Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái lý luận nói chung và trong kinh tế chính trị Marx – Lenin nói riêng cũng như của cả quá trình lịch sử phát triển, lý luận giá t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
~~~~~~*~~~~~~
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Trang 2HÀ NỘI – 2019
Trang 3MỤC LỤC
HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
PHẦN I: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ 3
1 Khái quát chung về tiểu sử và tác phẩm của Karl Marx 3
2 Bối cảnh lịch sử ra đời của học thuyết giá trị 3
3 Sự phát triển của các hình thái giá trị 7
PHẦN II: THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 8
1 Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dưới góc độ học thuyết Marx 8
2 Đề xuất giải pháp để phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay.10 PHẦN III: KẾT LUẬN 11
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Đi cùng với sự phát triển của loài người là sự phát triển không ngừng của những hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Trong mỗi giai đoạn phát triển liên tục ấy của lịch sử, loài người đều có những hiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội nhất định Qua nghiên cứu và tìm tòi, ta đã nhận ra rằng việc giải thích các hiện tượng kinh tế – xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết đối với đời sống kinh tế của xã hội loài người Vào thủa ban sơ, nó chỉ xuất hiện dưới những hình thức tư tưởng kinh tế hay những nhận định mơ hồ Phải đến rất lâu về sau, nó mới dần hình thành một cách rõ nét hơn để trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của các giai cấp khác nhau, đáp ứng cho nhu cầu lý luận và bảo vệ các lợi ích của các giai cấp đó Bên cạnh đó, các trường phái lý luận qua các giai đoạn lịch sử khác nhau cũng đồng thời mang tính tiếp nối, kế thừa, phát triển để chuyển giao giữa các trường phái kinh tế học
Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái lý luận nói chung và trong kinh tế chính trị Marx – Lenin nói riêng cũng như của cả quá trình lịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở
và xuất phát điểm của các lý luận khác Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những tư tưởng kinh tế và được phát triển thành những quan niệm, khái niệm Những người đặt nền móng đầu tiên cho học thuyết này là William Petty, John
Locke Bên cạnh đó, Adam Smith và David Ricardo cũng là những người có những đóng góp lớn cho học thuyết giá trị lao động Thế nhưng, phải qua nhiều thế kỉ trao đổi hàng hoá, thực hiện vô vàn những hoạt động về kinh tế
và buôn bán, con người mới dần dần hiểu ra được thực
Trang 5thể của giá trị và nhận thức được quy luật giá trị Để rồi đến Marx, nó đã được khái quát hoá để trở thành những phạm trù, những hệ thống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ đó giải thích được các hiện tượng kinh tế trong xã hội Marx đã phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, khám phá ra giá trị sức lao động cũng được xem là hàng hoá, quy luật giá trị thặng dư và hệ thống các quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản Không chỉ thế, trong học thuyết này, ông cũng nghiên cứu mối liên hệ giữa các cá thể xã hội là người với người,
có liên kết với vật và biểu hiện dưới hình thái quan hệ giữa vật với vật Từ
đó, ông xác định cơ sở về kinh tế để xác lập quan hệ giữa người với người thông qua quan hệ giữa vật với vật chính là lao động, là thực thể và yếu tố tiên quyết cấu thành giá trị của một hàng hóa bất kỳ Dựa trên lý luận là nền tảng là học thuyết giá trị, K.Marx đã xây dựng nền học thuyết giá trị thặng dư – hòn đá tảng trong toàn bộ lý luận kinh tế của ông Vì vậy nghiên cứu học thuyết giá trị của ông cũng cần phải biết rằng: đó là ta bắt đầu nghiên cứu về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng mới ở trạng thái chung nhất
Qua nghiên cứu học thuyết giá trị trong chủ nghĩa Marx – Lenin, ta có thể áp dụng vào nghiên cứu, phân tích thực tiễn phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trang 6NỘI DUNG PHẦN I: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ
1 Khái quát chung về tiểu sử và tác phẩm của Karl Marx
