1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tác nhân gây viêm nhiễm và các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục nữ tại phòng khám đa khoa Minh Khai ở quận 3

53 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 (9)
    • 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ (9)
    • 1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU (9)
      • 1.2.1 Mục đích (9)
      • 1.2.2 Yêu cầu (10)
  • Chương 2 (11)
    • 2.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU (11)
      • 2.1.1 Ngoài nước (11)
      • 2.1.2 Trong nước (12)
    • 2.2 TỐNG QUAN VỀ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI (13)
      • 2.2.1 Định nghĩa (13)
      • 2.2.2 Giải phẩu bộ phận sinh dục nữ (14)
      • 2.2.3 Đặc điểm sinh lý âm đạo bình thường (14)
      • 2.2.4 Nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục (16)
      • 2.2.5 Triệu chứng khi bị viêm nhiễm đường sinh dục (17)
    • 2.3 TÁC NHÂN GÂY VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC THƯỜNG GẶP (17)
      • 2.3.1 Viêm âm hộ - âm đạo do Nấm Candida spp (17)
      • 2.3.2 Viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis (20)
      • 2.3.3 Viêm âm đạo do vi khuẩn (Bacterial vaginosis) (23)
      • 2.3.4 Viêm cổ tử cung (25)
    • 2.4. MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC (26)
      • 2.4.1 Tuổi (26)
      • 2.4.2 Nghề nghiệp (27)
      • 2.4.3 Nguồn nước và vệ sinh cá nhân (28)
      • 2.4.4 Số lần sanh, biện pháp tránh thai và tiền sử dùng thuốc (28)
    • 2.5 CÁCH ĐỀ PHÒNG VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC (29)
  • Chương 3 (31)
    • 3.1 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU (31)
    • 3.2 DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT NGHIÊN CỨU (31)
    • 3.3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
      • 3.3.1 Nội dung nghiên cứu (31)
      • 3.3.2 Phương pháp nghiên cứu (31)
  • Chương 4 (34)
    • 4.1 TỶ LỆ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC (34)
    • 4.2 CÁC TÁC NHÂN GÂY VIÊM NHIỄM (35)
    • 4.3 MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI (37)
      • 4.3.1 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố độ tuổi (37)
      • 4.3.2 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố nghề nghiệp (38)
      • 4.3.3 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố nguồn nước (39)
      • 4.3.4 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố biện pháp tránh thai (40)
      • 4.3.5 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố số lần sanh con (40)
      • 4.3.6 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố biện pháp vệ sinh vùng kín (42)
      • 4.3.7 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố giữ vệ sinh khi hành kinh (43)
  • Chương 5 (44)
    • 5.1 KẾT LUẬN (44)
    • 5.2 KIẾN NGHỊ (44)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (46)

Nội dung

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, viêm nhiễm đường sinh dục dưới chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm 25% -78,4% tùy theo vùng miền (Nguyễn Duy Ánh, 2010). Trong đó khoảng 75% phụ nữ có ít nhất một lần trong đời nhiễm nấm âm đạo trong khi gần 50% có ít nhất hai lần. Khoảng 5% phụ nữ có nhiều hơn ba lần nhiễm nấm trong một năm. Nó là nguyên nhân phổ biến thứ hai của viêm âm đạo, chỉ sau nhiễm khuẩn âm đạo. Chủng nấm gây bệnh chủ yếu là Candida albicans chiếm 85-90%, các chủng nấm khác ít gặp hơn như: C.glabrata, C.krusei và C.tropcalis (Phạm Bá Nha, 2012). Viêm âm hộ, âm đạo do vi nấm hay xảy ra ở phụ nữ mang thai, bị đái tháo đường, dùng kháng sinh lâu ngày, hàm lượng estrogen thấp, vệ sinh không sạch hoặc không đúng cách,... Triệu chứng điển hình là khí hư nhiều, có màu trắng loãng hoặc đục giống váng sữa, ngứa rát vùng kín, viêm đỏ âm hộ, đau khi giao hợp. Bệnh hay tái phát làm cho việc điều trị kéo dài và tốn kém. Nếu bệnh tái phát nhiều lần, không điều trị đúng và kịp thời bệnh sẽ tiến triển nặng và có thể gây nhiều biến chứng như: Viêm tử cung, ống dẫn trứng, viêm buồng trứng, chửa ngoài tử cung, có thể dẫn đến vô sinh… Đối với phụ nữ có thai có thể gây sảy thai, sanh non, ối vỡ non, sau khi sanh có thể nhiễm trùng hậu sản. Do vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát tác nhân gây viêm nhiễm và các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục nữ tại phòng khám đa khoa Minh Khai ở quận 3” nhằm đưa ra số liệu cụ thể về tình hình viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ đến khám tại phòng khám đa khoa Minh Khai. Thông qua đó, đề ra sự cảnh báo và nâng cao mức độ phòng ngừa khả năng nhiễm cho phụ nữ. 1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU 1.2.1 Mục đích Khảo sát tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ đến khám và các yếu tố liên quan đến bệnh. 2 1.2.2 Yêu cầu Xác định tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục trên những phụ nữ được chẩn đoán lâm sàng tại phòng khám đa khoa Minh Khai ở quận 3. Xác định các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục trên những phụ nữ tới khám phụ khoa tại phòng khám đa khoa Minh Khai bằng phiếu khảo sát

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm nhiễm đường sinh dục dưới (VNĐSDD) là một trong những bệnh phụ khoa thường gặp ở phụ nữ, đặc biệt ở những người trong độ tuổi sinh đẻ Theo WHO, hàng năm có khoảng 330 triệu ca VNĐSDD được ghi nhận trên toàn cầu, cho thấy đây là vấn đề y tế phụ khoa phổ biến cần được nhận diện sớm, chẩn đoán và điều trị đúng cách để giảm biến chứng và ngăn ngừa lây lan.

390 triệu phụ nữ mắc bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới Trung bình mỗi ngày có khoảng 1 triệu phụ nữ bị mắc bệnh (Nguyễn Duy Ánh, 2010) Trong các bệnh viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản thì 90% các trường hợp viêm âm đạo là do 3 tác nhân chính: nấm Candida, trùng roi Trichomonas vaginalis và nhiễm khuẩn âm đạo Ước tính trên thế giới có khoảng 180 triệu phụ nữ mắc Trichomonas vaginalis từ 10% đến 50% phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và 20% phụ nữ mang thai bị nhiễm khuẩn âm đạo trong đó 25% đến 50% có thể không có triệu chứng (Hoàng Thị tuyền, 2016). Ở Việt Nam trong những năm gần đây, viêm nhiễm đường sinh dục dưới chiếm tỷ lệ khá cao, chiếm 25% -78,4% tùy theo vùng miền (Nguyễn Duy Ánh, 2010) Trong đó khoảng 75% phụ nữ có ít nhất một lần trong đời nhiễm nấm âm đạo trong khi gần 50% có ít nhất hai lần Khoảng 5% phụ nữ có nhiều hơn ba lần nhiễm nấm trong một năm Nó là nguyên nhân phổ biến thứ hai của viêm âm đạo, chỉ sau nhiễm khuẩn âm đạo Chủng nấm gây bệnh chủ yếu là Candida albicans chiếm 85-90%, các chủng nấm khác ít gặp hơn như: C.glabrata, C.krusei và C.tropcalis (Phạm Bá Nha, 2012)

Viêm âm hộ – âm đạo do vi nấm Candida hay gặp ở phụ nữ mang thai, người bị tiểu đường, dùng kháng sinh kéo dài, estrogen thấp hoặc vệ sinh không sạch sẽ Triệu chứng điển hình gồm khí hư nhiều màu trắng đục như váng sữa, ngứa rát vùng kín, viêm đỏ âm hộ và đau khi quan hệ Bệnh dễ tái phát khiến quá trình điều trị kéo dài và tốn kém; nếu tái phát nhiều lần hoặc không được điều trị đúng và kịp thời, bệnh có thể tiến triển nặng và gây biến chứng như viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm buồng trứng, chửa ngoài tử cung và có thể dẫn tới vô sinh Đối với phụ nữ mang thai, nhiễm nấm Candida có thể gây sảy thai, sinh non, vỡ ối non, và sau sinh có thể nhiễm trùng hậu sản.

