1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các cơ quan báo chí của liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật việt nam với vấn đề tự chủ tài chính (khảo sát tại các cơ quan báo chí thuộc liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật việt nam năm 2013, 2014)

131 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 5,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài: Tự chủ tài chính và công khai tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu tại Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh, của tác giả Trần Thị Thu Hà, thực h

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN THỊ GIANG

CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ CỦA LIÊN HIỆP

CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM

VỚI VẤN ĐỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH (Khảo sát tại các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam năm 2013, 2014)

Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số: 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ HUY PHƯỢNG

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC CHỈNH SỬA THEO KHUYẾN NGHỊ CỦA HỘI ĐỒNG

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

PGS.TS Nguyễn Vũ Tiến

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hà Huy Phượng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Các kết quả công bố là hoàn toàn mới và chính xác Các tài liệu tham khảo, trích dẫn trong luận văn đều trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Giang

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Báo chí, các Khoa/Phòng/Ban trong Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã truyền đạt kiến thức trong suốt quá trình học tập Trân trọng cảm ơn Ban Truyền thông và Phổ biến kiến thức của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã

hỗ trợ, cung cấp tài liệu nghiên cứu thành công luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn người hướng dẫn khoa học, TS Hà Huy Phượng đã tận tình chỉ dẫn nghiên cứu, giúp đỡ và khuyến khích tôi hoàn thành luận văn đúng thời hạn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khuyến khích giúp tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015

Tác giả

Trần Thị Giang

Trang 5

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ -

1.2 Quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về

1.3 Vai trò của tài chính đối với cơ quan báo chí 27 1.4 Những yêu cầu đối với nguyên tắc tự chủ tài chính trong hoạt

Chương 2: THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN

BÁO CHÍ LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ

2.1 Tổng quan về báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ

2.2 Thực hiện tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí tại các đơn

2.3 Đánh giá việc thực hiện tự chủ tài chính tại các cơ quan báo chí

thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam 56 2.4 Những nguyên nhân ảnh hưởng đến tự chủ tài chính trong hoạt

Chương 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU

QUẢ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ CỦA LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT

3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc tự chủ tài chính trong hoạt động

báo chí ở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam 80 3.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính tại các đơn vị

báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam 87

Trang 6

CCHC : Cải cách hành chính

KHKT : Khoa học kỹ thuât

LHHVN : Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

TT&TT : Thông tin và Truyền thông

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 7

Trang Bảng 2.1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2014 của

Bảng 2.2: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2014 của

Bảng 3.1: Tổng hợp hình phạt do Bộ TT& TT xử lý trong năm 2014 88

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ các cơ quan báo chí thuộc đầu mối chủ quản 38 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ loại hình báo/ tạp chí/ bản tin khảo sát 40 Biểu đồ 2.3: Doanh thu dịch vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ của

Biểu đồ 2.4: Doanh thu dịch vụ bán hàng và cung cấp dịch vụ của

Biểu đồ 2.6: Tỉ lệ nguồn thu ở Báo Năng lượng mới 53 Biểu đồ 2.7: Tỉ lệ chọn khó khăn cơ quan báo chí gặp phải 64 Biểu đồ 2.8: Tỉ lệ chọn mức độ hài lòng với công việc và thu nhập

Biểu đồ 2.9: Tổ chức có quy chế hoạt động nội bộ 66 Biểu đồ 2.10: Tỉ lệ nhạy bén đáp ứng nhu cầu thị trường 68

Biểu đồ 2.12: Những giá trị nào dưới đây đang có mặt tại cơ quan 70

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ở nước ta hiện nay, các cơ quan báo chí ngoài khối báo Đảng đang hoạt động dựa trên nguyên tắc tài chính dành cho đơn vị sự nghiệp có thu, phải có hạch toán chi tiêu rõ ràng và chịu thuế Hành lang pháp lý cho việc thực hiện

cơ chế này là trước ngày 06 tháng 4 năm 2015, các cơ quan báo chí thực hiện

cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 25/4/2006 quy định về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức

bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sau ngày 06 tháng 4 năm 2015, là Nghị định số 16/2015/NĐ-CP với một số điểm mới tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các đơn vị khi thực hiện theo cơ chế tự chủ của đơn

vị sự nghiệp công lập

Mặc dù đã được trao quyền tự chủ và hưởng thuế suất ưu đãi (10% so với doanh nghiệp là 22%) nhưng thực tế hiện nay, hệ thống các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) (gần

190 tờ báo, tạp chí, đặc san, báo điện tử thuộc 87 cơ quan báo chí) vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, trong đó nổi cộm là bài toán kinh tế báo chí Những khó khăn đã tồn tại trong nhiều năm và có sự bắt nguồn từ cơ chế

tự chủ, tự trang trải kinh phí hoạt động Vậy cụ thể cơ chế tự chủ ở hệ thống báo chí thuộc LHHVN đang được thực hiện như thế nào và nó đang chi phối, ảnh hưởng như thế nào đến việc tổ chức hoạt động của tòa soạn cũng như việc thực hiện vai trò trách nhiệm xã hội của các cơ quan báo chí ấy, có điểm nào cần được phát huy hay liệu có cách nào để khắc phục tình trạng đó là những câu hỏi mà học viên muốn tìm hiểu Đây cũng chính là lý do để học viên chọn

đề tài: “Các cơ quan báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật

Việt Nam với vấn đề tự chủ tài chính” làm luận văn tốt nghiệp cho chương

trình học thạc sĩ của mình

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Trên thế giới

Nguyên tắc và luật pháp hoạt động báo chí trên thế giới được quy định tùy thuộc vào từng thể chế chính trị mà nền báo chí trực thuộc Cơ chế tự chủ tài chính bắt nguồn sớm nhất và hầu hết nằm ở các nền báo chí phương Tây

do nó “bắt nhịp” sớm với nền cơ chế thị trường và hoạt động báo chí - truyền thông nói chung là một ngành công nghiệp trong xã hội

Tuy cách thức tổ chức hoạt động có tính đặc thù của sản phẩm đặc thù nhưng mô hình quản lý giống như doanh nghiệp Do đó, sự tự chủ trong hoạt động chuyên môn cũng như tự chủ về tài chính được đặt lên hàng đầu Chẳng hạn như ở Mỹ, mỗi cơ quan báo chí là một doanh nghiệp nên để cơ quan báo chí đi vào hoạt động, việc đầu tiên là phải cung cấp mã số thuế cho chính phủ Cũng vì vậy mà mặc dù ở các nước phương Tây hoặc các nước phát triển khác có báo chí hoạt động theo mô hình này, ông chủ hay các học giả chỉ quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề về mặt lý luận cũng như thực tiễn về tự chủ tài chính doanh nghiệp

Liên quan đến nghiên cứu về tự chủ tài chính, ở nước ngoài đã có một số tác giả nghiên cứu, trong đó đặc biệt chú ý đến các cuốn sách như:

21 Nguyên tắc Tự do tài chính của Brian Tracy, là cuốn sách cung cấp

cho bạn đọc phương thức để bạn có thể trở thành triệu phú, cho dù bạn là ai

và có xuất phát điểm như thế nào, bạn sẽ học được cách xác lập mục tiêu, lên

kế hoạch và tổ chức hành động để có thể đạt được nhiều mục tiêu tài chính hơn những gì bạn mong muốn

Không ai tốt bằng bạn và không ai thông minh hơn bạn Tôi xin nhắc lại Không ai tốt hơn bạn và không ai thông minh hơn bạn Một trong những lý do quan trọng khiến bạn không đạt được thành công trong tài chính là bạn tin rằng người khác đang làm tốt hơn bạn Điều này không đúng [6, tr.16]

Trang 10

Sau khi dẫn người đọc tới 21 nguyên tắc thành công của các triệu phú tự lập, Brian Tracy cũng nhấn mạnh:

Tôi xin nhắc lại thông điệp quan trọng nhất trong cuốn sách này, đó là: thành công có thể dự đoán trước giống như mặt trời mọc ở phía Đông và lặn ở phía Tây Bằng cách rèn luyện những nguyên tắc bạn vừa học hỏi được, bạn sẽ tiến lên con đường phía trước của cuộc sống [6, tr.151]

