1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những khó khăn và ý thức tự rèn luyện trong việc nói tiếng anh của sinh viên năm 2 ngành ngôn ngữ anh trường đại học mở tp hcm nghiên cứu khoa học

48 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN Những khó khăn thường gặp và ý thức tự rèn luyện trong việc nói tiếng Anh của sinh viê

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

Những khó khăn thường gặp và ý thức tự rèn luyện trong việc nói tiếng Anh của sinh viên năm 2 ngành Ngôn ngữ Anh, trường Đại học Mở

TPHCM

Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội

Thành phố Hồ Chí Minh, 02/2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

Những khó khăn thường gặp và ý thức tự rèn luyện trong việc nói tiếng Anh của sinh viên năm 2 ngành Ngôn ngữ Anh, trường Đại học Mở

TPHCM

Thuộc nhóm ngành khoa học: Xã hội

Sinh viên thực hiện: Trần Hữu Đan Thy – Nguyễn Diệu Thùy Nam, Nữ: Nữ

Dân tộc: Kinh

Lớp, khoa: DH14AV04, Ngoại ngữ Năm thứ: 2 /Số năm đào tạo: 2014-2018

Ngành học: Ngôn ngữ Anh

Trần Hữu Đan Thy

Người hướng dẫn: Thạc sĩ Đoàn Kim Khoa

Thành phố Hồ Chí Minh, 02/2016

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

Chương 1: GIỚI THIỆU 8

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 9

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10

2.1 Tầm quan trọng của việc giao tiếp bằng tiếng Anh đối với sinh viên nói chung và sinh viên Đại học Mở nói riêng 10

2.2 Những yếu tố để trở thành một người giao tiếp tiếng Anh thông thạo 12

2.3 Những khó khăn thường gặp trong việc nói tiếng Anh 14

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

3.1 Phương pháp nghiên cứu 16

3.2 Mẫu thử 16

3.3 Phương pháp thực hiện Error! Bookmark not defined 3.3.1 Thu thập dữ liệu 18

3.3.2 Cách thống kê số liệu 18

3.3.3 Tính giá trị 19

Chương 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT 20

4.1 Phân tích dữ liệu 20

4.1.1 Mức độ của những khó khăn trong việc nói tiếng Anh 20

4.1.2 Một số khó khăn riêng của sinh viên trong việc nói tiếng Anh 22

4.1.3 Tự đánh giá khả năng nói tiếng Anh của sinh viên 23

4.1.4 Cảm nhận của sinh viên về kỳ thi nói học kỳ III năm I và lý do 24

4.1.5 Điểm số sinh viên đạt được trong kỳ thi nói học kỳ 3 25

4.1.6 Cảm nhận của sinh viên về kết quả kỳ thi nói và nguyên nhân 26

Trang 4

4.1.7 Thái độ của sinh viên đối với việc nói tiếng Anh 27

4.1.8 Tầm quan trọng của khả năng nói tiếng Anh đối với sự nghiệp tương lai của sinh viên 28

4.1.9 Mức độ rèn luyện kĩ năng giao tiếng Anh của sinh viên 29

4.1.10 Những yếu tố cản trở sinh viên trong quá trình luyện tập 30

4.1.11 Những động lực của sinh viên trong quá trình luyện tập 31

4.1.12 Thời gian sinh viên tự luyện tập trong 1 ngày (Trừ thời gian lên lớp) 32

4.1.13 Những địa điểm sinh viên thường luyện tập 33

4.1.14 Những nguồn thông tin sinh viên thường sử dụng khi luyện tập tiếng Anh 34

4.1.15 Nhận biết của sinh viên đối điểm mạnh và điểm yếu 35

4.1.16 Kế hoạch học tập để trau dồi và cải thiện kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên 36

4.2 Kết quả 37

MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ GIÚP CHO KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN Ở ĐẠI HỌC MỞ 38

Chương 5: KẾT LUẬN 39

PHỤ LỤC 41

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

Trang 7

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM

THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:

Họ và tên: Trần Hữu Đan Thy

Sinh ngày: 19 tháng 12 năm 1996

Nơi sinh: Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau

Lớp: DH14AV06 Khóa: 2014

Khoa: Ngoại ngữ

Địa chỉ liên hệ: 2/17, Tú Mỡ, P.7 Quận Gò Vấp

Điện thoại: 0917911644 Email: mapleleaf1912@gmail.com

Trang 8

Chương 1: GIỚI THIỆU

Xu thế toàn cầu hóa, thời đại bùng nổ của thông tin và sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước đang đặt ra nhiều cơ hội lẫn thách thức cho con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ - học sinh, sinh viên Để có thể giao lưu, hội nhập thành công thì ngoại ngữ chắc chắn là một công cụ quan trọng, thiết yếu

Hiện nay, tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới:

là ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Âu và hơn 53 quốc gia, vùng lãnh thổ, và là ngôn ngữ thứ 3 được nhiều người sử dụng nhất chỉ sau tiếng Trung và tiếng Tây Ban Nha (theo oxford.edu.vn) Vì vậy, đối với Việt Nam, một nước đang đứng trước thời đại phát triển, vươn lên tầm cao trí tuệ thế giới và hướng đến toàn cầu hóa thì việc thành thạo trong giao tiếp bằng tiếng Anh càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết

Kỹ năng giao tiếp là khả năng sử dụng ngôn ngữ, cho phép truyền đạt thông tin để nó được nhận và hiểu rõ Vì vậy, một người nói tiếng Anh thành thạo là người có thể truyền đạt lời nói, suy nghĩ của bản thân một cách rõ ràng, dễ hiểu

và lưu loát

Tuy nhiên, theo Vụ Giáo dục Đại học về việc sinh viên sau khi ra trường chỉ có khoảng 49,3% sinh viên đáp ứng được yêu cầu kỹ năng tiếng Anh, 18,9% không đáp ứng được, 31,8% cân đào tạo thêm Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng đáng lo ngại của khả năng giao tiếp tiếng Anh của sinh viên, trong khi hầu hết các trường đại học đều yêu cầu vốn tiếng Anh giao tiếp trước khi tốt nghiệp (T.M, 2015)

Trang 9

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Với mục đích giúp đỡ sinh viên Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là sinh viên năm hai và những sinh viên còn gặp nhiều cản trở trong việc giao tiếp tiếng Anh hằng ngày, bài nghiên cứu này tập trung vào những khó khăn thường gặp và thái độ, ý thức tự luyện tập của sinh viên đối với việc nói tiếng Anh thông qua những câu hỏi sau:

1 Đâu là những khó khăn sinh viên thường gặp khi nói tiếng Anh?

2 Thái độ và ý thức tự học tập, rèn luyện kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên là như thế nào?

Trang 10

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN

2.1 Tầm quan trọng của việc giao tiếp bằng tiếng Anh đối với sinh viên nói chung và sinh viên Đại học Mở nói riêng

Việc giao tiếp bằng tiếng Anh không chỉ quan trọng với sinh viên chuyên ngành tiếng Anh mà còn đóng một vai trò thiết yếu đối với sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

a Đối với việc học tập

Trước hết, việc có được kỹ năng nói tiếng Anh tốt giúp sinh viên cải thiện việc học tập, cụ thể như: củng cố những kỹ năng liên quan và đáp ứng được yêu cầu của nhà trường Một trong những tiêu chuẩn của trường Đại học Mở (2009) đối với sinh viên ra trường là: "Sinh viên phải đạt chuẩn ngôn ngữ đầu ra là TOEFL 550, IELTS 5.5 hoặc đạt điểm tương đương trong kỳ thi do Trường tổ chức." Hơn nữa, nhiều chương trình trao đổi sinh viên quốc tế, chương trình hợp tác nghiên cứu và du học càng ngày càng được mở rộng cho các trí thức trẻ ngày này Tuy nhiên, tại một số quốc gia các du học sinh phải đáp ứng được một số yêu cầu về tiếng Anh:

Đối với một số nước như Anh, IELTS là yêu cầu bắt buộc khi xin thị thực Dù IELTS/TOEFL có thể không bắt buộc với một số trường của Mỹ hoặc Canada nhưng nếu không có IELTS/TOEFL cũng là một bất lợi khi xin thị thực Đặc biệt đối với visa Mỹ, học sinh phải

có trình độ Anh ngữ nhất định để đủ khả năng trả lời phỏng vấn lãnh

sự

Ở Úc, một sinh viên khi đăng ký nhập học chỉ được đăng ký tối đa khóa học Anh văn 50 tuần (tương đương một năm) dành cho người mới bắt đầu Nếu sau 50 tuần mà tiếng Anh không đạt thì chỉ được