Để có số liệu cụ thể về tình hình viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ đến khám tại phòng khám đa khoa Minh Khai, quận 3, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Khảo sát tác nhân gây viêm nhiễm và các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục nữ tại phòng khám đa khoa Minh Khai, quận 3" nhằm đưa ra số liệu về tỷ lệ nhiễm trùng, đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy cơ liên quan Qua phân tích các tác nhân gây viêm nhiễm và các yếu tố liên quan, nghiên cứu cung cấp thông tin hữu ích để cảnh báo và nâng cao mức độ phòng ngừa cho phụ nữ, giúp giảm thiểu nguy cơ nhiễm khi đến khám và chăm sóc sức khỏe sinh sản tại Minh Khai.

MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU

Khảo sát tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ đến khám và các yếu tố liên quan đến bệnh

Xác định tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục trên những phụ nữ được chẩn đoán lâm sàng tại phòng khám đa khoa Minh Khai ở quận 3

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ đến khám phụ khoa tại phòng khám đa khoa Minh Khai thông qua một phiếu khảo sát được thiết kế để thu thập dữ liệu về lịch sử sức khỏe sinh sản, thói quen vệ sinh, hành vi tình dục, sử dụng thuốc và các yếu tố lối sống nhằm phân tích mức độ tác động và xác định các yếu tố nguy cơ liên quan.

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về tình hình viêm nhiễm đường sinh dục dưới (VNĐSDD) và mối liên hệ với các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) VNĐSDD tiếp tục là vấn đề sức khỏe đáng quan tâm với tác động đến sức khỏe sinh sản và hệ thống y tế Tuy nhiên, các nghiên cứu xác định tỷ lệ mắc theo quốc gia về VNĐSDD thường ít được báo cáo đầy đủ; dữ liệu phổ biến chỉ ở một số vùng của một nước và đối tượng nghiên cứu lại khác nhau, khiến việc so sánh giữa các quốc gia gặp khó khăn Thiếu dữ liệu quốc gia đại diện cho VNĐSDD hạn chế khả năng đánh giá xu hướng và ảnh hưởng đến chính sách phòng ngừa LTQĐTD.

Trong một nghiên cứu của Boselli trên 1.644 phụ nữ ở Ý, tỷ lệ VNĐSDD được đánh giá là khá cao, với nấm âm hộ-âm đạo chiếm 51,3%, viêm âm đạo do vi khuẩn 19,9%, và viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis 6,7% (Boseli, 2004).

Nghiên cứu của Aggarwal và cộng sự trên 2.325 phụ nữ có chồng ở độ tuổi sinh đẻ tại vùng nông thôn Haryana cho thấy viêm âm đạo chiếm 32%, viêm cổ tử cung 21% và bệnh lý viêm vùng khung chậu 19% Xét nghiệm dịch âm đạo cho thấy 48% trường hợp viêm âm đạo do vi khuẩn, 9% do trùng roi âm đạo và 0,8% do nấm Candida albicans (Aggarwal và cộng sự, 2004).

Nghiên cứu của Ostrosky – Zeichner ở 12 đơn vị hồi sức cấp cứu tại Mỹ và Brazil thấy tỷ lệ nhiễm nấm xâm nhập do Candida là 3,3% (88/2890 bệnh nhân) Việc nhiễm nấm Candida có liên quan mật thiết đến các yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn do nấm như: dùng kháng sinh phổ rộng, thời gian nằm hồi sức cấp cứu, đặt ven tĩnh mạch trung tâm, nội khí quản….và đưa ra được một quy luật về khả năng nhiễm trùng do nấm Candida nếu kèm các yếu tố nguy cơ này (Ostrosky – Zeichner, 2007).

Nghiên cứu của Oliveira và cộng sự ở phụ nữ trong độ tuổi từ 12-49 tại vùng nông thôn phía Bắc Brazil cũng cho thấy tỷ lệ hiện mắc Trichomoniasis là 4,1%, Gonorrhoeae là

Trong báo cáo này, một tỷ lệ 1,2% được ghi nhận; tỷ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn và do nấm Candida lần lượt là 20% và 12,5% Các tác giả nhận định nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục phổ biến ở phụ nữ sống ở nông thôn (Oliveira và cộng sự, 2007).

Nghiên cứu của Zhang và cộng sự ở An Huy, Trung Quốc, trên 53.652 phụ nữ có chồng cho thấy tỷ lệ mắc VNĐSDD là 58,1%, viêm âm đạo do vi khuẩn và do

Trichomonas vaginalis với tỷ lệ lần lượt là 12,0% và 4,5% Có đến 20,4% mắc một lúc 2 bệnh VNĐSDD và 8,8% mắc ít nhất 3 bệnh VNĐSDD (Zhang và cộng sự, 2009).

Trong một nghiên cứu của Ahmadnia và cộng sự trên 4.274 phụ nữ đã có chồng sống ở khu vực thành thị và nông thôn Zanjan, Iran, tỷ lệ viêm đường sinh dục (VNĐSDD) được ghi nhận là 20,1%, trong đó nhiễm do vi khuẩn chiếm 8,5% và nhiễm do Trichomonas vaginalis chiếm 1,4%.

VNĐSDD ở Việt Nam là một trong những bệnh phổ biến ở phụ nữ, đặc biệt là ở nhóm tuổi hoạt động tình dục, và là bệnh phụ khoa hàng đầu được nhắc đến trong cộng đồng VNĐSDD đang được quan tâm nhiều trong công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng do ảnh hưởng của nó đến sức khỏe sinh sản và chất lượng cuộc sống, đồng thời nhấn mạnh vai trò của phòng ngừa, chẩn đoán sớm và quản lý điều trị để bảo vệ sức khỏe phụ nữ Việt Nam.

Nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà thực hiện trên 380 phụ nữ từ 18–49 tuổi ở nội thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng đường sinh dục rất cao, lên tới 62,1% Trong đó viêm âm đạo do vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,0%, tiếp theo là nhiễm Chlamydia trachomatis 45,8%, nhiễm nấm Candida albicans 31,8%, và nhiễm Trichomonas vaginalis thấp nhất với 3,8% (Bùi Thị Thu Hà, 2007).

Trần Thị Đức và Cao Ngọc Thành tiến hành nghiên cứu trên 768 phụ nữ từ 15–49 tuổi tại một số xã thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Kết quả cho thấy tỷ lệ VNĐSDD ở nhóm này khá cao, chiếm 47,9% (Trần Thị Đức và Cao Ngọc Thành, 2006) Nghiên cứu nhấn mạnh sự hiện diện đáng kể của VNĐSDD trong cộng đồng và gợi ý cần tăng cường công tác giám sát sức khỏe tại địa phương.

Một nghiên cứu của Vũ Bá Hòe trên 800 phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng cho thấy tỷ lệ mắc VNĐSDD là 62,9% Trong số những người mắc VNĐSDD, viêm âm đạo là tình trạng phổ biến nhất (90,8%), viêm cổ tử cung (CTC) chiếm 88,9%, và các tác nhân gây bệnh gồm tạp khuẩn 42,0%, nấm 7,4% và trùng roi 4% (Vũ Bá Hòe, 2008).