Cuốn Cẩm nang hoạt động tài chính vi mô, tác giả Joanna Ledgerwood

Cuốn sách đã đề cập đến các vấn đề cần quan tâm khi cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tìm hiểu bối cảnh đất nước như:

+ Thị trường mục tiêu và phân tích tác động

Trên thực tế tại Việt Nam hiện nay, báo chí khi đến với công chúng đã được coi là sản phẩm và là sản phẩm hàng hóa đặc biệt, do các đặc thù mà nó mang lại Do đó, khi nghiên cứu về các tài liệu trên có thể áp dụng vào việc khảo sát, phân tích sản phẩm dịch vụ báo chí, cụ thể là sản phẩm của nhóm báo chí thuộc LHHVN

Tác giả Lasse Oulasvirta và Maciej Turala trong cuốn Tự chủ tài chính

và tính nhất quán chính sách của chính phủ trung ương đối với chính quyền địa phương đã đề cập đến vai trò của nguồn lực tài chính nhà nước đối với

hoạt động tài chính nói chung và tự chủ tài chính nói riêng của các địa phương, vùng, miền Vai trò, ý nghĩa của nguồn lực ban đầu, nguồn lực thường xuyên

Trang 11

Sự học hỏi trong cuốn sách này chính là việc đánh giá vai trò của nguồn vốn ngân sách Nhà nước đối với các nhóm báo chí thuộc LHHVN

Hay cuốn Bốn học thuyết truyền thông của các tác giả Fred S.Siebert,

Theodore Peterson, Wilbur Schramm do Lê Ngọc Sơn dịch Cuốn sách cho chúng ta hiểu rõ về bốn học thuyết truyền thông gồm: Thuyết độc đoán, Thuyết tự do, Thuyết trách nhiệm xã hội, và Thuyết toàn trị xô viết Từ bốn học thuyết này đã giải thích cặn kẽ gốc rễ của truyền thông, những hệ tự tưởng chi phối các nền truyền thông hiện nay trên thế giới Người đọc có thể

tự quy chiếu để thấy học thuyết nào có thể áp dụng tại Việt Nam

Cuốn sách cũng đã gợi mở những cách thức giúp nền truyền thông Việt Nam tạo ra các giá trị, tạo nên một nền kinh tế truyền thông có ưu thế và chất lượng trong khu vực và trường quốc tế, đóng góp vào sự đi lên của đất nước

2.2 Tại Việt Nam

Bàn về tự chủ tài chính, đến nay mới chỉ có một số luận văn thạc sĩ đề cập đến

Đề tài: Tự chủ tài chính và công khai tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu tại Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc chuyên ngành Quản trị kinh

doanh, của tác giả Trần Thị Thu Hà, thực hiện năm 2008

Luận văn đã khảo sát, đánh giá được một phần thực trạng thực hiện tự chủ tài chính và công khai tài chính của các đơn vị sự nghiệp có thu tại Đại học Quốc gia Hà Nội, từ đó đưa ra nhóm giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện và căn cứ để xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp, khuyến khích hoạt động

sự nghiệp và khai thác nguồn thu trong các đơn vị sự nghiệp có thu tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Đề tài Tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp du lịch công lập,

chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Đinh Thị Hải Hậu (Đại học Quốc gia Hà Nội), thực hiện năm 2008

Từ việc nghiên cứu công tác tự chủ tài chính ở đơn vị sự nghiệp du lịch công lập, đề tài này đã có những đánh giá, nhận xét về những việc đã và chưa

Trang 12

làm được, chưa hiệu quả trong thực hiện tự chủ tài chính đối với các đơn vị được khảo sát, nghiên cứu

Liên quan đến chuyên ngành báo chí học có cuốn Cơ sở Lý luận báo chí

của tác giả Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), thực hiện năm 2011 Trong phần các chức năng cơ bản của báo chí, tác giả Nguyễn Văn Dững bàn đến chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí Theo đó, tác giả khẳng định trong nền kinh tế thị trường, báo chí là sản phẩm hàng hóa đặc biệt Ngày nay, chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí là vấn đề có ý nghĩa quan trọng cho dù quảng cáo là hoạt động mang tính chất thương mại, phụ thu cho báo chí để trang trải thu - chi hay quảng cáo là thúc đẩy sản xuất phát triển, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm Và khi coi quảng cáo là chức năng xã hội của báo chí cần thực hiện quảng cáo một cách chuyên nghiệp, hiệu quả hơn Ngoài hoạt động quảng cáo, nguồn thu từ phát hành, thực hiện dịch vụ công, đều là góp phần thực hiện kinh tế cho hoạt động báo chí Theo tác giả Nguyễn Văn Dững, đây không chỉ là hoạt động tạo nguồn thu cho báo chí mà thong qua các hoạt động này làm cầu nối gắn kết bạn đọc với báo chí Để thực hiện chức năng kinh tế - dịch vụ có hiệu quả, tác giả cho rằng cần chú ý tới hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị - xã hội của hoạt động quảng cáo cũng như các hoạt động tạo nguồn thu khác

Đây là những góc nhìn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong điều kiện báo chí nước ta hoạt động trong nền kinh tế thị trường định hướng XNCH Đặc biệt, nhiều cơ quan báo chí đang thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

Trong giới hạn của luận văn thạc sĩ có Đề tài Tổ chức chương trình trong điều kiện tự chủ về tài chính ở Đài phát thanh - Truyền hình Kiên Giang của

tác giả Trần Thị Thu Thủy (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), thực hiện năm 2011

Luận văn đã giải quyết được những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận-thực tiễn về kinh tế báo chí và tự chủ tài chính đối với các cơ quan báo chí nói

Trang 13

chung và ở Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh Kiên Giang nói riêng Luận văn

đã chỉ rõ các giải pháp hiện tại, những thuận lợi khó khăn mà Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Kiên Giang đang thực hiện trong cơ chế tự chủ tài chính Từ

-đó tác giả luận văn đã đưa ra các kiến nghị giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng việc tổ chức chương trình cho đài

Đề tài Vấn đề tự chủ tài chính ở các tạp chí kinh tế, chuyên ngành Báo

chí học của tác giả Nguyễn Hữu Trung (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), thực hiện năm 2013

Luận văn ngoài việc giải quyết được những vấn đề cơ bản về cơ sở lý luận - thực tiễn về kinh tế báo chí và tự chủ tài chính đối với các cơ quan báo chí nói chung, thông qua khảo sát, phân tích, tác giả luận văn đã nêu lên thực trạng tự chủ tài chính ở 4 tạp chí kinh tế tại Việt Nam (thuộc diện khảo sát) Qua đây cho thấy, mặc dù các tạp chí được khảo sát chỉ tự chủ một phần kinh phí nhưng trong điều kiện hiện nay, các cơ quan báo chí này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Qua luận văn này, tác giả cũng nêu bật được những tác nhân (chủ quan, khách quan) tác động đến cơ chế tự chủ tài chính ở 4 tạp chí được khảo sát, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giải quyết bài toán khó khăn cho các tạp chí kinh tế được khảo sát nói riêng cũng như các cơ quan báo chí khác nói chung sao cho đảm bảo một cách tốt nhất việc thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm xã hội nghề nghiệp của các cơ quan báo chí Như vậy, cho đến năm 2013, vấn đề tự chủ tài chính trong các cơ quan báo chí tại Việt Nam đã được chú ý về mặt lý luận cũng như thực tiễn

Ngoài ra, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu bàn về kinh tế báo chí, tại Việt Nam như:

Đề tài Hoạt động báo chí Việt Nam thời kỳ đổi mới (1986-2000) do

PGS,TS Dương Xuân Sơn - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, nghiệm thu năm 2004 Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm, thành tựu, hạn

Trang 14

chế của báo chí Việt Nam giai đoạn đổi mới, phân tích nguyên nhân khách quan và chủ quan từ đó đề xuất một số kiến nghị giải pháp

Cuốn sách Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay do PGS,TS Trần Quang Nhiếp chủ biên

(năm 2002) Sách tập trung phân tích những tác động của kinh tế thị trường đối với hoạt động báo chí; sự cần thiết phải đổi mới công tác lãnh đạo và quản

lý báo chí trong điều kiện mới nhằm phát huy tốt nhất vai trò của báo chí đối với công cuộc đổi mới