Trang 11

học tiếp tối đa 10 tuần nữa, nếu vẫn không đạt thì bắt buộc phải về nước (Mỹ Quyên, 2014)

Vậy nên, đối với những sinh viên có nguyện vọng du học thì có kỹ năng nói tiếng Anh tốt sẽ là một lợi thế to lớn, đồng thời có thể nâng cao cơ hội trúng tuyển vào

nhiều trường Đại học ở nước ngoài với chương trình đào tạo tiên tiến.

Không chỉ vậy, tiếp cận ngôn ngữ một quốc gia chính là đang từng bước hiểu biết hơn về nền văn hóa của quốc gia đó Có được vốn tiếng Anh tốt có thể

mở rộng khả năng truy cập tin tức, thông tin và kiến thức qua việc trao đổi và giao lưu văn hóa giữa các quốc gia với nhau Từ đó, mở rộng vốn kiến thức, trở nên am hiểu hơn, dễ dàng giao tiếp và tìm hiểu các nước bạn, thể hiện tình đoàn kết hữu nghị (Đại Tân, 2015)

b Đối với các kỹ năng mềm

Kỹ năng nói tiếng Anh tốt giúp sinh viên trở nên tự tin, không ngần ngại phát biểu ý kiến của bản thân Từ đó, kỹ năng nói trước đám đông và kỹ năng thuyết trình sẽ được nâng cao Hơn nữa, sinh viên sẽ năng động, tích cực tham gia các hoạt động và câu lạc bộ của nhà trường Không chỉ vậy, sinh viên sẽ mạnh dạn hơn trong việc giao lưu, kết bạn với nhiều bạn bè, đặc biệt là các bạn quốc tế, từ

đó mở rộng được các mối quan hệ Điều này giúp sinh viên có được những kinh nghiệm quý báu và mở ra nhiều cơ hội khác

c Đối với cơ hội nghề nghiệp trong tương lai

Kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh còn là một lợi thế to lớn cho sinh viên trong tương lai Bản tin Chuyển động 24h (vtv.vn, 2015), đã thống kê, hiện nay hơn 200,000 cử nhân, thạc sỹ sau khi hoàn thành 4 năm đại học và 2 năm cao học vẫn thất nghiệp Một trong những nguyên nhân là cứ 10 sinh viên tốt nghiệp thì 6

sinh viên thiếu kỹ năng và trình độ tiếng Anh, dẫn đến việc cứ 10 nhà tuyển

Trang 12

dụng thì có 6 trong số đó không hài lòng về chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng

và sau đại học

Có kỹ năng giao tiếng Anh đã trở thành một trong những tiêu chí tuyển dụng của một số doanh nghiệp dành cho ứng viên Các bản sơ yếu lý lịch, những cuộc phỏng vấn tuyển dụng tại các công ty quốc tế cũng áp dụng tiếng Anh Bên cạnh đó, rất nhiều phần mềm tin học, các thiết bị máy móc…đều được lập trình chủ yêu bằng tiếng Anh, vì vậy nếu muốn trở thành một nhân viên có năng lực thì việc trang bị cho bản thân hành trang tiếng Anh vững chắc là việc thiết yếu Ngoài ra, dù không bắt buộc nhưng cũng có sự ưu tiên nhất định dành cho những ứng viên có vốn tiếng Anh tốt (Đại Tân, 2015) Tiếng Anh sẽ mở ra những cơ hội nghề nghiệp tốt và vững chắc hơn cho sinh viên

Vì thế, kỹ năng nói tiếng Anh là một trong những yếu tố không thể thiếu đối với sinh viên ngày nay

2.2 Những yếu tố để trở thành một người giao tiếp tiếng Anh thông thạo

Giao tiếp có thể được hiểu như trò chuyện thường ngày mà không cần sắp xếp, chuẩn bị trước như các cuộc họp hay thuyết trình Mục đích sử dụng chính của ngôn ngữ là cho xã hội, vì vậy, mục đích của việc giao tiếp chính là trao đổi thông tin, gầy dựng và củng cố các mối quan hệ xã hội (Nolasco R & Arthur L., 1987)