Karl Marx (1818 - 1883) là nhà kinh tế học người Đức gốc Do thái, cũng là nhà triết học, nhà sử học, nhà lãnh đạo cách mạng của Hiệp hội Người lao động Quốc tế Theo kết quả nghiên cứu từ Đại học Indiana tại Bloomington, Marx là học giả có ảnh hưởng nhất thế giới dựa trên số lượng nghiên cứu và
độ phổ biến của các nghiên cứu Năm 1836, ông đỗ khoa Luật của Đại học Berlin Năm 1841, ông nhận học vị tiến sĩ, năm 1842, ông bắt đầu nghiên cứu khoa học và hoạt động cách mạng Cuốn sách nổi tiếng nhất mà ông từng viết
và được cả thế giới biết đến là cuốn “Bộ tư bản”
2 Bối cảnh lịch sử ra đời của học thuyết giá trị
1.1 Về thực tiễn kinh tế
Trong bối cảnh lịch sử Tây Âu những năm 40 của thể kỷ XIX, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất được dựa trên thành quả cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành Điều này đã tạo nên điều kiện cơ sở vật chất để các phạm trù kinh tế bộc lộ một cách rõ ràng nhất
1.2 Về thực tiễn chính trị xã hội
Đây là giai đoạn xảy ra nhiều biến đổi về mặt chính trị và xã hội Nhiều
sự kiện mang lịch sử đã và đang diễn ra, tiêu biểu là Phong trào công nhân ở Pháp, Cách mạng phong kiến của Pháp , Phong trào hiến hương, Cuộc Cách mạng tư sản năm 1948, có ảnh hưởng rộng khắp toàn khu vực Đó là những chất liệu tiên quyết và quý giá để học thuyết của ông được hình thành và áp dụng, phát triển
1.3 Về tiền đề lý luận
Trang 7Karl Marx đã dựa vào kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh William Pett, Adam Smith, David Ricardo, triết học cổ điển Đức và Chủ nghĩa
xã hội không tưởng của Pháp
2 Lý luận giá trị lao động của Karl Marx
2.1 Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
2.1.1 Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là sản phẩm từ lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu bất kỳ của con người thông qua quá trình trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể tồn tại ở dạng vật thể hữu hình hay ở dạng phi vật thể dịch vụ vô hình
Để đồ vật trở thành hàng hóa cần phải có:
- Tính ích dụng đối với người sử dụng
- Giá trị kinh tế, nghĩa là được chi phí bởi lao động
- Sự hạn chế để đạt được nó, nghĩa là sự khan hiếm
Khi bắt đầu nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, ta bắt đầu từ sự phân tích hàng hóa Điều này bắt nguồn từ lý do:
- Hàng hóa là biểu hiện phổ biến nhất của của cải trong xã hội tư bản
- Hàng hóa là hình thái nguyên tố của của cải, là phần tử kinh tế mà trong nó chứa đựng mọi mầm mống tiềm tàng của mâu thuẫn trong
phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Việc phân tích hàng hóa đồng nghĩa với việc phân tích giá trị Đây là điều cơ sở, căn nguyên của tất cả các phạm trù kinh tế chính trị học của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Nếu như không có sự phân tích này, ta sẽ không thể hiểu được những phạm trù cơ bản khác
2.1.2 Thuộc tính của hàng hóa
Mọi vật phẩm được sản xuất trong quá trình sản xuất hàng hóa khi đã mang hình thái là hàng hóa thì đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị
Trang 82.1.2.1 Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm mà có thể làm thỏa mãn nhu cầu hay thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề nào đó của con người
Ví dụ: giá trị sử dụng của âm nhạc là thỏa mãn nhu cầu thư giãn,
thưởng thức nghệ thuật; giá trị sử dụng của sách là để cung cấp kiến thức, tích lũy sản phẩm trí tuệ;… Trong mỗi vật cũng có thể có một, hai hay nhiều thuộc tính và bản chất tự nhiên khác nhau, do vậy chúng cũng có nhiều, thậm chí vô số giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau Karl Marx đã từng chỉ ra rằng giá trị sử dụng của hàng hóa là vô hình vạn trạng, không thể dung số lượng hay bất kỳ một hệ thống nào để đo lường chúng là bao nhiêu Vì được quyết định và xã định từ thuộc tính
tự nhiên của vật thể cấu thành hàng hóa, giá trị sử dụng được phát hiện dần trong quá trình phát triển cúa xã hội và khoa học – kỹ thuật Bên cạnh đó, nó cũng là một phạm trù vĩnh viễn, chỉ thể hiện khi loài người
sử dụng và tiêu dùng
2.1.2.2 Giá trị