Một số giải pháp phát triển thị trường truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt Nam là công trình do nghiên cứu sinh Hoàng Ngọc Huấn

công bố năm 2011 đề cập đến lĩnh vực truyền hình trả tiền, trong đó nêu lên hiện trạng của truyền hình trả tiền ở nước ta và đưa ra giải pháp kinh tế cho loại hình truyền thông này

Giải pháp phát triển công chúng thị trường của Báo Wiener Zeitung (Cộng hòa Áo) là luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích Yến (Học viện

Báo chí và Tuyên truyền), bảo vệ năm 2012 Đây là một trong những luận văn thạc sĩ được đánh giá cao ở cách tiếp cận vấn đề và cách nhìn khoa học từ một

mô hình báo chí cụ thể ở Áo Tác giả luận văn từ chỗ làm rõ về cách thức phát triển công chúng thị trường của tờ báo Wiener Zeitung để rút ra bài học kinh nghiệm và nêu lên một số khuyến nghị phát triển kinh tế báo chí tại Việt Nam hiện nay

Cuốn sách Tìm hiểu kinh tế truyền hình của tác giả Bùi Chí Trung do

Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2013 Cuốn sách ngoài khái quát các vấn đề lý luận chung trong kinh tế học truyền thông; đưa ra các dạng cấu trúc của thị trường truyền thông Đặc biệt là mối liên hệ giữa cung

và cầu trong thị trường truyền thông, chỉ rõ đối tượng tiêu thụ của thị trường truyền thông vấn đề có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong hoạt động kinh tế báo chí Một nửa thông tin còn lại của cuốn sách tác giả Nguyễn Chí

Trang 15

Trung từ chỗ xem truyền hình là một ngành công nghiệp đã làm rõ lịch sử phát triển ngành truyền hình tại Việt Nam, cho đến tiến trình thị trường hóa lĩnh vực truyền hình tại Việt Nam, chỉ rõ xu hướng phát triển truyền hình trong những năm tới và kinh nghiệm phát triển kinh tế truyền hình

Mặc dù LHHVN chưa có cơ quan báo chí truyền hình nào, nhưng các vấn đề chung về kinh tế truyền thông được nêu trong cuốn sách là tài liệu tham khảo bổ ích cho tác giả về mặt lý luận trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình

Quan hệ công chúng - lý luận và thực tiễn, là cuốn sách chuyên khảo của

tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2014 Cuốn sách

đã đem đến cái nhìn tổng quan về quan hệ công chúng, lịch sử hình thành và phát triển lĩnh vực quan hệ công chúng trên thế giới Trong đó có bàn về một trong những chức năng cơ bản của quan hệ công chúng là quảng cáo báo chí (cả về mặt cơ sở lý luận và thực tiễn) Cuốn sách cũng đưa ra những mô hình

tổ chức và hoạt động quan hệ công chúng, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của quan hệ công chúng nội bộ trong tổ chức, quy trình hoạt động của quan hệ công chúng và cả vấn đề đạo đức, làm thế nào để có sự chuyên nghiệp trong quan hệ công chúng

Cuốn sách mang lại lợi ích cho hoạt động phát triển nguồn thu tại các cơ quan báo chí, đóng góp một phần giá trị cho vấn đề kinh tế báo chí đang đặt

ra trong giai đoạn hiện nay tại Việt Nam

Gần đây nhất là cuốn sách Một số vấn đề về kinh tế báo in do tác giả

Đinh Văn Hường, Bùi Chí Trung công bố liên quan đến vấn đề kinh tế báo chí, xuất bản tháng 01năm 2015 Cuốn sách đã khái quát về lý luận kinh tế báo chí truyền thông; nêu tổng quan về ngành công nghiệp kinh tế báo chí truyền thông, trong đó các tác giả đã khái quát về tình hình phát triển của ngành công nghiệp kinh tế báo chí truyền thông trên thế giới đồng thời khảo cứu hoạt động kinh tế báo in ở một số quốc gia tiên tiến Cuốn sách

Trang 16

cũng đã chỉ rõ đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông; nêu nên các hoạt động kinh tế trong lĩnh vực báo in Từ đó, các tác giả đã đưa ra một số kinh nghiệm và đề xuất kiến nghị khoa học để nâng cao hiệu quả kinh tế báo in của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Qua việc khảo sát, phân tích thực trạng về vấn đề tự chủ tài chính ở hệ thống báo chí thuộc LHHVN, đưa ra giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính ở hệ thống báo chí này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, tác giả luận văn thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề tự chủ tài chính

Cụ thể: những khái niệm, thuật ngữ liên quan; quan điểm của Đảng, Nhà nước

về tự chủ tài chính; vài trò của tài chính đối với cơ quan báo chí; những yêu cầu đối với nguyên tắc tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí

- Khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân tích thực trạng, hiệu quả tự chủ tài chính tại các cơ quan báo chí đã chọn khảo khát Cụ thể khảo sát về chiến lược phát triển nguồn thu, nội dung sử dụng tài chính ở cả hai loại hình cơ quan báo chí tự chủ một phần và loại cơ quan báo chí tự chủ toàn phần Từ

đó, đánh giá những tác động, ảnh hưởng của cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ

quan báo chí đã chọn Cụ thể: gồm những kết quả đạt được và những tồn tại,

hạn chế; phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí, bao gồm nguyên nhân chủ quan và khách quan

- Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tự chủ tài chính tại các cơ quan báo chí LHHVN Giải pháp được đề xuất cho cả hai hoại hình tự chủ một phần và toàn phần Trong phần khuyến nghị tập trung

Trang 17

khuyến nghị về mặt nhận thức và cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước

để phù hợp với đặc thù của báo chí LHHVN

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề tự chủ tài chính tại hệ thống báo chí thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Do LHHVN có hơn 190 cơ quan báo chí khác nhau nên trong khuôn khổ

đề tài luận văn, tác giả chỉ chọn 6 cơ quan báo chí để khảo sát Trong đó, có chọn loại hình cơ quan tạp chí (in) chuyên ngành, loại hình cơ quan báo thông tin tổng hợp có cùng lúc hai ấn phẩm báo in và báo điện tử, loại hình cơ quan chỉ có báo in Đồng thời do đặc thù của hệ thống các cơ quan báo chí trong LHHVN là một số cơ quan báo chí do Đoàn chủ tịch Liên hiệp hội Trung ương trực tiếp quản lý, một số cơ quan báo chí thuộc cơ quan chủ quản là Đơn vị 81 (các tổ chức khoa học công nghệ công lập) thuộc LHHVN, còn lại đa số các cơ quan báo chí đều có cơ quan chủ quản là hội ngành trực thuộc LHHVN, do đó

đề tài lựa chọn hai nhóm khảo sát chính là các cơ quan báo chí do LHHVN trực tiếp quản lý và nhóm các cơ quan báo chí thuộc hội ngành Đây cũng chính là hai nhóm báo chí lớn trong hệ thống báo chí của LHHVN

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận về báo chí và vấn đề tài chính nói chung, tự chủ tài chính trong các cơ quan báo chí Ngoài

Trang 18

ra, luận văn còn dựa trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận thuộc các ngành khoa học khác liên quan như: triết học, kinh tế học, xã hội học, quan hệ công chúng và quảng cáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả lập phiếu đọc tài liệu, lựa

chọn nguồn tài liệu là các sách, đề tài, văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề

tự chủ, tự chủ tài chính, báo chí truyền thông, các số liệu công bố,… từ đó hệ thống hóa thành những vấn đề lý luận phục vụ nghiên cứu đề tài

- Phương pháp khảo sát, phân tích nội dung: Tác giả tiến hành khảo sát

vấn đề tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí tại các cơ quan báo chí thuộc LHHVN Từ các kết quả định lượng, tác giả tiến hành phân tích các nội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu để chứng minh thực tiễn từ những luận điểm

lý luận đã đặt ra

- Phương pháp điều tra xã hội học, cụ thể: điều tra qua thông qua bảng

hỏi anket được thực hiện bằng các bước: lập bảng hỏi dự thảo, thí nghiệm hiện trường để xem xét tính khả thi của các câu hỏi, chỉnh sửa bổ sung câu hỏi sao cho sát với thực tế vấn đề cần nghiên cứu và khả năng thu thập thông tin hiệu quả Sau khâu hoàn thiện bảng hỏi là làm việc thực địa thu thập thông tin dựa trên 95 mẫu đã chọn Đối tượng thu thập thông tin là thư ký tòa soạn, trưởng/phó phòng trị sự, phóng viên, biên tập viên, nhân viên phòng quảng cáo phát hành Mục đích của việc thu thập thông tin này là nhằm đưa ra kết quả định lượng về thực trạng, thuận lợi, khó khăn trong vấn đề tự chủ tài chính tại các đơn vị được chọn khảo sát, phục vụ cho chương 2 của luận văn