Bài nghiên cứu của Trần Thị Lợi và Nguyễn Quốc Vĩ trên 408 phụ nữ đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho thấy viêm âm đạo do ba tác nhân chiếm tỷ lệ 34,1% Cụ thể, nhiễm khuẩn âm đạo là 25,7%, viêm âm đạo do nấm Candida 10% và viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis 2,7% (Trần Thị Lợi, Nguyễn Quốc Vĩ, 2008).

Nghiên cứu của Lê Hoài Chương trên 960 phụ nữ từ 18–49 tuổi đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy viêm âm đạo chiếm 66,6%, viêm âm đạo kết hợp cổ tử cung chiếm 33,8%, trong đó nhiễm nấm chiếm 35,3% và nhiễm Gardnerella chiếm 15,9%.

Nghiên cứu của Nguyễn Duy Ánh trên 1.176 phụ nữ từ 18–49 tuổi đã có chồng tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh dục lên tới 78,4% Trong các trường hợp này, nhiễm khuẩn âm đạo chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,1%, tiếp đến là nhiễm nấm Candida với 30,7%, và nhiễm Chlamydia trachomatis chiếm một phần khác của các trường hợp này.

22,1%, thấp nhất là Trichomonas vaginalis 2,5% (Nguyễn Duy Ánh, 2010).

TỐNG QUAN VỀ VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC DƯỚI

Viêm nhiễm có thể xảy ra ở tất cả các phần của bộ phận sinh dục Viêm sinh dục là tình trạng viêm nhiễm bao gồm viêm nhiễm đường sinh dục dưới và viêm đường sinh dục trên, nhưng phổ biến nhất vẫn là viêm nhiễm đường sinh dục dưới (Phạm Bá Nha, 2012:11).

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), viêm nhiễm đường sinh dục dưới là các nhiễm trùng xảy ra tại các cơ quan sinh dục, bao gồm cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) và các nhiễm trùng không lây qua quan hệ tình dục (WHO, 2005).

Viêm nhiễm đường sinh dục dưới là tình trạng viêm nhiễm ở các bộ phận của cơ quan sinh dục từ cổ tử cung trở xuống, bao gồm viêm âm hộ, viêm âm đạo và viêm cổ tử cung Đây là nhóm bệnh phụ khoa phổ biến có thể biểu hiện bằng các triệu chứng như ngứa rát, khí hư bất thường và đau rát khi giao hợp hoặc đi tiểu Việc nhận biết và điều trị sớm giúp làm dịu triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng, do đó người bệnh nên tham khảo ý kiến bác sĩ khi có dấu hiệu bất thường.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, viêm nhiễm đường sinh dục dưới được phân loại như sau (WHO, 2005)

- Theo cơ chế bệnh sinh, gồm ba loại: Nhiễm khuẩn nội sinh; nhiễm khuẩn do các can thiệp y tế và các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục

- Theo vị trí tổn thương gồm tổn thương ở âm hộ, âm đạo và cổ tử cung

- Theo căn nguyên gây bệnh gồm do vi khuẩn, vi rút hoặc ký sinh trùng

- Theo tế bào học bao gồm viêm cấp và viêm mạn

2.2.2 Giải phẩu bộ phận sinh dục nữ Âm hộ được cấu tạo gồm phần da ở ngoài và phần niêm mạc ở trong Phía trong, hai bên âm hộ có tuyến Bartholin và ở hai bên lỗ niệu đạo có tuyến Skene Do đó, ngoài bệnh lý của da, ở âm hộ còn có bệnh lý của các tuyến và niêm mạc âm hộ, đặc biệt là các bệnh có liên quan đến quan hệ tình dục (Phạm Bá Nha, 2012:10). Âm đạo là một ống cơ đi từ cổ tử cung chạy chếch xuống dưới và ra trước tiền đình âm đạo, thành sau dài khoảng 9 cm, thành trước dài khoảng 7,5 cm Âm đạo là nơi tiếp xúc trực tiếp khi quan hệ tình dục, là phần cuối của đường sinh sản và là nơi dẫn kinh nguyệt từ buồng tử cung ra ngoài Viêm nhiễm ở âm đạo có liên quan đến sự thay đổi của môi trường âm đạo và các tổn thương do sinh đẻ hay các thủ thuật y tế khác (Phạm Bá Nha, 2012:10).

Hình 2.1 Cấu tạo đường sinh dục dưới (Nguồn: Internet)

Cổ tử cung có cấu trúc hai phần với những đặc điểm cấu trúc biểu mô khác nhau: phần ngoài có biểu mô lát tầng, tương tự với âm đạo, trong khi phần trong có biểu mô tuyến và chịu ảnh hưởng của nội tiết nên bệnh lý ở cổ tử cung giống với nội mạc tử cung Cổ tử cung (CTC) có hình chóp cụt và gồm hai phần: phần trên và phần trong âm đạo Phía trong cổ tử cung là nơi ẩn náu của vi khuẩn và là điểm xuất phát của phần lớn các trường hợp viêm nhiễm sinh dục trên (Bùi Đình Long, 2017).

2.2.3 Đặc điểm sinh lý âm đạo bình thường

Dịch âm đạo bình thường màu trắng, hơi quánh, gồm các tế bào âm đạo bong ra, chất tiết từ tuyến vùng tiền đình, tuyến Skene, tuyến Bartholin và dịch thấm từ âm đạo, cùng dịch nhầy ở cổ tử cung Trong dịch âm đạo có một số loại vi khuẩn, nổi bật là trực khuẩn Doderlein (Lactobacilli), bên cạnh đó có thể gặp các vi khuẩn khác Dịch tiết sinh lý không có mùi, không gây kích ứng, ngứa, đau hay rát khi giao hợp; lượng tiết tăng trong giai đoạn phóng noãn và quanh thời gian kinh nguyệt; không có bạch cầu đa nhân và không cần điều trị Khi viêm nhiễm xảy ra, dịch tiết ra nhiều hơn và gây khó chịu cho phụ nữ, được gọi là khí hư.

Niêm mạc âm đạo có khả năng tự bảo vệ trước nhiễm trùng nhờ một môi trường âm đạo có tính axit pH của âm đạo được duy trì ở mức ổn định nhờ sự hiện diện của trực khuẩn Doderlein kỵ khí có sẵn trong âm đạo Các trực khuẩn này sử dụng glycogen từ tế bào biểu mô âm đạo để lên men thành axit lactic, từ đó duy trì môi trường âm đạo ở trạng thái axit và giúp bảo vệ sức khỏe sinh sản.

Ngay từ khi sinh ra, tế bào biểu mô âm đạo của bé gái chứa nhiều glycogen nhờ estrogen từ mẹ truyền sang nên môi trường âm đạo có pH thấp; tuy vậy, sau một thời gian ngắn, pH âm đạo tăng lên 6–8 do estrogen dần mất đi Khi dậy thì, buồng trứng tiết estrogen nhiều hơn khiến lượng acid lactic ở âm đạo tăng lên, duy trì cân bằng vi sinh và axit yếu của môi trường âm đạo Đến thời kỳ mãn kinh, estrogen giảm dần, glycogen trong tế bào biểu mô âm đạo teo đi và pH âm đạo trở về mức như trước tuổi dậy thì Khi pH âm đạo thay đổi hoặc gặp điều kiện thuận lợi, các vi sinh vật thường có trong âm đạo có thể trở thành tác nhân gây bệnh (Phạm Bá Nha, 2012:8).