Tương tự như việc diện mạo là điều được chú ý trước tiên trong lần đầu gặp mặt thì trong giao tiếp phát âm cũng vậy Vì thế, yếu tố quan trọng đầu tiên là phát âm và nhấn âm chuẩn xác Theo BBC International Education, "phát âm chuẩn là từng âm phải chính xác, từng từ phải chính xác và phải nói đúng tốc độ

và ngữ điệu của người bản xứ" (Công ty TNHH Giáo Dục Quốc Tế BBC,

Trang 13

2015) Thêm vào đó, sự kết hợp của nhấn âm và ngữ điệu taọ nên nhịp điệu trong việc nói tiếng Anh và chúng thường thì được biết trước Tuy nhiên, điều này lại không được rõ ràng đối với người Việt học tiếng Anh Họ có thể không hiểu những thông tin, mục đích và cảm xúc được thể hiện bởi một người nói tiếng Anh bản xứ thông qua ngữ điệu Hơn nữa, cách phát âm của người Việt khi nói cùng với sự khác nhau của chất giọng dễ khiến họ tạo ra những nét ngữ điệu không tự nhiên lúc nói tiếng Anh (Teaching English for speakers of Vietnamese, 1981) Người nghe sẽ ít để ý đến những lỗi nhỏ trong ngữ pháp nhưng khi phát

âm, nhấn âm sai thì sẽ chú ý ngay và đánh giá khả năng tiếng Anh của người nói.Luyện ngữ điệu khi nói tiếng Anh cũng là 1 điều rất quan trọng Nó mang rất nhiều ẩn ý sâu sắc của người nói với người nghe, và chứa đựng cả văn hóa giao tiếp Trong nhiều tình huống, nếu bạn sử dụng không đúng giọng điệu phù hợp, người khác sẽ hiểu sai ý bạn

Sử dụng tốt vốn từ vựng và có nền tảng ngữ pháp vững là yếu tốt thứ hai

Có được vốn từ vựng tốt giúp sinh viên dễ hiểu được những gì người khác nói cũng như diễn tả được ý nghĩ của bản thân một cách dễ dàng hơn Ngoài ra, ngữ pháp hỗ trợ cho việc sử dụng từ vựng một cách chính xác Có thể nói "từ vựng là những viên gạch và ngữ pháp là xi măng Nếu chúng ta tách rời chúng, mãi mãi chúng ta sẽ không bao giờ có được bức tường mà mình mong đợi." (Nguyễn Thanh Thu, 2015) Khi mắc những lỗi căn bản nhất về ngữ pháp, người nói tiếng Anh sẽ bị người bản xứ đánh giá và xem là “không bình thường” hay ít nhất là có trình độ kém (10 yếu tố giúp thành thạo tiếng Anh, 2010)

Hai yếu tố song hành cuối cùng đó chính là sự tự tin và sự lưu loát khi giao tiếp tiếng Anh Sự lưu loát sẽ khẳng định sự thông thạo và thuần thục của một người đối với ngôn ngữ mà họ đang nói Và tất nhiên, một người nói chuyện lưu loát sẽ để lại ấn tượng tốt đẹp hơn một người nói chuyện ngập ngừng, lắp bắp Giao tiếp hằng ngày - đặc biệt là ở môi trường học tập và làm việc chuyên nghiệp

- yêu cầu sự phản xạ nhanh nhạy nên mỗi người đều cần đạt đến một mức độ lưu

Trang 14

loát nhất định Không phải ai cũng có đủ kiên nhẫn để chờ đợi một người mò mẫm từng từ để nói (Oanh Huynh, 2015) Và để có được sự lưu loát trong khi nói, trước hết sinh viên cần phải tự tin giao tiếp thật nhiều Tự tin chính là yếu tố tiên quyết để nâng cao và khẳng định trình độ cũng như kĩ năng giao tiếp của mỗi cá nhân Không ai có thể trở nên tiến bộ nếu cứ mãi sợ phạm lỗi hoặc ngại giao tiếp với người khác, sự tự tin vào khả năng của bản thân sẽ giúp cuộc nói chuyện trở nên thoải mái hơn và có chất lượng hơn Tương tự với mọi khía cạnh khác trong cuộc sống, chỉ cần mỗi người tin tưởng vào bản thân thì khi giao tiếp, người đối diện cũng sẽ cảm thấy tin cậy hơn (Tầm quan trọng của sự tự tin, 2016)