- Phương pháp phỏng vấn sâu: sử dụng 3 loại bảng phỏng vấn dành cho các

đối tượng: Lãnh đạo phụ trách mảng thông tin truyền thông của LHHVN:02

Trang 19

người; lãnh đạo (tổng biên tập + phó tổng biên tập) của cơ quan báo chí: 06 người; phóng viên, cộng tác viên của các cơ quan báo chí thuộc LHHVN 10 người

Tổng số người tham gia phỏng vấn sâu: 18 người Mục đích của việc phỏng vấn sâu là nhằm kiểm định lại kết quả định lượng và bổ sung chi tiết một số thông tin thực tế tại đơn vị khảo sát mà các đối tượng phóng viên, biên tập viên không cung cấp được

Để đảm bảo được tính đại diện và độ tin cậy của mẫu nghiên cứu, đề tài sẽ tiến hành chọn mẫu theo nhiều tiêu chí kết hợp chọn mẫu theo phương pháp chủ định và phương pháp chọn mẫu xác xuất Danh sách của người được lựa chọn phỏng vấn được tác giả thống kê tính toán để xác định cơ cấu mẫu phù hợp

- Phương pháp thảo luận nhóm: tác giả nêu các vấn đề chính cần làm rõ

trong luận văn như nên hay không nên thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ quan báo chí LHHVN, những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, chia sẻ cách thức phát triển nguồn thu Các nội dung này

đã được thực hiện tại buổi thảo luận nhóm bên lề hội thảo do LHHVN tổ chức vào ngày 20/3/2014 tại LHHVN Các thành viên tham gia gồm một số phóng viên, lãnh đạo cơ quan báo chí và đại diện LHHVN Nội dung thảo luận đã được lập biên bản chi tiết đầy đủ như phụ lục kèm theo

6 Điểm mới của luận văn

- Một là, Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về tự chủ

tài chính Cụ thể là: các khái niệm và thuật ngữ về tài chính, báo chí, hoạt động báo chí, tự chủ tài chính, tự chủ tài chính đối với hoạt động báo chí; Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí; Vai trò của tài chính trong cơ quan báo chí; Các yêu cầu về thực hiện tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí

- Hai là, Luận văn chỉ ra được thực trạng, hiệu quả tự chủ tài chính tại

các cơ quan báo chí đã chọn khảo sát Thực trạng thể hiện qua chiến lược phát triển nguồn thu và nội dung sử dụng tài chính ở cả hai loại hình cơ quan báo

Trang 20

chí tự chủ một phần và loại cơ quan báo chí tự chủ toàn phần Hiệu quả tự chủ được thể hiện qua những kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế Việc đánh giá những tác động, ảnh hưởng của cơ chế tự chủ tài chính tại các cơ quan báo chí khảo sát được thể hiện qua phân tích nguyên nhân ảnh hưởng đến tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí, bao gồm nguyên nhân chủ quan

và khách quan

- Ba là, Luận văn đưa ra các giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao

hiệu quả tự chủ tài chính tại các cơ quan báo chí LHHVN Giải pháp được đề xuất cho cả hai hoại hình tự chủ một phần và toàn phần

Ngoài phần giải pháp cụ thể là các khuyến nghị khoa học về mặt nhận

thức lẫn cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với đặc thù của

hoạt động báo chí thuộc LHHVN Khuyến nghị khoa học được tập trung cho

cả các cơ quan quản lý Nhà nước nói chung và với LHHVN nói riêng với tư

cách là cơ quan đầu mối quản lý báo chí trong hệ thống của mình

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, đào tạo tại các

cơ sở đào tạo, nghiên cứu liên quan đến chuyên ngành báo chí - truyền thông

ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

7.2 Giá trị thực tiễn

Luận văn là tài liệu tham khảo cho các cơ quan báo chí hoạt động theo

cơ chế tự chủ tài chính, đặc biệt có ý nghĩa đối với các tạp chí được khảo sát

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn

gồm 3 chương, 11 tiết, 104 trang, 12 biểu đồ minh họa

Trang 21

Từ điển Devil’s Dictionary của Ambrose Bierce (Mỹ), năm 1911 cho

rằng tài chính là “Nghệ thuật hoặc khoa học quản lý các nguồn thu và nguồn lực theo cách có lợi nhất cho nhà quản lý/nhằm đạt hiệu quả cao nhất”

Từ điển kinh doanh thế giới - The Oxford Dictionary for the Business

World, năm 1989 hiểu tài chính là “Sự tài trợ về tiền bạc, một khoản vay đặc biệt, nguồn kinh phí, kinh tài của cá nhân hay công ty”

Từ điển Tài chính quốc tế Penguin của Graham Bannok và William

Manser, NXB Penguin Books, London 1990, tài chính là “Sự cấp tiền bạc cho một nơi nào đó khi cần thiết Tài chính có thể được cung cấp dưới hình thức giá trị hoặc tài sản hoặc như là sự đảm bảo Tài chính có thể được tiêu dùng hay đầu tư Khi tài chính được sử dụng cho đầu tư thì tài chính trở thành vốn”

Theo Đại Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành

phố Hồ Chí Minh, tài chính là phạm trù kinh tế thuộc khâu phân phối, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước, phát triển theo quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa và quan hệ hàng hóa - tiền tệ

Theo nghĩa hẹp, đó là dấu hiệu tài sản dưới dạng tiền được trao đổi, phân phối, cho vay tùy thuộc vào quy mô và dự định của người nắm giữ sở hữu hay

Trang 22

quyền quản lý Theo nghĩa rộng, là tổng thể các mối quan hệ, dựa vào đó nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân theo hình thức giá trị, hình thành nên các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước và các quỹ không tập trung của các đơn vị kinh tế cơ sở sử dụng chúng nhằm đảm bảo tái sản xuất mở rộng và các nhu cầu khác của xã hội [47, tr.267]

Theo Giáo trình Tài chính - Tiền tệ của Học viện Ngân hàng do tác giả

Nguyễn Văn Tiến chủ biên, xuất bản năm 2011 thì tài chính hiểu một cách đơn giản là “bao gồm các quyết định liên quan đến tiền, hay nói một cách chính xác hơn là các quyết định liên quan đến các dòng tiền” [42, tr.40] Các quyết định đó là việc phân phối lần đầu và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị - tiền tệ Còn hiểu một cách khái quát hơn, đầy đủ hơn thì theo tác giả Nguyễn Văn Tiến:

Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế [42, tr.42]

Thực tế cho thấy dù là nghệ thuật hay khoa học quản lý về tài chính thì mục đích của hoạt động tài chính là “Tối đa hóa lợi nhuận, giá trị doanh nghiệp của các công ty, tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nhu cầu thu nhập và nhu cầu của các hộ gia đình; nhu cầu kiểm soát, điều tiết nền kinh tế -

xã hội của bộ máy thống trị” [11, tr.56]

Ngày nay để phù hợp thực tế trong nền kinh tế thị trường, tài chính được phân loại chi tiết rõ ràng, phù hợp khoa học quản lý tài chính, bao gồm: tài chính gia đình, tài chính doanh nghiệp, tài chính công

Các cách tiếp cận trên đây dù đứng ở góc độ của một lĩnh vực cụ thể, phạm vi, thời điểm khác nhau nhưng đều từ bản chất của tài chính là sự phân

bổ các nguồn lực khan hiếm (nguồn lực tài chính) theo thời gian và không

Trang 23

gian nhất định Nhưng nguồn lực tài chính có từ đâu, mục đích của việc phân

bổ và sử dụng là gì,…?

Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng tài chính là phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm (nguồn lực tài chính) nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của các chủ thể trong phát triển kinh

tế - xã hội

Việc phân bổ các nguồn lực tài chính được thực hiện với sự tham gia của nhiều chủ thể, có thể đó là những chủ thể cần nguồn tài chính, cung nguồn tài chính hoặc các chủ thể tổ chức và quản lý, giám sát các hoạt động phân bổ nguồn lực Hoạt động phân bổ có thể được thực hiện và diễn ra trong nội bộ một chủ thể, hay giữa các chủ thể với nhau [11, tr.59]

* Tự chủ tài chính:

Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng, năm

2006, “tự chủ là tự điều hành, quản lý mọi công việc của mình không bị ai chi phối” [34, tr.73]

Tóm lại, tự chủ về tài chính có thể hiểu là quyền được tự điều hành và quản lý sử dụng các khoản thu chi sao cho phục vụ công việc một cách tốt nhất, đạt được hiệu quả cao nhất, mang lại lợi ích cho các thành viên trong tổ chức và xã hội

1.1.2 Báo chí và hoạt động báo chí

* Báo chí:

Ngay từ khi chuyền từ “bầy đàn nguyên thủy” đến việc hình thành các cộng đồng người đã xuất hiện các hình thức trao đổi thông tin - “các thông báo” bằng ký hiệu Những nguồn thông tin này có phần định hướng đến việc hình thành, duy trì và đẩy mạnh “công luận”

Cho đến khi nhà nước xuất hiện, cộng đồng người đã sinh hoạt trong một

tổ chức “chuyên nghiệp hơn” là các thể chế chính trị “Các thông báo” không

Trang 24

chỉ dừng lại ở các bài diễn thuyết của các nhà diễn thuyết đóng vai trò truyền

bá các thông tin đại chúng hay các thần dân (thầy mõ, người tù, sứ giả) mà đã xuất hiện các hình thức viết tay và được “phát hành” dưới dạng cuộn da dê (Ai Cập cổ đại), trên các bảng gỗ (La Mã), bảng đất sét (Nhật Bản),… Tác giả

E.P.Prôkhôrốp (Nga) trong cuốn sách Cơ sở lý luận của báo chí đã cho rằng

đấy là các dấu hiệu và hoạt động tiền thân của báo chí

Lịch sử loài người dần đi vào giai đoạn văn minh, “các thông báo” cũng

đã được truyền tải trên những “kênh” hiện đại hơn như sách, tạp chí, rồi đến báo Mục đích thông tin cũng đã trở nên phong phú hơn, không chỉ là thông tin dành cho các thương gia mà còn thông tin chính trị, xã hội,…

Ngành báo chí chính thức xuất hiện vào thời kỳ chuyển giao giữa thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, khi mà các mối quan hệ thị trường đã được mở rộng, các nhà nước tập quyền lớn (Pháp, Nga) đã được hình thành, khoa học và văn hóa

đã phát triển, trình độ dân trí đã được nâng dần lên, nhu cầu thông tin của công chúng trở nên nhiều hơn còn giới tăng lữ - phong kiến đã hiểu được ý nghĩa của sự phát triển ấn loát đối với cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng Đồng thời với nó là kỹ thuật xuất bản đã được hiện đại hơn nhờ vào tiến bộ của khoa học kỹ thuật

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, báo chí trở nên phát triển rầm rộ nhờ vào sự phát triển của kỹ thuật phát thanh và truyền hình

Cũng giống như “báo chí” thời kỳ đầu của xã hội loài người, tiếp cận theo quan điểm cổ xưa, “báo chí” được ví như “ ‘thằng mõ’, là người mếch lẻo, thóc mách, đưa chuyện, là người hóng hớt,… ‘thằng mõ’ ở đây là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báo cho dân làng biết những

gì đang, đã và sẽ xảy ra” [13, tr.53]

Thời kỳ báo chí chính thức tồn tại như một ngành nghề trong xã hội, báo chí đã được khái quát hóa một cách khoa học hơn, là “những tư liệu sinh hoạt tinh thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra

Trang 25

cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định

kỳ đều đặn” (Giáo trình nghiệp vụ báo chí, tập 1, Khoa Báo chí, Trường

Tuyên huấn TW, H.1978 - lưu hành nội bộ) Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Văn Dững (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) thì “quan niệm này chỉ mới nhìn bề ngoài - sản phẩm báo chí, có thể nhìn thấy mà chưa phản ánh được những thuộc tính, những mối quan hệ bản chất phức tạp bên trong của hiện tượng xã hội này” [31, tr.54]

Sau khi phân tích các quan điểm báo chí của xã hội Việt Nam ngày trước, quan điểm báo chí của giai cấp tư sản (báo chí là phương tiện thông tin

- thông tin sự kiện, khách quan, độc lập và không phụ thuộc vào chính trị

‘không can dự vào cuộc đấu tranh giai cấp’ và là quyền lực thứ 4) và giai cấp

vô sản (báo chí là công cụ tuyên truyền, là phương tiện đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; báo chí là bộ phận không thể tách rời trong bộ máy tổ chức của Đảng cộng sản, là cơ quan ngôn luận của Đảng) trong lịch sử

xã hội loài người, tác giả Nguyễn Văn Dững đặc biệt nhấn mạnh cách nhìn nhận báo chí nhìn từ quan điểm hệ thống

Theo tác giả, “Mỗi hệ thống xã hội cụ thể ấy có cấu trúc khác nhau, từ cấu trúc quyền lực chính trị, thể chế văn hóa,… mà trong đó báo chí được xem như một tiểu hệ thống của hệ thống xã hội nói chung ấy” [13, tr.60] thì

“báo chí chịu sự chi phối nhiều loại quan hệ dọc - ngang, quan hệ bình đằng

và phụ thuộc Ở bình diện thứ nhất, một là quan hệ với các tiểu hệ thống khác; hai là quan hệ với hệ thống trong tổng thể Ở bình diện thứ hai, quan hệ với quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế, văn hóa,… ” [13, tr.60]

Và cho dù hệ thống tổ chức quyền lực chính trị ở mỗi quốc gia theo những mô hình khác nhau, cho dù quan điểm, chính sách và phương thức khai thác, sử dụng báo chí khác nhau, nhưng giữa chúng vẫn có những điểm chung xuất phát từ bản chất của báo chí truyền thông - “là hoạt động thông tin - giao tiếp xã hội trên quy mô rộng lớn nhất, là công cụ và phương thức kết nối xã

Trang 26

hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế” [13, tr.61]

Với cách nhìn báo chí từ quan điểm hệ thống, trong cuốn Cơ sở lý luận Báo chí, tác giả Nguyễn Văn Dững đưa ra sơ đồ định nghĩa khái niệm vừa có

thể nhìn nhận báo chí trên bình diện vĩ mô và vi mô, trong đó báo chí có mỗi liên hệ với các thành tố gồm: quyền lực chính trị tối cao - quyền lực nhà nước, cơ quan chủ quản, nhà báo, sản phẩm báo chí, kênh chuyển tải, công chúng xã hội, tổ chức chính trị - xã hội, thực tiễn đời sống xã hội [13, tr.62] Cũng theo tác giả Nguyễn Văn Dững đây là cách nhìn khoa học và thực

tế, vừa có ý nghĩa về mặt lý luận vừa có ý nghĩa trong hoạt động thực tiễn Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến, là hoạt động truyền thông đại chúng thông qua các loại hình truyền thông đại chúng (báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử) Mục đích đầu tiên của báo chí chính là cung cấp thông tin có chủ đích đến công chúng Đặc điểm nổi bật nhất của thông tin báo chí chính là tính công khai, sự lan tỏa nhanh chóng rộng khắp

Theo phân tích của tác giả Đỗ Chí Nghĩa, nếu cho rằng thông tin báo chí phải là thông tin thời sự thì nay thực tế có những loại hình báo chí không hẳn

là thời sự như các tạp chí chuyên ngành hay các số phụ, ấn phẩm chuyên đề, các kênh truyền hình bên cạnh thông tin thời sự vẫn có các gameshow, các chương trình chuyên đề Do đó theo tác giả Đỗ Chí Nghĩa, cần một cách tiếp cận khác về báo chí là từ góc nhìn của công chúng “Công chúng tìm đến các phương tiện báo chí trước hết là để tìm kiếm thông tin, và trong những thông tin đó thì thông tin thời sự đóng vai trò quan trọng” [31, tr.38]