Bảng 2.1 Sự thay đổi pH âm đạo pH âm đạo bình thường và sự thay đổi pH pH âm đạo

Trong chu kỳ kinh nguyệt bình thường ở tuổi hoạt động tình dục

Tuổi vị thành niên và sau mãn kinh

Hệ vi sinh vật ở âm đạo rất phong phú, trong đó trực khuẩn Doderlein chiếm khoảng 50 -

Trực khuẩn Doderlein đóng vai trò chủ đạo trong việc ức chế sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh bằng cách duy trì tính acid của môi trường âm đạo Ở phụ nữ bình thường, hệ vi sinh vật trong âm đạo ở trạng thái cân bằng động, giúp bảo vệ vùng kín khỏi nhiễm trùng Khi cân bằng này bị mất đi do một yếu tố nào đó, nguy cơ viêm nhiễm âm đạo tăng lên và gây ra các triệu chứng khó chịu.

Bảng 2.2 Tỷ lệ vi khuẩn có trong âm đạo

Trực khuẩn gram dương ái khí :

Cầu khuẩn gram dương ái khí :

Trực khuẩn gram âm ái khí :

Trực khuẩn gram dương kỵ khí :

Cầu khuẩn gram đương kỵ khí :

Trực khuẩn gram âm kỵ khí :

2.2.4 Nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục

Viêm nhiễm đường sinh dục nữ thường gặp ở phụ nữ đang ở độ tuổi hoạt động tình dục và ở nhóm phụ nữ đang trong độ tuổi sinh sản, với tỷ lệ mắc cao ở hai nhóm này Nguyên nhân gây nên các căn bệnh này rất phong phú và đa dạng, bao gồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan Theo Bùi Đình Long (2017), các nguyên nhân viêm nhiễm đường sinh dục được hệ thống hóa thành các yếu tố nguy cơ và cơ chế phát sinh, giúp người đọc hiểu rõ căn nguyên và có cơ sở cho các biện pháp phòng ngừa và điều trị.

Vệ sinh vùng kín và vệ sinh cá nhân hàng ngày là nền tảng để chăm sóc sức khỏe sinh dục Việc bỏ qua vệ sinh hàng ngày, thiếu chú ý vệ sinh trước và sau quan hệ tình dục, đặc biệt trong chu kỳ kinh nguyệt, và thói quen vệ sinh kém trong đời sống hằng ngày có thể dẫn tới nguy cơ viêm nhiễm cao.

Vệ sinh vùng kín không đúng cách có thể tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm; ngược lại, vệ sinh quá sạch cũng có thể gây viêm nhiễm do dùng xà phòng và các chất tẩy rửa mạnh hoặc thụt rửa vùng kín khiến vùng kín bị tổn thương và mất cân bằng pH âm đạo.

Thói quen chọn và mặc quần lót ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vùng kín Mặc quần lót quá chật, làm từ chất liệu kém thoáng khí hoặc có nhiều thành phần nylon và dây đai khiến khu vực này bị bí hơi, tạo điều kiện cho vi khuẩn từ hậu môn dễ di chuyển vào vùng kín trong quá trình mặc Vì vậy, nên chọn quần lót vừa vặn, thoáng khí, ưu tiên chất liệu cotton tự nhiên và tránh thiết kế quá nhiều đường dây để duy trì sự khô thoáng, giảm nguy cơ kích ứng và nhiễm khuẩn vùng kín.

Trong kỳ kinh, việc thay băng vệ sinh đúng giờ rất quan trọng để duy trì vệ sinh vùng kín và ngăn ngừa sự phát triển của vi khuẩn Để quá lâu không thay băng tạo ra môi trường ẩm ướt thuận lợi cho vi khuẩn sinh sôi, dễ gây viêm nhiễm và cảm giác ngứa ngáy khó chịu Theo khuyến cáo, nên thay băng mỗi khoảng 4-6 giờ hoặc sớm hơn nếu băng đã ẩm ướt hoặc bẩn, đồng thời rửa tay sạch trước và sau khi thay Lựa chọn loại băng vệ sinh phù hợp với lưu lượng kinh nguyệt và đảm bảo thay đúng thời gian sẽ giúp bảo vệ sức khỏe vùng kín và hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn.

Kinh nguyệt kéo dài quá lâu tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển dẫn đến viêm nhiễm

Quan hệ tình dục không an toàn là con đường lây nhiễm qua đường tình dục phổ biến, gây nhiễm khuẩn và các bệnh liên quan Việc quan hệ không an toàn tạo điều kiện cho vi khuẩn từ cơ quan sinh dục nam xâm nhập sang cơ quan sinh dục nữ, làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho cả hai bên Vì vậy, thực hành quan hệ tình dục an toàn và thực hiện xét nghiệm định kỳ là các yếu tố quan trọng để ngăn ngừa lây nhiễm qua đường tình dục và bảo vệ sức khỏe sinh sản.

Sức đề kháng của cơ thể giảm có thể do tuổi, do bệnh tật, do thiếu chất dinh dưỡng

TÁC NHÂN GÂY VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC THƯỜNG GẶP

2.3.1 Viêm âm hộ - âm đạo do Nấm Candida spp

Candida spp là loại nấm men sinh sản đơn bào, nảy chồi hoặc cắt đôi; trong một số trường hợp các chồi kéo dài và dính lại với nhau để hình thành sợi nấm giả Chúng thuộc chi nấm men, tồn tại trong tự nhiên và có thể ký sinh ở người và sinh vật khác (Nguyễn Đinh Nga, 2012).

Hình dạng: Là vi nấm có nhân và vách tế bào nhưng không có diệp lục tố, hình tròn hoặc hình bầu dục, không thể tự quang hợp được như cây xanh Nhờ có hệ thống nấm men dồi dào, do đó có thể lấy chất dinh dưỡng từ cơ thể sinh vật khác (Nguyễn Đinh Nga, 2012).

Hình 2.2 Hình dạng nấm men Candida a) Nấm men b) Nấm sợi giả (Nguồn: Internet)

Kớch thước dao động từ 3-10 àm, kớch thước gấp 10 lần vi khuẩn, cú khả năng thớch nghi với môi trường đường cao a b

Trong mô bị nhiễm có thể thấy sự chuyển đổi hình dạng tế bào của vi nấm rõ rệt từ tế bào men sang dạng sợi

Có hơn 300 loài Candida spp trong đó có một số loài gây bệnh cơ hội ở người, sau đây là một số loài gây bệnh thường gặp: Candida albicans, C.glabrata, C.guilliermondii, C.tropicalis, C.krusei,…

- Cơ chế gây bệnh (Nguyễn Đinh Nga, 2012).

Candida spp sống hoại sinh ở người và các động vật máu nóng, là mầm gây bệnh cho người, gặp ở khắp nơi Chúng sinh sống chủ yếu ở cơ quan tiêu hóa nhưng cũng được tìm thấy dạng sống hoại sinh ở âm đạo, niệu đạo, trên da và dưới móng

Candida spp thường sống hoại sinh trên niêm mạc ký chủ Để gây bệnh, chúng buộc phải vượt qua hàng rào bảo vệ của ký chủ, và chỉ khi hàng rào niêm mạc bị tổn thương hoặc hệ miễn dịch suy giảm thì chúng mới có thể xâm nhập và phát triển thành nhiễm nấm.

Trong môi trường niêm mạc âm đạo, các loài Candida trước hết phải bám dính trên tế bào biểu mô niêm mạc, sau đó xâm nhập vào tế bào biểu mô âm đạo nhờ protease đặc hiệu do nấm tiết ra để phân hủy protein Candida albicans có khả năng kết dính mạnh hơn các loài Candida khác nhờ sự kết hợp của các cơ chế chuyên biệt như tương tác receptor–ligand và các lực không đặc hiệu như Van der Waals và tĩnh điện Vì thế nhiễm nấm Candida ở niêm mạc âm đạo chủ yếu do C albicans gây ra.