2.3 Những khó khăn thường gặp trong việc nói tiếng Anh

Lỗi sinh viên dễ dàng mắc phải nhất là phát âm sai và nhấn âm không chính xác Phát âm, nhấn âm sai không những gây ra sự khó hiểu mà còn dẫn đến

những hiểu lầm không đáng có Ví dụ như: Hai từ “dessert” và “desert” lần lượt

có nghĩa là “món tráng miệng” và “sa mạc”, hai từ này rất dễ nhầm lẫn do cách viết giống hệt nhau nhưng một khi phát âm sai và nhấn âm sai sẽ lập tức dẫn đến hiểu lầm cho người nghe

Ngoài ra, sinh viên thường xuyên gặp lỗi về từ vựng Thứ nhất, sự thiếu hụt

từ vựng khiến sinh viên tốn nhiều thời gian suy nghĩ tìm từ dẫn đến việc nói không trôi chảy Thứ hai, không biết cách sử dụng vốn từ vựng của bản thân Cụ thể là, sinh viên không biết diễn đạt những từ phức tạp bằng những từ đơn giản

mà mình vốn có Lỗi hay gặp cuối cùng là sử dụng sai từ vựng như dùng sai từ

có nghĩa tương đồng hay sai từ loại Hơn nữa, cách học truyền thống bằng cách ghi chép lặp đi lặp lại nhiều lần và kèm theo nghĩa tiếng Việt cũng hạn chế khả năng ghi nhớ lâu dài cũng như khả năng ứng dụng từ vựng trong tình huống giao tiếp thực tế của học sinh và sinh viên Thêm vào đó, việc chưa nắm chắc kiến thức ngữ pháp cũng gây trở ngại cho sinh viên khi nói tiếng Anh Điều này khiến

Trang 15

sinh viên gặp khó khăn trong việc hoàn thiện câu nói, việc sử dụng ngữ pháp chưa chính xác cũng có thể làm cho nghĩa của câu trở nên sai (Những hạn chế khi giao tiếng Anh của người Việt, 2016)

Lí do cuối cùng chính là sự thiếu tự tin, đây cũng là lí do quan trọng cốt lõi nhất khiến sinh viên gặp nhiều khó khăn trong khi giao tiếp tiếng Anh Sinh viên Việt Nam thường mất bình tĩnh, xấu hổ và ngại ngùng khi phải giao tiếp tiếng Anh bất kể đối tượng giao tiếp là ai một phần do tâm lí e sợ mắc lỗi (Nguyễn Thanh Huyền, n.d) Hơn nữa, ai tác giả Park Hye-soo và Adam Lee đã khảo sát tại trường Đại học Quốc gia Kusan – Hàn Quốc và Đại học Tổng hợp Concordia – Canada và kết quả phân tích cho thấy các sinh viên càng lo lắng bao nhiêu thì kết quả đạt được đối với việc giao tiếp tiếng Anh càng thấp bấy nhiêu; và ngược lại những sinh viên càng tự tin càng có sự thể hiện tốt (L2 Learners’ Enxiety, Self – Confidence and oral performance)

2.4 Những bài nghiên cứu liên quan

Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, chúng tôi đã tìm được những bài nghiên cứu có liên quan với đề tài nghiên cứu này Trong đó, bài luận án thứ nhất là

“Một số khó khăn và giải pháp đối với việc thuyết trình Tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành năm cuối tại Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh” được trình bày bởi Nguyễn Thị Hồng Ý (2008, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) Luận án thứ hai là “Khó khăn và giải pháp trong việc thuyết trình bằng tiếng Anh của sinh viên năm ba chuyên ngành Ngôn ngữ Anh tại Trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh” đệ trình bởi Nguyễn Phạm Hoàng Châu (2008, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) Hai bài nghiên cứu đều chỉ ra khó khăn chung của cả sinh viên năm

ba và năm tư trong việc nói tiếng Anh trước đám đông là thiếu tự tin đểtrình bày các vấn đề bằng tiếng Anh và thiếu các khả năng về ngôn ngữ như: phát âm chưa chuẩn, thiếu từ vựng, sử dụng ngữ pháp trong câu chưa chính xác và không luyện tập đầy đủ, thường xuyên Thêm vào đó, bài nghiên cứu “Môi trường thực hành tiếng Anh của sinh viên khoa Thương mại điện tử Trường Đại học Thương mại