Theo Karl Marx: “Nếu bóc tách riêng giá trị sử dung của hàng hóa ra, hàng hóa chỉ còn lại một thuộc tính duy nhất, đó là thuộc tính sản phẩm lao động.” Nói cách khác, bên cạnh giá trị sử dụng, hàng hóa còn có giá trị và giá trị của hàng hóa chính là lao động xã hội tiêu hao để sản xuất
ra hàng hóa đó Cho nên, có thể nói rằng, lao động tạo ra giá trị Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, để tạo ra giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt buộc phải tìm trong thị trường loại hàng hóa mà bản than giá trị sử dụng của
nó có một thuộc tính đặc biệt làm nguồn gốc cho giá trị, và quá trình sử dụng nó cũng đồng thời là quá trình tạo ra giá trị Và loại hàng hóa đặc thù đó chính là “sức lao động” của con người Ta cần chú ý rằng “lao động” và “sức lao động” là hai khái niệm không tương đồng hay giống nhau Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là
Trang 9tổng hợp thể lực và trí lực của con người được con người vận dụng trong quá trình lao động Theo Marx, sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một
cơ thể, trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó Khi con người tham gia vào quá trình sản xuất thì con người đó là con người lao động Như vậy, lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người
Sử dụng sức lao động mới là lao động, và lao động lại tạo ra giá trị Giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi lại là một hình thức biểu hiện của giá trị
Từ các điều trên, ta đưa đến kết luận: Giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên còn giá trị là thuộc tính xã hội Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị, và đây cũng là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập của hàng hóa
Sự đối lập và mâu thuẫn này của hàng hóa được thể hiện rất rõ ở điểm:
- Với tư cách là giá trị sử dụng thì các hàng hóa không đồng nhất về tính chất do các hàng hóa cũng không đồng nhất về thuộc tính tự nhiên Ngược lại, với tư cách là giá trị thì lại đồng nhất với nhau bởi lẽ chúng đều là những kết tinh từ lao động
- Cái nhà sản xuất đem bán hàng hóa chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa
do mình làm ra, nếu có để ý đến giá trị sử dụng thì cũng chỉ để góp phần có được giá trị Ngược lại, người mua hàng hóa lại chỉ quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa Vậy nhưng, muốn được sử dụng giá trị sử dụng ấy của hàng hóa, người mua phải trả giá trị của nó cho người sản xuất Vì vậy nên có thể nói rằng quá trình thực
Trang 10hiện giá trị tách rời quá trình thực hiện giá trị sử dụng Giá trị được thực hiện và tạo thành trước, sau đó giá trị sử dụng mới được tạo thành và thực hiện
2.2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Karl Marx là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Ông đã tìm ra rằng việc hàng hóa có hai thuộc
tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao động của người sản xuất ra hàng hóa cũng có tính hai mặt Nhờ phát hiện này mà ông đã:
- Chỉ ra rằng lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị hàng hóa
- Phát hiện ra mâu thuẫn giữa giá trị sử dùng và giá trị hàng hóa cũng như mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa
- Tạo tiền đề để sau này phát hiện ra hàng hóa sức lao động, trên cơ
sở đó xây dựng thành công học thuyết giá trị thăng dư
- Phân tích một cách khoa học giá trị hàng hóa và quy luật giá trị, từ
đó hoàn chỉnh lý luận giá trị - lao động
3 Sự phát triển của các hình thái giá trị
2.3 Hình thái giá trị giản đơn
Đây là hình thái phôi thai của giá trị Nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hóa, khi trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên, người
ta trao đổi trực tiếp từ vật này lấy vật khác
2.4 Hình thái giá trị mở rộng
Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, một hàng hóa này có thể quan hệ với nhiều hàng hóa khác Đây là sự mở rộng của hình thái giá trị giản đơn tuy nhiên vẫn là trao đổi trực tiếp và chưa cố định
Trang 112.5 Hình thái chung của giá trị
Với sự phát triển cao hơn nữa của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, người ta đổi hàng hóa bằng vật trung gian là một thứ hàng hóa được ưa chuộng, rồi đổi lấy thứ hàng hóa mình cần
2.6 Hình thái tiền tệ:
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao độngxã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hàng hóa ngày càng mở rộng do đó đòi hỏi khách quan phải trao đổi ngang giá chung thống nhất Vật ngang giá được cố định lại ở một vật được tôn là phổ biến thì xuất hiện tiền tệ của giá trị Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hóa Giá trị đích thực của tiền tách rời với giá trị danh nghĩa của nó
PHẦN II: THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
1 Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dưới góc độ học thuyết Marx
Từ việc nghiên cứu Học thuyết của C Mác, chúng ta thấy rõ những vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước
Kinh tế thị trường không phải chỉ là một chế độ kinh tế xã hội Kinh tế thị trường là hình thức, phương pháp vận hành kinh tế Các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ các tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi hỏi khách quan của sự phát triển của lực lượng sản xuất Nó là phương thức sinh hoạt kinh tế của sự phát triển
Trang 12Thực hiện đường lối mới của Đảng cộng sản Việt Nam, nước ta chuyển
từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Trong quá trình đổi mới nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng: Giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng trưởng khá, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và năng lực sản xuất tăng lên nhiều, đời sống của các tầng lớp nhân dân tiếp tục được
cảithiện, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, thế lực của nước ta được nâng cao trên trường quốc tế… Tuy nhiên trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn có nhiều mâu thuẫn cần phải giải quyết như:sự phân hóa giàu nghèo có hướng gia tăng, nạn thất nghiệp vẫn còn chưa được giải quyết, vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, thực hiện công bằng trong phân phối thu nhập…Đây là những vấn đề cấp bách, thường xuyên, lâu dài và cũng là vấn đề quan trọng nhất trong đời sống kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay Vì vậy nước ta cần tìm cách giải quyết những mâu thuẫn trên một cách triệt để nhằm xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày một hoàn thiện hơn
Trình độ phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn sơ khai: Do
cơ sở kỹ thuật ở trình độ còn thấp, bên cạnh một số lĩnh vực,một số cơ
sở được trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại Do đó hiệu quả sản xuất của nước ta còn rất thấp so với khu vực và thế giới
Kết cấu hạ tầng và hệ thống đường giao thông, bến cảng, hệ thống đường, thông tin liên lạc…còn lạc hậu kém phát triển Do đó làm
cho tiềm năng của các địa phương không thể chuyên môn hóa sản xuấtđể phát huy thế mạnh
Trang 13Cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kém phát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm, nền kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền kinh tế nông nghiệp sản xuất nhỏ
Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài còn rất yếu Do công nghệ lạc hậu, chất lượng lao động thấp, khối lượng hàng hóa nhỏ bé, chủng loạicòn nghèo nàn… Vì vậy khả năng cạnh tranh còn yếu
2 Đề xuất giải pháp để phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay
Thực hiện nhất quán kinh tế nhiều thành phần: Trước khi xây dựng kế hoạch, xóa bỏ nền kinh tế thị trường, chúng ta thiết lập một cơ cấu sở hữu đơn giản với hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Trên cơ sở đa dạng hóa các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán lâu dài, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần theo tinh thần tất cả các nền kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, đều được khuyến khích phát triển.Phát huy bổn phận và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đẩy mạnhviệc đổi mới kỹ thuật, công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước
Phát huy kinh tế đa dạng nhiều hình thức, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường Khuyến khích kinh tế cá chủ, tiểu thể phát triển ở cả thành thị và nông thôn
Đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học công nghệ trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội: Là cơ
sở chung nhất của trao đổi hàng hóa cho nên muốn mở rộng phân