Tình trạng lưỡng hình của nấm Candida albicans đóng vai trò là một yếu tố độc lực quan trọng, cho phép nấm thích nghi và phát triển trong mô chủ thể Dạng sợi của C albicans hoạt động như một giác quan tiếp xúc, giúp nấm di chuyển dọc theo các rãnh tế bào và vượt qua các lỗ trên bề mặt biểu mô, từ đó xâm nhập xuyên qua lớp biểu mô vào mô đích.

Candida albicans là loài nấm men gây bệnh phổ biến ở người, được phát hiện ở nhiều nguồn khác nhau như động vật có xương sống, nước ngọt, nước biển và đất Nấm này có thể nhiễm bẩn thực phẩm và vật dụng, đặc biệt là những vật dụng tiếp xúc trực tiếp với cơ thể người như quần áo, giường ngủ và bàn chải đánh răng.

Nấm men được phát hiện trong môi trường cấy thường thấp hơn ở những vị trí lâm sàng thường gặp khác như ở phân và phết âm đạo

- Phương pháp chẩn đoán (Phạm Bá Nha, 2012)

Bệnh phẩm cần được xét nghiệm ngay vì nếu để quá 24 giờ dù ở nhiệt độ thấp vi nấm vẫn có thể phát triển mạnh làm sai lệch chẩn đoán

+ Phát hiện bằng kính hiển vi:

Trong quá trình soi tươi tìm nấm, nếu bệnh phẩm nhiễm nấm men Candida, ngoài các tế bào của mô ký chủ có thể thấy nhiều tế bào nấm men hình tròn hoặc bầu dục, đôi khi nảy chồi, và sợi tơ nấm giả Những sợi tơ nấm dễ bị đứt khúc thành các đoạn hình bầu dục, là đặc điểm nổi bật khi nhận diện Candida trên mẫu soi.

 Soi tươi với dung dịch KOH 5%: Có công dụng làm mềm và trong bệnh phẩm, căng dãn tế bào, tan bớt các hạt dầu mỡ, chất nhầy

Nhuộm Gram là phương pháp dùng để xác định nhiễm nấm bằng cách quan sát 3–5 bào tử nấm đang nảy chồi trên một vi trường và nhận diện chúng bắt màu Gram dương Phương pháp này dễ thực hiện, cho kết quả nhanh và có độ đặc hiệu lên tới 99%.

Trong nuôi cấy nấm, dùng tăm bông lấy bệnh phẩm và nuôi cấy trên môi trường thạch Sabouraud trong vài giờ, sau đó ủ ấm 2 ngày ở nhiệt độ 37°C; xác định nấm bằng nhuộm Gram Phương pháp này có độ nhạy 67% và độ đặc hiệu 66%.

+ Phát hiện kháng nguyên Candida:

Trong dịch tiết âm đạo có Candida, phức hợp kháng nguyên – kháng thể được hình thành và thể hiện dưới dạng các hạt ngưng kết có thể nhìn thấy bằng mắt thường Phương pháp này cho kết quả nhanh nhưng chi phí cao, với độ nhạy khoảng 97% và độ đặc hiệu từ 61% đến 82%.

+ Phát hiện ADN của nấm Candida:

Phương pháp này cho phép xét nghiệm đồng thời nấm, Trichomonas và Gardnerella trong dịch tiết âm đạo, hỗ trợ chẩn đoán nguyên nhân nhiễm khuẩn âm đạo một cách nhanh chóng Bệnh phẩm có thể được bảo quản ở nhiệt độ 4°C trong 24 giờ mà không làm giảm chất lượng kết quả Kỹ thuật có độ nhạy khoảng 80% và độ đặc hiệu khoảng 89%, cho kết quả có độ tin cậy tương đối cao Tuy vậy, phương pháp này vẫn có chi phí đắt và yêu cầu trang thiết bị chuyên dụng.

Ngứa và đỏ âm hộ - âm đạo ở các mức độ khác nhau kèm cảm giác bỏng rát vùng âm đạo, đau khi quan hệ tình dục và đau âm hộ; có thể đi tiểu khó và tiểu buốt, kèm cảm giác nóng rát trong âm đạo.

Khí hư trắng đục như bột xuất hiện ở khoảng 69% trường hợp và có xu hướng tăng nhiều trước kỳ hành kinh Âm hộ và âm đạo có thể bị viêm đỏ kèm theo khí hư trắng, đặc biệt xuất hiện ở vùng môi lớn và môi bé.

Niêm mạc âm đạo viêm đỏ, dễ nứt, chảy máu, có khí hư bột trắng như váng sữa bám vào

Cổ tử cung có thể bình thường hoặc viêm đỏ, phù nề

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC

Tuổi vị thành niên là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với VNĐSDD Những vị thành niên đã có hoạt động tình dục và sử dụng rượu hoặc ma túy có nguy cơ mắc VNĐSDD cao hơn so với các bạn trẻ ở tuổi lớn hơn Tuổi càng nhỏ càng làm gia tăng tỷ lệ VNĐSDD, phần lớn do thiếu hiểu biết về dự phòng và các yếu tố nguy cơ thấp, đồng thời đường sinh dục chưa phát triển hoàn chỉnh khiến dễ bị tổn thương trong quan hệ tình dục, và đây chính là đường xâm nhập của các tác nhân gây bệnh.

Phụ nữ mãn kinh gặp sự suy giảm estrogen khiến môi trường âm đạo khô và mất cân bằng, thiếu dịch và axit lactic do các vi khuẩn có lợi sinh ra Hệ vi khuẩn âm đạo mất cân bằng làm hàng rào bảo vệ tự nhiên yếu đi, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và tạp khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm.

Nghiên cứu do Bệnh viện Da liễu Trung ương thực hiện trên 5 tỉnh của Việt Nam cho thấy phụ nữ từ 20 tuổi trở lên có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nhóm dưới 19 tuổi Đối với bệnh do Trichomonas vaginalis gây ra, phụ nữ ở độ tuổi 40-49 có tỷ lệ nhiễm cao gấp 5-8 lần so với nhóm dưới 19 tuổi Phụ nữ ở nhóm tuổi 20-39 có tỷ lệ nhiễm Candida, viêm âm đạo và viêm cổ tử cung cao hơn các nhóm tuổi khác (Viện Da liễu Quốc gia, 2012).

Trong nghiên cứu tại tỉnh Hà Tây, Lê Thanh Sơn cho thấy sự khác biệt rõ rệt về tỷ lệ mắc bệnh giữa các nhóm tuổi Nhóm tuổi 30-39 có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao nhất, lên tới 70,62%, tiếp theo là nhóm 20-29 với 65,51% (Lê Thanh Sơn, 2005).

Ở Hà Nội, nghiên cứu của Nguyễn Duy Ánh cho thấy sự khác biệt về nhiễm Candida giữa nhóm tuổi 18-39 và nhóm tuổi 40-49; nhóm tuổi trên 39 có tỷ lệ nhiễm nấm cao hơn so với nhóm 18-39 (Nguyễn Duy Ánh, 2010).

Nghiên cứu của Vũ Bá Hòe tại Hải Phòng cho thấy VNĐSDD gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 30-39, với tỷ lệ 13,9%, tiếp đến là nhóm 20-29 với 9,1% So với nhóm dưới 20 (nhóm có tỷ lệ nhiễm VNĐSDD thấp nhất), tỷ lệ VNĐSDD ở nhóm tuổi 30-39 cao nhất gấp 16,2 lần, nhóm 20-29 gấp 10,7 lần và nhóm tuổi trên 40 gấp 9,1 lần (Vũ Bá Hòe, 2008).

Nghiên cứu của Trần Đỗ Hùng và Tăng Trọng Thủy được thực hiện ở khu vực nông thôn cho thấy nhóm phụ nữ ở độ tuổi trung niên có nguy cơ mắc VNĐSDD cao hơn so với nhóm trẻ tuổi và người cao tuổi Tỉ lệ VNĐSDD ở phụ nữ từ 26–45 tuổi dao động từ 1/2 đến 2/3, trong khi ở nhóm 19–25 tuổi và trên 45 tuổi chỉ khoảng 1/3 Kết quả này được công bố năm 2013, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nguy cơ theo nhóm tuổi ở phụ nữ nông thôn.