Trang 16

thực trạng và giải pháp” của Đặng Đình Chính (n.d, Đại học Thương mại) đã đề xuất một số giải pháp cho những khó khăn trên như: xác định rõ mục tiêu và động lực học đúng đắn, chủ động tìm cơ hội giao tiếp và tự học Thạc sỹ Phạm Việt Hà (2013) đã khẳng định:

Tự học không những giúp sinh viên không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà trong tương lai, họ sẽ trở thành người cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực

Mặc dù phần lớn sinh viên hiểu được tầm quan trọng của việc tự học và luyện nói tiếng Anh nhưng không phải sinh viên nào cũng tìm ra được phương pháp học phù hợp

và đem lại hiệu quả cao Đây chính là mục tiêu bài nghiên cứu này hướng tới nhằm chỉ

ra những khó khăn thường gặp, thái độ và ý thức tự học của sinh viên đối với giao tiếp

hằng ngày bằng tiếng Anh

Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu

Trong bài nghiên cứu này, khảo sát là phương thức chính được sử dụng PGS.TS Đàm Cao Vũ (1999) định nghĩa khảo sát là một dạng của phương pháp định lượng, đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực Định lượng là phương pháp nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau (chủ yếu là thống kê) để lượng hóa, đo lường, phản ánh và diễn giải các mối quan hệ giữa các nhân tố (các biến) với nhau (Tổng quan về nghiên cứu định tính và định lượng, 2014)

3.2 Mẫu thử

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 114 sinh viên của trường Đại học Mở thành phố Hồ Chí Minh, tại cơ sở 371 Nguyễn Kiệm, quận Gò Vấp để hỗ trợ cho bài

Trang 17

nghiên cứu này Tất cả các sinh viên đều học năm thứ 2 ngành Ngôn ngữ Anh của khóa 2014 Lí do chúng tôi lựa chọn những sinh viên này là vì họ vừa trải qua kì thi nói tập trung được tổ chức lần đầu tiên ở học kì 3 năm 2015 và những sinh viên này cũng vừa trải qua năm đầu tiên ở trường Đại học Sau ba học kì của năm nhất và một học kì đầu năm 2, sinh viên đã và đang học giáo trình Q: Skill for Success (Caplan N A.; Douglas S R.) theo các cấp độ từ hai đến bốn Mỗi quyển giáo trình bao gồm 10 bài với nhiều chủ đề khác nhau Các chủ đề đa dạng

từ những vấn đề trong đời sống xã hội cho đến khoa học tự nhiên Sau bốn học kì, các sinh viên ít nhất đã có từ một đến hai lần thuyết trình trước lớp và nhiều lần được luyện tập, thực hành nói tiếng Anh trong lớp theo các chủ đề trong sách Trong đó, quan trọng nhất, các sinh viên đã trải qua kỳ thi nói tập trung cuối học

kì ba của sinh viên năm nhất khóa 2014 đầy thử thách, cuộc thi được Khoa ngoại ngữ tổ chức lần đầu tiên Nội dung gồm 2 phần: phần đầu là các câu hỏi phỏng vấn, phần thứ hai yêu cầu các thí sinh thảo luận về chủ đề cụ thể được trình bày dưới dạng sơ đồ tư duy

3.3 Phương pháp thực hiện

Đầu tiên chúng tôi thảo luận và tìm ra chủ đề cho bài nghiên cứu, sau khi tìm được chủ đề, chúng tôi lập dàn ý tổng quát và soạn ra các câu hỏi nghiên cứu Tiếp theo, chúng tôi tìm kiếm các bài nghiên cứu có nét tương đồng với bài

nghiên cứu này và các tài liệu tham khảo từ sách, báo và các trang mạng liên quan đến các kỹ năng nói như phát âm, nhấn âm, sử dụng từ vựng,.v.v Tiếp đến, trong một tuần, phần giới thiệu được hoàn thiện và đồng thời, chúng tôi lập danh sách các nguồn tài liệu tham khảo Danh sách này liên tục được cập nhật trong quá trình viết bài Sau đó, chúng tôi bắt đầu viết phần cơ sở lí luận, giai đoạn này kéo dài 4 tuần sau nhiều lần chỉnh sửa và bổ sung Sau khi hoàn thành phần này chúng tôi chuyển đến bước kế tiếp là thu thập dữ liệu