Cũng theo phân tích của tác giả Đỗ Chí Nghĩa, tính định kỳ của báo chí ngày nay đã bị phá vỡ khi báo mạng điện tử đang phát triển rầm rộ và nhu cầu thông tin của công chúng đã tăng lên rất nhiều Tác giả Đỗ Chí Nghĩa định nghĩa về báo chí:

Trang 27

Báo chí là loại hình các phương tiện truyền thông đại chúng được cơ quan thẩm quyền cấp phép hoạt động, có nhiệm vụ chuyển tải thông tin nhanh nhất, mới mẻ nhất đến cho đông đảo công chúng, nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn [31, tr.41]

Ở góc độ lãnh đạo, quản lý, Đảng và Nhà nước ta coi, “Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, là diễn

đàn của nhân dân” (Điều 1, Luật Báo chí) Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp

hành Trung ương Đảng khóa XI đã khẳng định: “Báo chí là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan trọng của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”

Từ các quan điểm cơ bản trên, vừa để có cái nhìn khách quan về báo chí trong mối quan hệ với các yếu tố trong xã hội, vừa để hiểu được bản chất của báo chí cũng như hoạt động báo chí để có cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ cho đề tài luận văn, chúng tôi kế thừa các quan điểm của các tác giả nêu trên, trong đó, đặc biệt chú ý đến cách nhìn báo chí của tác giả Nguyễn Văn Dững

* Hoạt động báo chí:

Báo chí thực chất là phương tiện truyền thông đại chúng Trong các loại hình truyền thông thì báo chí có tính phổ biến nhất và là “cơ quan ngôn luận” chính thống nhất trong mỗi thể chế chính trị Do đó, bản chất của hoạt động

báo chí trước hết là hoạt động truyền thông đại chúng

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Dững vì lẽ đó mà bản chất hoạt động báo chí cũng là bản chất của hoạt động truyền thông nói chung Đó là:

“phương tiện và phương thức thông tin - giao tiếp xã hội; phương tiện và phương thức liên kết xã hội; phương tiện và phương thức can thiệp xã hội” [13, tr.90]

Để thực hiện được việc thông tin - giao tiếp, liên kết và can thiệp xã hội,

Trang 28

báo chí cần:

Hình thành dòng thông tin đại chúng, hướng tác động vào đông đảo công chúng nhằm lôi kéo và tập hợp, giáo dục, thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra theo hướng chính trị nhất định; hoặc tạo lập diễn đàn xã hội rộng rãi thu hút sự tham gia của đong đảo nhân dân vào bàn luận những vấn đề thiết thực, liên quan đến đời sống cộng đồng [13, tr.91]

Thứ hai, hoạt động báo chí là hoạt động chính trị - xã hội Trên thực tế

mảng thông tin chính trị xã hội đều được quan tâm ở hầu hết các báo Đó là việc các báo thông tin về chính sách đối nội và đối ngoại Ở Việt Nam, với nhiều cơ quan báo chí đây cũng là nhiệm vụ chính trị, như báo Nhân dân, TTXVN, VOV, Đài Truyền hình Việt Nam, các cơ quan báo chí địa phương

và nhiều cơ quan báo chí khác

Hoạt động xã hội của báo chí được hiểu là “báo chí không chỉ có khả năng phát hiện, nêu ra và khơi dậy các vấn đề xã hội liên quan đến cộng đồng,

mà còn có khả năng khơi dậy và tập hợp nguồn lực xã hội tham gia giải quyết các vấn đề xã hội” [13, tr.97] Đó có thể là vấn đề về bạo lực gia đình, vấn đề người nghèo, tham nhũng,…

Thứ ba, hoạt động báo chí là hoạt động kinh tế - dịch vụ, hiểu theo hai

khái cạnh: báo chí tồn tại và phát triển như một loại hàng hóa trong nền kinh

tế thị trường, chỉ có điều báo chí là loại hàng hóa đặc biệt và dịch vụ báo chí

là dịch vụ xã hội; ở khía cạnh thứ hai báo chí tham gia vào việc thúc đẩy kinh

tế xã hội phát triển thông qua quảng cáo sản phẩm, thúc đẩy giao thương, tiêu thụ sản phẩm,…

Xét ở góc độ lao động báo chí thì hoạt động báo chí là hoạt động sáng tạo, trong đó tùy thuộc vào sản phẩm báo chí, cơ quan báo chí mà có đặc thù lao động báo chí khác nhau Nó phụ thuộc vào quy trình đưa tác phẩm báo chí

Trang 29

đến với công chúng Đó là việc thu thập thông tin, xử lý thông tin, mã hóa thông tin lên kênh truyền tải,…

Với trách nhiệm xã hội của báo chí thì hoạt động báo chí “có tính chất phực tạp vì nó chịu sự chi phối của chính trị và áp lực cao từ thực tiễn cuộc sống, trong đó sự chi phối lợi ích là quan trọng nhất, trước hết là lợi ích chính trị Bởi vì, xét cho cùng, báo chí là công cụ chính trị, dùng để tuyên truyền chính trị và thể hiện quyền năng chính trị và đối với công chúng và dư luận xã hội” [5, tr.16]

1.1.3 Tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí

Tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí được hiểu là việc cơ quan báo chí tự điều hành, quản lý và sử dụng các khoản thu chi trong hoạt động báo chí, sao cho phục vụ tốt nhất việc sản xuất ra sản phẩm báo chí hiệu quả

Tự chủ tài chính trong hoạt động báo chí ở Việt Nam được xác lập rõ kể

từ Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó Nghị định cũng quy định rõ mức độ tự chủ đối với loại hình đơn vị sự nghiệp có thu và đơn vị tự chủ hoàn toàn

Từ tháng 4/2015, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP đã được thay bằng Nghị định số 16/2015/NĐ-CP với một số điểm mới thuận lợi hơn cho các cơ quan thực hiện theo cơ chế tự chủ tài chính

Tự chủ tài chính cũng luôn đi kèm với tự chịu trách nhiệm để đạt được mục tiêu đề ra của việc tự chủ

1.2 Quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về

tự chủ tài chính

1.2.1 Quan điểm của Đảng về tự chủ tài chính

Cải cách hành chính (CCHC) là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, chiến lược của Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện đường lối đổi mới đất

Trang 30

nước, nhất là đổi mới kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy dân chủ, đảm bảo quyền con người,…

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã tiếp tục khẳng định việc đẩy mạnh CCHC Trong đó, Nghị quyết nhấn mạnhviệc cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện nhiệm vụ trọng tâm về đổi mới quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; khắc phục tình trạng bất hợp lý và tác động tiêu cực của quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập hiện nay

Bên cạnh việc xây dựng thể chế Nhà nước; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách chế

độ công vụ thì cải cách tài chính công là một trong những nhiệm vụ quan trọng của CCHC, trong đó nhấn mạnh việc giao quyền tự chủ tài chính cho

đơn vị sự nghiệp công lập

Mục tiêu của chủ trương này là tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp kiểm soát chi tiêu nội bộ, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo của người lao động; nâng cao kỹ năng quản lý, từng bước giảm sự can thiệp của cơ quan quản lý cấp trên; công khai, minh bạch trong phân công thực hiện nhiệm vụ, công tác nhân sự, chi tiêu tài chính Tóm lại là tăng chính chủ động nhằm phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội và nâng cao chất lượng sống của người lao động

Tại Hội nghị lần thứ 7, ngày 27/5/2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI đã có Kết luận số 63-KL/TW về một số vấn đề cải cảnh chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020

Trên cơ sở đó, thống nhất nhận thức trong Đảng, trong xã hội và có quyết tâm chính trị cao trong việc ban hành và thực hiện chính sách, nhất là

Trang 31

việc đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương của khu vực sự nghiệp công lập phù hợp với kinh tế thị trường (theo Kết luận số 63-KH/TW) Đối với chính sách tiền lương, Kết luận số 63-KH/TW nhấn mạnh tăng cường tuyên truyền để nâng cao nhận thức trong Đảng và toàn hệ thống chính trị về ý nghĩa, vai trò của đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính và tiền lương đối với khu vực sự nghiệp công lập Phải xác định đây là khâu đột phá

và cần có quyết tâm chính trị cao trong việc ban hành cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện

Căn cứ vào các chủ trương, đường lối đó của Đảng, để tạo điều kiện cho việc đưa Nghị quyết, Kết luận của Trung ương vào cuộc sống một cách thuận lợi và hiệu quả, về phía Nhà nước và Chính phủ đã ban hành loạt các Nghị đinh, Thông tư hướng dẫn nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện

1.2.2 Chính sách, pháp luật của Nhà nước về tự chủ tài chính

Nhằm quản lý thống nhất nguồn thu, chi tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp tăng thu bảo đảm trang trải kinh phí hoạt động, ngày 16/01/2002, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký thông qua Nghị định số 10/2002/NĐ-CP quy định về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó áp dụng cho cả đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí) và đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí)

Tuy nhiên, Nghị định này không áp dụng đối với các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã

hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp - là cơ quan chủ quản của nhiều tờ báo, trang báo thuộc hệ thống báo chí LHHVN

Từ ngày 19/7/2005, sau khi Quyết định 181/2005 /Q Đ -TT G đư ợ c Thủ tướn g chính phủ ký quy định việc phân loại, xếp hạng đối với các tổ

Trang 32

chức sự nghiệp, dịch vụ công lập thì báo chí thuộc khung xếp hạng các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập thuộc ngành văn hoá - thông tin Mục 6

Điều 11 quy định rõ: Báo in, báo nói (đài phát thanh), báo hình (đài truyền hình), tạp chí và tổ chức sự nghiệp báo chí, dịch vụ công lập khác xếp bốn hạng: hạng một, hạng hai, hạng ba, hạng bốn

N ăm 2006, c ơ chế quản lý tài chính của các cơ quan báo chí đã chính thức được quy định tại Nghị định 43/2006/NĐ-CP do Thủ tướng Phan Văn Khải ký ngày 25/4/2006 (thay thế Nghị định số 10/2002/NĐ-CP) Nghị định quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Trong đó nghị

định nêu rõ: Đối với Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, các đơn

vị sự nghiệp có quy trình hoạt động đặc thù và các đơn vị sự nghiệp trực thuộc: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội được áp dụng theo quy định tại Nghị định này

Về nguyên tắc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của Nghị định là hoàn thành nhiệm vụ được giao Đối với hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị; thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật; thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản

lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền,

Để tạo điều kiện cho việc triển khai thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP, ngày 9/8/2006, Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 71/2006TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP Tiếp theo ngày 24/9/2007, để phù hợp với tình hình thực tế, Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 71/2006/TT-BTC hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung quy định tại Thông tư số 71/2006/TT-

Trang 33

BTC ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP Thông tư đã sửa đổi khoản 6 mục VIII, sửa đổi khoản 5 mục IX, sửa đổi phụ lục số 6

Ngày 27/9/2010, Bộ Tài chính đã ra Thông tư số 150/2010/TT-BTC hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các

cơ quan báo chí

Ngày 14/3/2014, Chính phủ đã ra Nghị định số 18/2014/NĐ-CP quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản Nghị định này thay thế cho Nghị định số 61/2002/NĐ-CP ngày 11/6/2002 về chế độ nhuận bút Mới đây nhất là ngày 14/2/2015, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP quy định chung về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong đó có lĩnh vực thông tin truyền thông

và báo chí Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06/4/2015

Nghị định 16/2015/NĐ-CP đã điều chỉnh cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tăng cường trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khuyến khích các đơn vị có điều kiện vươn lên tự chủ ở mức cao Ngoài ra các hoạt động liên doanh, liên kết, mở rộng cung ứng dịch vụ công trở nên thuận lợi hơn

Cụ thể là các đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được giao quyền tự chủ khá rộng như được quyết định số lượng người làm việc, được vay vốn tín dụng ưu đãi của nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định, được tự quyết định mức trích quỹ bổ sung thu nhập mà không bị không chế mức trích Quỹ bổ sung thu nhập như các loại hình đơn vị sự nghiệp khác (đơn vị tự đảm bảo chi thường xuyên bị khống chế không quá 3 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do nhà nước quy định; đơn vị tự đảm bảo một phần chi thường xuyên bị khống chế không quá 2 lần, đơn vị do nhà nước bảo đảm chi thường xuyên bị khống chế không quá 1 lần)

Trang 34

Giá dịch vụ sự nghiệp công được quy định tại Mục 2, Chương II của Nghị định, bao gồm các quy định về giá, phí dịch vụ sự nghiệp công, cách xác định giá dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước

và giá dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước Theo đó, đối với dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước được xác định theo cơ chế thị trường; đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước được xác định trên cơ sở định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí theo quy định và lộ trình tính giá theo quy định tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP Đồng thời, quy định cụ thể lộ trình tính giá dịch

vụ sự nghiệp công đối với dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước Quy định này nhằm tạo điều kiện để từng bước tính đủ giá dịch vụ

sự nghiệp công vào chi phí

Có thể nói Nghị định 16/2015/NĐ-CP kịp thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển của hoạt động sự nghiệp công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập cũng đã có hành lang pháp lý rất quan trọng khi ngày 28/11/2013, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tạo nền tảng pháp lý cơ bản cho quá trình tiếp tục cải cách thể chế và thực hiện các nhiệm vụ cải cách khác, trong đó có tài chính công

1.3 Vai trò của tài chính đối với cơ quan báo chí

Trang 35

Đầu vào ở đây là đầu tư ban đầu cho cơ sở hạ tầng (xây dựng, thuê mướn trụ sở làm việc), cơ sở vật chất trang thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất sản phẩm báo chí (máy tính, máy ảnh, máy in, ), chi trả thù lao cho đội ngũ cán bộ phóng viên, chi nhuận bút, chi in ấn,…Ví dụ, cần phải có máy ảnh đảm bảo để có ảnh báo chí đủ độ nét, có thể có những khuôn hình đẹp, đảm bảo tác nghiệp được trong nhiều bối cảnh khác nhau Hay phải có mức lương, mức nhuận bút cạnh tranh mới thu hút được nhiều người giỏi “đầu quân” cơ quan, mới thu hút nhiều bài cộng tác hay Đối với cơ quan báo chí phát thanh truyền hình mức độ đầu tư cơ sở vật chất và con người càng đòi hỏi nguồn kinh phí lớn hơn nữa để phù hợp đặc đù của loại hình báo chí này

Đầu ra chính là bài toán thị trường cho sản phẩm hàng hóa đặc biệt này

Cơ quan báo chí phải tính toán chi phí phát hành, cách thức phát hành, cách thức truyền tải thông tin hay nói cách khác là tìm thị trường - công chúng báo chí sao cho vừa có lãi vừa thỏa mãn được nhu cầu thông tin của công chúng trên sản phẩm báo chí của mình Để làm được điều đó lại phải phụ thuộc vào đầu vào của hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí

Tóm lại, để có được sản phẩm báo chí tốt và duy trì sự “tiêu dùng” lâu dài từ người mua, cơ quan báo chí ngay ban đầu đã phải đầu tư đội ngũ con người có năng lực, phẩm chất làm báo, đầu tư các trang thiết bị đảm bảo các điều kiện tối thiểu cho hoạt động sản xuất các sản phẩm báo chí

Thực tế cho thấy cơ quan báo chí nào hạn chế về mặt đầu tư cho hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí thì sản phẩm báo chí ấy cũng bị hạn chế về mặt chất lượng nội dung và ít được công chúng đón nhận, khó thu hút doanh

nghiệp tham gia quảng cáo

1.3.2 Phục vụ tái sản xuất sản phẩm báo chí

Thời kỳ đầu của báo chí cách mạng nước ta, số lượng đầu báo chỉ mới đếm đầu ngón tay, nhưng đến cuối tháng 12/2014 con số này đã lên đến 845

cơ quan báo chí in, 98 báo điện tử, 67 đài phát thanh và truyền hình (theo báo

Trang 36

cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông Hội nghị báo chí toàn quốc năm 2015) Với số lượng các cơ quan báo chí, sản phẩm báo chí tăng mạnh và đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và trong nhu cầu tin tức của công chúng ngày càng nâng cao thì báo chí lại càng là sản phẩm được quan tâm và càng có tính cạnh tranh cao Đây không còn là vấn đề “sống được với nghề” mà còn là trách nhiệm xã hội của nghề, uy tín của sản phẩm báo chí trên thị trường Ngoài nhiệm vụ chính trị được giao, đây cũng chính là áp lực của những người làm báo, nhất là người đứng đầu cơ quan báo chí