Ngô Thị Đức Hạnh nghiên cứu tại khu quân đội nữ ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ mắc VNĐSDD cao nhất ở độ tuổi 30-39 chiếm 53,2%, tiếp đến nhóm 40-49 chiếm 50,9%, trong khi hai nhóm tuổi ≥50 và dưới 30 đều có 45,8% Đặc biệt, sự phân bổ theo tuổi cho thấy mức độ nguy cơ không đồng nhất giữa các nhóm tuổi, nhấn mạnh nhu cầu triển khai các biện pháp phòng ngừa VNĐSDD phù hợp với từng nhóm tuổi tại khu vực này.

19 những phụ nữ trong đội tuổi từ 25-39 nhiễm vi khuẩn ở âm đạo là cao nhất (Ngô Thị Đức Hạnh, 2012).

Nghiên cứu của Bùi Đình Long tại hai công ty may tỉnh Nghệ An cho thấy nhóm tuổi 20-

29 ở công ty Nam Sung Vi Na và Minh Anh Kim Liên chiếm tỷ lệ cao nhất (50,9% - 51,8%), tiếp theo là nhóm tuổi 30-39 với tỷ lệ 44,0% và 40,6% (Bùi Đình Long, 2017).

Quan hệ tình dục sớm là một yếu tố góp phần quan trọng làm tăng nguy cơ lây lan VNĐSDD, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Điều này nhấn mạnh vai trò của giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản và các biện pháp phòng ngừa hiệu quả để giảm thiểu tác động của dịch bệnh trên cộng đồng toàn cầu.

Ngành nghề và môi trường làm việc là yếu tố quan trọng liên quan đến VNĐSDD, vì tiếp xúc nghề nghiệp ảnh hưởng rõ rệt đến sức khỏe và bệnh tật của người lao động Sự khác biệt về tỷ lệ mắc bệnh và tử vong được thể hiện qua các yếu tố nghề nghiệp như tư thế và thời gian lao động, cũng như môi trường tiếp xúc với tiếng ồn, bụi, hóa chất, nước bẩn và phân bón Nghiên cứu của Bùi Đình Long (2017) cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa điều kiện làm việc và nguy cơ bệnh nghề nghiệp.

VNĐSDD là một tập hợp các bệnh có tính chất xã hội sâu sắc, trong đó một số bệnh do vi sinh vật từ môi trường tự nhiên xâm nhập qua đường âm đạo, vì vậy nghề nghiệp có ảnh hưởng rõ tới tỷ lệ và cơ cấu mắc Các nghiên cứu gần đây cho thấy ở viêm âm đạo do Trichomonas vaginalis và viêm cổ tử cung (viêm CTC), phụ nữ nông thôn, làm nghề nông và cán bộ công chức nhà nước có tỷ lệ nhiễm cao nhất; các viêm nhiễm tiểu khung lại có xu hướng cao ở nhóm phụ nữ nông dân và buôn bán nhỏ (Lê Thị Oanh, 2011).

Một nghiên cứu tại Hà Nội của Nguyễn Duy Ánh cho thấy có mối liên quan giữa nhiễm

Trong nghiên cứu về Candida ở phụ nữ theo nhóm nghề nghiệp, nhóm nghề khác và làm nông nghiệp có tỷ lệ nhiễm cao hơn nhóm phụ nữ làm cán bộ công chức, với tỷ lệ nhiễm của nhóm cán bộ công chức là 40% Điều này cho thấy sự khác biệt đáng kể về nguy cơ nhiễm Candida giữa các nhóm nghề nghiệp và nhấn mạnh sự cần thiết của theo dõi sức khỏe cho phụ nữ ở các ngành nghề khác nhau.

Theo các dữ liệu được đề cập, tỉ lệ mắc bệnh ở hai nhóm nghề nghiệp được ghi nhận lần lượt là 35,3% và 5,7% Đồng thời, nhóm phụ nữ nội trợ được chỉ ra có khả năng mắc bệnh cao hơn so với nhóm làm ruộng Tuy nhiên ở một bài nghiên cứu khác, nông dân lại có nguy cơ mắc VNĐSDD cao hơn so với các nhóm nghề nghiệp khác (Nguyễn Duy Ánh, 2010).

Một nghiên cứu khác trên phụ nữ tại huyện Đông Anh và Từ Liêm, thành phố Hà Nội cho thấy điều kiện lao động của người phụ nữ cũng tác động nhiều đến tỷ lệ mắc VNĐSDD, hầu hết những người ở ngoại thành làm nghề nông, làm nghề đồ gỗ thủ công mỹ nghệ và những người dân sống hoặc làm việc trong các làng nghề nơi có nguồn nước rất ô nhiễm do vậy điều kiện làm việc không thể tốt hơn những người sống ở nội thành, tỷ lệ mắc VNĐSDD của phụ nữ ngoại thành cao hơn nội thành (Nguyễn Duy Ánh, 2010).

Nghiên cứu của Ngô Thị Đức Hạnh tại Hà Nội ở khu vực quân đội phụ nữ cho thấy tỷ lệ VNĐSDD cao nhất ở nhóm phụ nữ làm việc ngoài trời chiếm 61,5%, tiếp theo là nhóm làm việc khi ngoài trời khi trong nhà chiếm 53,5%, nhóm làm việc trong nhà có tỷ lệ viêm nhiễm thấp nhất 48,4% (Ngô Thị Đức Hạnh, 2012).

2.4.3 Nguồn nước và vệ sinh cá nhân

CÁCH ĐỀ PHÒNG VIÊM NHIỄM ĐƯỜNG SINH DỤC

Phòng bệnh viêm nhiễm phụ khoa là cách tốt nhất để giảm nguy cơ mắc và tái mắc bệnh, giúp tiết kiệm chi phí y tế, bảo vệ sức khỏe và duy trì hạnh phúc lứa đôi Thực hiện vệ sinh cá nhân đúng cách là biện pháp cơ bản để giảm khả năng bị nhiễm khuẩn đường sinh dục Nên duy trì thói quen vệ sinh vùng kín khoa học, ăn mặc thoáng và thoải mái, quan hệ tình dục an toàn và khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường Việc chủ động phòng bệnh mang lại lợi ích lâu dài cho sức khỏe sinh sản và hạnh phúc gia đình.

Để bảo vệ vùng kín, không nên mặc quần quá chật và cần thay quần lót hằng ngày Hãy rửa vùng kín bằng nước sạch, tuyệt đối không sử dụng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa mạnh để ngăn vi khuẩn có môi trường phát triển.

Quan hệ tình dục an toàn Giữ vệ sinh sạch sẽ trong kì kinh nguyệt, thai nghén, hậu sản, trước và sau khi quan hệ tình dục

Nên thay băng vệ sinh 4 giờ một lần hoặc sau mỗi lần đi vệ sinh, chú ý vệ sinh âm đạo hay khu vực xung quanh để cho vi khuẩn không có cơ hội xâm nhập (Nguyễn Vũ Cẩm Tú, 2016).

Không thụt rửa sâu trong âm đạo dễ gây tổn thương và tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập

Không dùng nước bẩn có nhiều vi sinh vật như nước ao hồ, kênh rạch để tắm rửa vệ sinh

Phụ nữ từ 18 tuổi trở lên nên khám phụ khoa định kỳ hai lần mỗi năm để kịp thời phát hiện các vấn đề sức khỏe sinh dục và phòng ngừa biến chứng Quá trình thăm khám diễn ra nhanh gọn, không gây đau và mang lại hiệu quả cao trong việc nhận diện sớm viêm nhiễm phụ khoa cũng như các dấu hiệu tiền ung thư, từ đó tăng cơ hội điều trị thành công.

Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới, việc giám sát VNĐSDD ở người trẻ tuổi nên được tiến hành thường xuyên nhằm sớm phát hiện và chẩn đoán, từ đó điều trị kịp thời và triển khai các biện pháp dự phòng hiệu quả cho VNĐSDD Nhờ sự kết hợp giữa giám sát chặt chẽ, chẩn đoán sớm và các biện pháp dự phòng hiệu quả, VNĐSDD ở nhóm trẻ có thể được kiểm soát tốt hơn và từ đó làm giảm tỷ lệ mắc VNĐSDD trong cộng đồng.

ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Những người phụ nữ tới khám phụ khoa tại phòng khám đa khoa

Minh Khai Quận 3 Địa điểm: Phòng khám đa khoa Minh Khai Quận 3

Thời gian thực hiện thí nghiệm: từ ngày 29/01/2018 – 29/04/2018.

DỤNG CỤ VÀ HÓA CHẤT NGHIÊN CỨU

Kính hiển vi, lam kính, lammen Ống nghiệm và bông tăm vô trùng

Bao tay cao su, khẩu trang

Dầu soi dùng cho kính hiển vi

Nước muối sinh lý NaCl 0,95%, KOH 10%

Crystal viole, Lugol, Cồn 90 0 , Safranin.

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung nghiên cứu 1 tập trung khảo sát các tác nhân gây viêm nhiễm và xác định tỷ lệ viêm đường sinh dục trên những phụ nữ được chẩn đoán lâm sàng tại Phòng khám Minh Khai, quận 3 Nghiên cứu nhằm làm rõ phổ các tác nhân gây viêm nhiễm và đánh giá mức độ dựa trên kết quả khám lâm sàng và xét nghiệm liên quan Dữ liệu được thu thập từ nhóm đối tượng là phụ nữ đến khám tại phòng khám này, nhằm xác định tỷ lệ viêm đường sinh dục trong quần thể được chẩn đoán Kết quả mong đợi sẽ cung cấp cơ sở cho các biện pháp can thiệp y tế và chăm sóc sức khỏe phụ nữ tại Phòng khám Minh Khai và quận 3.

Nội dung nghiên cứu 2 nhằm khảo sát mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục ở phụ nữ được chẩn đoán lâm sàng tại phòng khám Minh Khai, quận 3 Nghiên cứu tập trung đánh giá vai trò của các yếu tố như tuổi tác, thói quen sinh hoạt tình dục, vệ sinh cá nhân, tiền sử bệnh lý và điều kiện môi trường đối với nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục ở nhóm đối tượng mục tiêu Dữ liệu được thu thập từ hồ sơ lâm sàng và phỏng vấn trực tiếp, sau đó phân tích thống kê để làm rõ mức độ ảnh hưởng và các mối liên hệ giữa các yếu tố với tình trạng viêm nhiễm Kết quả nghiên cứu dự kiến sẽ cung cấp cơ sở cho việc cải thiện quy trình sàng lọc, chẩn đoán và quản lý chăm sóc sức khỏe sinh sản tại phòng khám Minh Khai và quận 3, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế cho phụ nữ.

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu Đối với nội dung nghiên cứu 1

Khảo sát các tác nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục nữ và xác định tỷ lệ viêm nhiễm được tiến hành trên 325 bệnh nhân đến khám tại phòng khám Minh Khai, quận 3, bằng cách phân tích mẫu khí hư Các tác nhân gây viêm nhiễm được xác định thông qua hai phương pháp chuẩn: soi tươi để quan sát đặc điểm vi sinh và nhuộm Gram để phân loại vi khuẩn Gram dương và Gram âm Nghiên cứu nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về phổ tác nhân gây viêm nhiễm và mức độ nhiễm ở nhóm phụ nữ này.

Mẫu khí hư được lấy bằng que gòn vô trùng từ 325 bệnh nhân đến khám và được chẩn đoán lâm sàng bởi bác sĩ sản phụ khoa.

Quá trình soi tươi sử dụng mẫu bệnh phẩm được chuẩn bị trên tăm bông và nước muối sinh lý, sau đó đưa lên lam kính và quan sát trực tiếp dưới kính hiển vi ở các độ phóng đại x10 và x40 Phương pháp này cho phép nhận diện trực quan các yếu tố tế bào và vi sinh vật có trong mẫu, hỗ trợ chẩn đoán dựa trên hình thái và cấu trúc quan sát được.

Soi tươi để tìm nấm: quan sát ban đầu bằng vật kính 10x, sau đó dùng vật kính 40x để khẳng định sự hiện diện của nấm Khi có nấm, sẽ thấy các bào tử Candida có hình bầu dục hoặc tròn, có chồi hoặc không có chồi, với kích thước khoảng 3–6 μm, và tối thiểu ba bào tử nấm nằm trong một vi trường.

Phương pháp soi tươi bằng dung dịch KOH 5% được thực hiện bằng cách lấy bệnh phẩm lên lam kính và nhỏ dung dịch KOH 5% vào; thành tế bào Candida kháng kiềm nên không bị tiêu hủy, còn các tế bào khác bị phá hủy và chỉ còn lại tế bào nấm Candida được quan sát rõ.

Phương pháp soi tươi để phát hiện Trichomonas vaginalis là kỹ thuật phổ biến trong khám phụ khoa Khi có Trichomonas vaginalis, trùng roi có thể được nhìn thấy ở giữa các bạch cầu, với hình dạng giống tế bào hình tròn hoặc bầu dục, nhân nhỏ và bào tương sáng, khó nhìn Đặc điểm nhận diện trùng roi là di động xoay tròn, giật lùi điển hình, giúp xác định sự hiện diện của trùng roi trong mẫu dịch âm đạo.

+ Soi tươi tìm Clue cells: Dựa theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới

Do sự khác biệt về cấu trúc vách tế bào, quá trình nhuộm Gram khiến vi khuẩn Gram dương giữ lại phức hợp tím Gentian–iod và không bị tẩy màu bởi ethanol, trong khi vi khuẩn Gram âm không giữ được phức hợp này; kết quả là vi khuẩn Gram dương vẫn giữ màu tím của gentian, còn vi khuẩn Gram âm sẽ nhuộm màu hồng bởi safranin hoặc fuchsin (Trần Hữu Tâm, 2017).

Đầu tiên thực hiện phết vi khuẩn lên lam với một lớp rất mỏng và để khô tự nhiên; sau đó, dùng ngọn lửa hơ nhẹ để làm ấm lam và cố định mẫu mà không làm biến dạng, rồi đặt lam trên giá nhuộm Phủ lên phết vi khuẩn thuốc nhuộm Gram (crystal violet - tím Gentian) để nhuộm màu và để yên trong thời gian ngắn, rồi rửa sạch màu thừa dưới vòi nước chảy nhẹ Tiếp tục phủ lên phết vi khuẩn dung dịch Lugol (iod) và để yên một thời gian ngắn, sau đó rửa sạch Lugol còn lại dưới vòi nước chảy nhẹ.

Quy trình nhuộm Gram bắt đầu với bước tẩy màu bằng dung dịch cồn nhẹ để loại bỏ màu khỏi các tế bào không giữ màu, sau đó lam được rửa sạch dưới vòi nước chảy nhẹ và để ráo Tiếp tục đặt lam lên giá nhuộm, phủ một lượng safranin lên lam và để màu ngắn, rồi rửa nhẹ để loại bỏ safranin thừa Quá trình này giúp phân biệt tế bào Gram dương và Gram âm dựa trên khả năng giữ màu của thành tế bào sau bước tẩy.