Trang 18

3.3.1 Thu thập dữ liệu

Trước hết, chúng tôi thảo luận các câu hỏi ra giấy và gửi đến giáo viên hướng dẫn để được góp ý và sau nhiều lần chỉnh sửa, bảng khảo sát đã được hoàn chỉnh bằng phần mềm Microsoft Word 2010 Bảng khảo sát bao gồm 15 câu hỏi, được chia ra làm hai phần Phần thứ nhất là năm câu hỏi về những khó khăn sinh viên thường gặp trong việc nói tiếng Anh và phần thứ hai là 10 câu về thái độ, ý thức tự rèn luyện tiếng Anh của sinh viên (xem thêm ở phần phụ lục, tr.38) Chúng tôi in ra 130 bảng câu hỏi trong hai lần và tiến hành khảo sát ở năm lớp Nghe – Nói 4 khóa 2014 trong giờ ra chơi với sự đồng ý của giáo viên bộ môn Ngay sau khi khảo sát xong, chúng tôi bắt đầu tính toán và thống kê các số liệu theo phương pháp đánh dấu “tally mark” và tính phần trăm trung bình Hai tuần

là thời gian chúng tôi hoàn thành bảng câu hỏi khảo sát và cần thêm ba ngày để thực hiện khảo sát

3.3.2 Cách thống kê số liệu

Để tính toán các câu trả lời, chúng tôi sử dụng phương pháp đánh dấu

“Linkert’s scale” Để việc đọc và tính toán trở nên rõ ràng và dễ dàng hơn, dấu

“Linkert’s scale” được tạo nên bởi tập hợp gồm năm đường kẻ thẳng theo hình ô vuông Ưu điểm của những cụm năm này là bên cạnh việc thuận tiện chuyển đổi thành các số thập phân cho số học cao, chúng còn giúp người tính giảm thiểu được sai sót trong quá trình tính toán vì con người có khả năng nhận biết một nhóm năm tốt hơn so với mười

Ví dụ, đối với câu hỏi số ba trong bảng câu hỏi:

“Hãy tự đánh giá khả năng nói tiếng Anh của bản thân mình (1 là thấp nhất

và 5 là cao nhất)”

 1  2  3  4  5

Trang 19

Như vậy, sinh viên sẽ chọn một trong những đáp án từ 1 đến 5 và đối với mỗi sinh viện chọn đáp án “3”, chúng tôi sẽ gạch một đường – tượng trưng cho một cạnh của hình vuông, bên dưới đáp án này, tương tự đối với những đáp án khác Và cứ như thế, dần dần những đường này sẽ tạo thành những ô vuông như thế này:

Cách tính này được áp dụng cho tất cả các câu hỏi khác trong bảng câu hỏi khảo sát Chúng tôi cũng đã kiểm tra nhiều lần và đếm lại cẩn thận các con số trước khi ghi lại

3.4.3 Tính giá trị

Tính thực tế của bài nghiên cứu này làm nên tính giá trị của nó Mục đích chính của bài nghiên cứu là cung cấp thực trạng về việc nói tiếng Anh của sinh viên năm thứ 2 ngành Ngôn ngữ Anh Bài nghiên cứu này giúp người nghiên cứu hiểu thêm về những khó khăn của sinh viên, đặc biệt là những trở ngại của sinh viên đối với kỳ thi nói ở học kì 3 năm 2015 Đồng thời tìm hiểu và làm rõ thêm ý thức cũng như thái độ của sinh viên trong việc tự luyện tập, rèn luyện nói tiếng Anh

