởi các phẩm chất xã hội trong nhân cách

mà trực tiếp nhất là phẩm chất chính trị - đạo đức

Phẩm chất chính trị - đạo đức là một mặt chủ đạo của nhân cách giảng

viên KHXH&NV Trường SQCT, biểu thị chất lượng về ý thức và hành vichính trị - đạo đức của họ trong quan hệ chính trị - xã hội Nó được biểu hiện ởlập trường chính trị vững vàng, ở sự tận trung với nước, tận hiếu với dân, đoànkết thương yêu đồng chí, đồng đội, ở lý tưởng cao đẹp, ở tinh thần trách nhiệmcao đối với mọi nhiệm vụ được giao Phẩm chất chính trị - đạo đức của giảngviên chứa đựng và phản ánh ở một mức độ nhất định các giá trị văn hóa, chínhtrị, đạo đức chủ đạo trong xã hội và quân đội ta Đó chính là đạo đức cáchmạng của người cán bộ của Đảng hoạt động trong lĩnh vực sư phạm quân sự

Phẩm chất chính trị - đạo đức có vai trò tác động to lớn đến quá trìnhhình thành, phát triển NLTT của đội ngũ giảng viên KHXH&NV TrườngSQCT trong ĐTTTLL Chỉ khi nào đứng vững trên lập trường chính trịkiên định, vững vàng, đội ngũ giảng viên KHXH&NV ở Nhà trường mới

có khả năng nắm bắt, xử lý một cách đúng đắn các vấn đề nảy sinh trongcuộc sống, trong quan hệ xã hội và trong công tác; đặc biệt là trong nhậndiện, đấu tranh với các quan điểm thù địch, phản động để bảo vệ nền tảng

tư tưởng, đường lối của Đảng Hoạt động sáng tạo của con người bao giờcũng được thôi thúc bởi những động cơ nhất định, được kích thích bởinhững lợi ích nhất định Phẩm chất chính trị - đạo đức chính là một độnglực tinh thần thúc đẩy hoạt động sáng tạo của đội ngũ giảng viênKHXH&NV Trường SQCT trong ĐTTTLL Ngược lại, nếu phẩm chấtchính trị - đạo đức bị suy giảm sẽ dẫn tới suy giảm khả năng nhận thứcđúng đắn của đội ngũ giảng viên này về các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội

có quan hệ trực tiếp với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân laođộng, của Đảng và quốc gia dân tộc

Trong mối quan hệ tác động giữa NLTT và phẩm chất chính trị - đạođức, NLTT có vai trò là cơ sở, điều kiện để củng cố và nâng cao không ngừng

Ngày đăng: 13/01/2022, 07:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ph.Ăngghen (1873 - 1886), “Biện chứng của tự nhiên”, C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập , tập 20, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện chứng của tự nhiên”, "C.Mác vàPh.Ăngghen toàn tập
Nhà XB: Nxb CTQG
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê phán, bác bỏ các quan điểm saitrái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2007
3. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Nhận dạng những quan điểm sai trái thù địch, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng những quan điểmsai trái thù địch
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
4. Hoàng Chí Bảo (2006), Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học xã hội - nhân văn ở nước ta hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoahọc xã hội - nhân văn ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
5. Lê Bỉnh (1996), Đặc thù của cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ở nước ta hiện nay và sự tác động của nó đến quân đội, Luận án PTS khoa học quân sự, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc thù của cuộc đấu tranh hệ tư tưởng ở nước ta hiệnnay và sự tác động của nó đến quân đội
Tác giả: Lê Bỉnh
Năm: 1996
6. Nguyễn Văn Cần (2001), Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng trong quân đội trước yêu cầu của cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ quân sự, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởngtrong quân đội trước yêu cầu của cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta hiệnnay
Tác giả: Nguyễn Văn Cần
Năm: 2001
7. Nguyễn Bá Dương (2000), Đặc điểm phát triển tư duy biện chứng duy vật của đội ngũ sĩ quan phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam trong nhận thức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Luận án tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị - Quân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phát triển tư duy biện chứng duy vậtcủa đội ngũ sĩ quan phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam trong nhậnthức nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Năm: 2000
8. Nguyễn Bá Dương (2013), Góp phần phát triển tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần phát triển tư duy mới về bảo vệ Tổquốc
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2013
9. Nguyễn Bá Dương (2015), Phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam - Mệnh lệnh của cuộc sống, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam- Mệnh lệnh của cuộc sống
Tác giả: Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2015
10. Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị (2015), Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ trường Sĩ quan Chính trị lần thứ IX, nhiệm kỳ 2015 - 2020, Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảngbộ trường Sĩ quan Chính trị lần thứ IX
Tác giả: Đảng bộ Trường Sĩ quan Chính trị
Năm: 2015
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2001
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8, BCHTW khóa IX, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 8, BCHTWkhóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2003
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận (2016), Báo cáo tổng kết lý luận, thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 - 2016), Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết lý luận, thực tiễn qua 30 năm đổimới (1986 - 2016
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Ban Chỉ đạo tổng kết lý luận
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2016
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Văn kiện Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Trung ương 8 khóaXI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2013
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Nghị quyết số 37-NQ/TW về công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 37-NQ/TW về công tác lýluận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2014
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốclần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
19. Đảng uỷ Quân sự Trung ương (2007), Nghị quyết số 86 Về công tác giáo dục, đào tạo trong tình hình mới, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 86 Về công tác giáodục, đào tạo trong tình hình mới
Tác giả: Đảng uỷ Quân sự Trung ương
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2007
20. Phạm Quang Định (2005), “Diễn biến hòa bình” và cuộc đấu tranh chống“diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, Nxb QĐND, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Diễn biến hòa bình” và cuộc đấu tranh chống"“diễn biến hòa bình” ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Quang Định
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

- Tinh thần phê bình và tự phê bình - Luận văn: Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay
inh thần phê bình và tự phê bình (Trang 93)
Câu hỏi 12: Đồng chí tham gia ĐTTTLL bằng hình thức nào? - Luận văn: Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay
u hỏi 12: Đồng chí tham gia ĐTTTLL bằng hình thức nào? (Trang 93)
Tất cả các hình thức trên 44 - Luận văn: Năng lực trí tuệ của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn Trường Sĩ quan Chính trị trong đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay
t cả các hình thức trên 44 (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w