Việc đầu tư con người hay cơ sở vật chất, phương tiện làm báo ban đầu chỉ là những yếu tố kỹ thuật căn bản nhất Nhưng xu hướng làm báo ngày càng chịu sự tác động của sự phát triển khoa học kỹ thuật-công nghệ Báo chí

đa phương tiện hay là báo chí hội tụ,… đều cần sự tham gia của lực lượng những người làm báo đủ năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và các thiết bị máy móc hiện đại phù hợp yêu cầu thu thập, xử lý, mã hóa thông tin trên các kênh truyền tải đặc thù

Vậy thì để tái sản xuất sản phẩm báo chí được tốt, trong tòa soạn ngoài

có người lãnh đạo giỏi để điều hành hoạt động sản xuất sản phẩm báo chí còn cần nhữngcây bút viết giỏi, có mặt bằng những người làm báo đảm bảo có tác phẩm báo chí thu hút người đọc, đảm bảo cho tòa soạn phát triển bền vững chứ không phải “lá cải hóa” hay “thương mại hóa báo chí”

Trình độ dân trí ngày càng cao, nhu cầu thông tin ngày càng cập nhật để theo kịp sự vận động bên ngoài xã hội và với thị hiếu công chúng phong phú thì một kênh truyền hình thiếu nội dung hấp dẫn, những hình ảnh kém chất lượng, đưa tin chậm hay trên báo mạng điện tử nếu tốc độ truy cập chậm, đăng tải những clip với chất lượng hình ảnh và âm thanh kém thì cũng khó thu hút người xem

Trang 37

Với loại hình báo in, trong sự cạnh tranh mạnh mẽ với truyền hình và báo mạng điện tử, ngoài đổi mới nội dung nếu có phong cách trình bày xấu, ảnh báo chí kém chất lượng, hay thiếu sự đầu tư cho hoạt động phát hành cũng hạn chế trong việc phát triển nguồn thu cho tòa soạn

Có thể nói trong xã hội hiện nay, tái sản xuất sản phẩm báo chí không chỉ đòi hỏi về mặt thời gian mà cao hơn nữa còn phải đáp ứng nhu cầu thông tin phong phú, đa dạng theo kịp sự phát triển của xã hội Muốn vậy những người làm báo không thể đứng ngoài xu hướng phát triển của báo chí hiện nay

1.4 Những yêu cầu đối với nguyên tắc chủ tài chính trong hoạt động báo chí ở nước ta hiện nay

1.4.1 Nguyên tắc tự chủ tài chính hoàn toàn

Tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP, Điều 12, Mục 3 quy định tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tưđược nêu rất rõ và chi tiết Tuy nhiên, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích những nội dung cốt lõi tác động đến vấn đề chính mà luận văn nghiên cứu Đó là về:

Nguồn thu tài chính của đơn vị, trong đó nêu rõ nguồn thu từ hoạt động

dịch vụ sự nghiệp công là từ nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí; nguồn thu phí theo pháp luật

về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác thu phí); nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

Trên thực tế, đối với các cơ quan báo chí thuộc LHHVN nguồn thu này gần như không có hoặc nếu có không kỳ vọng vào “phần lãi” tài chính mà

“lãi” vào uy tín của cơ quan báo chí hoặc xem như góp thêm được vào một

việc có ý nghĩa đối với xã hội Như trường trường hợp của Báo Khoa học và

Trang 38

Đời sống khi thực hiện Chuyên đề Dân tộc thiểu số và miền núi theo đặt hàng

của Chính phủ

Ngoài ra là nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo

dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao; hoặc nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật

Về quy định sử dụng nguồn tài chính So với Nghị định 43/2006/NĐ-CP,

quy định sử dụng nguồn tài chính trong Nghị định 16/2015/NĐ-CP đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển của đơn vị do được quyền tự chủ cao hơn Đó là lãnh đạo đơn vị có thể căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu

tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu

tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự án đầu tư, bao gồm các nội dung

về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư Đối với việc chi thường xuyên, đơn vị được chủ động sử dụng các nguồn tài chính giao để chi tiền lương, các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công; đơn vị được căn cứ vào khả năng tài chính để quyết định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức do cơ quan nhà nước quy định về chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý Hoạt động chi này được thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn

vị và lãnh đạo phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình

Trang 39

Đây là điểm cốt lõi mà cơ chế tự chủ tài chính mang lại cho đơn vị, là cơ hội cho những lãnh đạo năng động, sáng tạo, giám nghĩ dám làm, giúp lãnh đạo có thể nâng cao năng lực quản lý của mình để mang lại hiệu quả cho cơ quan

Đối với chi nhiệm vụ không thường xuyên như mua sắm, sửa chữa trang thiết bị, định mức sử dụng ô tô, điện thoại, phải thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về mức chi, tiêu chuẩn chi

Một điểm rất quan trọng trong nguyên tắc tài chính theo Nghị định 16/2015/NĐ-CP nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị là quy định phân phối kết quả tài chính trong năm Trong đó, Nghị định quy định rõ hàng năm, sau khi hạch toán đầy đủ các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp ngân sách nhà nước khác (nếu có) theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi thường xuyên (nếu có), đơn vị được sử dụng tài chính cho các nội dung gồm: trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; trích lập Quỹ bổ sung thu nhập (không khống chế mức trích); trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa (không quá 3 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị)

Mức trích và sử dụng cụ thể của các quỹ ngoài theo quy định thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị Điều này vừa tạo cơ chế dân chủ trong mỗi đơn vị, tạo động lực phấn đấu cho mỗi cá nhân, vừa đảm bảo tái hoạt động có hiệu quả nhờ vào yếu tố an toàn

về tài chính, đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm Ngoài ra là các quy định về giao dịch tài chính, vay vốn, lập dự toán, vay vốn tín dụng

1.4.2 Nguyên tắc tự chủ tài chính một phần

Điều 14 Nghị định 16/2015/NĐ-CP yêu cầu các đơn vị sự nghiệp công

tự bảo đảm một phần chi thường xuyên thực hiện theo nguyên tắc tự chủ tài chính như sau:

Trang 40

Đối với nguồn thu tài chính của đơn vị, về cơ bản cũng giống như áp

dụng đối với các đơn vị tự chủ tài chính hoàn toàn Nhưng có điểm khác là đơn vị được hỗ trợ nguồn ngân sách nhà nước hỗ trợ phần chi phí chưa kết cấu trong giá, phí dịch vụ sự nghiệp công hay có thể gọi là ngân sách cấp bù đối với những trường hợp chi thiếu

Đối với quy định sử dụng nguồn tài chính của đơn vị, về cơ bản dựa trên

nguyên tắc giống như áp dụng đối với đơn vị sự nghiệp công tự chủ hoàn toàn Nhưng đối với khoản chi lương, khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung Đây là điểm mà các đơn vị tự chủ hoàn toàn bị thiệt thòi

Một điểm khác biệt nữa là đối với các đơn vị tự chủ một phần khi chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, được căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị để quyết định mức chi nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định

Đối với chi nhiệm vụ không thường xuyên, đơn vị chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và pháp luật hiện hành Kinh phí chi được lấy từ các nguồn thu tài chính nêu trên Việc phân phối kết quả tài chính trong năm, khác với quy định cho các đơn vị tự chủ hoàn toàn, các đơn vị tự chủ một phần chỉ phải trích tối thiểu 15% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; trích lập Quỹ bổ sung thu nhập tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương do Nhà nước quy định (đơn vị tự chủ hoàn toàn không không khống chế mức trích); trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi tối đa không quá 2 tháng (đơn vị tự chủ hoàn toàn không quá tối đa 3 tháng) tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị Ngoài ra là các quỹ khác theo quy định của pháp luật Việc sử dụng các quỹ do thủ trưởng đơn vị quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ và phải công khai trong đơn vị

Ngày đăng: 25/11/2021, 07:59

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w