Trang 20

Chương 4: PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ KHẢO SÁT

4.1 Phân tích dữ liệu

4.1.1 Mức độ của những khó khăn trong việc nói tiếng Anh

Trang 21

Biểu đồ 1: Mức độ của những khó khăn trong việc nói tiếng Anh

Theo số liệu thống kê từ biểu đồ 1 với câu hỏi mức độ của những khó khăn sinh viên thường gặp trong việc nói tiếng Anh, có thể thấy sinh viên gặp nhiều khó khăn ở những mức độ khác nhau Trong 5 cấp độ của 7 khó khăn trong khảo sát trên 100 sinh viên, đa số sinh viên cảm thấy các khó khăn đều ở mức trung bình Trong đó, “sử dụng ngôn ngữ hình thể” chiếm phần trăm cao nhất (65,31%) và “lưu loát” chiếm phần trăm thấp nhất ở mức trung bình (56%) Ở mức rất cao, có đến hơn 6% sinh viên chọn “lưu loát” – đây là phần trăm cao nhất của mức rất cao Ở mức rất thấp, không có sinh viên nào chọn “từ vựng” Ở mức thấp, “lưu loát” lại chiếm giữ vị trí cao nhất với 19,19%, trong khi đó “khả năng diễn đạt thông tin” đứng cuối với 10% Ở mức cao, có 24 sinh viên lựa chọn “từ vựng” – chiếm tỉ lệ cao nhất và thấp nhất là “lưu loát” với 16,16%

Trang 22

4.1.2 Một số khó khăn riêng của sinh viên trong việc nói tiếng Anh

Từ vựng Diễn đạt Phát âm Ngữ pháp Lưu loát Trí nhớ Nói ngọng

Biểu đồ 2: Khó khăn riêng của sinh viên trong việc nói tiếng Anh

Bên cạnh đó, ở câu hỏi “khó khăn của riêng bạn là gì?”, phần đông nói về những khó khăn khá phổ biến và thường gặp, cụ thể 13 sinh viên cảm thấy bản thân thiếu tự tin khi nói tiếng Anh, 11 sinh viên tự đánh giá vốn từ vựng chưa tốt để nói tiếng Anh, 10 sinh viên gặp khó khăn trong cách diễn đạt sao cho dễ hiểu và rõ nghĩa,

5 sinh viên gặp trở ngại trong việc phát âm, 6 sinh viên chọn ngữ pháp và lưu loát là khó khăn của bản thân Có thể thấy, sự tự tin là khó khăn thường gặp cũng như phổ biến nhất mà sinh viên gặp phải

Trang 23

4.1.3 Tự đánh giá khả năng nói tiếng Anh của sinh viên

Biểu đồ 3: Tự đánh giá khả năng nói tiếng Anh

Kết quả khảo sát từ biểu đồ 3 cho thấy hơn 65% sinh viên đánh giá bản thân chỉ ở mức trung bình Trong khi đó cũng có 21% nhận thấy khả năng nói tiếng Anh của bản thân chưa được tốt, trái lại, 10% cảm thấy kĩ năng nói của họ trên mức trung bình Qua kết quả này, có thể thấy hầu hết sinh viên năm hai chuyên ngành ngôn ngữ Anh không tự tin về kĩ năng nói của bản thân

Trang 24

4.1.4 Cảm nhận của sinh viên về kỳ thi nói học kỳ III năm I và lý do

Biểu đồ 4: Cảm nhận của sinh viên về kì thi nói học kì III năm I

Ở câu hỏi “Bạn cảm thấy kì thi nói ở học kì trước thế nào? (so với trình độ bản thân)”, có đến 73 sinh viên trên tổng số 100 sinh viên cảm thấy kì thi nói không hề dễ dàng Trong đó, 22 sinh viên cảm thấy khó khăn vì hình thức thi còn mới lạ và không

đủ thời gian để suy nghĩ và 7 sinh viên chưa thể nói hết ý của bản thân Ngoài ra, có 5 sinh viên gặp trở ngại vì cảm thấy áp lực, 11 sinh viên tự nhận thấy bản thân chưa chuẩn bị tốt và 7 sinh viên chưa diễn đạt tốt nhất có thể và 10 sinh viên cảm thấy vốn

từ vựng hạn hẹp đã gây khó khăn cho phần trả lời của bản thân Tuy nhiên, vẫn có 27 sinh viên cảm thấy kì thi nói dễ dàng, vì có 9 sinh viên chuẩn bị cẩn thận trước khi thi,

7 sinh viên cảm thấy câu hỏi vừa sức với bản thân, 4 sinh viên hài lòng vì đã diễn đạt tốt và 4 sinh viên thể hiện tốt nhờ sơ đồ tư duy

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w