Quy trình chuẩn bị lam và quan sát vi khuẩn bằng kính hiển vi là phương pháp cốt lõi để nhận diện hình thái tế bào, đặc điểm nhuộm và sự ăn màu của vi khuẩn Việc thao tác lam và quan sát ở các mức phóng đại khác nhau cho phép xác định vùng mẫu và phân tích chi tiết cấu trúc tế bào cùng với độ tương phản màu sắc, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho nhận diện và phân loại vi khuẩn.

Đọc kết quả phết nhuộm Gram bằng kính hiển vi với vật kính dầu cho phép phân biệt hai nhóm vi khuẩn Khi quan sát, vi khuẩn Gram dương sẽ bắt màu tím còn vi khuẩn Gram âm sẽ bắt màu hồng, giúp nhận diện nhanh các đặc điểm nhuộm và phân loại vi khuẩn dựa trên cấu trúc thành tế bào và lớp hóa học của chúng.

Dựa vào kết quả xét nghiệm để xác định tỷ lệ viêm nhiễm như sau:

Quan sát mẫu dưới kính hiển vi ở vật kính x40, nếu thấy có 3 đến 5 bào tử nấm đang nảy chồi hoặc xuất hiện các sợi tơ nấm giả, mẫu được cho là nhiễm nấm.

Quan sát dưới kính hiển vi với vật kính 40x giúp phát hiện tế bào bị vi khuẩn Gram âm bám vào Nếu mẫu có vi khuẩn Gram âm bám trên tế bào và kết quả test sniff là dương tính, mẫu được xem là nhiễm khuẩn.

Ngày đăng: 04/12/2021, 22:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Viện Da liễu Quốc gia (2012), Tỷ lệ hiện mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại 5 tỉnh, báo cáo Hội nghị Da liễu toàn quốc. NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ hiện mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục tại 5 tỉnh
Tác giả: Viện Da liễu Quốc gia
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2012
8. Ngô Thị Đức Hạnh (2012), Nghiên cứu nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ quân đội tại một số đơn vị thuộc địa bàn Hà Nội và đề xuất biện pháp phòng bệnh thích hợp, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ quân đội tại một số đơn vị thuộc địa bàn Hà Nội và đề xuất biện pháp phòng bệnh thích hợp
Tác giả: Ngô Thị Đức Hạnh
Năm: 2012
11. Nguyễn Thị Ngọc Khanh (2001), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ có thai và đề xuất biện pháp phòng bệnh thích hợp.Nxb Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ của nhiễm trùng đường sinh dục dưới ở phụ nữ có thai và đề xuất biện pháp phòng bệnh thích hợp
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Khanh
Nhà XB: Nxb Y học Hà Nội
Năm: 2001
12. Bùi Đình Long (2017), Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng tại hai công ty may tỉnh Nghệ An và hiệu quả can thiệp, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Đình Long (2017"), Thực trạng và một số yếu tố liên quan tới viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ 18-49 tuổi có chồng tại hai công ty may tỉnh Nghệ An và hiệu quả can thiệp
Tác giả: Bùi Đình Long
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2017
17. Lê Thị Oanh (2003), Lậu cầu, Bài giảng Vi sinh Y học, 122-124, Bộ môn Vi sinh vật, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lậu cầu
Tác giả: Lê Thị Oanh
Năm: 2003
18. Lê Thị Oanh (2011), Thực trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản của phụ nữ 18- 45 tuổi tại 5 tỉnh thành miền Bắc Việt Nam năm 2011, NXB Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản của phụ nữ 18-45 tuổi tại 5 tỉnh thành miền Bắc Việt Nam năm 2011
Tác giả: Lê Thị Oanh
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 2011
20. Lê Thanh Sơn (2005), Một số đặc điểm nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và hiệu quả can thiệp tại tỉnh Hà Tây (2001 – 2004), NXB Quân y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ tuổi sinh đẻ và hiệu quả can thiệp tại tỉnh Hà Tây (2001 – 2004)
Tác giả: Lê Thanh Sơn
Nhà XB: NXB Quân y Hà Nội
Năm: 2005
23. Nông Thị Thu Trang (2015), Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả can thiệp, Trường Đại học Y Thái NguyênTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ nông thôn miền núi tỉnh Thái Nguyên và hiệu quả can thiệp
Tác giả: Nông Thị Thu Trang
Năm: 2015
26. Baisley K, Changalucha J, Weiss HA, et al. (2009), Bacterial vaginosis in female facility workers in north-western Tanzania: prevalence and risk factors. Sex Transm Infect 85: 370–375 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bacterial vaginosis in female facility workers in north-western Tanzania
Tác giả: Baisley K, Changalucha J, Weiss HA, et al
Năm: 2009
32. L. Ostrosky-Zeichner, C. Sable, J. Sobel, et al (2007), Multicenter retrospective development and validation of a clinical prediction rule for nosocomial invasive candidiasis in the intensive care setting, pp 271–276 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Multicenter retrospective development and validation of a clinical prediction rule for nosocomial invasive candidiasis in the intensive care setting
Tác giả: L. Ostrosky-Zeichner, C. Sable, J. Sobel, et al
Năm: 2007
33.WHO (2005), Sexually transmitted and other reproductive tract infections: guide to essential practice, World Health Organization, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sexually transmitted and other reproductive tract infections: guide to essential practice
Tác giả: WHO
Năm: 2005
34. WHO (2007) Global Strategy for Prevention and Control of Sexually Transmitted Infections 2006–2015, World Health Organization, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global Strategy for Prevention and Control of Sexually Transmitted Infections 2006–2015
36. Zhang XJ, Shen Q, Wang GY (2009), "Risk factors for reproductive tract infections among married women in rural areas of Anhui Province, China", Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol,2009 Dec;147(2):187-91.Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Risk factors for reproductive tract infections among married women in rural areas of Anhui Province, China
Tác giả: Zhang XJ, Shen Q, Wang GY
Năm: 2009
1. Nguyễn Duy Ánh (2010), Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ viêm nhiễm đường sinh dục dưới phụ nữ Hà Nội từ 18-49 tuổi có chồng, Luận án Tiến sỹ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Khác
2. Vũ Đức Bình (2016), Thực trạng, nguy cơ nhiễm Candida sp, Trichomonas vaginalis đường sinh dục nữ tuổi sinh đẻ tại huyện Tam Nông tỉnh Phú Thọ và hiệu quả điều trị, giáo dục sức khỏe (2011-2013), Luận án Tiến sỹ y học Khác
3. Lê Hoài Chương (2013), Khảo sát những nguyên nhân gây viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Y học thực hành, 868(66 - 69) Khác
4. Trần Thị Đức và Cao Ngọc Thành (2007), Tình hình viêm nhiễm đường sinh dục dưới ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) tại một số xã của huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Tạp chí Phụ sản, Số đặc biệt, tr. 181-193 Khác
6. Kim Bảo Giang - Hoàng Văn Minh (2011), Sự cải thiện kiến thức về một số bệnh lây truyền qua đường tình dục của công nhân một số nhà máy may công nghiệp tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí minh sau một năm can thiệp truyền thông, Tạp chí y học thực hành (759), số 4, tr. 20- 23 Khác
7. Bùi Thị Thu Hà (2007), Nhiễm khuẩn đường sinh sản ở phụ nữ từ 18-49 tuổi phường Mai Dịch, Hà Nội 2005, Tạp chí Y học thực hành, (12), tr. 93-96 Khác
9. Vũ Bá Hòe (2008), Xác định tỉ lệ mắc và nhận thức, thái độ, thực hành của phụ nữ 15-49 tuổi về viêm nhiễm đường sinh dục dưới tại huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng năm 2008, Đại học Y Thái Bình Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w